Ngu ngơ đi tìm bằng chứng cho Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner

Cùng với phong trào nhà nhà, người người hướng về Tây phương đặng mong cầu chỉ bày và vươn tới chuẩn mực, quá nhiều các phương pháp lẫn cách tiếp cận trên đủ các mặt trận, lĩnh vực được giới thiệu, quảng bá, chào bán,… Giờ các bậc phụ huynh hết lòng hết sức vì tương lai con em chắc hiếm ai chưa từng một lần nghe nói tới nhiều kiểu dạng trí thông minh ở bé.

Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner (Multiple intelligences, MI) khuyến cáo thiên hạ cải thiện không ngừng việc học hỏi: chúng ta biết một số người học hỏi thông qua tiến hành công việc, số khác lại nhờ chuyện đọc sách. v.v… Do vậy, tin rằng người đời có nhiều kiểu thông minh khác nhau, rằng những thông minh của họ như thế thật độc sáng, và rất nên đồng thuận cùng hiện tượng có nhiều phương cách học tập ở trên giảng đường và lớp học.

Nếu giờ tiếp cận vấn đề từ việc tìm kiếm bằng chứng xác thực, liệu có chăng các dạng kiểu thông minh khác nhau như MI mà Gardner xiển dương?

Lý thuyết MI lần đầu tiên được Gardner trình bày năm 1983 trong cuốn sách Frames of Mind, dù về sau thì MI trải qua nhiều chỉnh sửa, thay đổi. Ngay từ 1983, Gardner đưa ra sự tồn tại của 7 loại trí thông minh:

1. Ngôn ngữ (linguistic). 2. Âm nhạc (musical). 3. Logic- toán (logical-mathematical). 4. Không gian (spatial). 5. Cơ thể- vận động (bodily-kinesthetic). 6. Cảm nhận nội tâm (intrapersonal sense of self). 7. Lên nhân cách (interpersonal)

Trong cuốn Intelligence Reframed xuất bản sau đó 16 năm, tác giả Garner thêm một dạng khác là ‘trí thông minh tự nhiên’ (naturalistic intelligence) nhằm trỏ sự thấu cảm đối với các ngoại vật tự nhiên, và ông còn gợi ý một dạng khác: ‘trí thông minh hiện sinh’ (existential intelligence), được xem là khả năng ngập chìm tính tâm linh trong tác phẩm nghệ thuật.

Với phiên bản gần nhất năm 2004, Gardner đề nghị thêm hai dạng nữa là ‘trí thông minh rọi sáng tâm trí’ (mental searchlight intelligence) và “trí thông minh laser (laser intelligence). Gardner tuyên bố, mỗi loại trí thông minh chứa đựng nhiều tiểu dạng thông minh, và mỗi loại thông minh được kiểm soát bởi các vùng não bộ khác nhau, và ông cho biết các khoa học gia Thần kinh “đang trên tiến trình hướng đích về bản chất của các thao tác căn bản trong mỗi dạng trí thông minh“.

Lý thuyết MI của Gardner thu hút sự chú ý của giới chuyên môn, và cơ chừng MI thiếu vắng bằng chứng xác thực. Theo tổng thuật được Waterhouse thực hiện năm 2006, không thấy nêu một nghiên cứu nào hỗ trợ cho độ hiệu lực của MI; Gardner đã cố gắng đáp trả các chỉ trích này từ 2004 như sau:

Lý thuyết MI được ít người say mê trong số các nhà đo nghiệm tâm lý hoăc những đối tượng dựa trên nền tảng tâm lý học khác là bởi vì họ yêu cầu: “đo nghiệm tâm lý hoặc bằng chứng thực nghiệm phải cho phép người ta chứng tỏ sự hiện hữu của nhiều trí thông minh khác nhau”.

Ngay từ 2004, tác giả Chen (được Waterhouse dẫn trong tổng thuật nêu trên) lại thử bênh vực cho sự kiện MI thiếu sự hỗ trợ của thực nghiệm thông qua lời tuyên bố:

“Một lý thuyết tất yếu có giá trị bởi vì nó được hỗ trợ bởi các kết quả của các test thực nghiệm” và “trí thông minh không phải thứ hữu hình để mà có thể đo lường được”.

Đi sâu hơn, tác giả Chen đã chỉ ra 5 điểm gây tranh cãi cụ thể với lý thuyết MI:

  1. MI không có đủ các bằng chứng thực nghiệm thiết yếu
  2. Trí thông minh không phải là đối tượng hữu hình, có thể sờ mó được
  3. MI là các cấu trúc mới đòi hỏi các công cụ đo lường mới
  4. Lý thuyết MI xác định độ hiệu lực của nó thông qua các ứng dụng tại lớp học
  5. Lý thuyết MI mô tả sơ lược kỹ năng nhận thức tốt hơn so với các tiểu thang đo IQ.

