Câu trả lời đúng cho sự bất toàn hoàn hảo và bí mật nhất

Luôn luôn và mãi mãi, kiểu giật tiêu đề ghê gớm tựa cụm từ kêu vang như thế cứ nhấn chìm đời ta xuống tận cùng của bực bõ.

Dĩ nhiên, khá là phức tạp; có quá nhiều điều thôi thúc hành vi: dĩ vãng, tính cách, và những trùng khớp ngẫu nhiên xảy đến, tất thảy, đều tác động tới tiến trình ra quyết định. Hầu hết chúng mình học hỏi đúng từ sai, bất luận vấn đề ra sao, và biết khi nao nên nói ‘không’ ngay cả khi chẳng hề mong muốn tẹo nào.

Ra quyết định thì khó khăn, cóc ai nghi ngờ điều đó. Một số dễ dàng tán đồng ‘vâng’ hơn; chỉ việc ưng thuận rồi tiến lên, nhận được nó, nói vâng với điều đó có thể hoặc không tốt lành cho mình, thậm chí e nguy hơn thêm. Mình tán đồng với hành động chống lại việc trơ ỳ, không làm gì. Hầu như chẳng bao giờ cũng cứ chọn ‘D’, không thuộc lựa chọn nào kể trên cả. Không phải luôn luôn có nghĩa là cóc sao cả.

Và thi thoảng vâng nghĩa là chối từ và không nhất trí rằng vâng thuận. Vâng để không ăn uống nhiều hơn và ta sẽ không làm thế. Loại củng cố tích cực và tiêu cực; cả hai kết thúc tại cùng một nơi chốn song khác đường đi. Song luôn luôn nói vâng, hoặc luôn luôn nói không chẳng bao giờ để mình đến được nơi cần thiết. Những viên kẹo ngọt, bánh kem ứa nước miếng, ly bia đầy khát khao và còn vô vàn thứ mới nhắc tới tên thôi đã là tội lỗi.

Ta đâu phải lúc nào cũng nhận ra chúng khác nhau. Và nếu có ai làm thế, họ cũng không nói gì. Chúng khá đồng đều màu sắc, cùng kích cỡ; trong bóng tối đấy là một sự hòa hợp tuyệt cú mèo. Song giữa ánh sáng ban ngày thì khác biệt hẳn; chúng là sự cặp lại cưỡng ép của hai chiếc tất vốn không thuộc về nhau.

Đôi khi ta nghĩ rằng mình có một cặp hoàn hảo. Mọi thứ nhỏ nhặt, thường nhật, cứ đi qua ào ạt hoặc lặng lẽ; ta đi qua, quên lãng, hiếm khi dừng lại xem xét các lựa chọn, và quen cho rằng giả định của mình là đúng. Vấn đề chơi xỏ ở chỗ đôi khi những thứ không hoàn hảo cho ta cơ hội nhìn ngó kỹ càng và sâu sát.

Hẳn là chúng ta sống trong một thế giới đầy ắp những lựa chọn bất toàn; dường như đúng, dường như sai, cho tới lúc bụp phát, nó đích thị nỏ phải thế. Chúng ta đi dưới mưa nắng, đầu đội mũ hoặc ngồi trong xe có mui trần cùng thông tin đang sở hữu  rồi đi tiếp thôi, bất kể thông tin đúng hay sai. Điều cười mím chi mình là kẻ duy nhất biết thế, ngay cả khi nó không hoàn hảo. Mặc dù thật khó so sánh, song đôi tất ấy là tất cả những gì từng có giúp mình đệm bước, lo thấm mồ hôi, và chăm sóc phần da chân khá nhạy cảm không bị trầy xước vì lên đường nhiều. Mình còn mong đợi, đòi hỏi gì hơn.

… Giời lại tiếp tục mưa, đêm nay cái lạnh chắc sẽ kéo dài từ Nam ra Bắc. Ai đó có thể đang lặng lẽ vá sửa chiếc áo khoác thiên thần. Theo mỗi bước chân, trong tiếng vỗ tay, hoặc giữa thinh lặng vô vàn, chúng ta nhớ nhung vì nước mắt có thể là niềm vui cho ai đó sống cuộc đời riêng có, và đạt được tất cả những gì nguyện ước. Một cuộc sống đáng sống, mà không có ta, vẻ lấp lánh rất người đôi khi chẳng còn ánh lên được nữa.

Ai dám chắc cái lần đầu tiên họ ngừng tin tưởng. Năm tháng trôi qua cùng những thách thức và đổi thay của các niềm tin, và rồi ra một ngày đánh mất chúng không hay biết. Ấy có thể là phó sản của một nền giáo dục.

Trên chiếc đầu gối găm sẹo hoặc bao quanh bởi bàn tay dập gãy ít nhiều, chúng ta biết ơn cuộc sống. Nhiều người sẽ không có gì. Không quà tặng, cây cối, bài hát, hoặc lời cầu nguyện. Đời sống phát triển, người nghèo khổ và cô đơn.

Sự hiện diện của điều bí mật lớn lao nhất chính là món quà chúng ta đón nhận đáng ngờ khi cố gắng khởi hành tìm kiếm câu trả lời đúng cho tất cả sự bất toàn hoàn hảo.

“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”: trong trập trùng thế giới của huyễn tưởng

Quờ tay vào huyễn mộng- thấy đong đầy thuyền mơ...
Quờ tay vào huyễn mộng- thơ đong đầy thuyền mơ…

Bộ phim Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh cố ghi nhận những chuyển biến tuổi phơi mặt chìa tay mưa nắng thời đói nghèo chưa xa ở nông thôn miền Trung; dĩ nhiên, câu chuyện thật thơ trên cảnh sắc Việt Nam ấy thừa gợi hứng về chủ đề ghét bỏ, bảo bọc và cạnh tranh khi yêu thương vơi đầy mơ hồ trong tâm tưởng nhân loại lúc người ta còn nhỏ dại.

Đứng trước viễn cảnh huyễn mộng giã từ, khán giả ít nhiều dễ nhận ra cái phong cách rập khuôn điện ảnh Hollywood, lối diễn xuất Hàn quốc và kiểu kể chuyện hiện đại tin rằng không khó để thỏa mãn xu hướng hội nhập toàn cầu. Mặt khác, chúng mình cũng nhanh chóng bắt mắt bởi thế giới của vô vàn huyễn tưởng mà các nhân vật nhí lớn lên không ngừng được dựng xây từ sách vở, chuyện kể truyền miệng, lịch sử vùng đất duyên hải, văn hóa cổ xưa, tập tục gia đình, thảm trạng kinh tế nghèo đói. Đấy là tình thương yêu, các mối quan hệ gắn bó thân mật, nỗi niềm chia ly hụt hẫng, giai đoạn quá độ mất mát, khủng hoảng và biến cố đời sống.

Bộ phim về tuổi bé tí song có vẻ dành ưu tiên cho những ai lớn rồi mà vẫn muốn nhấm nháp trở lại ý vị những rung động đầu đời. Vì lối dàn dựng đôi khi khá phô nghiêng truyền hình, chèn vô quá háo hức ước muốn đặc tả chi tiết bầu không khí sinh hoạt nông thôn tháng năm lam lũ đói khát với bài hát Thằng Cuội, ngôi trường sập xệ, tiếng trống thùng thình và ánh đèn Trung thu tự tạo diệu kỳ cho nên rốt ráo, yếu tố huyễn mộng mông lung buông chùng thiếu thuyết phục, và dấu ấn chuyển đổi nửa cuối phim cơ chừng hụt hơi, giảm sút chất hư cấu đáng giá khiến lần nữa mộng mị đâm ra rã rời hơi vội trước ánh sáng đời thường trần trụi.

