Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.

Trị liệu Gestalt: trải nghiệm những gì đang diễn ra ở- đây- và- ngay- bây- giờ

Fritz và vợ là Laura Perls phát triển trị liệu Gestalt vào những năm 1940, nhấn mạnh sự chữa lành thông qua nhận ra các ‘khối chặn’ (“blocks”) trải nghiệm toàn thể ‘ở đây và bây giờ’ (Corey, 2004). Nói khác, Gestalt dựa vào giả định rằng chúng ta hiểu biết tốt nhất trong bối cảnh của môi trường; mục tiêu của tham vấn nhóm là cung cấp một bối cảnh thích hợp để các thành viên nâng cao nhận thức về những gì đang trải nghiệm và phẩm chất tương tác với người khác. Hiểu biết từng khoảnh khắc điều đang trải nghiệm đi cùng ý thức ngay lập tức về các ‘khối chặn’ ấy được xem là tự thân việc trị liệu vậy.

Gestalt là hiện sinh do đặt để ở- đây- bây- giờ và ưu tiên đối thoại mang tính hiện sinh. Nhận thức, lựa chọn và trách nhiệm là nền tảng của thực hành trị liệu. Gestalt đặc biệt coi trọng tồn tại như con người trải nghiệm nó và khẳng định năng lực người cho sự trưởng thành và chữa lành thông qua tương tác và thấu triệt liên nhân cách. Cách tiếp cận là hiện tượng luận do nhấn mạnh cách chúng ta nhìn thế giới, cách chúng ta góp phần tạo nên trải nghiệm, và cách chúng ta tổ chức thế giới cũng như thiết lập bản thân. Trị liệu Gestalt còn là cách tiếp cận thực nghiệm, và các thành viên của nhóm dần đi đến nắm bắt những gì và cách họ đang suy tư, cảm xúc và hành động khi tương tác với người khác trong nhóm. Các thành viên được hướng dẫn và khuyến khích làm thử các ứng xử mới như cách tăng cường tự hiểu biết (Yontef, 1995).

Khi thân chủ đạt tới trạng thái ý thức tập trung vào hiện tại đang là và ghi nhận rõ ràng hơn về các giới hạn trong kiểu quan hệ liên nhân cách của mình, sự vụ đầy ý nghĩa còn dang dở sẽ nổi lên. Để sống đầy tràn hơn trong hiện tại, các thân chủ cần định dạng và giải quyết bất kỳ điều gì từ quá khứ quấy nhiễu chức năng đương thời. Nhờ trải nghiệm lại những xung đột dĩ vãng như thể chúng đang diễn ra lúc này, các thân chủ mở rộng tầm nhận thức và đủ khả năng ôm choàng các phần bị chối bỏ và gãy vỡ của chính mình, do đó trở nên hợp nhất và toàn thể.

Quan điểm Gestalt là nhìn những gì đang trải nghiệm quan trọng hơn những diễn giải của nhà trị liệu (Strumpfel & Goldman, 2002). Vì thế, cách tiếp cận của nhà trị liệu nhóm theo Gestalt là không diễn giải; không cố gắng giải thích cho các thành viên tại sao họ lại làm thế, cũng như không biểu đạt ý nghĩa đích thực trong trải nghiệm của các thành viên (Frew, 2008). Các vị điều phối (leaders) nhóm khuyến khích các thành viên khám phá các ý nghĩa của riêng họ.

Các thành viên cũng được khuyến khích thử kiểu hành xử mới, biểu đạt một số chiều kích của nhân cách bị ngủ đông, và kiểm tra các phương thức hành xử khác nhằm mở rộng năng lực đáp ứng với thế giới. Theo Zinker (1978), các thực nghiệm Gestalt móc chặt với đời sống thực tế của các thành viên khi họ tự bộc lộ bản thân trong tình huống và trưởng thành từ bối cảnh sống động của nhóm.

Fritz Perls giới thiệu khái niệm “chỗ ngồi nóng” (hot seat) là một trải nghiệm tự nguyện mang tính trị liệu với một thành viên nào đó trong khi các thành viên còn lại quan sát. Fritz cũng đưa ra kỹ thuật “chiếc ghế trống”.

Nhiều nhà trị liệu sử dụng các kỹ thuật Gestalt kết hợp với các mô hình lý thuyết khác. Trong bối cảnh tham vấn nhóm, các bài tập và các hoạt động, như các huyễn tưởng được dẫn dắt, giữ vai trò hình thành ý thức và tạo nên trải nghiệm ở- đây- bây- giờ. Dùng các kỹ thuật Gestalt đòi hỏi am hiểu kiến thức và kỹ năng áp dụng từng cái. Do các nỗi đau tâm lý có thể tái hiện, gây rắc rối, thậm chí sang chấn khi đào sâu các cảm xúc nên người điều phối còn đòi hỏi phải chuẩn bị tư thế giải quyết các cảm xúc mãnh liệt có thể nảy sinh.

Dưới đây minh họa việc trị liệu Gestalt đặt ai đó vào chiếc ghế trống.

Bích là người phụ nữ trẻ có bố mẹ đã mất nhiều năm trước do tai nạn trên chuyến xe đi nghỉ mát. Bích từng đề cập chuyện này và giờ tiếp tục nói về bố mẹ mình.

Bích: (khóc) Tôi không nghĩ mình biết sắp xếp cuộc đời khi không có họ.

Người điều phối: Bích, cô có muốn thử hoàn thành công việc dang dở này không?

Bích: Tôi không biết cách làm thế nào.

Người điều phối: Cô muốn thử? Tôi có một vài ý tưởng. Cô có muốn chúng tôi giúp cô làm điều này?

Bích: Tôi muốn làm điều gì đó. Tôi không muốn cứ mãi cảm nhận như này mãi.

Người điều phối: Ok, để chuẩn bị vài thứ nhé. (Người điều phối đặt hai cái ghế vào giữa nhóm, đối diện với thành viên Bích; một cái là bà mẹ, một cái là ông bố). Cô muốn nói chuyện với ai trước?

Bích: Mẹ tôi.

Người điều phối: (Thành viên đang nhìn người điều phối. Bà sử dụng đôi tay để thu hút sự chú ý của thành viên vào ‘chiếc ghế bà mẹ’ và nói bằng giọng dịu nhẹ). Cô thích nói gì với mẹ mình nào?

Bích: (Thành viên nhúc nhích, nhìn chăm chú vào chỗ trống nơi chiếc nghế và nước mắt chợt rơi). Con nhớ mẹ lắm. Tại sao mẹ lại bỏ rơi con? Mẹ biết là con cần mẹ mà. Tại sao mẹ phải đi nghỉ mát với bố? Con biết mẹ thực sự không muốn đi chuyến đó. (Giọng thành viện lên cao ở đoạn cuối, cho thấy cảm xúc tức giận).

Người điều phối: Cô đang cảm thấy thế nào?

Bích: Buồn.

Người điều phối: Còn gì khác? (Thành viên chằm chằm nhìn người điều phối, như thể chưa sẵn sàng định dạng cảm xúc bản thân. Giọng người điều phối tuy vẫn dịu dàng song có phần nồng nhiệt hơn). Tôi lưu ý là giọng của cô thay đổi đó, như thể cô đang cảm thấy đôi chút tức giận với mẹ mình vì bỏ rơi cô, vì lên chuyến xe mà bà không muốn đi và hiện không quay trở về nữa?

Bích: (Thổn thức). Làm sao tôi có thể tức giận với mẹ chứ? Mẹ đã chết. (Trong trị liệu Gestalt, thành viên có sự tách ngăn cảm xúc tức giận và chối bỏ chúng).

Người điều phối: (Giọng mềm mại, đoan chắc). Ổn thôi do tức giận với người chúng ta thương yêu. Nếu cô ngồi trên sự tức giận, cô sẽ khó đặt điều này trước mặt mình. (Người điều phối lần nữa dùng cử chỉ để thu hút sự chú ý của thành viên vào chiếc ghế trống).

Bích: (Thổn thức, với giọng vống cao, tức giận). Tại sao mẹ đi? Tại sao mẹ chết và để con bơ vơ một mình? Mẹ biết con khó khăn thế nào để sống mà không có mẹ giúp đỡ!

Người điều phối: (Quét nhanh nhóm, quan sát thấy các thành viên đang rất chú tâm). Cô cần gì từ mẹ mình để bà có thể siêu thoát?

Bích: Tôi muốn biết là mẹ yêu thương tôi và mẹ không muốn để tôi phải trơ trọi một mình trên đời.

Người điều phối: (Điệu bộ hướng tới chiếc ghế trống). Tôi sẽ đề nghị cô ngồi vào kia, chỗ chiếc ghế đó. (Thành viên rời khỏi chiếc ghế đại diện cho mẹ mình). Tôi muốn cô làm mẹ mình. Bà muốn nói điều gì với Bích nào?

Bích: (Đổi ghế, nói với tư cách người mẹ). Mẹ yêu con và mẹ không muốn bỏ rơi con. Đó là một tại nạn mà chúng ta đã không tránh được. Mẹ không cố ý làm điều đó. Mẹ không cố ý bỏ rơi con ở lại một mình.

Người điều phối dãn dắt cuộc ‘đối thoại” giữa Bích và mẹ mình, bảo thành viên chuyển đổi ghế cho đến khi cô nhận ra mẹ cô “đã không làm điều đó với cô” và cảm xúc tức giận với mẹ là không có cơ sở. Trong ví dụ này, người điều phối nhóm dùng chiếc ghế trống để giúp thành viên trình bày các cảm xúc đối với mẹ mình, định vị và phóng thích chúng theo một cách chấp nhận được, và tích hợp nhận thức mới ấy. Khi Bích hoàn thành, người điều phối quay sang cả nhóm.

