Khi người vẫn ưa thích và chưa chán sống ở phố thị…

Dịp thành phố quê nhà kỷ niệm ngày giải phóng trôi qua lâu rồi, chắc giờ này nguồn nhiệt hứng khởi hừng hực đã vơi giảm ít nhiều. Đọng lại dấu ấn đô thị chắc là mấy từ trỏ việc làm cụ thể nay mai: phía Tây (mở rộng), sông Cổ Cò (nạo vét để du lịch đường thuỷ vào Hội An), Hoà Vang (phát triển).

Thành phố đáng sống hẳn là thành phố đảm bảo các chất lượng sống khá cao. Cả trên bình diện quốc gia, ảnh hưởng của văn hoá và xã hội lên sức khoẻ tâm trí vẫn còn là đề tài mông lung. Cần biết, tuy xã hội đặt để các quy tắc ứng xử chung song không phải mọi kỳ vọng của xã hội đều thuộc lĩnh vực đạo đức (morality); chúng ta vì thế, cần một cách thức độc lập trong việc lượng giá các tục ước (convention) nào là luân lý (ethics) và cái gì thì không. Do luân lý độc lập với các giáo lý nên nó độc lập với các tục ước xã hội. Và thường thì có 3 nơi hồi quy hành vi xã hội: cá nhân, các tục ước xã hội, và đạo đức.

Vào thời điểm mà các thành phố, trong đó có Đà Nẵng, chuẩn bị sẽ đi vào sự trải nghiệm tăng trưởng theo cấp số nhân, cùng với dân số vọt cao thì càng phải biết thấu đáo ảnh hưởng của môi trường đô thị tới hạnh phúc cùng sức khoẻ ra sao.

Ghê ta.

… Mấy đoạn trên khởi thảo đã hơn nửa năm mà giờ bài còn dang dở. Tối nay định vội vàng hoàn thành chỉ như là cách để tránh rét lúc xa nhà.

Dấu nhắc dở dang

Bất đối xứng

Đôi khi, tất cả những gì ta có thể là viết. Gõ xuống cái laptop bạn cho mượn, và ngồi yên trong bộ quần áo của một người khác thoải mái thải ra.

Đọc vội những dòng chữ thời sự về Bob Kerrey qua cái nhìn của người thân nạn nhân cũng như lãnh đạo chương trình liên quan vụ thảm sát, dễ thấy ngay còn thiếu hẳn một sợi dây buộc ràng, xâu chuỗi và kết nối bền chặt. Chẳng phải quan điểm phía Hoa Kỳ, chẳng phải tâm tư bên cựu quân nhân Việt Nam Cộng sản, ngay cả với chút thầm thĩ sẻ chia kèm theo nhu cầu liên hệ bản thân sâu kín rất người của nhà văn Nguyên Ngọc vừa mới đẩy lên vài ba tiếng đồng hồ (trên Văn Việt) đâu.

Vốn lẽ nhăng nhít ở đời thì động cơ, cái tại sao của hành vi í, lắm lúc khó tìm biết rạch ròi. Con chữ lạc phận nghịch duyên này giờ đây hóa thành thứ khỉ gió nỏ ma quỷ hay thánh thần nào dung chứa toàn bộ. Là dấu chỉ hùng hồn còn lê la mãi đến hôm nay của một thời sợ vãi cả linh hồn, đái són ra ướt hết đến nỗi con dân Việt thượng vàng hạ cám, trọng khinh nghèo giàu chi thảy đều ám ảnh theo kiểu lờ tịt đi và cố gắng xua bỏ, gạt phắt kinh khiếp hơn cả đuổi tà. Hiện rõ lên bức màn sinh tử quyết liệt đằng sau ấy chính là quyền lực thống trị khủng khiếp tập thể vô hình của chế độ nghiễm nhiên tồn tại mấy chục năm rồi.

Dựa trên thuật ngữ dùng kèm mô hình 6 mức độ của nhà tâm lý trị liệu Marsha Linehan (cách tiếp cận DBT), một chiến lược đơn giản như đang giỡn để cải thiện các quan hệ liên nhân là hiểu biết về độ hiệu lực, chuẩn thuận (validation): cách làm sao để chấp nhận. Bởi chuẩn thuận là cách truyền thông chứng tỏ chấp nhận bản thân mình và (những) người khác; không có nghĩa nó là tán dương hoặc đồng ý. Một kiểu thể hiện trợ giúp và củng cố quan hệ trong khi vẫn duy trì quan điểm khác biệt. Thái độ đúng đắn vậy thì chơi với nhau mới bền lâu, thiết thực xác quyết rằng quan hệ là quan trọng.

Chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các cảm quan, tình cảm, suy tư và hành vi của tha nhân là có thể thấu hiểu được. Tự chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các suy tư, cảm xúc, cảm quan và hành vi của chính bản thân mình là có thể thấu hiểu được,

Còn có thể viết, còn có thể ngồi xuống, còn có thể nhìn thấy nhau, còn có thể phát ngôn nghĩa là còn có cơ hội. Nghĩa là rốt ráo may quá, còn sống sót, còn phát triển, thay đổi và chuyển hóa trên hành trình phụ thuộc lẫn nhau. Dù dấu nhắc dở dang và đớn đau đến mấy; từ khía cạnh cá nhân đơn lẻ hay dọc dài lịch sử một dân tộc…

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Trạng thái bất mãn về giới: vẫn đầy phiền muộn và còn nhiều bỏ ngỏ…

Xem cái clip nhân Ngày Mồng Tám Tháng Ba thật thú vị và đầy ý nghĩa nhắc nhở nhiệm vụ bất khả chối từ.

“Bạn nghĩ mình là nam hay nữ?”
“Em nghĩ mình là nữ ạ”

“Điều gì định nghĩa một người phụ nữ?”
“Sự thông minh, sắc đẹp và sự nữ tính”

“Theo bạn ngày 8/3 Quốc tế phụ nữ có dành cho mình không? ”
“Có ạ”

“Tại sao?”
“Vì em được gia đình và người yêu ủng hộ, sống thật với giới tính của mình”

Những nỗi niềm như dưới đây tiếp tục khẳng định mọi sự không phải lúc nào cũng được ghi nhận, thỏa ý.

Em là gã đàn ông 34 tuổi đã lập gia đình và có một em bé rồi. Em từng có một bí mật là thích ăn mặc áo quần con gái hồi mới là nhóc con 5 tuổi; em nhớ mình cảm thấy thật tuyệt vời và sung sướng quá độ. Em tự trấn an rằng các cảm giác kiểu đó sẽ biến mất khi em lớn lên; khủng khiếp thay, các cảm xúc này lại phát triển thành ước ao là một người phụ nữ đích thực. Làm thế nào để em có thể cảm thấy giống như một người đàn ông bình thường? Việc này có cần điều trị gì không ạ?

Chia sẻ trên dễ gợi ý về cái mà giới chuyên môn trợ giúp gọi là sự không hài lòng, bất mãn, khó chịu về giới (gender dysphoria, GD). Thực tế, nhiều người vẫn bắt gặp các cảm giác vốn xuất hiện từ thời thơ ấu này; họ có thể thấy khá khổ sở, căng thẳng ghê gớm về mặt lâm sàng hoặc thiếu hụt trong nghề nghiệp, giao tiếp xã hội, các khía cạnh đời sống khác.