Bị bỏ rơi là thứ cảm xúc đầu đời con trẻ. Không đơn giản chứa chan ý nghĩ khát khao mãi cứ chưa thôi, huyễn mộng tự thân nó dính dáng cả quá khứ lẫn vọng tưởng tới tương lai. Như người trưởng thành, ta không có khả năng, xét từ khía cạnh kỹ thuật, bị bỏ rơi (trừ khi bị phụ thuộc thuốc, chẳng hạn); lý do là người trưởng thành lành mạnh về mặt tinh thần, ta đích thực không bị bỏ rơi trong cảm nhận thời thơ ấu. Cảm giác diễn ra thuở đầu đời đó thường liên quan với quãng thời gian bị người lớn hoặc bố mẹ bỏ rơi; ấy là thứ cảm xúc thoái lùi, điều kéo mình quay về thời thơ ấu hoặc trạng thái cảm xúc bé con.

Vậy đối đáp sao với ý kiến bảo rằng người mê xem TV hoặc ghiền điện ảnh thì đa phần là kẻ giết thời gian vô bổ, chẳng bù lỗ bao nhiêu tính cách, rằng các fan hâm mộ truyện dài cũng như thích xem trình diễn e cùng lắm chỉ là sự mê mải vô hại? Không đơn giản thế.

Tại sao chúng ta thích xem các bộ phim lãng mạn, chuyện tình sướt mướt, éo le ngăn trở…? Tại sao quan tâm chú mục vào vụ việc lãng mạn ai đó khi ta biết nó không đích thị lãng mạn chút nào? Bởi vì những gì chúng ta cơ chừng đang thực hiện không phải thứ mình đang tiến hành. Những thứ mình thực sự làm khi theo đuổi một câu chuyện tựa như bộ phim đang bàn tạm bó vào hai loại: 1) giả lập các trải nghiệm ấy cho chính bản thân, và 2) bước ra ngoài các trải nghiệm rồi tự hỏi bản thân mình có thể học hỏi hoặc dần dần hiểu thấu tốt hơn hẳn thông qua việc suy ngẫm chúng. Người hâm mộ từ từ tỏ tường vài ba kiến thức quan yếu, các bài học dính với điểm 1) vừa nêu ở chỗ ta cảm thấy mình trải nghiệm ít nhiều các sự kiện ở đời đi cùng các nhân vật trong truyện; khi dấn sâu điểm 2) là rời ra để nhìn ngó từ góc nhìn khác thì mình có thể thêm lớp trầm tư cho lớp thuộc trải nghiệm.

Dạng thức truyện, phim hư cấu cho phép người ta tưởng tượng bản ngã hòa với các hoàn cảnh của tha nhân; họ mở rộng mức độ nhất định cảm nhận về chính mình. Khi độc giả, khán giả thả lỏng lơi là nhân cách để thâm nhập tương tự tính cách nhân vật, hoặc khi họ bước vào các tình huống về mặt tâm trí so với những ai họ quen thuộc, họ thay đổi để dần trở thành chính mình hơn.

Kể quãng đời thơ ấu của bộ ba Thiều- Tường- Mận, đạo diễn bộ phim cho thấy sức hút mãnh liệt của cây đa, giếng nước, sân đình, bãi biển, bờ ruộng, làng xóm đã không ngừng nuôi dưỡng, vun bồi tâm hồn bao thế hệ. Các huyễn tưởng chẳng hề phù phiếm; chúng chẳng những có thể dùng để giải trí, phân tâm, đáng sợ, thậm chí kích thích mà còn tạo điều kiện khởi phát sáng tạo và giúp ta lập kế hoạch cho tương lai. Chừng nào mình không lầm lỗi đánh đồng các huyễn tưởng với thực tế (như trong rối loạn loạn thần hoặc tâm thần phân liệt) hoặc để mặc chúng trở nên quá chấp thì chúng có thể cung cấp một bước trốn thoát khỏi ở- đây- và- ngay- bây- giờ, vì các huyễn tưởng cho mình trải nghiệm trong đời thực những thứ mình không thể hoặc chẳng thèm muốn nổi: viếng thăm sao Hỏa, khám phá kho báu, sống vào năm 1900s, là tên trộm xuất chúng hàng đầu thế giới, hoặc có các trải nghiệm tình dục khác biệt; các huyễn tưởng là cách thức kéo căng sự tưởng tượng và cho mình thành kẻ nắm bắt nguy cơ song lại không buộc phải đối diện với bất kỳ nguy cơ đích thực nào, chưa nói khi mình huyễn tưởng, mình tiếp nạp năng lượng cho mọi thứ, mình có đủ đầy khả năng kiểm soát, tức là chẳng có chi nguy hiểm hoặc giới hạn vì nếu khó chịu lắm thì mình có thể luôn luôn dừng ngắt hoặc xác định huyễn tưởng…

Ngoài tí chút tiếc nuối với những bức hoạt hình dễ thương ghê gớm trước khi kết thúc, có vẻ bộ phim trập trùng huyễn mộng do đầu tư trau chuốt cảnh quay, và suy đoán, cơn đói khủng khiếp nhất trên thế giới ta ba này đang mở ra trước màn ảnh, hôm nay, là tình yêu; và những người đàn ông, phụ nữ, trai gái khổ sở bất chấp bao tiện nghi hiện đại thụ hưởng. Cảm giác bồng bềnh bồi hồi tuổi thơ mà bộ phim nếu tiết chế kỹ càng e sẽ lây lan mãnh liệt hơn phản ánh nhu cầu tội nghiệp của chúng ta thuộc về tình yêu, tình yêu đích thực, tình yêu không vị kỷ, thứ tình yêu tự bộc lộ nó trong hành động phục vụ và quên đi chính bản thân mình.

Trị liệu Gestalt: trải nghiệm những gì đang diễn ra ở- đây- và- ngay- bây- giờ

Fritz và vợ là Laura Perls phát triển trị liệu Gestalt vào những năm 1940, nhấn mạnh sự chữa lành thông qua nhận ra các ‘khối chặn’ (“blocks”) trải nghiệm toàn thể ‘ở đây và bây giờ’ (Corey, 2004). Nói khác, Gestalt dựa vào giả định rằng chúng ta hiểu biết tốt nhất trong bối cảnh của môi trường; mục tiêu của tham vấn nhóm là cung cấp một bối cảnh thích hợp để các thành viên nâng cao nhận thức về những gì đang trải nghiệm và phẩm chất tương tác với người khác. Hiểu biết từng khoảnh khắc điều đang trải nghiệm đi cùng ý thức ngay lập tức về các ‘khối chặn’ ấy được xem là tự thân việc trị liệu vậy.