Người điều phối: Chuyện của Bích có ý nghĩa gì với các bạn?

Dương: Nó khiến tôi xúc động mạnh. Bích, anh chia sẻ với em. Anh đã từng điên tiết với bố anh khi ông nhậu nhẹt suốt và chuyện của em làm anh nhận ra bố mình không muốn mình điên tiết. Câu chuyện này thật mãnh liệt. Tôi có thể nói về nó?

Người điều phối: Hẳn rồi. Để nghe những thành viên khác chia sẻ rồi Dương có thể tiến hành bất kỳ việc gì cần thiết.

Ánh: Tôi vẫn đang tiếp tục hình dung ông nội mình trên chiếc ghế và nghĩ về những điều mình muốn nói với ông.

Có những lúc thành viên đang trị liệu dễ thấy khó khăn để nhập vào ý tưởng nói chuyện với chiếc ghế trống do một số lý do nào đó. Đoạn đối thoại bên dưới, dùng cùng tình huống vừa nêu trên, cho thấy cách người điều phối xử lý tình huống kiểu thế.

Người điều phối: (Sau khi cẩn thận đặt để trạng thái với Bích). Cô muốn nói gì với mẹ mình nào?

Bích: Tôi không biết phải nói điều gì đây.

Người điều phối: (Vẫn chăm chú nhìn vào chiếc ghế trống). Mẹ, con có một vài cảm xúc mà con không thể thoát ra khỏi được. (Hướng về thành viên). Cô thử nói thế xem.

Bích: Mẹ, con có một vài cảm xúc mà con không thể thoát ra khỏi được.

Người điều phối: (Lần nữa, nói với “Mẹ” ở chiếc ghế trống). “Một cảm xúc là… ” Tiến lên!

Bích: Một cảm xúc là.. tức giận. (Bích thổn thức).

Ở đây, người điều phối đã biết cài đặt tình huống trị liệu hết sức đúng đắn và biết thành viên chưa mang mẹ mình vào hiện tại được. Bởi việc thúc đẩy thành viên rất tinh tế, diễn cùng thành viên và sử dụng cách hoàn thành câu, người điều phối giúp thành viên nắm bắt được trải nghiệm… Giá trị của chiếc ghế trống quyền năng đến độ không chỉ mỗi thành viên duy nhất đang “ngồi chỗ nóng” mà hầu hết các thành viên trong nhóm cũng đang suy nghĩ ai đó họ muốn nói ngồi ở chỗ nóng.

Nghiện ngập và lạm dụng: “Làm gì khi bố thường xuyên đánh mẹ?”

Khi giải quyết chuyện bố, mẹ nghiện rượu thì điều chính yếu của việc đón nhận nguồn lực trợ giúp là biết mình mong đợi chi và cần ứng xử ra sao:

Giờ tụi em đã lớn và tự lập hết nhưng bố thậm chí còn quá quắt hơn. Không có nguyên nhân gì đáng để bố đánh đập mẹ cả, toàn những chuyện nhỏ nhặt hoặc là khơi lại chuyện ngày xưa nghịch ngợm của các con. Bố ngày càng nhậu nhiều hơn, tần suất đánh đập mẹ cũng nhiều hơn, còn luôn giữ con dao nhỏ trong người. Em đã khuyên mẹ ly hôn nhưng mẹ nói tụi em còn chưa ổn định nên mẹ không muốn. Tụi em đều ở xa và không biết chuyện gì sẽ xảy ra với mẹ. Xin hãy cho em lời khuyên trong tình cảnh này. Em có thể thay mẹ viết đơn khiếu nại được không? Gửi đến những cơ quan nào?(Yến)

 ………

Cái bất hạnh của mẹ bạn là không biết cách ứng xử với người say rượu. Người say rượu rất thích mọi người kính trọng họ và có lời nói nhẹ nhàng. Nếu không được đối xử như vậy, cái tức tối sẽ được cài vào não ở tần số tự động hóa, nên cứ uống đến độ nhất định thì hình ảnh xấu của người can thiệp lúc họ say trước đây sống lại và họ càng cáu càng tức khi gặp mặt. Mẹ của bạn đã để lại trong não bố bạn ở tần số say rượu những điều làm ông uất ức nên cứ say đến độ đấy là xuất hiện “đe dọa và làm hung dữ”. Bây giờ sửa lại khó lắm vì nó ăn sâu vào vỏ não mất rồi.

Có lẽ bạn chưa hiểu nguyên nhân từ xưa, lúc cha mẹ bạn còn trẻ và những ngày đầu ông uống rượu. Bạn hỏi mẹ bạn xem những ngày bố mẹ bạn mới cưới có chuyện gì không. Đây cũng là sự tế nhị nên bạn cần khéo léo. Nếu hiểu được lý do bố bạn uống rượu lúc đầu và cách ứng xử của mẹ bạn thì mới có thể “điều trị tâm lý” cho bố bạn được.

……..

Cho dẫu bất đồng với cách lý giải hời hợt trên, sự thật không may là các trường hợp tương tự xảy đến với các gia đình Việt Nam chẳng phải hiếm gặp, và thường nảy sinh một số cảm xúc đặc thù ở con cái.

Tôi tin, ngay cả khi không thấy kể gì về chuyện mấy người con có giáng đòn xuống ông bố nghiện rượu về thể lý hoặc cảm xúc, tổn thương họ phải gánh chịu từ bé thế đến giờ vẫn khó nguôi ngoai sớm chiều. Vấn đề là tình huống sẽ không được cải thiện (thậm chí càng làm tồi tệ hơn) cũng như hữu ích cho bất cứ ai, bởi việc gây đau đớn. Cô gái cùng anh, chị em mình cần tìm cách thức thật xây dựng để xử lý với các cơn tức giận và nỗi niềm bất mãn ở trong chính lòng họ. Ngoài việc học hỏi các cách thức đối phó mới, cũng khá tốt để đi đến nhận diện chính xác những gì đang diễn ra và hiểu rằng, nghiện ngập có thể chỉ là một loại bệnh đơn lập.

Như mấy người con này nhận ra ít nhiều, yêu thương và tha thứ cho ai đó không bảo vệ cho chúng ta khỏi việc định dạng người đó là ai, cách họ ứng xử, và bất kỳ hiểm nguy nào họ đặt để lên chúng ta. Các người con và bà mẹ có quyền tự bảo vệ bản thân khỏi sự lạm dụng về thể xác, lời nói và tinh thần, bất luận cách người bố lạm dụng liên quan ra sao.

Người ta tiến hành các chiến lược khác nhau với tình huống đang bàn. Một ví dụ là tách khỏi người cha và hành vi lạm dụng của ông, nhận thức rõ ràng là ông ta vẫn tiếp tục làm hại lòng tự trọng của con cái cũng như ông ấy có thể không ngừng đầu tư nhằm củng cố thêm vai trò, quyền lợi của bản thân hơn là lo lắng, quan tâm đến sức khỏe cảm xúc của vợ con.

Một chiến lược có thể là giữ ông bố ở khoảng cách an toàn, giống như giữ một con hổ bé, chúng ta yêu nó song vẫn đặt trong cũi cạnh nhà; quan tâm khả năng gây hại cho bản thân và người xung quanh. Khoảng cách an toàn được thực hiện khi cả mấy anh chị em cùng rủ nhau ghé nhà thăm bố hoặc nhân sự kiện gia đình, không có các cuộc tiếp xúc cá nhân: mọi sự tình cờ, kết thúc trao đổi rồi rời đi khi các lời mắng chửi của ông bố phủ lên, và tạo nên tâm thế xác định rằng cô gái chẳng còn ngâm tăm im lặng chịu đựng trước hành vi ấy nữa.

Một sự lựa chọn khác là nhận ra ông bố có thể mang tính cách lạm dụng; chuyện thuộc bản thân ông ấy, chứ không liên quan đến cô gái hay anh chị em… Các cá nhân như thế thường tỏ ra:

  1. không chịu chấp nhận trách nhiệm trước hành vi của bản thân,
  2. cảm quan khó tin nổi về việc cho mình có quyền và cần được tôn trọng dù đích thị không xứng đáng, và
  3. hầu như ích kỷ trong các quan hệ với mọi người xung quanh.

Nếu cô gái thừa tự tin, thử chọn cách tiếp cận này, kiểu giống các nhân viên làm việc ở nhà tù biết đồng nghiệp lạm dụng song họ lờ đi. Nếu độ trọng thị bản thân chưa cao lắm, đừng dùng nó vì bố cô gái sẽ dày vò con về mặt cảm xúc khi cô gái không duy trì sự tách biệt và nhận ra ông bố là kẻ lạm dụng dây dưa.

Khuyến cáo sử dụng bất kỳ cách tiếp cận nào tốt nhất với cô gái. Lưu ý rằng kẻ khác có phát biểu riêng họ. Nhiều người đưa ra lời khuyên tuyệt vời cho những tình huống không liên quan với họ, đó là cách họ nghĩ bản thân sẽ giải quyết được nó. Sự thật, cô gái nên làm những gì người bình thường khỏe mạnh cần làm là nhận ra bố mình lạm dụng, gây nguy hại về sức khỏe tinh thần cho mình, và cô gái cần phát triển một chiến lược xử lý tình huống. Nếu thế, cô gái đi đúng hướng.