Hiểu cơ bản, lúc còn bé con, chúng ta thường nghe các nhóc nhiều lần thổ lộ ao ước mình là giới kia, hoặc thậm chí không ngừng tin tưởng mình đúng là như thế thật. Chúng hay mặc áo quần khác giới cũng như thích chơi trò, giữ vai tương ứng với giới kia; ngoài ra, các biểu tỏ còn có thể là sự chối bỏ mạnh mẽ các loại đồ chơi đặc thù hay trang phục dành riêng cho giới đó. Cũng có thể là sự ghét bỏ cơ thể và bộ phận sinh dục của chính mình. Khi bước vào giai đoạn vị thành niên, các triệu chứng này thể hiện thành ao ước là người thuộc giới kia, được đối xử như giới kia, và thậm chí sống ở ngoài thực như người thuộc giới kia; giai đoạn vốn phức tạp này sẽ làm cho trẻ như thế càng cảm thấy khổ sở thêm khi buộc phải đương đầu với các cảm giác và vấn đề bản dạng ấy. Cả người trưởng thành lẫn vị thành niên đều nảy sinh nhu cầu khát khao giải thoát mình khỏi các đặc trưng giới tính ban đầu và thứ phát rồi thường thêm đoan chắc rằng mình được sinh ra với giới tính sai lạc hẳn rồi. Ý nghĩ về chuyện mình cảm nhận về bản thân từ bên trong không hề sát khớp với cái nhìn bên ngoài có thể gây nên nỗi niềm đau đớn với không ít người; họ tìm đến sự khuây khỏa nhờ liệu pháp thay thế hormone (HRT), phẫu thuật và các thủ tục phức tạp nhằm thay đổi ngoại hình (tham khảo). Một số chỉ thấy thoải mái khi sống ngoài đời đúng như là người của giới kia, số khác thì thích tiếp tục với bản dạng giới tính đã được ấn định từ hồi mới chào đời.

Trạng thái bất mãn về giới từng được gọi là rối loạn bản dạng giới (Gender Identity Disorder, GID), có người thì quen dùng thuật ngữ là đối tượng chuyển đổi giới tính (transsexuals); hiện tại, có vẻ ‘những người không theo chuẩn về giới” (gender noncomforming) là thuật ngữ tốt hơn nhiều vì nó chỉ cho cả những ai không cảm thấy mình thuộc về bản dạng nam hay bản dạng nữ.

Nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới cho biết họ muốn mình ‘cảm nhận như một người đàn ông bình thường’ hoặc ‘cảm nhận như một phụ nữ bình thường’ tương thích với định hướng hoặc bản dạng giới họ từng được nuôi dưỡng. Tuy thế, mục tiêu của trị liệu không phải là thay đổi các ý nghĩ này mà bắt đầu trợ giúp người ấy quản lý ác các cảm xúc này tốt hơn. Trị liệu không nên nhắm vào việc mình nên cảm thấy hoặc hành động ‘như một người đàn ông” mà thay vào đó, giúp mình hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra cũng như hỗ trợ mình trong những lựa chọn mình ra quyết định (ví dụ, sống ngoài đời như một bản dạng giới đàn ông hoặc phụ nữ, hoặc có lẽ là giới tính lưng chừng, mơ hồ (‘genderqueer’). Tiếc thay, nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới bị trầm uất và lo âu khi cố gắng hoài giải và quản lý các cảm xúc kiểu thế. Đáng lưu ý, thường xuất hiện nguy cơ khá cao muốn tự sát với nhóm này. May mắn là hiện có rất nhiều tổ chức và nhóm hội sẵn sàng trợ giúp các bạn giải quyết các cảm xúc vướng mắc.

Các cá nhân chuyển giới có nhu cầu lớn lao cho những đổi thay về các khía cạnh xã hội, nghề nghiệp và luật pháp. Chắc chắn, vẫn còn định kiến dai dẳng và nặng nề liên quan với chuyện đang bàn, và bước chuyển thay đổi chẩn đoán từ GID sang GD là hướng đi đúng đắn. Tuy vậy, nếu không có các điều kiện ‘mang tính chẩn đoán’ thì lại dễ gây khó khăn cho những ai muốn tiếp cận dịch vụ chăm sóc ý tế khi họ cần thay đổi trong giao dịch về bảo hiểm, dù thực tế nó còn là câu chuyện chưa ngã ngũ.

Lời cuối. Bản dạng giới thì không phải là bản dạng tính dục (sexual idnetiy). Người gặp trạng thái bất mãn giới có thể ổn thỏa trong việc thích hoặc yêu người có cùng hoặc khác giới với họ. Với đa phần chúng ta không phải rơi vào trạng thái bất mãn giới, cần hiểu cả loạt vấn đề mà các bạn bất mãn giới phải đương đầu, giải quyết như dùng đại từ nhân xưng nào gọi mình, mang một cái tên không tương thích với giới của bản thân, quyết định vào phòng vệ sinh nào cảm thấy thoải mái hơn, điền đúng vào ô khi khai các mẫu đơn thư và giấy tờ, thủ tục hành chính thường nhật, v.v…

‘Giới tính theo quy chuẩn’ có thể quen được sử dụng để mô tả cách mình nhìn nhận và cảm thấy về bản thân và về hành vi của mình tương thích với bản dạng giới. Song không phải mọi người ai cũng đều được hưởng đặc quyền tưởng chừng đơn giản như vậy.

Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD): cập nhật thông tin mới nhất, thực trạng siêu phức tạp, và vài ba cách thức hỗ trợ hiệu quả

Kể từ những bài xa xưa từng giới thiệu khá chi tiết quen lệ rồi, đến nay rối loạn phổ Tự kỷ (ASD) vẫn tiếp tục được blog Tâm Ngã chọn là chủ đề ưu tiên lên trang.

Ba hôm trước, đại học Carnegie Mellon công bố đã làm rõ vai trò của tính di truyền, đột biến, và các yếu tố môi trường; theo đó, nguy cơ di truyền của ASD chủ yếu khởi phát từ các genes thông thường hơn là các biến thể hiếm gặp hoặc đột biến tự phát.

Từ nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy rằng di truyền đóng vai trò chính trong sự phát triển rối loạn tự kỷ so với các yếu tố môi trường, góp phần quyết định gây nên tự kỷ hơn chúng ta tưởng; mỗi một trong nhiều yếu tố nguy cơ nhỏ khác thêm vào đẩy người mắc vươn ra rìa của phổ tự kỷ…  Không có các công cụ thống kê mới, không phát hiện được kết quả, và bây giờ chúng ta phải dựa trên những gì học hỏi được kèm sử dụng các cách tiếp cận thống kê để sắp đặt các nguồn lực tương lai, và quyết định hướng nghiên cứu nào hữu ích nhất đáng tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân gây ra tự kỷ.

Như thế chứng tỏ, tự thân yếu tố môi trường không quyết định hết thảy nguyên nhân gây ra ASD; và con số 55% có thể di truyền cho thấy genes chịu trách nhiệm hơn một nửa việc một đứa trẻ có khả năng mắc tự kỷ (80% di truyền liên quan đến chiều cao).