Gestalt là hiện sinh do đặt để ở- đây- bây- giờ và ưu tiên đối thoại mang tính hiện sinh. Nhận thức, lựa chọn và trách nhiệm là nền tảng của thực hành trị liệu. Gestalt đặc biệt coi trọng tồn tại như con người trải nghiệm nó và khẳng định năng lực người cho sự trưởng thành và chữa lành thông qua tương tác và thấu triệt liên nhân cách. Cách tiếp cận là hiện tượng luận do nhấn mạnh cách chúng ta nhìn thế giới, cách chúng ta góp phần tạo nên trải nghiệm, và cách chúng ta tổ chức thế giới cũng như thiết lập bản thân. Trị liệu Gestalt còn là cách tiếp cận thực nghiệm, và các thành viên của nhóm dần đi đến nắm bắt những gì và cách họ đang suy tư, cảm xúc và hành động khi tương tác với người khác trong nhóm. Các thành viên được hướng dẫn và khuyến khích làm thử các ứng xử mới như cách tăng cường tự hiểu biết (Yontef, 1995).

Khi thân chủ đạt tới trạng thái ý thức tập trung vào hiện tại đang là và ghi nhận rõ ràng hơn về các giới hạn trong kiểu quan hệ liên nhân cách của mình, sự vụ đầy ý nghĩa còn dang dở sẽ nổi lên. Để sống đầy tràn hơn trong hiện tại, các thân chủ cần định dạng và giải quyết bất kỳ điều gì từ quá khứ quấy nhiễu chức năng đương thời. Nhờ trải nghiệm lại những xung đột dĩ vãng như thể chúng đang diễn ra lúc này, các thân chủ mở rộng tầm nhận thức và đủ khả năng ôm choàng các phần bị chối bỏ và gãy vỡ của chính mình, do đó trở nên hợp nhất và toàn thể.

Quan điểm Gestalt là nhìn những gì đang trải nghiệm quan trọng hơn những diễn giải của nhà trị liệu (Strumpfel & Goldman, 2002). Vì thế, cách tiếp cận của nhà trị liệu nhóm theo Gestalt là không diễn giải; không cố gắng giải thích cho các thành viên tại sao họ lại làm thế, cũng như không biểu đạt ý nghĩa đích thực trong trải nghiệm của các thành viên (Frew, 2008). Các vị điều phối (leaders) nhóm khuyến khích các thành viên khám phá các ý nghĩa của riêng họ.

Các thành viên cũng được khuyến khích thử kiểu hành xử mới, biểu đạt một số chiều kích của nhân cách bị ngủ đông, và kiểm tra các phương thức hành xử khác nhằm mở rộng năng lực đáp ứng với thế giới. Theo Zinker (1978), các thực nghiệm Gestalt móc chặt với đời sống thực tế của các thành viên khi họ tự bộc lộ bản thân trong tình huống và trưởng thành từ bối cảnh sống động của nhóm.

Fritz Perls giới thiệu khái niệm “chỗ ngồi nóng” (hot seat) là một trải nghiệm tự nguyện mang tính trị liệu với một thành viên nào đó trong khi các thành viên còn lại quan sát. Fritz cũng đưa ra kỹ thuật “chiếc ghế trống”.

Nhiều nhà trị liệu sử dụng các kỹ thuật Gestalt kết hợp với các mô hình lý thuyết khác. Trong bối cảnh tham vấn nhóm, các bài tập và các hoạt động, như các huyễn tưởng được dẫn dắt, giữ vai trò hình thành ý thức và tạo nên trải nghiệm ở- đây- bây- giờ. Dùng các kỹ thuật Gestalt đòi hỏi am hiểu kiến thức và kỹ năng áp dụng từng cái. Do các nỗi đau tâm lý có thể tái hiện, gây rắc rối, thậm chí sang chấn khi đào sâu các cảm xúc nên người điều phối còn đòi hỏi phải chuẩn bị tư thế giải quyết các cảm xúc mãnh liệt có thể nảy sinh.

Dưới đây minh họa việc trị liệu Gestalt đặt ai đó vào chiếc ghế trống.

Bích là người phụ nữ trẻ có bố mẹ đã mất nhiều năm trước do tai nạn trên chuyến xe đi nghỉ mát. Bích từng đề cập chuyện này và giờ tiếp tục nói về bố mẹ mình.

Bích: (khóc) Tôi không nghĩ mình biết sắp xếp cuộc đời khi không có họ.

Người điều phối: Bích, cô có muốn thử hoàn thành công việc dang dở này không?

Bích: Tôi không biết cách làm thế nào.

Người điều phối: Cô muốn thử? Tôi có một vài ý tưởng. Cô có muốn chúng tôi giúp cô làm điều này?

Bích: Tôi muốn làm điều gì đó. Tôi không muốn cứ mãi cảm nhận như này mãi.

Người điều phối: Ok, để chuẩn bị vài thứ nhé. (Người điều phối đặt hai cái ghế vào giữa nhóm, đối diện với thành viên Bích; một cái là bà mẹ, một cái là ông bố). Cô muốn nói chuyện với ai trước?

Bích: Mẹ tôi.

Người điều phối: (Thành viên đang nhìn người điều phối. Bà sử dụng đôi tay để thu hút sự chú ý của thành viên vào ‘chiếc ghế bà mẹ’ và nói bằng giọng dịu nhẹ). Cô thích nói gì với mẹ mình nào?

Bích: (Thành viên nhúc nhích, nhìn chăm chú vào chỗ trống nơi chiếc nghế và nước mắt chợt rơi). Con nhớ mẹ lắm. Tại sao mẹ lại bỏ rơi con? Mẹ biết là con cần mẹ mà. Tại sao mẹ phải đi nghỉ mát với bố? Con biết mẹ thực sự không muốn đi chuyến đó. (Giọng thành viện lên cao ở đoạn cuối, cho thấy cảm xúc tức giận).

Người điều phối: Cô đang cảm thấy thế nào?

Bích: Buồn.

Người điều phối: Còn gì khác? (Thành viên chằm chằm nhìn người điều phối, như thể chưa sẵn sàng định dạng cảm xúc bản thân. Giọng người điều phối tuy vẫn dịu dàng song có phần nồng nhiệt hơn). Tôi lưu ý là giọng của cô thay đổi đó, như thể cô đang cảm thấy đôi chút tức giận với mẹ mình vì bỏ rơi cô, vì lên chuyến xe mà bà không muốn đi và hiện không quay trở về nữa?

Bích: (Thổn thức). Làm sao tôi có thể tức giận với mẹ chứ? Mẹ đã chết. (Trong trị liệu Gestalt, thành viên có sự tách ngăn cảm xúc tức giận và chối bỏ chúng).

Người điều phối: (Giọng mềm mại, đoan chắc). Ổn thôi do tức giận với người chúng ta thương yêu. Nếu cô ngồi trên sự tức giận, cô sẽ khó đặt điều này trước mặt mình. (Người điều phối lần nữa dùng cử chỉ để thu hút sự chú ý của thành viên vào chiếc ghế trống).

Bích: (Thổn thức, với giọng vống cao, tức giận). Tại sao mẹ đi? Tại sao mẹ chết và để con bơ vơ một mình? Mẹ biết con khó khăn thế nào để sống mà không có mẹ giúp đỡ!

Người điều phối: (Quét nhanh nhóm, quan sát thấy các thành viên đang rất chú tâm). Cô cần gì từ mẹ mình để bà có thể siêu thoát?

Bích: Tôi muốn biết là mẹ yêu thương tôi và mẹ không muốn để tôi phải trơ trọi một mình trên đời.

Người điều phối: (Điệu bộ hướng tới chiếc ghế trống). Tôi sẽ đề nghị cô ngồi vào kia, chỗ chiếc ghế đó. (Thành viên rời khỏi chiếc ghế đại diện cho mẹ mình). Tôi muốn cô làm mẹ mình. Bà muốn nói điều gì với Bích nào?