.. Là kẻ nghiện ngập, ông bố có thể lo sợ người vợ bỏ rơi mình. Đàn ông bê tha lè nhè thế không nhiều bằng hữu thực sự. Dễ tưởng tượng người vợ làm mọi thứ: bếp núc, giặt giũ, dọn dẹp, nhà cửa v.v… Ông bố không tìm được ai gắn bó với mình thế và ước ao bà vợ hy sinh cuộc đời cho sự ích kỷ của ông ta.

Ông bố đang đe dọa tính mạng và hành hạ bà mẹ. Rời bỏ tình huống tương tự tạm gọi là ‘kế hoạch vượt thoát’. Làm bảng kiểm các nguồn lực: bà con, nơi nào tạm cho tá túc, ai hỗ trợ tài chính, v.v… thậm chí, xem xét cả các nguồn lực đang hiện diện ở cả nơi bà mẹ đang cư trú nữa: nhà mở, các tổ chức, đoàn hội trợ giúp. Cô gái cần giúp mẹ nhờ cơ quan pháp luật can thiệp…

Bất hạnh thay, tình huống như gia đình cô gái đang phải gánh chịu rất thông thường ở khía cạnh lạm dụng. Kẻ quấy rối đủ mọi dạng kiểu dùng nhiều vũ khí tâm lý cực kỳ hiệu quả để diễn kịch, bày vẽ chiêu trò, hăm dọa, và giữ người ta dưới sự kiểm soát, khống chế. Cũng đặc trưng việc nạn nhân hay đưa mình vào tình huống chối bỏ, giảm thiểu thấp nhất hậu quả, hợp lý hóa; thêm nữa, các nạn nhân thường bị tẩy não siêu tuyệt để tự họ nghĩ rằng mọi sự là do lỗi của họ, duyên phận không may mắn. Chưa nói, ở tầng mức vô thức sâu thẳm, họ biết rằng họ bị tổn thương khủng khiếp nhất  khi họ không tán đồng với những mệnh lệnh của kẻ trấn áp (một tỷ lệ nạn nhân tử vong xảy ra khi họ đi đến quyết định kết thúc quan hệ). Vì vậy, họ tự hoang tưởng cho rằng mọi chuyện đã an bài, sắp đặt sẵn rồi và họ an toàn hơn nhiều khi dấn sâu theo các mệnh lệnh, điều khiển của kẻ lạm dụng tài ba.

Các nạn nhân không khởi sự suy nghĩ thấu đáo và sáng suốt được trừ khi họ được dịp ít nhiều thoát ra khỏi tình huống lạm dụng. Thậm chí, nếu kẻ lạm dụng siêu giỏi về các chiêu trò như gây đau đớn thì nạn nhân dễ cảm thấy áy náy nếu tiến hành cắt đứt mối dây gắn bó. Song với việc trợ giúp kịp thời và đúng đắn, các nạn nhân có thể hồi phục một viễn tượng đời sống cân bằng và khởi sự làm lại…

Yếu tố quan yếu nhất trong trợ giụp nạn nhân thoát khỏi kẻ trấn áp là có một kế hoạch rất an toàn và mạng lưới hỗ trợ tốt. Không ở một mình và cần có các kế hoạch cụ thể phù hợp để giúp giải cứu một cách an toàn. Những kẻ lạm dụng không thích và để yên khi thấy uy lực và khả năng đe dọa của họ bị lung lay. Song khi cảm thấy họ  đối đầu với cả lực lượng hỗ trợ hùng hậu khác với một con người cô lẻ bị họ hành hạ bấy nhiêu năm trời khốn khổ, chuyện sẽ khác.

Cũng cần giúp cho các nạn nhân bị lạm dụng cảm nhận mức độ nhất định về năng lực kiểm soát. Họ không thể bị thúc đẩy hành động nếu e ngại. Nên rất giá trị khi họ nhận ra rằng có gia đình, bạn bè, và nhiều nguồn trợ giúp khác quan tâm, đứng bên và sẵn sàng ứng cứu khi bà sẵn sàng tiến hành các bước tái xác lập cuộc đời của chính mình.

Thực tế, tại Việt Nam, hiện có không ít các tổ chức, trung tâm chuyên sâu hoạt động can thiệp và trợ giúp nạn nhân trong các trường hợp bị bạo hành, lạm dụng.

Nhận ra điểm khác biệt giữa hiệu năng và sự học hỏi

Thực tế trêu ngươi là dù tiến trình học hỏi có vẻ được hiểu kỹ càng lắm rồi, thế mà chúng ta vẫn thất bại trong việc vận dụng những gì mình đã biết.

Khi thấu tỏ học hỏi là chi, và hiệu năng thể hiện khác biệt như nào với việc học hỏi, các bậc phụ huynh dễ phát hiện một điều nghịch lý rằng, đứa cháu gái mình đạt 100% tất cả các lịch biểu học tập đề ra hàng ngày lại trở thành điều tồi tệ.

Tưởng tượng có câu chuyện về hai lớp học.

Lớp đầu tiên tuy không quá đặc biệt song nó khác với hầu hết lớp học trẻ con chúng ta quen thuộc. Trong lớp này, giáo viên phát tận tay mỗi em lịch biểu công việc học tập riêng tự bản thân tiến hành, không nhờ ai giúp đỡ cả. Một nữ sinh giả dụ tên là Lan, liếc xéo tờ lịch biểu học tập; nó dưới tầm của cô bé và cơ bản hơn, gây phiền phức cho dịp được nghỉ ngơi ở nhà của Lan. Cỡ mười phút sau, Lan đã làm xong nên cô bé ngó mông lung lên trần nhà chờ bạn bè còn đang loay hoay. Cô bé đang học hỏi rằng thành công đến với mình không phải do mình chăm chỉ ra sao mà chỉ bởi vì mình giỏi giang hơn hẳn bạn bè.

Trong khi đó, cậu bé Dũng ngồi bên cạnh Lan lại đang trầy trật với câu hỏi. Cậu chàng nhìn chăm chăm vào tờ giấy và bóp đầ,u vắt trán cho tới khi lời giải lóe lên. Dù nỗ lực gắng sức hoàn thành xong lịch biểu bài tập, Dũng vẫn cảm thấy tồi tệ vì e rằng có đôi câu hỏi trả lời sai và tốn nhiều thời gian so với Lan. Cậu nghĩ thầm tại sao mình không giỏi giống như Lan.

Lúc này, Hoa ngồi kế bên Dũng, lại úp mặt xuống bàn. Cô bé không hiểu tờ lịch biểu công việc này. Hoa mơ hồ về nó có thể vì hồi đêm ngủ không đủ giấc, bị chuyển tới đây học kỳ rồi, hoặc đang buồn thiu do không được chẩn đoán là gặp khó khăn trong học tập. Chẩn đoán bất thường về cô bé (do bạn cùng lớp và cả giáo viên đánh giá) là lười biếng và không thông minh cho lắm, và cô bé thật may mắn lắm thì mới theo kịp chương trình. Tỷ dụ, Hoa hình dung sẽ thế nào nếu em ngỏ lời nhờ Lan hoăc Dũng bày vẽ, giúp đỡ mà điều đó thì trái với nguyên tắc, quy định. Vả lại, gì đi nữa, cô bé Hoa biết rằng mình sẽ luôn là kẻ đội sổ lớp dù có cố gắng hay không; vậy thì quan tâm, lo lắng để làm gì cơ chứ…

Bây giờ, chúng ta chuyển sang một lớp khác: một lớp học về bơi lội. Ngôi trường này chú trọng dạy các bài học bơi với từng em hơn là bài học bơi chung cho cả nhóm. Mỗi giáo viên hướng dẫn không chỉ bơi lội giỏi mà còn hiểu biết về các tiến trình cũng như giai đoạn học sinh thường trải qua từ trình độ sơ cơ cho đến thành vận động viên tiềm năng. Vượt trên các kỹ năng vật lý của việc bơi lội, các hướng dẫn viên này có các hiểu biết thực tế về khả năng của mỗi em trong việc phối hợp các động tác cơ thể, lưu giữ chú ý, cũng như điều kiện và sức chịu đựng… Họ biết các điều ấy vì họ luôn giám sát và lượng giá đều đặn tiến bộ ở từng học sinh. Các giáo viên dạy bơi chỉ ra ngay lập tức và nhắc nhở liên tục về những thành công và vấn đề đủ cho một học sinh có vô vàn cơ hội cải thiện với từng bài học trong 30 phút.

Ấn tượng nhất là cách các hướng dẫn viên ở đây hết sức tránh việc huấn luyện kỹ năng thành lão luyện. Khi một học sinh đạt khả năng cơ bản để dùng như một kỹ năng thì người hướng dẫn tạo ra điều mới mẻ mang tính thách thức hơn chút. Chỉ cần một học sinh đã học cách đập chân ở kiểu bơi tự do (còn hơi khó khăn) thì em này đã sẵn sàng để được bày các nguyên tắc cơ bản cho kiểu bơi bướm. Sau khi thiết lập kỹ năng cơ bản, việc ôn luyện sẽ diễn ra vài tuần để kỹ năng đó ngày càng thuần thục hơn song không bao giờ để nó thành việc học gạo, diễn ra đều đều mỗi ngày. Các huấn luyện viên ‘đòi hỏi’ học sinh vươn xa hơn khả năng các em có thể đạt được, ngay cả khi việc đòi hỏi ấy tạo nên ‘sai sót’ tầm 50- 75%, vì mục tiêu là nhắm vào tạo lập các cải thiện nho nhỏ mỗi lần… Trẻ bị thách thức, động viên và đề nghị dấn thân. Bố mẹ các em ngạc nhiên biết bao bởi sau một thời gian ngắn, con em họ đã tiến bộ trông thấy.