Lần nữa, qua thượng dẫn sơ bộ, điều ngạc nhiên ở nghiên cứu là các nguy cơ di truyền gây tự kỷ đa phần nằm ở các biến thể genes thông thường chứ không phải các đột biến dị biệt. Một đột biến nhỏ trong một gene đơn lẻ có thể gây một căn bệnh chẳng hạn như Huntington, và đột biến gene BRCA1 làm tăng lên khả năng phụ nữ phát triển ung thư vú. Các đột biến như thế chỉ chiếm 2,6% nguy cơ gây tự kỷ, so với 52% biến thể genes thông thường; với phần lớn trường hợp gây mắc tự kỷ, không có một gene sai lạc nào mã hóa rối loạn này mà chính sự kết hợp các biến thể thông thường với nhau mới dự đoán nguy cơ tự kỷ. Và dù chỉ ra các yếu tố môi trường không phải là nguyên nhân chính, song nhóm tác giả không chắc cụ thể những yếu tố môi trường nào quy cho việc mắc tự kỷ.

Liên quan đến thực trạng phức tạp gây tranh cãi, bất chấp mấy thập niên nghiên cứu khẳng định điều ngược lại thì niềm tin tự kỷ có thể là do nguyên nhân trục trặc trong quan hệ gắn bó mẹ- con vẫn thịnh hành. Trước thông tin nghiên cứu rằng có mối liên quan giữa độ tuổi cao của bố mẹ với việc mắc tự kỷ khiến một số bố mẹ còn chưa thôi lo lắng quyết định có nên sinh con sau độ tuổi 30 thì công việc của nhóm nghiên cứu quốc tế do nữ khoa học gia thuộc đại học Carnegie Mellon đứng đầu giải thích chủ yếu do genes.

Sự trộn lẫn các yếu tố nguy cơ không dễ cảm nhận thấu đáo và việc chẳng rõ ràng nguyên nhân gây ASD có thể khiến một số bố mẹ lựa chọn các giải pháp liều lĩnh và cảm tính. Một ví dụ sống động kéo dài là chuyện bố mẹ quy cho hóa chất thimerosal (đã bị gỡ bỏ hơn 10 năm nay) vốn có mặt trong vacine trẻ em gây tự kỷ, tạo điều kiện cho phong trào chống tiêm phòng thành công và gây ra nguy cơ cho con cái họ mắc một số bệnh mà chúng ta đã biết cách tránh…

Với tỷ lệ 1/ 68 trẻ em Hoa Kỳ mắc ASD, trong độ tuổi 6-17 thì chẩn đoán mắc tự kỷ tăng khoảng 1% từ 2007 đến 2012. Các triệu chứng tự kỷ đa phần không hợp trội, nổi bật cho đến khi trẻ lên 2 hoặc 3 tuổi, và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán. Nguyên nhân hiện chưa sáng tỏ hoàn toàn, sau nhiều năm nghiên cứu có thể nghĩ tới chừng mực: các biến chứng khi sinh, thuốc trừ sâu, không phải do thiếu thốn tình yêu thương, không phải vì nhiều giun sán.

Nhân tiện, xin nêu một vài nghiên cứu liên quan: trẻ có bố mẹ làm các nghề kỹ thuật mang tỷ lệ tự kỷ cao hơn; thiếu hụt kỹ năng vận động càng làm mức độ tự kỷ nghiêm trọng; suy yếu khả năng chú ý không phải là thành phần tự thân của tự kỷ; cảm giác thứ phát hay thường thấy ở người mắc tự kỷ; chết đuối là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ ASD; chụp quét não bộ có thể hỗ trợ công tác chẩn đoán; có việc làm giúp cải thiện các triệu chứng tự kỷ ở người trưởng thành; nghiên cứu DSM-5 chỉ ra tác động của việc chẩn đoán và sự phổ biến ASD, v.v…

Chẳng nhất thiết phải nghi ngờ một điều rằng, tự kỷ thực sự khó hiểu đối với những ai không trải nghiệm trực tiếp. Với hầu hết mọi người, tự kỷ cơ chừng là ai đó lạ kỳ, cách biệt và khuyết tật tinh thần; các tường rào ngăn cách trong đời sống người mắc tự kỷ có vẻ là khó hiểu thấu; những trở ngại và thách thức họ phải đương đầu là thực tế lạnh lùng, một thực tế của ai đó khác. Con số 1/68 trẻ em mắc ASD cho thấy hầu hết mọi người dễ bắt gặp, nghe thấy hoặc tiếp xúc khá gần gũi với ai đó mắc tự kỷ; tiếc thay, phải chờ cho đến khi tự mình trải nghiệm cá nhân trực tiếp những con người ấy độc đáo và đặc biệt như thế nào thì mới phần nào nắm bắt câu chuyện.

So với ASD, ngu dốt mới đích thị là căn bệnh lớn nhất trong xã hội. Bố mẹ các trẻ mắc tự kỷ chắc chắn trải nghiệm sống động khía cạnh với người xung quanh họ; một khía cạnh tồn tại ở nhiều người song nó chỉ bộc lộ ra khi bị thách thức bởi điều gì đó khác thường, như kiểu giao tiếp với người mắc tự kỷ. Đó không phải là tội ác, chỉ là ngu dốt mà thôi.

Có rất nhiều vấn đề xoay quanh ASD. Một đứa trẻ mắc tự kỷ ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong gia đình theo các cách thức khác nhau. Bố mẹ/ người chăm sóc giờ đây phải đặt để ưu tiên chú tâm trong việc trợ giúp con em họ, xử lý stress nảy sinh ngày càng mãnh liệt trong đời sống hôn nhân, ở các đứa con khác, công việc, tài chính, và các trách nhiệm lẫn quan hệ liên nhân cách khác nữa. Bố mẹ có con mắc tự kỷ phải chuyển khá nhiều nguồn lực thời gian và tiền bạc cho việc cung cấp phương thức điều trị và can thiệp cho đứa trẻ, hạ thấp các ưu tiên cấp bách khác.

Bố mẹ trẻ thường quen đối mặt với các thái độ và dịch vụ bất công trong xã hội. Họ bị thúc ép đương đầu và giải quyết với sự ngu dốt. Vượt trên việc xử lý các vấn đề sự vụ đời thường, hàng ngày liên quan đến tình trạng rối loạn của con em mình, họ cũng buộc phải trở thành người biện hộ và đấu tranh, các chuyên gia y tế cung cấp thông tin chính xác cho cộng đồng họ thường tiếp xúc, bởi vì định hình các chương trình can thiệp sớm thích đáng, độ an toàn và phù hợp trong chẩn đoán cũng như tự thân việc trị liệu và chăm chữa y tế tương xứng dĩ nhiên không phải là điều dễ dàng chút nào ở một đất nước đang phát triển bộn bề như Việt Nam.

Các cơn thịnh nộ, đập phá từ nhẹ tới nặng, khó khăn trong ăn uống, đủ thứ rắc rối với việc ngủ nghỉ, nhiều giới hạn bó buộc của tiến trình xã hội hóa và tương tác với những người khác, đi kèm lắm thiếu hụt xử lý cảm giác và lượng giá môi trường… chỉ là một vài vấn đề mà trẻ em cũng như người lớn mắc ASD phải đối phó thường xuyên.

Điều quan trọng hiểu tự kỷ là trạng thái rối loạn phổ rộng, nghĩa là các cá nhân sẽ thể hiện nhiều triệu chứng khác biệt nhau, một số thì nhẹ và một số thì nặng, số khác vừa vừa… Tương tự, cơ bản là bóc trần huyền thoại người mắc tự kỷ không có khả năng biểu đạt các cảm xúc bản thân hoặc cảm nhận về tình yêu thương, nỗi niềm hạnh phúc, buồn rầu, đau đớn như mọi người khác. Đơn giản vì họ không thể biểu đạt các cảm xúc bản thân theo cách của đa phần mọi người, không có nghĩa họ không có cảm xúc. Đây là sự ngu dốt và thiếu giáo dục chu đáo khiến thiên hạ tiếp tục mang vác huyền thoại vừa nêu.