Bích: (Đổi ghế, nói với tư cách người mẹ). Mẹ yêu con và mẹ không muốn bỏ rơi con. Đó là một tại nạn mà chúng ta đã không tránh được. Mẹ không cố ý làm điều đó. Mẹ không cố ý bỏ rơi con ở lại một mình.

Người điều phối dãn dắt cuộc ‘đối thoại” giữa Bích và mẹ mình, bảo thành viên chuyển đổi ghế cho đến khi cô nhận ra mẹ cô “đã không làm điều đó với cô” và cảm xúc tức giận với mẹ là không có cơ sở. Trong ví dụ này, người điều phối nhóm dùng chiếc ghế trống để giúp thành viên trình bày các cảm xúc đối với mẹ mình, định vị và phóng thích chúng theo một cách chấp nhận được, và tích hợp nhận thức mới ấy. Khi Bích hoàn thành, người điều phối quay sang cả nhóm.

Người điều phối: Chuyện của Bích có ý nghĩa gì với các bạn?

Dương: Nó khiến tôi xúc động mạnh. Bích, anh chia sẻ với em. Anh đã từng điên tiết với bố anh khi ông nhậu nhẹt suốt và chuyện của em làm anh nhận ra bố mình không muốn mình điên tiết. Câu chuyện này thật mãnh liệt. Tôi có thể nói về nó?

Người điều phối: Hẳn rồi. Để nghe những thành viên khác chia sẻ rồi Dương có thể tiến hành bất kỳ việc gì cần thiết.

Ánh: Tôi vẫn đang tiếp tục hình dung ông nội mình trên chiếc ghế và nghĩ về những điều mình muốn nói với ông.

Có những lúc thành viên đang trị liệu dễ thấy khó khăn để nhập vào ý tưởng nói chuyện với chiếc ghế trống do một số lý do nào đó. Đoạn đối thoại bên dưới, dùng cùng tình huống vừa nêu trên, cho thấy cách người điều phối xử lý tình huống kiểu thế.

Người điều phối: (Sau khi cẩn thận đặt để trạng thái với Bích). Cô muốn nói gì với mẹ mình nào?

Bích: Tôi không biết phải nói điều gì đây.

Người điều phối: (Vẫn chăm chú nhìn vào chiếc ghế trống). Mẹ, con có một vài cảm xúc mà con không thể thoát ra khỏi được. (Hướng về thành viên). Cô thử nói thế xem.

Bích: Mẹ, con có một vài cảm xúc mà con không thể thoát ra khỏi được.

Người điều phối: (Lần nữa, nói với “Mẹ” ở chiếc ghế trống). “Một cảm xúc là… ” Tiến lên!

Bích: Một cảm xúc là.. tức giận. (Bích thổn thức).

Ở đây, người điều phối đã biết cài đặt tình huống trị liệu hết sức đúng đắn và biết thành viên chưa mang mẹ mình vào hiện tại được. Bởi việc thúc đẩy thành viên rất tinh tế, diễn cùng thành viên và sử dụng cách hoàn thành câu, người điều phối giúp thành viên nắm bắt được trải nghiệm… Giá trị của chiếc ghế trống quyền năng đến độ không chỉ mỗi thành viên duy nhất đang “ngồi chỗ nóng” mà hầu hết các thành viên trong nhóm cũng đang suy nghĩ ai đó họ muốn nói ngồi ở chỗ nóng.

Sống tách biệt và cô độc: Thực sự “biết” một người thuần túy chỉ dựa trên chẩn đoán ?

Mùa hạ tuổi thơ rong ruổi, trên từng rơi rụng ơ thờ, mơ hồ hơi thu ghé lại, dọc dài dáng đứng buồn vui...
Mùa hạ tuổi thơ rong ruổi, trên từng rơi rụng ơ thờ, mơ hồ hơi thu lùa lại, dọc dài dáng đứng buồn vui…

Câu chuyện về hai cha con ông Hồ Văn Thanh và Hồ Văn Lang tưởng là thân phận cá nhân song đích thị dính dáng sâu xa tới chính sách định canh, định cư đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Không phải là hiện tượng quá chừng xa lạ hoặc độc sáng duy nhất, sự tách biệt và cô lập xã hội đó đây cứ khiến người ta bỏ làng, sống trong hang đá; có thể tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới (người rừng ở ngoại quốc).

Lần nữa, vấn đề trả về hay hòa nhập đi kèm với nỗ lực của chính quyền xây nhà, nhập hộ khẩu (cập nhật: thổ lộ cách sinh tồn giữa đại ngàndựng chỗ ở mới) đặt định rõ ràng trạng thái chung rằng con người ta đơn độc nhưng không cô đơn; bởi hơn 40 năm, cha con nhà họ Hồ đã yên ổn sống đời tự cung tự cấp trong rừng sâu, từ chối tiếp xúc với cộng đồng thân tộc.

Và đây còn là câu chuyện minh họa cho việc người ta tin tưởng vào chính quyết định của bản thân, đồng thời cũng cảm thấy quyền lực qua sự kiện rằng họ đang nắm lấy hạnh phúc trong đôi tay mình.

Họ trở về và trở… bệnh; người thân xác quyết rằng cha tôi không phải người rừng; công luận thì biết tới quan điểm của giới khoa cử, đại diện khảo cổ, quan chức giáo dục, nhân danh nhà văn, tiếp cận theo góc nhìn dinh dưỡng, cánh báo chí dĩ nhiên liên tục theo vết “người rừng” và kiên trì ước mơ “giải mã” dựa trên tập tục, giấc mơ kỳ lạ.

Thực tế, việc ẩn dật vẫn hay xảy ra bất kể  lứa tuổi (người già ẩn dật); một dạng tỵ nạn, lưu vong, xa lánh và cách biệt với xã hội; những con người mà ‘dấu cô độc đã hằn ghi trên trán’. Điều này đặt ra việc nghiêm túc cần phân biệt giữa sự cô đơn và tách biệt.

Theo một nghiên cứu dài hơi khá thú vị thì  được xem là cách biệt xã hội (social isolation) khi hơn một trong các điều kiện dưới đây được đáp ứng:

  • sống một mình
  • không bao giờ ra khỏi nhà
  • không có bà con thân thuộc
  • không thăm viếng bất kỳ ai
  • không tiếp xúc với hàng xóm, láng giềng
  • ở một mình hơn 9 tiếng mỗi ngày
  • láng giềng gần nhất cách tầm trên 500m (50 yards).

Để xác định người được xem là đơn côi, cô độc (loneliness) thì nhóm nghiên cứu dùng các tiêu chí sau:

  • suốt ngày cảm thấy cô đơn
  • ước ao có nhiều bạn bè hơn
  • không nhìn nhận đủ bạn bè hoặc bà con thân thuộc
  • không có tâm tình tri kỷ
  • không có bạn bè thực sự sống gần bên
  • không gặp đủ người
  • không có một ai để đề nghị che chở
  • trải qua kỳ Giáng sinh trước tủi thân và cô độc

Giờ hãy xem xét người được phân loại rất khách quan là cách biệt song không cô đơn. Họ trông thế nào ?