Có hàng tá khác biệt quan trọng giữa hai kịch bản nêu trên, song ở đây chỉ muốn nhấn mạnh duy nhất một thứ. Trong lớp học truyền thống, thành công được đo bởi việc thể hiện sự giỏi giang, lão luyện, thuần thục và chính xác: một dạng thức đo lường cho hiệu năng tiến hành. Đo lường hiệu năng không xấu, song nếu chúng ta mải mê với sự kiện rằng hiệu năng là cái đợi mình sau chặng đường dài của cái gọi là ‘học hỏi’ thì rồi mình sẽ dễ thành người như bé Lan (thường học tập không cần mấy cố gắng, và không biết làm sao khi gặp chuyện khó nhằn), hoặc như Dũng (dù không ngừng học hỏi song lại cảm thấy kém cỏi vì không đạt mức hiệu năng cao như Lan), hoặc là Hoa (bị đẩy ngồi vượt cao hơn trình độ song không ai phản hồi hoặc giúp đỡ và do đó, bị tổn thương đến độ dễ thấy mình tuyệt vọng, không học tập nổi).

Cho dù chuyện hướng dẫn cá nhân cho mỗi một em học sinh là điều không thực tế lắm, vẫn tin rằng những gì các huấn luyện viên bơi lội biết rõ và thực hành xứng đáng đem vào từng lớp học. Những học sinh tài năng như Lan cần hiểu rằng tài năng của các em không phải là thứ vé ưu tiên để vào cửa hàng bánh kẹo ăn uống thoải mái, và rằng có thể các em thừa khả năng học hỏi mà không cần gắng sức bao nhiêu khi còn bé, song trừ khi các em trở nên thành thạo trong ứng dụng các kỹ năng từ chất liệu học hỏi nằm bên ngoài vòng tay nắm bắt của mình, bằng không các em sẽ khuyết tật về mặt học thuật ngay khi tốt nghiệp, rời nghế nhà trường phổ thông hoặc đại học. Tất cả học sinh tựa bạn Dũng, những người học hành chăm chỉ song thất vọng với bản thân đến độ ngóng trông sang các học sinh tài năng bay bổng nhẹ nhàng mà cóc thèm đầu tư bao nhiêu, cần biết rằng đâu là điều mà những người học hỏi thực sự đang tiến hành.

Thói quen áp dụng năng lực tập trung chú ý và chuyên cần, chăm chỉ hình như bắt đầu đã được ít nhiều đánh giá cao hơn các điểm số bài thi và bằng cấp. Và vì các em như Hoa ở đời, những học sinh sẽ bị vứt xuống đáy tháp tức khắc nếu không sẵn sàng, cần biết rằng không có khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó chẳng phải là lời buộc tội, nó đúng hơn là dấu chỉ để kiếm tìm nguồn cơn của vấn đề và truy cầu một cách thức vòng qua trở ngại để học hỏi.

Nếu chúng ta xác định việc học hỏi quan trọng hơn hiệu năng thể hiện thì rồi tôi tin, chúng ta sẽ được nhìn thấy ở trong các ngôi trường hiện nay trên khắp đất nước còn vô vàn khó khăn này những gì từng chứng kiến ở lớp học bơi: cam kết đầy hứa hẹn, nhiệt tình năng động, và tiến bộ không ngừng vượt xa mọi kỳ vọng, mong chờ của chúng ta.

Vài lưu ý về các ranh giới trong tham vấn tâm lý

Ranh giới là khía cạnh chủ yếu của bất kỳ mối quan hệ hiệu quả nào giữa thân chủ và nhà tham vấn tâm lý. Chúng đặt để cấu trúc mối quan hệ và cung cấp một khung tham chiếu nhất quán cho tiến trình tham vấn. Một vài ranh giới là rõ ràng. Hầu hết nhà tham vấn biết rằng nó là vấn đề thuộc đạo đức, ví dụ, để tham vấn cho người yêu cũ bởi vì mối quan hệ trước đây làm suy giảm tính khách quan và hạ thấp mối quan hệ mang phẩm chất chuyên nghiệp. Thực tế việc phác họa các ranh giới không phải lúc nào cũng rành mạch, sáng tỏ; các tình huống này rơi ra ngoài khuôn mẫu, quy điều đạo đức và nằm trong khoảng vùng mờ xám.

Rồi chẳng hạn, một nhà tham vấn chạm mặt thân chủ ở nơi công cộng (như khách sạn, buổi chiêu đãi, hoặc sàn tập thể hình của địa phương) thì có tán gẫu vui vẻ hay rời bỏ ngay lập tức? Nhà tham vấn và thân chủ cả hai cùng phục vụ chung trường hoặc tham gia trong một ban từ thiện mà không hề làm lệch lạc mối quan hệ trị liệu giữa họ? Liệu nhà tham vấn từng hỗ trợ nhiều năm trời có đảm bảo đúng đạo đức khi tham dự đám cưới của thân chủ? Một nhà tham vấn có thể biểu tỏ bằng một cái ôm đầy lòng trắc ẩn với thân chủ đang quẫn trí sau một phiên trị liệu hết sức đau đớn?

Các câu trả lời, với nhiều nhà tham vấn, phụ thuộc các thuyết phục và nhân cách mang tính lý thuyết cá nhân khi khởi lên mỗi nghịch lý. Các yếu tố khác nhà tham vấn cần xem xét là nhân cách, sự chín chắn trong thấu hiểu và cảm xúc của thân chủ. Đó là lý do tại sao một số nhà tham vấn sẽ uống chén trà với thân chủ trong phiên trị liệu, và một số khác lại không. Một số nhà tham vấn thích treo ảnh gia đình nơi làm việc còn một số khác thì chẳng bao giờ làm thế. Một số nhà tham vấn sẽ tham gia một cuộc gặp tình cờ với thân chủ trong khi một số khác sẽ rời bữa tiệc nhanh nhất lúc thấy thân chủ băng ngang qua phòng.

Với các thân chủ đang đương đầu với các ranh giới mù mờ, câu hỏi phải đặt để quan trọng nhất trong tâm trí là “Liệu điều này có phục vụ cho các mối quan tâm mang tính trị liệu của thân chủ không?”

Các hướng dẫn về ranh giới mang tính đạo đức hành nghề dựa trên những nguyên tắc căn bản của bộ quy điều đạo đức dành cho người thực hành/ tham vấn tâm lý. Từ lâu, Corey (1996) đã tóm tắt ngắn gọn 5 nguyên tắc cốt lõi:

  1. Từ tâm: một nhà tham vấn phải chấp nhận trách nhiệm đề cao những gì là tốt lành cho thân chủ với mong đợi rằng thân chủ sẽ hưởng lợi từ các phiên làm việc.
  2. Không ác ý: “làm điều bất hại”. Nhà tham vấn phải tránh bất cứ lúc nào, hành động gì (thậm chí vô tình) hoặc tình huống ra sao cùng thân chủ mà có thể là nguyên nhân tạo nên mối quan tâm mâu thuẫn.
  3. Tự trị: trách nhiệm đạo đức của nhà tham vấn là khuyến khích thân chủ độc lập trong suy nghĩ và ra quyết định, và ngăn cản tất cả các dạng thức phụ thuộc vào mình ở thân chủ.
  4. Công chính: nhà tham vấn cam kết cung cấp dịch vụ đúng đắn và đàng hoàng với mọi thân chủ mà không phân biệt tuổi tác, giới tính, sắc dân, tộc người,văn hóa, khuyết tật, và địa vị kinh tế- xã hội.
  5. Trung thực: thành thật với thân chủ và nhà tham vấn thiệt tình cam kết vinh danh sự tiến bộ của thân chủ.

Nguyên nhân xáo trộn, rối rắm bởi các ranh giới từng được Corey (1996) mô tả tốt nhất như một biến thiên, trải dài từ việc gỡ thoát hẳn ra (các nguyên tắc chỉ đạo/ ranh giới cố chấp, cứng rắn) cho tới chuyện vướng víu (uyển chuyển đến độ phát tán lung tung) với một vùng xám mù mờ ở giữa mà hiển nhiên gây nhập nhằng và phụ thuộc nhà tham vấn, tình huống và các hoàn cảnh cũng như các nhu cầu không ngừng thay đổi của thân chủ. Để là nhà tham vấn hiệu quả, người ta không thể tách biệt với thân chủ đến mức chẳng thấu cảm nổi. Đó quyết không phải mục tiêu tham vấn và gây phản tác dụng với mối quan hệ trị liệu.

Tuy nhiên, nhà tham vấn không ước muốn thấu cảm đến mức họ ôm hôn thân chủ mỗi khi gặp mặt hoặc chửi rủa thân chủ om sòm trong lúc biểu đạt sự tức giận với nhau. Nhà tham vấn cũng không nên ghé thăm gia đình thân chủ vì tiện đường từ nơi làm việc về nhà, bởi đó là hành vi của một người bạn. Nếu làm thế, ranh giới sẽ bị xâm phạm. Trong tham vấn, các ranh giới nhập nhằng thường dễ khởi lên song nhà tham vấn cần nghiêm ngặt nhận lãnh trách nhiệm xác lập các giới hạn liên quan đến tính bảo mật của thân chủ. Dạng thông tin kiểu ấy đặt để với thỏa thuận được thân chủ tán đồng và là quyền lợi cơ bản của thân chủ.