Nếu nói với bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ, mình sẽ thường nghe thấy các câu chuyện dũng cảm không thể ngờ nổi, sự kiên nhẫn vô bờ bến, những nỗ lực khủng khiếp và nỗi buồn bã, tuyệt vọng trong những ngày đen tối luôn ít nhiều phảng phất trên khuôn mặt. Mình cũng có thể nghe thấy các câu chuyện về tình yêu thương vô điều kiện, sự trân trọng đời sống, hành trình khám phá bản ngã mà họ không hề nuối tiếc dấn thân cũng như không lãng quên ước mơ, hy vọng về một tương lai tươi sáng cho con cái.

Người mắc ASD cũng là nhân loại chúng mình. Mỗi người thì khác nhau và ai cũng độc đáo. Điều họ cần chí ít là đừng ai đánh giá, xa lánh, đối xử bất công và thể hiện sự ngu dốt hướng về họ. Những gì họ cần là tình yêu, xử sự công bằng, tôn trọng, thấu hiểu và đủ đầy ý thức để xã hội nâng cao hơn nữa khả năng trợ giúp, nâng đỡ họ cùng với gia đình họ nhiều hơn nữa. Họ cần nhiều phương thức trị liệu đúng đắn và hiệu quả, tiếp cận được, chẩn đoán và can thiệp sớm, và nhiều nghiên cứu cũng như ủng hộ quỹ, vận động chính sách, tài trợ nhiều hơn nữa.

Bố mẹ cũng cần giúp đỡ với nhiều chi phí phải trả, các chương trình phù hợp giúp con em họ có việc làm, nơi học tập, được hỗ trợ cảm xúc và tâm lý, hội thảo và giáo dục đặc biệt đặng giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh với trẻ mắc tự kỷ. Chúng ta cần mở rộng các mạng lưới, cộng đồng khuyết tật phủ khắp và tạo điều kiện để các gia đình có cơ hội tương tác với nhau, trao đổi thông tin, ý kiến, tiếp cận được ngày càng nhiều dịch vụ và nhiều hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như xã hội.

Dưới đây là vài bước khuyến cáo cụ thể từ giới chuyên môn mong có thể trợ giúp cho người mắc ASD.

1. Giải thích từng giai đoạn một những gì mình định làm, những gì sẽ xảy đến tiếp theo và tại sao.

2. Cho người mắc ASD đủ thời gian để hiểu thông tin mình đang chia sẻ và đợi đáp ứng chứ đừng vội vàng, mong ngóng.

3. Các câu hỏi nên được đặt ra thật dễ hiểu theo cách sử dụng ngôn ngữ trực tiếp, dùng tranh ảnh khi cần thiết; đừng phụ thuộc vào việc trẻ làm quen, nắm bắt được tình cờ nghĩa của các câu hỏi nêu ra hoặc ngôn ngữ cơ thể.

4. Người mắc tự kỷ dễ nghiêng theo hướng nắm lấy lời mình nói theo nghĩa đen nên cần tránh dùng từ ngữ mang nghĩa nước đôi và thể hiện tính hài hước rất dễ bị hiểu nhầm.

5. Duy trì công việc và thói quen hàng ngày; tương tự là điều quan trọng đối với người mắc tự kỷ.

6. Các khó khăn trong giao tiếp xã hội có thể bao gồm việc tiếp xúc mắt, các ngôn ngữ cơ thể bất thường, nói chuyện vào những lúc bất tiện hoặc nói về các chủ đề không thích hợp lắm.

7. Các hành vi lặp đi lặp lại có thể là cơ chế đối phó, và đo đó nên được tôn trọng.

8. Mội trường rất quan trọng. Một số người mắc tự kỷ đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng, chuyển động, tiếng ồn và sự sờ chạm. Cố gắng thiết lập môi trường yên an, tĩnh lặng để giúp bình hòa nỗi lo lắng, sợ hãi.

9. Luôn luôn thử đặt mình ứng xử, hành động như người mắc tự kỷ dù đó quả là thách thức ghê gớm.

10. Hỏi người mắc tự kỷ, bố mẹ, người chăm sóc hoặc vị giám hộ họ những gì họ cần.

@ Cập nhật, 15h42′ cùng ngày

Phương thức dạy nhận thức về Tự kỷ giúp giáo viên đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều hiểu được rối loạn và giúp đỡ trực tiếp bạn mắc ASD; nâng cao nhận thức về những nhu cầu và khó khăn mà người mắc Tự kỷ gặp phải, giải thích ASD là gì, và tại sao nó ảnh hưởng các kỹ năng truyền thông, xã hội và tư duy.

Hướng dẫn nhấn mạnh không những nhu cầu của cách tiếp cận cá nhân khi làm việc với học sinh mắc ASD mà còn bao gồm một số chiến lược “nắm trọn” như cách bắt đầu bài học với các hoạt động ngắn, vui và thực tế nhằm giúp có được cấu trúc ngay lập tức rồi đề cao các điểm tưởng thưởng để chào đón trẻ. Khẳng định những thay đổi trong môi trường lớp học là giảm tiếng ồn xung quanh, sử dụng ánh sáng tự nhiên và tránh các tranh, ảnh gây ‘bắt mắt’.

Ý tưởng cho ngân hàng chiến lược làm việc với trẻ mắc ASD là đi theo các quy định rất rõ ràng ở lớp học, hỗ trợ việc trình bày miệng với bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh, xác lập nhiệm vụ với các mục tiêu rõ ràng, và hướng dẫn ngắn, đơn giản.

Một vài mẹo thực hành cho giáo viên như khung làm việc SPELL: nhắm vào cấu trúc (structure), hành vi tích cực (positive behavioir), thấu cảm (empathy), ít gây kích thích (low arousal), và liên kết (link) với nhiệm vụ ở nhà. Mục tiêu là giảm bất kỳ trải nghiệm lo lắng nào ở trẻ, để chúng làm việc hiệu quả hơn trong một môi trường khiến chúng cảm thấy an toàn.

Nhằm giúp giáo viên giảm thiểu nguy cơ trẻ bị bắt nạt, hướng dẫn nhắm vào “tính đa dạng thần kinh” giúp học sinh hiểu những khác biệt trong cách người ta suy nghĩ hoặc tri nhận thế giới; được thiết kế để khuyến khích nhận thức nhóm bạn cùng trang lứa, chấp nhận về mặt xã hội, thấu cảm và hòa đồng ở mọi học sinh cho dù một số bạn có thể biểu lộ hành vi khó thấu hiểu hết được…

Sự kiện bi thảm, tìm kiếm hiểu biết và cảm xúc hài hước: chia sẻ tinh thần đối thoại

Những vụ thảm nạn khủng khiếp như kiểu đi đưa tang qua cầu lại chết vừa mới xảy ra sáng nay ở tỉnh miền núi Lai Châu luôn khiến người ta hình thành ngay lập tức liền phản ứng tại sao.