  • thích thú với việc bầu bạn với riêng mình; họ thường lặng lẽ hoặc dè dặt
  • họ có quan hệ thỏa mãn với bạn bè hoặc hàng xóm, hoặc họ luôn duy trì việc sống với bản thân
  • trong mẫu nghiên cứu ở đây, tất cả họ đều không có con cái
  • là những nhân cách tự thấy mình đủ đầy
  • lựa chọn việc trải qua mùa Giáng sinh trước một mình

Thế còn người không tách biệt song đạt điểm số về cô đơn thì sao?

  • họ đang chăm sóc một người phối ngẫu phụ thuộc và ít nhờ vả, trợ giúp
  • họ sống với một đứa con trưởng thành rồi và đang làm việc toàn thời gian
  • họ trải nghiệm cái chết của vợ/ chồng hoặc các bạn bè mình
  • họ chuyển chỗ suốt thời gian nghiên cứu
  • sức khỏe của họ trở nên sút kém đi
  • không ai viếng thăm họ
  • họ không cầu xin sự giúp đỡ

Một vài dòng cuối trong báo cáo nghiên cứu trên là như thế này.

 … thật sai lầm để giả định rằng cô độc nên luôn luôn được xem là đối tượng cần trợ giúp và thay đổi. Cô độc có thể liên quan với một nguy cơ lớn hơn của những tình huống khẩn cấp chưa bị phát hiện ra, song nó chắc chắn là nguy cơ nên được giảm thiểu và không phải là tự thân sự cô độc vì sự cô độc có thể được ấp ủ trong lòng.

Đến đây, câu chuyện hiện sinh lại dễ khiến thiên hạ nghĩ tới ranh giới của sự bình thường, vốn quen được xã hội mặc định ít nhiều. Bài lần tới sẽ chỉ ra cụ thể tri giác của nhà tâm lý học lâm sàng về người mắc rối loạn tâm thần.

Chuyện “Bà Tưng”, chó, mèo, và facebook

metta
metta

Vậy là như một tin tức và hiện tượng nóng bỏng từ dạo kỷ niệm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6 vừa rồi, không phụ lòng người hâm mộ và làm lượng bình luận thêm tăng vọt, nữ sinh viên đang học ở Saigon đến từ xứ Nghệ đã kịp đẩy lên facebook clip mới nhất trong trang phục y tá mang nhãn hiệu “Bà Tưng“.

Cô gái có thân hình gợi cảm, tâm tư ham vui và hành vi khiêu khích trên còn khiến dân mạng dự đoán sẽ sớm là Maria Ozawa của nước nhà.

Chỉ báo tốt nhất cho hành vi trong tương lai là ứng xử của quá khứ; người đời hay phán thế, họ tin chắc điều quá chừng hiển nhiên như đinh đóng cột vậy, và nghĩ kết chuyện rồi.

Lối suy tư nghe coi bộ khó phủ quyết được này, tương tự không ít mặc định mang thói quen khái quát hóa đơn giản hết sức đời thường khác, chẳng hoàn toàn đúng.

Các nhà khoa học tâm lý nghiên cứu hành vi con người đồng ý rằng ứng xử trước đây là dấu chỉ hữu dụng cho hành vi tương lai, song chỉ dưới một số điều kiện đặc thù nhất định:

– Các hành vi lặp lại, theo thói quen với tần suất cao thì càng dễ dự đoán hơn các hành vi không xảy ra thường xuyên.

– Các dự báo, đoán định tỏ ra tốt nhất khi các khoảng (intervals) thời gian ngắn.

– Tình huống dự kiến phải cơ bản giống tình huống quá khứ từng kích hoạt hành vi.

– Hành vi phải không bị làm cho lu mờ, át đi bởi phản hồi mang tính trừng phạt hoặc tiêu cực.

– Đối tượng phải giữ nguyên, không hề thay đổi.

– Đối tượng phải tỏ ra khá nhất quán trong các hành vi của anh/ chị ta.

Thử mở rộng hơn bối cảnh. Tưởng tượng một gã với loạt tội bạo lực vài năm trước, khi ở độ tuổi 20. Giờ hắn đang chơi ma túy trở lại và đàn đúm cùng bọn xấu. Thêm nữa, mắc loạn thần dạng kinh niên rồi.

Song nếu mình dự đoán bạo lực tương lai dựa trên tập hợp các yếu tố nguy cơ kể trên thì sẽ dễ sai lầm lắm. Nghiên cứu chỉ ra, chỉ tầm 4/10 các cá nhân bị đánh giá sẽ có hành vi nguy cơ bạo lực trung bình và cao là diễn tiến lại hành vi phạm tội bạo lực. Các tỷ lệ tái phạm bạo lực thấp sẽ chống lại mình.

… Hôm nay, thấy báo chí quốc nội nhắc tiếp các vụ “cẩu tặc”, “chó Việt Nam hạnh phúc nhất thế giới” (sic), song làm sao quên hình ảnh hàng nghìn người vây đánh kẻ trộm chó ở Yên Thành, và cứ rờn rợn về lối  lựa chọn thái độ đối phó cũng như khi truyền thông chính thống xiển dương phong trào bảo vệ trật tự- an ninh cộng đồng, thôn xóm.

Thực tế, người ta thường cố gắng giải thích cho bằng được những ứng xử sai trái, tệ hại ở trẻ em, chó mèo, thú cưng và những chủ nhân của chúng.

Trong những tình huống tinh thần căng thẳng, chúng ta nói chung dễ quay về với thói quen lâu nay. Nếu các thói quen này là xấu xa thì mình trải nghiệm những gì nhìn thấy như là sự thất bại của khả năng tự kiểm soát; song chúng ta cũng trở lại với các thói quen tốt nữa. Chúng ta không hề lưu ý những chuyện ấy như là trạng thái sẵn lòng, bởi vì các hành vi này hữu dụng.

Thực nghiệm càng chứng tỏ, quyền năng của thói quen trong hành động hàng ngày. Khi sự đời trở nên khắc nghiệt, đáp ứng tự nhiên là quay về với các hành vi từng mang mình vượt qua các tình huống khác trong quá khứ. Đó cũng là lý do căn bản đòi hỏi phải nhấn mạnh cách học phát triển các thói quen tốt lành.

Với nhiều người, loài chó gắn khít với cấu trúc gia đình họ cùng cách như trẻ em vậy. Có một mối ràng buộc ở đây, và thật là nhiều tình yêu thương, cảm xúc dành cho chó, mèo nói chung, và dĩ nhiên, nhất là với những gia đình vốn ưa thích chăm sóc loại chó, mèo đặc biệt.

… Và khép một vòng tròn về lại facebook, bởi biết bao lời đồn thổi, khen chê theo đủ khía cạnh, chiều kích, phía lề nảy nở nơi đây.

Có rất nhiều huyền thoại xoay quanh truyền thông xã hội và các quan hệ liên nhân cách của con người như giống loài động vật xã hội, dựa trên hai điều cơ bản.

Thứ nhất, nỗi sợ liên quan các công nghệ tân tiến. Thứ hai, giả định ngầm ẩn rằng cách thức xưa cũ tiến hành các điều, việc là cách thức “đúng đắn” và các lối mới thì quá cao cấp về mặt đạo đức. Cũng khá dễ dàng để thấy là hai kiểu dạng định kiến nhận thức như thế không xây dựng được nền tảng tốt lành cho việc lượng giá các công cụ mới.

Chẳng hạn, huyền thoại không khó phát hiện rằng truyền thông xã hội đang phá hủy các kỹ năng xã hội của chúng ta và dần thay thế các mối quan hệ không trực tuyến.