Dưới đây là minh họa tham khảo.

Trong giai đoạn vẫn tiếp tục làm việc với nhà tham vấn X. hai năm nay, Y. đột ngột phải nhập viện để phẫu thuật khẩn cấp. Nghe giọng Y. quá bấn loạn và lo sợ qua điện thoại, X. hứa mai sẽ đến ngay bệnh viện thăm cô. Y. đau đớn khủng khiếp, và X. ngồi trên chiếc ghế đặt cạnh giường Y. nằm, nắm lấy tay cô khi Y. chìa tay ra… X. hỏi han bệnh tình, an ủi rồi sau khi biết chắc gia đình Y. sắp vào thăm, X. nhanh chóng rời bệnh viện.

Y. biết đây là tình huống ngoại lệ với các phiên tham vấn vẫn quen gặp X. và điều đó sẽ không lặp lại. Việc X. ghé bệnh viện thăm Y. được hiểu đơn giản là nhà tham vấn quan tâm đến sức khỏe của thân chủ, thấy rõ ràng và sâu sắc cơn đau cũng như cảm giác bị khủng hoảng của Y. Vào phiên đầu tiên sau khi Y. xuất viện, X. tranh thủ ít phút nhắc lại cuộc viếng thăm của mình để đoan chắc là Y. hoàn toàn hiểu rõ ý nghĩa của nó đặt trong bối cảnh của mối quan hệ trị liệu.

Một số nhà tham vấn có thể sẽ không ghé bệnh viện thăm Y., họ cho rằng chỉ nên hạn chế mối quan hệ trị liệu trong văn phòng và hành vi của nhà tham vấn khá dễ bị thân chủ hiểu nhầm. Một số nhà tham vấn khác lại tin rằng một quyết định đưa ra thì phải dựa cụ thể vào các tình huống cá nhân cũng như tính đặc thù, riêng biệt trong mỗi mối quan hệ với từng cá nhân thân chủ.

Cách thức chuyên nghiệp mà bản thân X. tiến hành khi ghé bệnh viện thăm thân chủ Y.cho phép X. vận hành cùng với các ranh giới sát hợp lương năng chức trách của nhà tham vấn đàng hoàng. X. không hề có ý định nịnh đầm, chiều chuộng phụ nữ khi ghé bệnh viện thăm Y., hơn thế, X. suy nghĩ thấu đáo về chuyến thăm, cân nhắc các khả năng xảy đến cũng như lợi lạc cho thân chủ. Hành vi của X. thích đáng như người làm việc chuyên nghiệp, trong bối cảnh chuyên nghiệp, đã chẳng tạo ra suy diễn sai lầm rằng chuyến thăm và cả hình ảnh bản thân của mình giống như một người bạn. Rồi, sớm nhất có thể, X. đã trao đổi với thân chủ thật rõ ràng về ý nghĩa chuyến thăm đồng thời cắt bỏ bất kỳ khả năng nào gây nhập nhằng hoặc ám chỉ bóng gió.

Các nhà tham vấn làm việc hữu hiệu nhận ra ngay rằng những cảm xúc mãnh liệt khá dễ khởi lên trong phiên trị liệu và chúng thường thách thức cả các ranh giới cá nhân lẫn chuyên nghiệp của chính nhà tham vấn. Nhà tham vấn nào am hiểu quyền năng tác động của bản thân và mức độ dễ bị thân chủ diễn dịch sai trái thì cũng rất nghiêm túc nắm lấy các ranh giới thuộc tham vấn tâm lý chuyên nghiệp. Họ cũng thận trọng khi lựa chọn thái độ uyển chuyển trong các ranh giới quan hệ và càng không lơ là về khả năng rẽ nhánh, chia luồng khi uyển chuyển cùng thân chủ.

Cài đặt đồng bộ và nâng cấp hệ thống: hiểu biết tốt hơn đời sống tâm lý con người

Nhân loại lại bay trên  cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng...
Nhân loại lại vội bay lên trên cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng…

Khi cái laptop nồi đồng cối đá T42 IBM bị bánh xe ô tô cán lên làm vỡ màn hình do đặt để bất cẩn, chủ nhân của nó tiếc tiền gắn liền kỷ niệm nên nhanh nhảu nối dây cài cắm với màn hình máy tính bàn vốn tạm thời hỏng hóc ổ cứng… Thói khôn lỏi, sửa chữa vặt vãnh khó đảm bảo ổn thỏa lâu dài, chưa nói sẽ không khỏi mặc cảm tự ti khi so sánh với các dòng đời mới và vô vàn kiểu loại smartphone, Iphone, Ipad truy cập mạng lưới điểm toàn cầu cũng như tích lũy thông tin hết sức hiệu dụng.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Liệu ưu tiên khẩn thiết tìm hiểu có phải là chủ đề nóng hừng hực: tâm trí con người cần được nhận diện và rồi kiểm soát nếu em í bất chợt lêu bêu? Bởi ở mức độ nhất định, khoảng cách làm sáng tỏ cái nhìn nên đừng chú mục sát sườn: tại sao tâm trí người lớn tuổi hơn thường ít có xu hướng lang thang?

Tỷ dụ dễ hiểu rất đời là câu chuyện phân tách tính dục (sexuality) với tư tưởng dâm dục (eroticism) khá tương tự như khác biệt giữa con vật và loài người:

Động vật có sex và điều đó tự nhiên, nó là thôi thúc căn bản, thuộc bản năng, mang yếu tố sinh đẻ. Con người có đời sống dâm dục. Chúng ta thay hình biến dạng tính dục. Chúng ta xã hội hóa tính dục thông qua trí tưởng tượng. Và tác nhân cốt lõi của hành động dâm dục là sự sáng tạo, trí tưởng tượng, hoặc khả năng làm mới lại, khả năng hưởng thụ và đoán biết trước… Chúng ta có thể mường tượng hành động mà cóc nhất thiết đích thị tiến hành nó. Và đấy là sự vun bồi tự thân nỗi niềm khoái lạc.

Tư tưởng dâm dục thế, theo nữ tâm lý gia lừng danh Esther Perel, hàm ý xem sex như một trải nghiệm rung động mãnh liệt và siêu việt. Perel gọi đó là “nơi mình đi vào trong chính lòng mình cùng với kẻ khác”. Nhiên liệu cho cuộc du hành siêu việt này là sự sáng tạo riêng có của cá nhân. Và xuyên qua sự thăm dò trí dâm dục khiến các huyễn tưởng dậy lên. Các ranh giới mở rộng ra và nhiều thực tế mới mẻ được rèn giũa. Do vậy, tiêu điểm của tư tưởng dâm dục và trí thông minh gợi tình không phải ‘quan hệ” mà mang “ý nghĩa của sex”. Siêu việt là bởi thế. Perel cũng chỉ ra tính cách tân như điểm quan trọng khác giữa sex/ erotics: không phải là các vị trí hoang dại mà hơn thế là điều mình như người tham gia đem theo vào trải nghiệm: cảm xúc, sức quyến rũ, độ đam mê, tinh thần. Sự nối kết giữa sự mới mẻ và tính sáng tạo là điều bắt buộc để duy trì một mối quan hệ lành mạnh…

Dẫn chứng cách nhìn trên càng dễ chứng nhận sự thật rằng ngày nay, làm việc hoặc nói chuyện với người trong lĩnh vực kinh doanh, giáo dục, chính trị, văn hóa, xã hội… gì gì thảy đều hay được đề nghị đưa ra một mô hình hoặc tập hợp các công thức khoa học có thể ‘giải quyết’ các vấn đề hành vi giúp họ. Dẫu hiện có nhiều mô hình về cách con người ứng xử, sự tạo thành thói quen, và nhận thức khả dĩ giúp chúng ta thấy hiểu bản chất chính mình thì bất kỳ mô hình nào, theo định nghĩa, đều là việc đơn giản hóa thế giới đích thị đang là. Các mô hình tâm trí cũng cụ thể hóa hiểu biết của chúng ta ở một thời điểm nhất định. Hàng ngày, nảy nở nghiên cứu thêm và cập nhật hiểu biết về phương thức tâm trí hoạt động. Trong khi các phát hiện này phản hồi với các mô hình đang tồn tại, chúng thường đứng ngoài rìa của những khám phá kinh điển được dạy trong sách giáo khoa và các cuốn khoa học phổ thông trong một thời gian dài.

Và quả đúng là chúng ta mê những giải thích thật giản dị và chặt chẽ về các hiện tượng phức tạp. Chúng ta thích biết bao nhiêu việc trải nghiệm đời thường có thể được làm rõ ràng, minh bạch nhờ các khung lý thuyết đơn giản. Lợi lạc lớn lao việc bình dân hóa khoa học và nhờ hiểu biết các tiến trình tâm thần từng khiến chúng ta khốn khổ. Song khá nực cười để nhìn nhận bất kỳ mô hình đơn lẻ nào như nền tảng cơ bản cho hoạt động kinh doanh, marketing, hoặc quyết định sự vụ ở đời. Một mô hình có thể là khung tham chiếu có tính khai sáng đi nữa thì nó không thể hồi quang rộng khắp sự phức tạp của tâm trí.

Đó là lý do tại sao nếu mình nghiêm túc muốn làm ăn tốt đẹp và tạo lập những quyết định sống đúng đắn thì mình nên ưu tiên nghiên cứu các khoa học hành vi liên tục và suốt đời. Mình cần cập nhật thật nhất quán và tái xác lập yếu tố các viễn tượng chúng đưa ra nhằm tự bảo vệ bản thân chống lại các mô hình lỗi thời vốn gây lầm lạc hơn là làm rành mạch.