Đó là cái hình ảnh cuộc đời giơ tay lên trời chới với, khi giữa thiên nhiên khắc nghiệt và sống trong một đất nước mà tai nạn giao thông cướp đi sinh mạng mỗi ngày dễ khiến dân chúng ít nhiều chai lì với thương vong và chết chóc.

Như tất cả, bản thân dõi theo tin tức đặng tìm hiểu nguyên nhân xem điều gì đang xảy ra đồng thời cũng ngạc nhiên tự hỏi tại sao thiên hạ lại phấn khích đến vậy với chuyện biết tại sao.

Câu trả lời hiển nhiên chưa chắc là câu trả lời đúng đắn; câu trả lời rõ ràng là nếu chúng ta hiểu biết, chúng ta có thể thay đổi. Nếu ta biết tại sao các thảm nạn, tai họa và bi kịch xảy đến thì mình có thể ngăn ngừa chúng trong tương lai. Và nảy sinh nhu cầu thử lý giải…

Một nghiên cứu cho thấy, chúng ta tìm kiếm lời giải thích nhằm tạo khoảng cách với các sự kiện bi thảm. Khoảng cách là điều quan trọng trong ký ức, trí nhớ.  Mọi thứ chúng ta nghĩ gần gũi, chúng ta nghĩ chúng trọng yếu với quan niệm bản thân; mọi thứ cách xa, chúng ta không kết nối với bản ngã hiện tại. Và sự gần gũi quyết định các đáp ứng mang tính cảm xúc của chúng ta.

Khoảng cách quan trọng với trí nhớ bởi chúng ta giữ gìn niềm tin rằng mình thay đổi theo thời gian: tạo khoảng cách khỏi ký ức và khỏi các bản ngã trước đây. Tuy thế, cách thức tạo khoảng cách ngoài thời gian còn có quan điểm: nhìn ký ức thông qua đôi mắt mình, hay từ viễn tượng bên ngoài; mô tả thành lời ký ức ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba; hoặc đơn giản nghĩ sự kiện rốt ráo xa xôi hoặc gần gũi hơn với mình. Tất cả các kỹ thuật ấy khiến ký ức rời xa, ít gắn bó với cái tôi đương thời, giảm bớt cảm xúc; tức làm ký ức bị cất bỏ cả khía cạnh cảm xúc tích cực lẫn tiêu cực.

Dĩ nhiên, ngay chính sự giải thích cũng làm tăng thêm khoảng cách. Chẳng hạn, nghĩ tới chuyện khi nào thì các sự kiện bi thảm trở thành điều buồn cười?

Cách tiếp cận khác này cố phơi mở lý do để cho các hiện tượng cơ chừng vô cùng nghịch hợp lại xảy ra; bằng một loạt thực nghiệm, nhóm tác giả nghiên cứu xem xét các điều kiện khiến việc bi thảm có thể trở thành trò cười.

Lý thuyết làm nền tảng là thời gian trôi qua khi bi kịch không chỉ được xem xét không thôi mà còn cả cách thức nó chạm sát nhất tới người ta, cũng như phương thức diễn ra; nói khác, khoảng cách có thể được đo cả với thời gian và không gian. Ý tưởng cơ bản: các bi kịch nhỏ, hoặc điều xui rủi, bất hạnh (các tác giả gọi là “các lỗi lầm lành tính”) càng nhiều thì càng dễ nảy sinh hài hước nếu chúng xảy đến với mình hoặc với một người bạn thân; nói khác, các bất hạnh, xui rủi đa phần sẽ buồn cười hơn khi chúng lừa gạt, tống đấm vào kẻ khác.

Khả năng ở đây là khi chúng ta ngập tràn trước các sự kiện bi thảm, khi chúng ta chạm tới đáy tủi buồn, và sự thống khổ của chúng ta quá chừng khốc liệt, chúng ta cảm thấy hoàn toàn tuyệt vọng, không còn khả năng thay đổi thực tế xung quanh mình. Trong những tình huống ấy, hài hước là công cụ hữu hiệu đóng vai trò như một cơ chế phòng vệ. Chúng ta quá bị thống trị bởi nỗi niềm đau đớn, không đủ sức chịu đựng hoặc giải quyết nó bây giờ nên chúng ta tìm kiếm phóng thích, khuây khỏa. Tỷ dụ, khi không có khả năng kiểm soát thực tế thể lý bao quanh thì thay vì cảm thấy tuyệt vọng, người ta gắng thay đổi các cảm xúc nội tại. Hài hước giữ vai trò lớn lao trong sự thay đổi đó và cho họ quãng trú nghỉ thoát khỏi hiện thực khủng khiếp xung quanh. Góc cạnh nọ kia, bi kịch và hài hước chắc hẳn sẽ tay trong tay gắn bó với nhiều người chúng ta.

Mặt khác, đâu có thể là các yếu tố ngớ ngẩn gây nên tai họa thể lý? Cơ chừng, đó có thể là những chi tiết thuộc tình huống, nhận thức, nhân cách và tình cảm/ tâm trạng. Bởi sống trong thế giới này, tất cả chúng ta dễ dàng phơi nhiễm với mức độ nhất định nguy cơ thể lý, và một số hoạt động rõ ràng nguy hiểm hơn.

… Song gì gì, tất cả chúng ta đều chia sẻ chung bi kịch xảy đến vì chúng ta là thành phần của cộng đồng nhân loại. Mọi người giải quyết đau buồn và bi kịch bằng nhiều cách khác nhau, đa phần chúng ta là viết xuống hoặc nói ra. Trước thảm nạn, các cuộc đối thoại không ngừng diễn tiến; song thay vì đánh giá và tấn công các ý kiến, hành động của người khác mà ta không đồng ý, sao không thực sự dừng lại rồi lắng nghe đích thị những gì được nói?

Tất yếu là chúng ta cần thiết biểu lộ các quan điểm, và rõ ràng, các ý kiến sẽ khác biệt. Đó là điều tuyệt vời, đó là lý do tại sao chúng ta có những bộ não ngày càng tăng thêm sự phức tạp. Nhưng để thực sự thay đổi diễn ra được, chúng ta cần kiến tạo một không gian an toàn để chia sẻ các câu chuyện của mình. Và sự thật, không ai trong chúng ta có toàn bộ câu trả lời; có nhiều khía cạnh và mỗi chúng ta có một mẩu giá trị về câu đố nếu chúng ta có thể được phép chia sẻ nó trong tinh thần đối thoại.

Bởi vì chúng ta có chung một điều ước muốn: thảm nạn đã xảy ra sẽ không bao giờ, không bao giờ tái diễn hay xảy ra lần nữa.

Trong nỗi niềm hoan lạc, phiền muộn và ẩn ức

Ngay cả những rối rắm cũng nở hoa…

35 năm sau một cuộc chiến tranh biên giới. Thời gian qua đi mà không trôi mất, thậm chí, còn để lại bộn bề phản ứng. Khoảnh khắc của mất mát, hy sinh và máu xương thấm đất trở thành thứ cân đong đo đếm cho chủ nghĩa quốc gia, lòng tự hào dân tộc, cơ chế phòng vệ, khát khao tự do, giàu có, hưởng thụ siêu vượt và vô vàn ước ao cá nhân, riêng tư đối nghịch, mâu thuẫn với tinh thần cộng đồng và tham vọng xiền dương ý thức hệ.