Thực tế, nhiều nghiên cứu khẳng định truyền thông xã hội củng cố các mối quan hệ (tham khảo sơ bộ ở đâyđây); tạo chất kết dính liên hệ cho những thời gian mặt đối mặt; hầu hết các trang truyền thông xã hội được dùng để tăng cường thêm các mối quan hệ hình thành không trực tuyến; mạng truyền thông xã hội có thể nối kết chúng ta với những người và cơ hội mà sẽ không thể triển khai được nếu không có nó.

Ngoài ra, cũng là huyền thoại khi cho rằng việc chúng ta hiện diện trên các mạng xã hội là cơ bản như nhau thôi; rằng không có mạng xã hội thì mình sẽ sống một cuộc đời tràn đầy và hạnh phúc; người ta không nói thật khi lên mạng, vào fb; quan hệ trên mạng là “không thật”, v.v…

Khi đang gõ những dòng này, tôi thấy trên fb xuất hiện đôi ba dòng trạng thái giới thiệu về một vụ án mạng mới được làm rõ nội tình với cảnh báo rằng đừng mời ai về nhà, cho ai biết địa chỉ khi ta không rõ tông tích của họ, đừng quá tin người…

Chắc chắn, những cảnh báo và khuyên nhủ, nhắc nhở nọ kia kiểu vậy là cần thiết và không sai trái gì, song sẽ thêm một huyễn hoặc nữa nếu cho rằng mạng xã hội không tạo nên điều gì tốt lành cả.

Ký ức tưởng tượng và vô thường

Sắp hết một năm rồi, thật khó tin rằng đó là sự thực và nó để lại ít nhiều hụt hẫng– ngay cả đây là một quãng thời gian dài quá chừng đau đớn, mệt mỏi dây dưa và nặng nhọc âm ỉ của những giấc ngủ vùi quên lãng quen thuộc.

Cho dẫu thế đi nữa thì mùa đang dấn thêm vài bước từ tạ. Trên cái nhìn chia ly rồi đón chờ lẫn lộn đó, những lần đặt chân của chúng ta chắc chắn ấn xuống đất một dấu hiệu, mong đợi.

Tất cả mọi người băng qua theo cùng chiều kích tiến lên phía trước, dù cho mỗi một cá thể truy đuổi mục tiêu khác biệt hẳn nhau. Thậm chí, nếu chúng ta không nắm lấy được con đường đã xác nhận, chúng ta từng thả bỏ đằng sau một ấn tượng. Song với mỗi một, hết thảy chúng ta rồi ra sẽ đều mờ dần, biến mất, bởi thời gian nơi này chỉ là đôi ba thoáng mong manh, khoảnh khắc khẽ chạm mà thôi.

Hồi nãy, tôi đọc thấy một nghiên cứu nói rằng khi già đi người ta càng cảm thấy tốt lành hơn. Bản thân bằng trải nghiệm, dễ chịu vô cùng khi liên kết với gợi ý trẻ nhỏ dưới 3 tuổi đừng cho xem TV; giữa lưng chừng ấy, lứa vị thành niên thì chúng ta phải chịu đựng ghê gớm với áp lực cần nói năng, phát ngôn thích hợp.

Cùng với thời gian, dối trá dễ có cơ trở nên hoàn hảo, điệu nghệ. Và cảm giác về sự ghê tởm liệu có giúp chúng mình nâng cao tinh xảo và dứt khoát hơn với thực trạng ô uế, nhơ bẩn hiện nay– tất nhiên, không chỉ bàn tới mỗi chuyện đồ ăn thức uống?

Và, khi ngắm nhìn một đôi môi đỏ hay một khuôn mặt đẹp, đôi chút lo lắng khởi lên rằng những gì biểu tượng í sẽ chẳng hề thổ lộ với chúng ta?

Lần nữa, cuộc đời tiếp tục mỉm cười. Giải pháp xử lý thông thường mang độ chính xác nhất để phát hiện ra một khuôn mặt đẹp đích thị như thế nào là nên có một cuộc trò chuyện thực tế với người í.

Nhờ trời, chúng ta vẫn còn giọng nói và răng cỏ.

Nhân tiện, tôi nhớ lại một kỷ niệm. Hồi má tôi còn sống, vào đêm hè hiếm hoi mát mẻ, Người gọi tới ngồi bên rồi chầm chậm thủ thỉ với tôi bằng chất giọng Huế nhè nhẹ rằng: mi là đồ vô tài bất tướng…

J. Soi (7): Nhớ lời Karl Marx xởi lởi

Trí khôn thông thường (ngay cả trót lỡ bỏ quên nó ở nhà) bảo rằng, trước khi chối bỏ một mô hình bất kỳ nào, phải học hỏi về nó đã.

Bởi quá chừng khó khăn với việc vá sửa thị trường. Ngon ăn hơn nhiều là tìm một thị trường sẽ tôn trọng và trả phí cho công việc mà mình có thể làm. Thực tế, các công ty chuyên về công nghệ tuân thủ lệ này lâu nay rồi; giờ tất cả chúng ta phải làm thế thôi.

Hàn gắn, sắp đặt hầu như luôn là cuộc chiến đấu nhất định thất bại. Do anh giỏi giang điều gì đấy đâu có nghĩa thị trường kéo dài mối quan tâm thêm.

Lời khuyên quá tốt đẹp thì rất dễ dàng bị soi xét kỹ càng. Đa phần ai cũng biết, chớ dại bơi trong nước toàn cá sấu khủng; dĩ nhiên, đôi khi nếu mình chợt muốn ở phía bên kia của hồ thì cố đừng phàn nàn, ca thán chi mà chỉ việc bơi nhanh.

Trách nhiệm, nôm na ra, có thể hiểu là sự đáp ứng thích đáng.

Cách tân, sáng tạo vốn là hành động của chuyện đưa điều đã tiến hành thực hiện ở đấy rồi đem sang triển khai, ứng dụng tại đây.

Vấn đề của mình, dù thế nào chăng nữa, chắc chắn có một giải pháp đứng nằm nơi chốn này kia trên đời. Và tổ chức của mình đích thị mắc kẹt vì họ không biết cần làm gì, quan trọng hơn, không có các quyết tâm để làm (quyết tâm chính trị cũng đáng được lựa chọn lắm chứ).

Một ví dụ trong thế giới thực hết sức chính xác về vấn đề đặc thù của riêng mình sẽ tự dưng trở nên hoang đường không thể tưởng, vì chẳng những chỉ cho mình thấy cần làm gì, nó còn đem lại cho mình lòng tin cậy để làm nó.

Nên nếu mình cứ mong chờ một điển cứu (case study) chứng thực rõ ràng, hoặc một cách trực tiếp trỏ nhắm vào thì mình sẽ ngóng đợi mòn mỏi, dài lâu.

Kỹ năng, cơ chừng, là duy trì ước muốn và có quyết tâm kiếm tìm các minh họa tương tự– thay cho việc cứ nằn nì, khăng khăng xin xỏ cho phép được giữ vai trò đồ đệ đi theo ai đó với nỗ lực, quyết tâm cháy bỏng.

Giờ hãy chia sẻ về đòn bẩy. Sau những phát ngôn, tìm ở đâu để nhận được sự khuyên nhủ, bày dạy? Từ những người nổi tiếng, yếu nhân và các tổ chức tầm cỡ.

Song, đừng quên, vấn đề của khuyên nhủ là mình cần hai điều để nó thao tác:

1. nó phải tốt đẹp

2. nó phải tạo động lực cho mình đích thực làm điều gì đấy.