Nói khác, khởi từ bây giờ, mình nên tháo gỡ các mô hình không chính xác đã mang theo suốt từ bấy đến nay. Mỗi chúng ta có cả lố tâm lý cổ truyền chuyển giao bởi nền văn hóa, thông qua bố mẹ, và cách giáo dục thừa hưởng. Có thể nhiều ý tưởng trong đó hãy còn nhất quán với nghiên cứu đương đại, song đa phần thì không.

Chẳng hạn, hầu hết mọi người nghĩ rằng chúng ta hành động dựa trên ‘niềm tin”. Tuy thế, các nghiên cứu chứng thực, chúng ta tạo các quyết định phụ thuộc nhiều yếu tố lắm, như sự dễ chịu và việc sắp đặt (ở tiệm tạp hóa chẳng hạn), rồi đi tới tìm ra những hợp lý hóa hậu thuẫn cho những lựa chọn ấy. Nghĩa là, chúng ta không luôn luôn mua thứ gì vì thích, chúng ta thích thứ gì vì mình mua nó. Chúng ta vốn siêu trong vụ kể chuyện theo dạng biện hộ thế.

Nhiều người chúng ta đầy ứ các quan niệm sai lầm kiểu vậy. Song chúng ta khó tránh được. Nghệ thuật sử dụng khoa học hành vi không phải là điều trọng tâm trong nền giáo dục của chúng ta.  Chúng ta nên bắt đầu làm quen với việc tạo lập và tái xây dựng lại hiểu biết của chúng ta về hành vi và nhận thức con người nhờ kiểm tra, xem xét nghiên cứu mới nhất khi nó được công bố. Vẻ đẹp của cách tiếp cận gộp lãi thêm lên này là nó sẽ làm thay đổi lối chúng ta nghĩ về các vấn đề, bạn bè, và đời sống chúng ta khi chúng tiến triển, biến hóa. Tựa như chuyện nâng cấp hệ điều hành để ngày càng sát hợp hơn với thực tế. Đó là một trong những điều quan trọng chúng ta có thể tiến hành, và là cách chắn chắn đảm bảo áp dụng hết sức chính xác tâm lý học vào đời sống của mỗi chúng ta.

Cũng nên biết, mặc dù chán ngán do đánh giá quá cao động cơ song nghiên cứu của các nhà tâm lý học cũng vẫn đang đuổi theo hạnh phúc. Và bản chất con người đang tiến triển trong đáp ứng với những cách tân của công nghệ, chẳng hạn tác động của công nghệ điện thoại di động đến động năng trò chuyện hàng ngày.

Chắc chắn, vẫn còn để ngỏ gợi hứng về cách thức tâm trí hoạt động. Cần tìm biết bộ não đã tạo ra thế giới tâm thần chúng ta như thế nào, chúng sẽ chỉ ta hay cách từ vựng cơ bản của tâm lý học hiện đại về trí thông minh, hành vi, thái độ, động cơ, v.v… không phải cứ thuộc kiểu dạng bản chất mãi mãi như thế mà được cấu trúc, phân loại dựa vào mục tiêu đặc thù ở các thời điểm trong lịch sử; nhiều mục tiêu cũ mèm giờ không phục vụ được cho nhu cầu hiện tại nữa và dần gây trở ngại cho tiến bộ tương lai…

Ngược dòng thời gian đặng trầm ngâm cùng tác phẩm hiếm thấy và ít khi được thông tỏ của B.F. Skinner. Đối lập với một số diễn dịch sai trái về vị trí của ông, Skinner không những chưa từng bao giờ ngờ vực rằng chúng ta có thể mô tả các trạng thái nội tâm như suy tư hoặc cảm xúc mà còn tự hỏi cách thức chúng ta làm thế nào để tiến hành chuyện đó; câu trả lời của ông gây ngạc nhiên, tương thích với thực hành tâm lý trị liệu, và là một thách thức đối với những ai giả định chúng ta có thể biết các cảm xúc bản thân chỉ nhờ tiến trình đơn giản của việc tự nội quan.

… Tác giả Gay Watson (2008) khuyến cáo chúng ta tích hợp các cách tiếp cận thân thể và tâm trí với nhau , vẽ ra những tiếp cận dự liệu trước từ phương Đông; và như cuốn sách trình bày, các lý thuyết và mô hình tâm lý, tâm lý trị liệu có thể tìm được vết ở nhiều biến thể của tâm lý học Phật giáo 2500 năm rồi.

Điều này gợi nhắc tới tác phẩm kinh điển thể hiện các nguyên tắc của tâm lý học đồng thời nó cũng minh họa đặc sắc cho lối viết, khả năng dự báo và tuệ giác của William James từ 1890.

Như cái chết của tâm trí, các công ty internet ngày nay đang sử dụng các dữ liệu cực lớn tích lũy từ từng hành vi nhỏ nhặt của người dùng mạng để gây ảnh hưởng tới lựa chọn của khách hàng. Các lý thuyết và tư tưởng tâm lý học về cách thức tâm trí hoạt động đóng vai trò rất nhỏ bé nếu không nói là nó vắng bóng trong các mô hình được đề cập trong bài báo vốn dựa hoàn toàn vào các mô hình từ toán học.

Phê bình khá công bằng, so sánh với ngành sinh học không ngừng tiến hành các nghiên cứu nhằm chỉ cố gắng mô tả các giống loài mới, tự thân tâm lý học có vẻ cũng đang thu hẹp tâm trí của chính nó, vì sự mù quáng do sở thích dùng các phương pháp thực nghiệm trong khi hạ thấp tầm quan trọng của việc nắm bắt các hiện tượng mới mẻ và thú vị của đời sống con người.

Tha nhân – trọng tâm trị liệu: một cách tiếp cận thú vị khác

Thường các nhà trị liệu tâm lý rất đặc trưng trong cách làm việc với lối hỏi “nhưng giờ thì chị cảm thấy thế nào?” Song thay vì quấy rầy thân chủ khỏi câu chuyện của họ về thế giới như thế, chính người theo cách tiếp cận tha nhân- trọng tâm (Other- Centred) lắng nghe hết sức cẩn thận rồi đặt câu hỏi trái ngược về đối tác có hành vi khiến thân chủ đang phàn nàn: “nhưng điều gì mà anh ấy thích?”

Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận này phản ánh sự dấn thân đầy ý thức với những người khác, gồm cả các quan hệ con người và tiếp xúc của chúng ta với môi trường xung quanh; là kiểu trị liệu sinh thái (ecotherapy), nó đưa các công việc trị liệu ra ngoài trời và kết nối vởi cả các loại hình nghệ thuật sáng tạo cũng như mối quan tâm xã hội.

Cụ thể hơn, phương pháp tha nhân- trọng tâm thể hiện sự khám phá tri nhận đã điều kiện hóa sẵn rồi và tái lượng giá về các mẫu hình chú ý và hành vi. Những chuyển đổi tri nhận như thế dẫn tới thay đổi tâm lý cá nhân người ta như sự định dạng thích ứng với các điều kiện mới. Phương pháp tích hợp, một mặt thẩm tra các động năng của trải nghiệm, và mặt khác, truy vấn tính xác thực của hiện thể đang tri nhận. Toàn bộ công việc diễn ra bên trong khung đạo đức, sự chú ý hợp trội, tính thấu cảm và các kỹ năng tỉnh thức (mindfulness skills).

Với bài trinh bày tại Hội thảo (2012) của mình, tác giả Caroline Brazier đã thể hiện sáng rõ cách tiếp cận trị liệu rất khác vừa nêu. Theo đó, Brazier làm nổi bật sự cân bằng giữa phát hiện cá nhân, với kết nối thể lý và các bài tập chú ý cũng như các câu hỏi giúp tri nhận dễ dàng hơn, đi kèm khung lý thuyết dựa trên cách tiếp cận của Carl Rogers, các truyền thống nhân văn- hiện sinh và con người- trọng tâm, đề cao mối quan hệ và thấu cảm như các yếu tố chính yếu quyết định trị liệu thành công, và nhà tham vấn từ căn bản tương tự dường như đạt được giá trị tối ưu khởi đi bởi các trực giác mới mẻ…; khi nền tảng được đặt để rồi, trong dạng thức nhân cách và biểu đạt thành niềm tin cá nhân, chúng ta tiến tới ‘tâm lý học Phật giáo’ với khái niệm cốt lõi là các ‘quan hệ đối vật’.

‘Định dạng quan hệ đối vật’ trong ý nghĩa tâm lý học Phật giáo hơn là cảm nhận của Phân tâm, khái niệm này biểu đạt việc “tâm trí bị điều kiện hóa bởi đối vật của sự chú ý”. Và đối vật chúng ta đang chú tâm vào (bất kỳ con người, đồ vật, trải nghiệm gì) thì không nhiều ít, hơn kém chi so với đối vật được tri nhận. Chún ta mong đợi thấy thứ gì, chúng ta thấy thứ đó, và khi thấy thứ đó rồi thì mình lại càng mong thấy nó hơn, và vì thế bị mắc kẹt. Vòng tròn tự củng cố của mong đợi và phản ứng hàm nghĩa chúng ta xây dựng xung quanh mình một bức tường tâm lý nhằm giữ cho bản thân thoát khỏi những điều mình sợ hãi và kháng cự. Và do cuộc đời vốn không dự đoán nổi, có đầy rẫy nỗi sợ hãi và vô vàn kháng cự. Chúng ta bắt đầu dựa cậy, mời gọi cấu trúc tâm thần hoặc phòng vệ này, cái gọi là ‘của tôi’: một định dạng được tạo dựng bao quanh các thói quen chúng ta thiết lập để giúp mình khỏi nhọc trí, bảo bọc bản thân, hoặc lập tức lãng quên luôn.