Bất định, lo lắng, do dự và lần lữa; tất thảy trộn lẫn đã phản ánh tính phức tạp của thời cuộc cùng đời sống đương đại. Chung đụng xa hoa, những bụi xương rồng rào giậu vẫn ẩn hiện đó đây, dù nơi chúng ta sống chẳng hề kề cận sa mạc xa xôi hay bãi biển mù khơi. Những đồn đoán thật cay đắng, bởi tương lai của láng giềng e chừng cũng là tương lai của chính chúng ta, như một đất nước có chủ quyền– một cảm nhận chẳng hề dễ chịu chút nào.

Đầy nghịch lý, giới làm chính sách quốc nội hình như cóc thèm lưu tâm chi tới những bài học đơn giản cho các hệ thống phức tạp. Cộng đồng người thu nhập thấp và nghèo đói phải chịu đựng rất không tương xứng khi các chuyên gia làm luật kèm nhóm hành pháp quan liêu đã thất bại thảm hại trong việc thu hẹp khoảng cách trên tiến trình giải quyết vấn đề an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe đủ để kiến tạo thêm nhiều thách thức nan giải.

Bài học thể hiện sự nhún nhường cần tỏ rõ rằng chúng ta nên hạn chế những hành vi ngăn cấm trừ khi thừa bằng chứng việc hạn chế thì tốt hơn khả năng bị xâm hại. Với thực trạng thiếu vắng thông tin, nên để người ta tự do bộc lộ sự khôn ngoan, sáng tạo, năng lực doanh thương đặng tự giải quyết vấn đề. Dĩ nhiên, bài học rút ra còn là tránh kiểm soát và điều hành với mệnh lệnh từ trên đỉnh xuống; ví dụ rành rẽ cho sự vi phạm nguyên tắc này là USSR: chóp bu Liên bang Soviet nghĩ rằng họ thấu hiểu toàn bộ nền kinh tế để quản lý tất cả từ một mệnh lệnh trên đỉnh xuống, và ngày nay nước Nga đã khẳng định họ sai. Thứ đến, các hệ thống phức tạp không thể nhai lại hay bắt chước y chang; cách tiếp cận này chắc bị sai lầm ngay trước khi khởi sự, v.v…

Hiểu biết phương thức các tổn thương, đổ vỡ lan truyền qua các thế hệ đòi hỏi nắm bắt các bí mật lịch sử của cha ông, tiên tổ. Việc truyền dẫn tổn thương dựa trên ý tưởng rằng những gì làm nên con người không chỉ chứa đựng riêng mỗi các trải nghiệm của bản thân họ– quá chừng đớn đau tràn lấp, không thể chịu đựng hay nghĩ bàn thấu đáo được– rơi ra thành các diễn ngôn xã hội, mà rất thường khi thì cứ tiếp diễn rồi nhập vào thế hệ kế tiếp như một sự bén nhạy cảm xúc hoặc cơn thôi thúc thật hỗn độn.

 Các đường truyền lây lan xuyên thế hệ vốn bộc lộ qua các giấc mơ, trong hành động, thể hiện “bài học cuộc đời” với giai đoạn cụ thể nào đó và dạy chúng ta về gia đình. Khám phá các sự truyền dẫn này chính là đi tới hiểu biết và kể một câu chuyện rộng lớn hơn, khởi từ thế hệ đã qua; đòi hỏi lắng nghe kỹ càng các câu chuyện của ông bà, cha mẹ, với bối cảnh lịch sử- xã hội họ sống, nhất là khía cạnh kinh tế, chính trị và quân sự.

Mối dây cảm xúc gắn kết giữa đứa trẻ với tổ tiên là yếu tính cho sự phát triển các giá trị của chúng ta; quyết định trả lời các câu hỏi huyền bí: “tôi là ai”, “tôi  là ai đối với gia đình mình”, “ai chúng ta có thể tin tưởng và ai là kẻ thù”, “điều gì gắn chặt tôi với gia đình”, và quan trọng hơn hết, “với những mối dây gắn bó ấy, cái gì tôi cần gỡ bỏ và cái gì tôi cần giữ chặt”. Lớn lên từ các tổn thương tồn đọng của tổ tiên mới ngõ hầu chữa lành các thế hệ tương lai.

Vượt trên chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, các tiêu chuẩn kép, và sự phức tạp của tội lỗi lầm lạc lẫn trạng thái ngây thơ. Như vậy, mọi thứ xảy đến chỉ là cái cớ cho tâm trí bám vào. Tình yêu gắn bó, dính mắc và ràng buộc. Tại sao con chim trong lồng thôi hót, câu hỏi ấy lắm khi chẳng được đặt ra và thực tế không dễ trả lời được.

Tai biến y khoa và vai trò trợ giúp của điều dưỡng ở bệnh viện

Vươn lên thanh khiết và cao sang từ buồn tủi, đau thương
Vươn lên thanh khiết và cao sang từ buồn tủi, đau thương

Ngành y tế Việt Nam vừa tổ chức một sự kiện lớn: tọa đàm trực tuyến về việc làm giảm tai biến y khoa.

Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến cho rằng 25-30% trường hợp nhập viện nếu không can thiệp sẽ dẫn đến biến chứng nặng hoặc tử vong, nên rất cần tập trung vào nhóm bệnh nhân này để tránh biến chứng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến từ cuộc tọa đàm cho thấy những người có trách nhiệm chưa đánh giá đúng căn nguyên dẫn đến tai biến y khoa, chưa nhận thức được thầy thuốc của chúng ta đang rất thiếu sự tận tụy với bệnh nhân, mà vẫn cho rằng do bệnh viện còn quá tải như hiện nay, viện phí thì mới thu 3/7 cấu phần tạo nên dịch vụ…

Chỉ mới lướt qua tiêu đề các bài tường thuật sự kiện, ngay cả trên trang nhà của Bộ Y tế, đã cho cảm nhận một cái nhìn tuy khá đơn giản, dễ hiểu song không hề có chút hơi hướng đang giỡn chút nào.

Bởi thực tế, tai biến y khoa (medical errors) luôn là câu chuyện gây nhiều tranh cãi, khởi tạo ấn tượng mạnh ở khắp nơi trên thế giới do nó chạm tới  sâu xa vấn đề sống chết của con người.

Cập nhật tin tức trên báo ngoại quốc càng chứng tỏ mức độ thiết yếu của sự kiện nêu trên trong lịch sử phát triển của ngành y tế nước nhà.

Mặt khác, các xu hướng đáng báo động và những sự kiện bất lợi về tai biến y khoa chưa quá xa xôi xảy đến ở Hoa Kỳ còn giúp chúng ta hiểu thêm rõ ràng hơn rằng, các con số thống kê về lượng người chết mỗi năm (9000) trực tiếp liên quan, trong đó tầm 1/5 trường hợp là do thuốc men (cụ thể hơn có 3 lỗi lầm thường gặp: cho thuốc sai, liều lượng không đúng và chỉ định đường sử dụng sai lệch như tiêm thay uống qua miệng chẳng hạn) nếu được đặt cạnh thực trạng về mặt quan hệ hợp  tác, đồng nghiệp thì lại mới thấy hết toàn cảnh.

Những ai tham gia công tác chăm sóc sức khỏe ý thức về các tai biến và biết rằng chúng xảy ra thường xuyên hơn nhiều. Câu hỏi vì thế, trở thành là nếu biết các tai biến đang không ngừng xảy ra thì những gì có thể làm để ngăn chặn chúng?