Lý do đơn giản khiến người ta hướng tới những nhân vật lừng danh và các tổ chức to lớn là vì lớp phủ hào nhoáng của sự nổi tiếng và quyền uy khiến nó dễ dàng hơn trong việc khiến mình tự thuyết phục bản thân mình và các đồng nghiệp của mình thực hiện hành động– đích thị làm điều gì đấy với lời khuyên nhủ.

Chuyện nhiêu khê là, lời khuyên của người nổi tiếng không phải luôn luôn tốt đẹp hơn (thường nó không tốt đẹp hơn, khi mình thoáng nhìn) và nó càng đắt giá, buộc mình năn nỉ hiểu biết rốt ráo những gì đang diễn biến.

Lưu ý rằng, mệt mỏi kinh khủng và dính mắc sâu quá khiến đòn bẩy cao đến mấy cũng khó tác dụng.

Vậy thì, vâng, mua lời khuyên. Mua nhiều lời khuyên. Song quan trọng nhất, hiểu biết tại sao lời khuyên là lời khuyên tốt đẹp, hiểu biết đích thị động năng ẩn bên dưới nó– rồi thì mình sẽ không gặp bất kỳ rắc rối, phiền nhiễu nào cho việc bán ý tưởng, bởi vì chẳng phải vấn đề ở người khuyên nhủ… chủ yếu ở lời khuyên nhủ.

Đây là lời thiên tài Karl Marx một thời xởi lởi:

… vương triều Đức quốc đương đại, một quái thai lỗi thời (anachronism), một sự phủ nhận trắng trợn của những gì vốn được xem là chân lý hiển nhiên, một tồn tại vớ vẩn của chế độ cổ đại (ancien régime) đối với thế giới, chăm chắm hình dung rằng nó cứ tin tưởng vào bản thân và yêu cầu thế giới nên hình dung theo cùng lối kiểu tương tự. Nếu tiếp tục tin vào yếu tính (essence) riêng có, liệu nó có cố gắng che giấu yếu tính đó đi dưới vẻ bề ngoài (semblance) man trá khác và nỗ lực ẩn náu trong hành động đạo đức giả (hypocrisy) và thói ngụy biện (sophism)? Chế độ cổ đại tân thời chỉ xứng là diễn viên tấu hài (comedian) của một trật tự thế giới nơi mà các anh hùng đích thực (true heroes) đã tiêu ma hết rồi. Lịch sử phải băng vượt, xuyên qua nhiều giai đoạn nghiêm trọng khi mang vác trên mình một hình thức cổ lổ sĩ. Những giai đoạn sau rốt của một dạng thức sử tính-thế giới chính là tấn hài kịch của nó (its comedy)… Tại sao lịch sử lại diễn tiến như thế? Để nhân loại có thể dự phần vào trạng thái hớn hở (cheerfully) của quá khứ. Định mệnh lịch sử phởn phơ này là điều chúng ta thù oán đối với nền chính trị độc đoán của Đức quốc.

Wow, chuyến tới nếu các chuyên gia hàng đầu lại nhiệt tình xuất hiện và trình diễn màn trò khuyên nhủ quen thuộc, xin báo hộ rằng bạn đang bận nhé!

Lễ hội Halloween: sao thiên hạ vẫn mãi còn mê thích?

Nhìn chung, ma quỷ vốn là loài gây tâm thần kinh thiên động địa; ai cũng nhắc tới với vẻ hoảng sợ và tuyệt chẳng muốn dây vào, nói chi tới chuyện vui đùa tí tởn.

Vậy mà cái lễ hội khá khác lạ với dân Việt í vẫn được giới trẻ tiếp nhận thoải mái; thậm chí, dù đó đây có tiếng nói chỉ trích lẫn biểu thị sự ngó lơ thì trên thế giới, xem chừng văn hóa Halloween cứ tiếp tục được thiên hạ mê thích và con số doanh thu lĩnh vực ghê khiếp này cứ tăng không ngừng, chỉ tính riêng chi phí do người lớn mua sắm đồ trang phục Halloween năm nay đã là 1,21 tỷ USD.

Dựa trên truyền thống Pagan và các truyền thống tôn giáo khác, lễ hội không chính thức này đã trở thành một thứ truyền thống đa phần không thế tục. Những gì người ta nhận được từ nó?

Mỗi năm đến hẹn lại lên, ngày này, người ta có thể yên tâm thể hiện các huyễn tượng của bản thân, khắc chế những nỗi sợ hãi, và biểu đạt các phẩm chất nội tâm thường hay ẩn giấu lâu nay.

Trong khi người ta thi thoảng mới khoác lên mình các bộ trang phục khôi hài, những bộ đồ phát khiếp ấy cứ lặng thầm tạo lập nên hẳn một xu hướng thời trang.

Dưới đây là các lý do có thể giải thích tại sao người ta thích ăn mặc như thế:

@ Có thể chế nhạo nỗi sợ hãi. Đời sống chúng ta đầy tràn căng thẳng thể xác cũng như áp lực tinh thần, và chúng ta giải quyết nỗi sợ hãi, lo lắng trên bình diện căn bản hàng ngày. Mặc các đồ rùng rợn giúp chúng ta xử lý, dẫu ở tầm mức tiềm thức thôi, các món thứ khiến mình kinh sợ nhất. Hình thức các thây ma vật vờ hiện là đồ trang phục thông dụng vô cùng. Chẳng hạn, nếu thử hỏi Google, “Bed Bug Halloween Costume”, tích tắc sẽ cho ra chừng 199.000 kết quả. Tại sao chúng rùng rợn vậy? Bởi ban ngày ẩn ấp, chờ đến đêm về tấn công bất ngờ khi ta ngủ. Halloween mời gọi chúng ta nhìn vào nỗi sợ cái chết. Chúng ta cũng có thể xử lý nỗi sợ mất quyền kiểm soát hoặc đơn giản làm sinh thể khác biệt.

@ Có thể biểu đạt những gì đang bị lãng quên. Một cách tiềm thức, chúng ta có thể phóng chiếu vào các bộ đồ trang phục những phẩm chất mình kiềm nén trong đời sống thường ngày. Chẳng phải quá dễ dàng quan sát thấy biết bao phụ nữ thích ăn mặc những bộ đồ trang phục thiếu vải, quyến rũ và bắt mắt? Điều ấy e chừng vì họ chặn nén các cái tôi táo bạo, dục tình nơi công sở và ở nhà riêng.

Phát hiện ra phần mồi chài nội tại của họ thật đáng phấn khích và hợp lệ, và chuyện mặc tại các hội hè tiệc tùng là ổn những thứ khó khoác lên người tại cơ quan hay chốn hội thảo thâm nghiêm. Mặc như một siêu nhân (đồ trang phục hay thuê số 1) cơ chừng biểu đạt lòng dũng cảm, sức mạnh, và ước muốn cứu rỗi thế giới, những phẩm chất mình không thể nhận ra thông thường ở chính bản thân mình.