Sự tạo tác thế giới này, thế giới của chúng ta, hoặc ‘của tôi’, gồm nhiều đối vật khác nhau (người, các trải nghiệm) để nâng đỡ cảm nhận của mình về cái tôi và về thực tế cũng như độ an toàn của các thế giới do mình tạo tác. Chúng ta kiếm tìm các đồ vật và con người hỗ trợ phương cách mình đang muốn nhìn thấy (có thể chúng ta chỉ chọn những ai tán đồng với mình, hoặc có thể mọi người là kẻ thù). Đây là mẫu hình khá quen thuộc trong trị liệu và trong tài liệu tâm lý học, ví dụ, người bị lạm dụng thường duy trì các quan hệ mới và những gì họ thu được càng giống như trước; tựa điệp khúc, ‘làm sao tôi có thể thoát khỏi mẫu hình đó đây?’

Câu trả lời Brazier đưa ra: tập trung chú ý sâu xa vào các đối vật mà ta tri nhận như trạng thái có ý nghĩa đối với bản thân và cách nó điều kiện hóa lối mình suy nghĩ và cảm nhận. Brazier hướng chúng tới thuật ngữ Phật giáo gọi là ‘sắc’ (rupa). Từ này không chỉ mang nghĩa ‘các đối vật được tri nhận’ mà còn trỏ điều gì đó mà quyền lực của nó gây phấn khích và thu hút sự chú ý của chúng ta; có thể gọi nó là một ‘nút bấm’, ‘cú lẩy cò’, hoặc chủ đề quán xuyến khởi lên trong đời chúng ta lặp đi lặp lại, hết lần này đến lần khác.

Nhà trị liệu chú ý tới các rupas, làm bộc lộ chúng ra rồi khám phá sức mạnh của chúng. Các chiến lược khác biệt từ việc thổi phồng ‘phẩm chất rupa’ của đối tượng cho đến việc tạo nên được khoảng cách tách biệt khỏi nó, để tái dựng lại nó khác đi với đầy đủ chi tiết liên quan, trong phòng trị liệu…

Dĩ nhiên, một rupa có thể tương đối khủng khiếp vì thế cần có một sự đánh giá sâu sát về cách thức làm sao giúp thân chủ tương tác với khoảng cách an toàn, làm sao giải quyết với các hồi tưởng, và sang chấn, tạo ra các kỹ thuật nền tảng cũng như cảm nhận về sự nương tựa.

Từ những kỹ thuật dùng tâm kịch (psychodrama) với chiếc ghế trống, các đối vật có thể xem là các mỏ neo, ký ức, hoặc thành phần của tiến trình tạc tượng (sculpting), Brazier tiến tới thảo luận về “tỉnh thức” (mindfulness) với lưu ý rằng, trong khi sử dụng nó như kỹ thuật nhằm nắm bắt những gì đang diễn ra hiện tại với từng khoảnh khắc thì bà còn dùng thuật ngữ này để chỉ việc có một mối quan hệ đáng tôn trọng với thực tế, tưởng thưởng sự khác biệt của nó, và sự kiện là nó không hề diễn ra dưới sự kiểm soát của chúng ta hoặc vận hành theo ước muốn của chúng ta. Đây là điều nhắc nhở cần cởi mở với những người khác và không nên xoắn bện thực tế khớp khít với cảm nhận riêng của chúng ta về bản ngã, dù nó tích cực hoặc tiêu cực đi nữa; nó cũng nhắc nhở về chiều kích tâm linh và tính thiêng, ngay cả khi những thứ này không nên mang vào quá đặc thù trong quan hệ trị liệu.

Như thế, đối lập khá dữ dội với các nhà trị liệu khác, người tiếp cận theo phương pháp tha nhân- trọng tâm đi sâu vào các câu chuyện của thân chủ rồi xem xét chúng mang ý nghĩa ra sao với thân chủ, nhắm vào các cảm xúc và định dạng chúng như là cái làm tăng thêm vấn đề hơn là giúp ích cho thân chủ… Brazier hướng tới quan điểm là một người lành mạnh khi họ dấn thân trọn vẹn vào những gì họ đang tiến hành hoặc với người mà họ đang quan hệ, hơn là khi họ quan sát một cách có ý thức các trải nghiệm của bản thân; với cách nghĩ ấy, bà cân nhắc về vai trò của trị liệu: liệu nó đáng giá so với việc cải thiện các điều kiện vật chất trong đời sống của con người ta, để được tiếp xúc với những ai quanh mình, hoặc làm việc cho sự tồn tại mãi mãi của hành tinh, hơn là đơn giản ngồi trong phòng trị liệu để phân tích các cảm xúc của mình với một người lạ?

Kết luận rút ra là một sự mời gọi cân bằng, cho một kiểu trị liệu có nền tảng vững chắc và yếu tính của nó cởi mở với những người khác, không xem trị liệu như cái gì đặc biệt tự thân mà chỉ là một phần khác tích cực, hữu dụng của thế giới liên thuộc của chúng ta. Thân chủ cũng cởi bỏ khỏi thái độ tương tự về những gì tiền định sẽ được khám phá và vui thú…

Trị liệu và tiêu chí chẩn đoán các rối loạn tâm thần

Cả khi tiếp xúc mặt đối mặt lẫn trong thực hành trực tuyến trên mạng, cá nhân tôi chẳng hề nghĩ mình luôn luôn nên đối xử với thân chủ thông qua những biểu lộ của một hoặc nhiều các rối loạn tâm thần nhất thiết cần phải khít khớp với cách tiếp cận y khoa bệnh lý.

Không ai chỉ thuần là trường hợp của rối loạn lưỡng cực hoặc chán ăn tâm thần, một dạng ám ảnh- cưỡng bức, hoặc người mắc tâm thần phân liệt paranoia. Theo quan điểm riêng, các phân loại chẩn đoán chính thức nắm giữ vài giá trị của thông tin mang tính bối cảnh, nhưng chúng đóng vai trò ít nhiều quan trọng hơn là các hoàn cảnh đặc thù của ai đó. Nếu là thân chủ, điều trước tiên và hầu như bạn chính là cá nhân duy nhất, đặc biệt. Mang kèm theo bất kỳ nhãn mác chẩn đoán nào không nói với tôi nhiều nhất có thể về bạn và trải nghiệm bạn khả dĩ… Nó chắc chắn không kể cho tôi nghe những gì bạn ‘cần’ như ‘điều trị’ (treatment).

Dẫu sao, trải nghiệm riêng tư khi làm việc với các thân chủ từng nhận các chẩn đoán tâm thần chính thống từ các chuyên gia khác, tôi thường nhận thấy các thân chủ của mình cảm nhận là họ thiếu thông tin thích đáng mà các nhãn mác chẩn đoán kiểu đấy đích thị thể hiện ý nghĩa.

Bài này nhắm mục đích cung cấp các sự kiện cơ bản liên quan các nhãn mác chẩn đoán khác nhau ấy. Lưu ý, thông tin chẩn đoán cung cấp ở đây chỉ phục vụ các mục tiêu giáo dục và không thể thay thế lời khuyên việc dặn của một chuyên gia sức khỏe tâm thần đủ tư cách hành nghề tác nghiệp.

Dưới mô hình y khoa quen thuộc đối với đa số các nước phương Tây, khái niệm ‘chẩn đoán’ (diagnosis) hay nhắm chỉ việc định dạng bản chất và nguyên nhân của một bệnh lý, vết thương hoặc lệch lạc khác khỏi chức năng vận hành bình thường. Các đánh giá đặc trưng, trực tiếp về mặt thể lý được tiến hành nhằm thu hẹp các nguyên nhân khả thể (chẩn đoán phân biệt) giúp lý giải các triệu chứng (symptoms) quan sát thấy bởi vị bác sĩ hoặc nhờ bệnh nhân báo cáo, kể lại. Căn cốt, điều này nghĩa là một chẩn đoán y khoa không thuần túy chỉ là tập hợp các triệu chứng; một chẩn đoán y khoa thêm thông tin mới vào bức tranh lâm sàng mà nó không chắc xứng hợp từ việc gom góp các triệu chứng đặt sẵn rồi. Nó thêm thông tin mới về tính nhân quả, việc điều trị, tiên lượng bệnh lý, các biến chứng xảy đến, và phức tạp hơn nữa…

Giờ bàn tới các rối loạn tâm thần. Việc ‘chẩn đoán’ được làm rõ cùng sự hiện diện hoặc vắng bóng các triệu chứng đã quy định. Không như trường hợp các dạng tiểu đường, ví dụ vậy, không có test đường huyết đơn giản nào cho rối loạn trầm cảm hoặc chán ăn tâm thần hay rối loạn tâm thần khác. Tự định nghĩa, để mắc trầm cảm thì không phải có các dấu hiệu nào đó về mặt cơ thể; theo định nghĩa, mắc trầm cảm là chuyện ai đó trải nghiệm rất đặc trưng thông qua các mô tả tập hợp triệu chứng cụ thể (cũng thế, các test tầm soát trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác chỉ đếm kiểm một loạt các triệu chứng). Vậy một ‘chẩn đoán’ rối loạn lưỡng cực, chẳng hạn, không nói với ta điều gì mới mẻ, vượt qua và vươn ra khỏi sự hiện diện của các triệu chứng đặc thù được định sẵn trong danh sách. Đối lập, một chẩn đoán các dạng tiểu đường hoặc cường tuyến giáp cho ta biết một cái lớn lao hơn là tập hợp các triệu chứng có thể được bệnh nhân trải nghiệm.