Nhân viên điều dưỡng (nursing personnel) là bộ phận tuyến đầu thường hầu như chịu trách nhiệm thường xuyên cho việc thực hiện, trông nom thuốc thang cho bệnh nhân. Bất kỳ yếu tố nào làm sụt giảm hiệu quả chức năng của điều dưỡng sẽ tác động đến mức độ an toàn của điều dưỡng trên tiến trình tác nghiệp nhiệm vụ của họ.

Thiếu nhân viên điều dưỡng gây ảnh hưởng đến việc chăm sóc y tá theo cách tiêu cực. Thiếu lượng nhân viên điều dưỡng nghĩa là có ít điều dưỡng hơn để chăm sóc cho cùng lượng bệnh nhân. Thiếu lượng nhân viên điều dưỡng còn có nghĩa là điều dưỡng làm việc quá thời gian xảy đến thường kỳ hơn, quay vòng lại ngày làm việc chóng hơn. Điều dưỡng thường phục vụ trên 12 giờ mỗi ngày. Tất cả các yếu tố này thêm vào sự mệt mỏi và căng thẳng nữa là cú đập gấp đôi làm dẫn đến tai nạn do con người gây ra.

Các bệnh viện giờ đây đang chuyển sang ứng dụng công nghệ đặng nỗ lực giảm thiểu các tai biến y khoa. Việc cho toa thuốc dựa trên lập trình máy tính cắt bớt các lỗi lầm vốn xảy đến do sao chép, thông báo lại y lệnh của bác sĩ. Trong một số cơ sở, điều dưỡng được cung cấp máy tính cầm tay chứa các thông tin liên quan đến liều lượng, đường sử dụng, và các hiệu ứng bất lợi. Thuốc được đựng trong gói liều độc nhất, và các thuốc có tên tương tự nhau được gói tách riêng và có nhãn mác rõ ràng hơn. Các loại thuốc nguy hiểm được ký hiệu bởi hai thành viên chứ không chỉ do một người ghi (chẳng hạn, insulin, thuốc ngủ, gây mê, và các chất chống đông máu). Việc ghi chữ tắt dễ bị đọc nhầm, và trong một số trường hợp là bị cấm.

Ngày nay, bệnh nhân đã được giáo dục và trở nên hiểu biết hơn rất nhiều về thuốc men họ được chỉ định, các trạng thái bệnh tật mắc phải, và phương thức điều trị song quá nhiều đối tượng vẫn còn quá vô tâm trong việc chấp nhận các loại thuốc men và cách điều trị mà không đòi hỏi, yêu cầu, thắc mắc với các nhân viên y tế.  Nhiều bệnh nhân không biết tên thuốc, liều lượng chính xác, và lý do chỉ định kèm theo thuốc men họ được đưa dùng. Hỏi nhân viên y tế về thuốc và tại sao họ phải dùng các loại thuốc đó là cách giúp bệnh nhân có thể bảo vệ tính mạng an toàn.

Việc thiếu hụt điều dưỡng khó xử lý xong trong một tương lai gần. Giảm nguy cơ nhầm lẫn thuốc men là công việc của các nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân. Các bác sĩ có thể đảm bảo nhiệm vụ của họ ở việc viết (hoặc in ra) y lệnh dễ đọc và thật rõ ràng nhằm xác định y lệnh mà không gây mơ hồ, phỏng đoán. Nhân viên điều dưỡng thực hiện việc quản lý, trông nom bệnh nhân uống thuốc cần nắm lấy các tiến bộ công nghệ ngõ hầu giúp chính họ thực hiện công việc an toàn hơn. Cuối cùng, bệnh nhân cần ý thức trách nhiệm bảo vệ bản thân bằng cách hiểu biết các thuốc men và kế hoạch điều trị. Nếu một bệnh nhân không đủ khả năng thì một thành viên gia đình hoặc bạn bè có thể nắm lấy vai trò này.

‘Nhân vô thập toàn’, song làm việc hợp tác cùng nhau thì nhân viên điều dưỡng có thể góp phần làm giảm bớt câu chuyện trêu ngươi cũng như các con số thống kê gây choáng váng liên quan đến tai biến y khoa sai sót chết người.

J. Soi (29): Dạy trẻ gì đây ta thử hỏi…

Đưa trẻ đến trường, định hướng lớn lên?
Đưa trẻ đến trường, định hướng lớn lên?

Hôm nay là Ngày Khai giảng năm học mới; riêng tại Hà Nội do mưa kéo dài nên có trường hoãn lại sáng mai, có nơi tổ chức Lễ trong nhà xe.

Lâu nay khá quan tâm vụ ‘tự do học hỏi“, nhân đọc thấy mấy chia sẻ trẻ lên tiếng, diễn giải ý nghĩa lễ khai giảng càng cảm nhận cái sự ‘giáo dục cưỡng bức’ quả không hề đơn giản tẹo nào; bởi kiểu gắn nó với chuyện phản ánh dân trí đất nước, đưa ví dụ từ các nước Đông Á có nền giáo dục tiên tiến, chương trình ở Anh quốc, đi vào chi tiết miễn phí khi thảo luận Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992,  đặc biệt nó buộc cha mẹ phải có trách nhiệm với con cái và góp phần phát triển đất nước, và bao giờ cũng thế, làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo, v.v…

Câu chuyện học hành của trẻ hôm nay dội ngược lại là thu nhập không đủ sống của bố mẹ, với 20% lao động nhịn ăn một bữa/ ngày; thậm chí, nhìn sâu rộng hơn sẽ thấy rõ tầm mức toàn cầu do đã được quy định ở điều 28 của Công ước về Quyền Trẻ em, thể hiện niềm tin sắt đá của UN rằng mỗi trẻ em có quyền được giáo dục cưỡng bức (điều 7), tất thảy có vẻ chứng tỏ rằng hầu hết các nhà lãnh đạo chính trị gắn chặt việc phổ cập, đưa trẻ đến trường như là con đường hướng tới tương lai tốt đẹp hơn, và ngay tại Việt Nam thì các bản Hiến pháp từ 1946 đến Hiến pháp 1980 đều khẳng định chắc như đinh đóng cột thế, chưa nói có dấu tích từ truyền thống dân tộc (nhân tiện, nếu thích tham khảo thì cần nhớ điều 42 Dự thảo sửa đổi thay thế điều 59 có nội dung đang bàn).

Vậy, dạy gì cho một đứa trẻ? Không chút nghi ngờ chi cả, rằng trung thực, dũng cảm và trái tim rộng mở là ba điều quá chừng đẹp đẽ, tuyệt hay mà trẻ em cần được giáo dục. Song lần nữa, tại sao cứ chăm chắm và nhất thiết phải giáo dục trẻ em?

Liệu đi học lớp 1 có đúng là vinh dự, là nhiệm vụ của những trẻ em 6 tuổi?

Hỏi thêm Google, biết có một cuốn Sổ tay Đạo đức Tiểu học (2009) của tác giả Vũ Xuân Vinh do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành; ngồ ngộ nên mò ra một hiệu sách chuyên bán lẻ ở phố Giảng Võ đọc cọp xem nó thế nào.

Bài 1 mang tên “Em là học sinh lớp 1” được tác giả biện luận bởi những lý do sau:

  •  Thể hiện niềm vui sướng, tự hào, hãnh diện em được đi học lớp đầu tiên của cuộc đời cắp sách đến trường để học kiến thức văn hóa và học làm người.
  •  Thể hiện quyền được đi học.
  •  Như một thông điệp nói với mọi người hãy chú ý tới mình, vì “Em là học sinh lớp 1”, em mới bắt đầu đi học đây!