Chúng ta cũng có thể biểu đạt các giá trị hoặc quan điểm mà chúng ta không thể phóng xuất ra ngoài như thông lệ được. Chúng ta cũng có thể nhạo báng các nhân vật quyền lực hoặc phô diễn kiến thức mình biết bởi việc trình bày, thể hiện một sự kiện đương đại nóng bỏng tính thời sự. Chúng ta có thể xuất hiện bằng vẻ ngoài thông minh, ưu uất, hung bạo, trẻ con hoặc mảnh khảnh– tất cả, phụ thuộc vào các nhu cầu của chúng ta. Một mụ phù thủy là hình ảnh gì đó vượt trên hẳn một mụ phù thủy. Mụ là một con đàn bà không giả vờ là mình xinh đẹp. Các đồ trang phục giúp chúng ta biểu đạt một nỗi niềm tự do chúng ta luôn luôn khát khao khôn tả.

@ Chúng ta biến thành kẻ ẩn danh. Chúng ta có thể có thể gạt sang bên những cưỡng ép văn hóa và những gì chúng ta tri nhận là bình thường khi đeo một cái mặt nạ. Các quy tắc quen thuộc và cấu trúc xã hội bị bãi bỏ trong lễ hội Halloween, và bên dưới một bộ trang phục, chúng ta thành kẻ dũng cảm hơn, và chẳng hoàn toàn sợ bị đánh giá nọ kia một chút xíu nào.  Một gã ngày ngày chôn chân phờ phạc ngồi hàng giờ liền bên máy tính bán áo quần có thể nhảy nhót mê sảng, hò reo nhặng xị và múa may quay cuồng hết cỡ trong bộ đồ một con khỉ đột to xác kềnh càng. Không ai nghĩ gã này điên khùng gì cả.

@ Có thể bộc lộ ra ngoài các huyễn tưởng một cách an toàn. Ai chẳng có lúc ước họ giá mà là một nàng công chúa kiều diễm, một nghệ sĩ thuần phục sư tử đại tài, hoặc một siêu nhân? Halloween cho phép chúng ta biểu đạt bất kỳ điều chi mình mơ tưởng bấy lâu, hoặc e ngại theo đuổi chưa thôi. Amelia Earhart, Bill Gates, hoặc Barack Obama có thể đều nối kết ước ao của chúng ta tới sự phiêu lưu, giàu có và quyền lực. Hoặc, chúng ta có thể huyễn tưởng đang quay về thời thơ ấu êm đềm, ngây dại tuyệt vời…

Halloween cho chúng ta quyền khám phá và vinh danh bản chất thẳm sâu, bí ẩn trong lòng. Bầu không khí ma quái, kinh khiếp ấy kích họat thiên hạ. Chúng ta có thể để lại đằng sau hệ hình ứng xử quen thuộc và tiến hành ve vãn những nỗi sợ hãi.

Đừng quên rằng trong khi cuồng nhiệt phấn khích vì nuông theo, thích thú quá chừng trong huyễn tưởng, sự thật đích thị: nó luôn chỉ là một huyễn tưởng.

Lời cuối, ngay tại Việt Nam, các trường học có tổ chức lễ hội hóa trang vẫn thừa khả năng dàn dựng chương trình mang tính giáo dục sâu sắc hơn; chẳng hạn, giúp học sinh, sinh viên trao đổi, thảo luận về các bộ đồ thời trang thiết kế cho chúng hoặc do họ tự tay làm.

Mục tiêu xem xét, hiểu biết về việc sử dụng các mẫu rập khuôn và định kiến thể hiện trên các phương tiện truyền thông thị giác (visual media); dùng các kỹ năng và chiến lược phù hợp để hiểu biết và diễn dịch truyền thông thị giác,… được triển khai thông qua tiến trình làm việc nhóm như phân tích một bộ đồ trang phục Halloween theo các tiêu chí: kiểu trang phục, thể hiện bản dạng giới, sắc tộc, tuổi tác,…

Ở đâu đó, trong tôi và quanh đây

Yên vị trên chiếc ghế đặt cạnh cửa sổ, trước mặt lòa xòa bóng cây khế dưới ánh đèn điện và trông xuống ngay cạnh là ngã tư đường phố có hàng bánh cuốn nổi tiếng; sực nhớ tí chút văn chương nên cười thầm mà khoe với nữ nhân ngồi cùng rằng cần đọc tên quán café là “Mi – môi – xa”…

Người giận dữ thì khác biệt. Mình có thể gặp tình cờ vài ba viễn tượng giận dữ. Cơ bản, họ tương tự nhau, song khác biệt so với phần còn lại của chúng ta. Nỗ lực vào cuộc nhằm xử trí, điều chỉnh một người tức giận giống hệt như đang xử trí, điều chỉnh một người bình thường chỉ làm tăng thêm sự giận dữ. Đây chắc chắn là một lỗi lầm, bởi vì sự tức giận luôn mang theo bên mình thực tiễn riêng có. Một khách hàng tức giận chẳng hề kém tắm, ít nhiều giảm giá trị tí chút gì so với bất kỳ khách hàng nào không tức giận. Thực tế, cô í ở trên đường cong riêng của chính bản thân mình.

Khi người mẹ cùng cậu con trai bước vào phòng tập yoga, làm sao tôi xác định chính xác ngay được mức độ tức giận. Sự nhũn nhặn dễ thấy của mẹ, vẻ bất cần mải mê cắm tai nghe nhạc cậu trẻ vô hình trung đã cố gắng giấu biệt nỗi đớn đau phải sống chung với chồng, với ông bố thường xuyên nổi giận và đổ lỗi cho chị cùng mọi người xung quanh… Bất ngờ là sự bất lực của người phụ nữ tươi xinh (cứ cười mỉm khi đang hoàn thành bảng kiểm tình huống gây tức giận) thổ lộ mức chịu đựng do chứng mất ngủ và sự mất tập trung.

Và còn quá nhiều đối tượng cảm thấy tức giận, bởi không đạt được điều mình mong muốn hoặc do sự vụ xảy đến trái ý họ; những quý vị phụ huynh nhanh chóng lờ đi đề nghị diễn tả sự hụt hẫng và cảm giác bị đe dọa…

Thanh thoát, tĩnh tại, đích thực bình lặng không chủ yếu phụ thuộc bối cảnh, nơi chốn, lứa tuổi. Cô gái lớp 8 bảo mình lâu rồi chẳng hề nỗi giận chi cả; nhờ thiết lập tương giao sâu xa, cô mới lờ mờ hiển thị hóa niềm đau khó nắm bắt về mối tình với cậu bạn trai từng một thời mong đợi luôn là ngọn lửa ấm áp, an toàn giờ nguy cơ đang hóa thành đám than nguội dần. Nghiên cứu cho biết, người mắc trầm cảm khó chỉ ra sự khác biệt giữa các cảm xúc gây khốn khổ khôn nguôi.

Ở đâu đó, trong tôi và quanh đây vẫn lưu giữ ít nhiều ao ước tình hình thay đổi khác đi, hoặc còn tiếp tục chưa sẵn sàng tâm thế chấp nhận thế giới như nó đang là

Gửi một làn nắng mới lên

Gửi một làn nắng mới lên

Đừng e ngại chi em hãy cứ đến đi,

cái chạm khẽ của ham muốn yên bình ai được lắng nghe mà nỡ thiệt tình từ chối,

người phụ nữ mang thai đứa bé đầu tiên kéo tay sai bảo tôi vội lên nào, vội lên nào kẻo đất trời tối sầm tội lỗi;

đó là một case đỡ đẻ,

hơi miền rừng núi, mùi nước ối,

hư thực ký ức gã trai hình như có lần ướt đầm tự hỏi:

sao ngay cả dũng khí giấu che, chính mình đây cũng chẳng thèm biết tới trong đời?