Ý cuối, các chẩn đoán tâm thần là rỗng không về mặt lý giải, vì thế, chúng đặt để rất đúng đắn trong một lĩnh vực cực kỳ khác biệt của khoa học hơn là chẩn đoán ‘thực’ (y khoa phương Tây). Chúng có thể giúp thân chủ (và nhà trị liệu) hiểu biết bối cảnh, và chúng đưa ra các chỉ báo phù hợp mang ý nghĩa thống kê về việc có thể sử dụng các điều trị bằng thuốc, song chúng không hề giống các tiêu chí chẩn đoán chuẩn mực của y khoa phương Tây.

Nhân tiện, mời tham khảo thêm quan niệm ‘chẩn đoán’ theo cách tiếp cận của Con người- Trọng tâm trị liệu (person-centered therapy).

Phòng ngừa khả năng mắc trầm cảm

Phòng ngừa được hiểu như là việc tiến hành những sự can thiệp nhằm ngăn không cho xảy ra các cuộc tấn công khiến phát triển lên thành rối loạn, gây rắc rối thêm…

Ngăn ngừa trầm cảm (depression) làm giảm các yếu tố nguy cơ rối loạn tâm thần cũng như tăng cường các yếu tố bảo vệ nhằm nâng cao sức khỏe tâm trí.

Mức độ nguy cơ của một cá nhân phát triển trầm cảm có thể được xem xét bởi tính dễ bị tổn thương và trạng thái phơi nhiễm đối với các yếu tố nguy cơ, và sự hiện diện cũng như sức mạnh của các yếu tố bảo vệ liên quan với sự phát triển đó.

Các can thiệp phòng ngừa có thể mang mục tiêu hướng đích phổ quát (chủ yếu ngăn ngừa) ở mẫu dân số chung, lựa chọn cố ý ở các nhóm nhỏ thuộc dân số hoặc các cá nhân khả năng dễ mắc trầm cảm hết sức cao một cách ý nghĩa so với trung bình, hoặc biểu lộ ở các cá nhân được đánh giá là nguy cơ cao, với các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm ban đầu thể hiện ra…

Nhìn chung, có một phổ các can thiệp liên quan đến các trục trặc và rối loạn tâm thần: dự phòng chung, dự phòng chọn lọc, can thiệp sớm (can thiệp theo chỉ báo; định hình trường hợp, và trị liệu sớm); trị liệu (theo chuẩn mực); tiếp tục theo dõi (quyết tâm trị liệu dài hạn; chăm sóc lâu dài); dự phòng độ ba.

Dự phòng sơ cấp (phổ quát)

Can thiệp mang tính dự phòng sơ cấp thì trực tiếp hướng tới toàn bộ mẫu dân số mà không hề được định dạng cơ bản mắc nguy cơ, và có mục đích nhằm cải thiện sức khỏe tâm trí phổ quát của một cộng đồng. Một ví dụ là việc xây dựng sự kết nối và cảm nhận thuộc về, các kỹ năng đối phó và hy vọng về tương lai cho học sinh trong nhà trường phổ thông chẳng hạn. Làm việc với một cộng đồng nhằm giảm các yếu tố nguy cơ liên quan với rối loạn trầm cảm, như việc kiểm soát kém và các mức độ stress cao trong môi trường làm việc cũng được xem là sự dự phòng phổ quát.

Dự phòng chọn lọc (thứ cấp)

Nhắm vào các nhóm dân số và các cá nhân gặp nguy cơ trầm cảm cao. Mức độ nguy cơ được xe là trạng thái cao hơn hẳn đầy ý nghĩa so với trung bình và có thể là một nguy cơ sắp xảy ra hoặc là một nguy cơ mang theo suốt đời. Mục đích dự phòng chọn lọc nhằm giảm các nguy cơ đối với mẫu dân số nhắm sẵn trước rồi. Các ví dụ là những chương trình làm bố mẹ tích cực dành cho các mẫu không ổn, bất lợi; là các chương trình dựa vào học đường đặc biệt quan tâm tới người trẻ tuổi mắc nguy cơ trầm cảm, và các chương trình dành cho người phơi nhiễm cũng như mắc nguy cơ do trải nghiệm nhiều điều khắc nghiệt trong đời (ly dị, mất mát người thân).

Can thiệp sớm

Sự dự phòng theo chỉ báo nhắm đến các cá nhân và nhóm có nguy cơ cao xảy ra rối loạn, người có các triệu chứng và dấu hiệu sớm của tiền triệu trầm cảm song không thỏa mãn tiêu chí chẩn đoán của một rối loạn. Can thiệp sớm thường là các can thiệp hướng tới người đang thể hiện các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của một rối loạn hoặc trục trặc sức khỏe tâm thần, và người hiện phát triển hoặc đang trải nghiệm giai đoạn đầu của một rối loạn.

Can thiệp sớm hồi quy với ‘can thiệp theo chỉ báo’, ‘định hình trường hợp’ và ‘trị liệu bước đầu’. Đó là sự định hình ban đầu một cách kịp thời, hiệu quả và phù hợp người nổi trội các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm để ngăn ngừa bệnh như dự đoán và làm giảm thiểu các tác động liên quan đến các triệu chứng ấy.

Các chương trình định hướng can thiệp sớm có mục đích ngăn ngừa sự phát triển trầm cảm nhờ nâng cao các yếu tố bảo vệ và giảm thiểu các yếu tố nguy cơ (hoặc tác động của các yếu tố nguy cơ), cũng như giúp người ta xử lý thật hiệu quả với mức độ hiện thời của các triệu chứng. Các can thiệp này xảy đến ngay sau khi một nhu cầu được khởi lên, mục tiêu là giảm phiền nhiễu, thu ngắn lại giai đoạn chăm sóc và giảm tối thiểu mức độ đòi hỏi phải can thiệp. Nhờ thế, can thiệp sớm làm giảm sự phụ thuộc và các tác động vốn thường liên quan với các triệu chứng trầm cảm cũng như tăng cường hy vọng cho một tương lai đảm bảo thân- tâm an lạc.

Định nghĩa can thiệp sớm bao gồm dự phòng theo chỉ báo, trong khi các dự phòng chung và dự phòng có chọn lọc thì mới được xem là can thiệp. Khía cạnh ý niệm này phân biệt các cách tiếp cận dự phòng dựa vào sự hiện diện hoặc vắng bóng các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn. Các can thiệp mang tính dự phòng phổ quát và chọn lọc tiến hành khi vắng mặt bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm, trong lúc đó thì dự phòng theo chỉ báo tiến hành khi thấy các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn tuy nhỏ nhặt bộc lộ ra.

Tuy thế, thường sự phân biệt giữa dự phòng và can thiệp sớm không thật rõ ràng, dứt khoát, nhất là với tình huống gần như bất khả trong hầu hết trường hợp chỉ ra chính xác sự khởi đầu các triệu chứng và dấu hiệu trầm cảm.

Trị liệu

Trị liệu gồm cả thể lý và tâm lý với người được chẩn đoán mắc các rối loạn. Trị liệu chuẩn mực bao gồm ứng dụng các dạng trị liệu hiệu quả, dựa trên bằng chứng với các cá nhân đáp ứng tiêu chí chẩn đoán. Mục tiêu là cung cấp trị liệu hiệu quả nhất nhằm tạo nên khả năng phục hồi tốt nhất trong tương lai.

Chăm sóc liên tục

Chăm sóc liên tục gồm các can thiệp với cá nhân mắc trầm cảm trường diễn hoặc tái phát. Mục đích là cung cấp trị liệu lâm sàng tốt nhất và những dịch vụ hỗ trợ đi kèm phục hồi chức năng cần thiết nhằm duy trì hoạt động tối ưu để nâng cao sự phục hồi.

Phục hồi chức năng có thể nhắm vào các khía cạnh nghề nghiệp, giáo dục, xã hội và nhận thức. Để nâng cao sức khỏe tâm trí, việc làm giảm các yếu tố nguy cơ và tăng cường các yếu tố bảo vệ hãy còn tương thích với thái cực này của phổ, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục hồi và duy trì trạng thái thân- tâm an lạc.

Dự phòng tái phát (độ ba)

Dự phòng tái phát (độ ba) nhắm tới các can thiệp đáp ứng với các dấu hiệu ban đầu của việc tái phát trầm cảm. Dự phòng tái phát là vấn đề thiết yếu với nhóm người mắc trầm cảm, gia đình họ, các dịch vụ sức khỏe tâm thần và cộng đồng lớn hơn. Nhận ra các dấu hiệu ban đầu của rối loạn tái phát và đáp ứng bằng trị liệu phù hợp đòi hỏi khả năng phát hiện siêu tuyệt. Trong khi nhiều vấn đề liên quan đến các can thiệp ban đầu cũng tương thích với dự phòng tái phát, tỷ như khả năng các yếu tố khá khác nhau có thể ảnh hưởng tới sự tái phát và diễn ra lại của một rối loạn hơn ảnh hưởng do sự tấn công kịch phát của chính rối loạn.