Bài học tiếp tục với câu dẫn: Đã là học sinh lớp 1 thì em phải làm gì ?

  • Phấn khởi cắp sách đến trường, đến lớp trong bộ quần áo sạch sẽ, gọn gàng.
  • Bạo dạn, vui vẻ làm quen với các bạn trong tổ, trong lớp. Khi gặp các thầy giáo, cô giáo lễ phép chào.
  • Tự hứa em sẽ cố gắng chăm, ngoan xứng đáng là học sinh lớp 1.
  • Yêu trường, yêu lớp.

Sau đó là một đoạn in nghiêng:

Bài học mở đầu “Em là học sinh lớp 1” như một khúc dạo đầu tiên đưa em đến trường để bắt đầu bước vào ngưỡng cửa của học vấn, của tri thức nên em phấn khởi, tự hào, hãnh diện “Em là học sinh lớp 1”.

Cuốn Sổ tay được quảng cáo “… đã nhận được rất nhiều lời tán thưởng vì có sự chọn lọc những tình huống, các mẫu truyện ngắn và bài học rút ra cho các em có thể nhận biết và những phương pháp hệ thống và diễn giải từ đơn giản, dễ hiểu giúp phụ huynh, giáo viên dễ dàng nắm bắt và giúp các em học tập tiến bộ hơn. …… là nguồn tư liệu bổ ích cho phụ huynh, giáo viên nhằm giúp các em phát triển kỹ năng sống cơ bản. ”

Đọc xong mấy món này, thở hắt cái vì chợt gợi liên tưởng Tập bài giảng Đạo đức cho các anh chị lớp trên mới gần đây thôi…

Chính tả là câu chuyện đi đúng lề đường quy định

Những ý nghĩ nặng trịch như nổi khổ đau từ dòng sông Mịch La đổ tràn vào ngày Thất Tịch
Những ý nghĩ nặng trịch như nổi khổ đau từ dòng sông Mịch La đổ tràn vào ngày Thất Tịch.

Câu chuyện chính tả vì thế, không thể không là mối ưu tư của cả lề trái và lề phải, thậm chí, cho những ai xàng xê, lơ lửng rưa rứa nữa.

Dưới góc độ cảm nhận cá nhân, có vài lưu ý đáng giá:

  1. Tôi không hồi tưởng trạng thái ngữ pháp được dạy ở trường;
  2. Tôi nhớ mãi rằng nên dùng dấu phẩy (,) khi mình cảm thấy cần tạm thời ngừng nghỉ, bởi với riêng tôi, việc thở đủ đầy thật vô cùng sung sướng;
  3. Tôi háo hức việc học hỏi, ghiền đọc song việc đã lâu chẳng rờ tới, ngó ngàng liếc mắt chi các văn bản, tác phẩm chuyên ngành viết bằng tiếng Việt nỏ có nghĩa bản thân lơ là, lơi lỏng hay buông thả nguyên tắc “viết đúng chính tả trước đã !”.

Hệ quả nảy nòi từ mấy dẫn dụ nêu trên là khá thú vị về sau xen lẫn nguy cơ nhãn tiền. Chẳng hạn, giờ nếu làm ngay bài thi chính tả chưa chắc tôi viết đúng 100%, tuyệt không sai téo tẹo tèo teo lỗi lầm, sai lạc nào; song thách đấy, đố mà xảy ra vụ tôi quên kết thúc câu bằng dấu chấm (.).

Lòng tự dặn lòng, mình không tranh giành làm hàng với ai hay cố thể hiện ý tưởng nào đó cực kỳ xuất sắc, độc sáng đến độ chả thèm coi ra gì các nguyên tắc chính tả. Ở Hà Nội mà vội vội vàng vàng thì e chất chồng tội nợ thêm thôi (là thiển nghĩ thế).

Khi giao lưu trên mạng, nhất là fb, tôi rất rất để ý cách người ta gõ xuống và trình bày văn bản, dù đó là status chỉ nhõn một, hai từ; cái note lê thê và tê mê tham vọng tưởng chừng thu tóm sự thật rốt ráo thôi- rồi- còn- chi- đâu- em; lời hồi đáp thiết tha tình thương mến thương; các thể loại thơ ca hò vè, văn vẻ xuôi ngược; hoặc đôi khi là dòng phụ đề minh họa dựa góp (caption?)  cho bức hình nóng bỏng, thấu thị tuốt tuột, v.v…

Đó là lý do tại sao tôi ngại đọc các bác, các anh chị lớn tuổi Việt kiều hoặc quốc nội; liếc thấy lỗi chính tả là lượn ngay và luôn cho nó lành, không thèm theo dõi tiếp, thậm chí, lắm khi ám ảnh đến độ khó buộc đôi chân ngoái lại chốn từng tình cờ rảo qua.

Vẫn còn niềm vui bên đời nên truyền thông cùng bạn trẻ là lủ khủ dịp may âm thầm ngộ ra lắm thứ hay ho; tỷ dụ, cơn cớ nào mấy đứa hay chọn phím “j” (báo hại đọc tin nhắn tốt lành mà nhịp tim vọt lên đột ngột), hoặc sợ ghê gớm nếu nhìn thấy kiểu sáng tác văn phong đề cao cá tính, quen vứt sọt rác mất tiêu các con chữ ngây thơ trung lập (“lun”, “nhìu”, v.v…).

Tôi quan niệm, điều tối thiểu khi sơ giao là thái độ tương kính. Hầu như ý tưởng kỳ cục, cực đoan, giời ơi đất hỡi mấy tôi đều gắng chịu đựng, chấp nhận được, song thiệt là trần ai khiến thằng tôi đây đau đớn khôn xiết tựa bất chợt nhá phải cục sạn (vừa làm đau răng loét lưỡi, vừa tăng cường độ chướng tai gai mắt), khi người viết hậu đậu tự bôi bẩn, xõa bày loang lổ không gian dành tặng cho mình tung tẩy, diễn đạt, do cứ thoải mái con gà lung tung lang tang đủ thứ chấm phẩy, ngắt thả vô tội vạ, đôi lúc còn hơi khí lạm dụng, gáy nổ đùng đoàng ò- ó- o và vãi đạn cấp tập luôn.

… Gợi hứng cho tôi xí xọn ở đây là chia sẻ tâm tư bi hài.

Nói luôn, mới đọc đoạn chapeau đã ớn lạnh. Quả chẳng thèm coi độc giả ra gì… Liệu tương đồng, cùng vấn đề khi xếp vụ viết “xe bus” thay cho “xe buýt” vào cùng rọ, chung nhóm với “chứng kiến” bằng “nhìn thấy” ?

Wow, điện thoại vừa nháy sáng. Tôi phải bắt kịp chuyến bus, kẻo lỡ dịp tham dự chương trình giới thiệu Artist’s Book: “một loại hình nghệ thuật đương đại mới ở Việt Nam”.

Nhân tiện, nhẽ nào việc nhắn tin nhoay nhoáy (mobile, twitter, chat chit trực tuyến) đang tàn phá, làm băng hoại, xói mòn ngữ pháp tiếng Việt ?

Hic, trót phận đa đoan nên hốt nhiên, buồn ghê là buồn; tôi thiệt.