Nói tóm, theo cách lập luận của Chen thì có vẻ không có điểm nào  làm cho nhu cầu xác nhận lý thuyết MI là ít cần thiết cả. Dường như MI duy trì nó “đích thị là một lý thuyết” không thể công nhận là có giá trị được (validated), trừ khi các thành phần của lý thuyết được định vị, thiết lập rõ ràng. Khi Gardner tuyên bố rằng ông sẽ không định rõ các thành phần đó, lý thuyết MI khó nghiêng theo hướng đạt độ hiệu lực mong muốn.

Tác giả Chen (2004) cho rằng dẫu lý thuyết MI đạt độ hiệu lực thông qua việc ứng dụng nó, tuy thế, điều ấy không đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu với dữ liệu có cơ sở chắc chắn, vì dạng thức ứng dụng kiểu vậy không cung cấp dữ liệu đáng tin cậy. Sau rốt, không có nghiên cứu nào chứng thực rằng năng lực nhận thức được MI mô tả sơ lược tốt hơn khi dùng các tiểu thang đo IQ cả.

Mình thật nhất thiết cần trí thông minh để thành công?

Hồng như thể mình không trông mong gì từ trí thông minh
Hồng như thể mình không trông mong gì từ trí thông minh

Học viện Công nghệ Canergie từng có nghiên cứu cho rằng 85% thành công về mặt tài chính phụ thuộc vào các kỹ năng mang tính kỹ nghệ con người tức là việc tự quản lý và quản lý quan hệ, hơn là các phẩm chất di truyền hoặc nội tại như là chỉ số trí tuệ IQ và các năng lực phân tích.

Hơn một thập kỷ gần đây, nền văn hóa đại chúng cứ ôm choàng lấy khái niệm về trí thông minh như tập hợp các kỹ năng chính yếu để đạt được hạnh phúc và thành tựu nhiều mục tiêu cá nhân.

Tuy vậy, niềm tin bình dân thi thoảng liên kết trí tuệ cảm xúc (emotional intelligence) với sự thành đạt trong kinh doanh; hầu như quá thường thấy giả định thành công nằm trong các quan hệ liên nhân cách và người ta cho rằng thích ứng hơn cái sự thành công tại nhà so với ở nơi công sở.

Các khái niệm theo cổ truyền về trí thông minh có xu hướng nhắm chỉ người lợi thế về ghi nhớ và các năng lực phân tích, trong khi lại ghét bỏ người không được thế.

Kết quả là các cá nhân nào có thể bày tỏ các tài năng để có sự thành công trong đời có thể bị gán nhãn là không thông minh, trong khi một số đối tượng này được cho là thông minh lại ít được phú cho các tài năng trên.

Với mục đích riêng, nghiên cứu vừa dẫn xác định trí thông minh là khả năng thích nghi với môi trường và khả năng học hỏi từ trải nghiệm, và trí thông minh mang lại thành công được nhìn nhận như sau:

  1. năng lực đạt được các mục tiêu trong đời sống, với bối cảnh văn hóa- xã hội nhất định;
  2. nhờ biết đầu tư vốn liếng vào các sức mạnh và chỉnh sửa hoặc bù lỗ cho các điểm yếu;
  3. nhằm để thích nghi, định dạng, và chọn lựa các môi trường; và,
  4. thông qua một sự kết nối của các năng lực phân tích, sáng tạo, và thực hành.

Trong bối cảnh này, lượng giá về sự thông minh sẽ được đặt trên các mục tiêu cá nhân lựa chọn trước là cố kết hay không với các phương pháp xác định sẵn đặng thành tựu mục tiêu và các kỹ năng đã biểu tỏ trong tiến trình đó.

Hết sức tự nhiên, một người ước ao trở thành một chủ ngân hàng thành công sẽ không nhất thiết đặt để cùng một tập hợp các kỹ năng như ai đó đang muốn trở thành nghệ sĩ vĩ cầm nổi tiếng nhất thế giới.

Dầu vậy, cái nhìn của tác giả Sternberg và cộng sự về trí thông minh cơ chừng hồi quang với cả hai mục tiêu này. Nói khác, theo cảm nhận của họ, một người thông minh để tựu thành các mục tiêu kiểu thế không nhất thiết phải là các cá nhân sở hữu kỹ năng phân tích tuyệt hảo hoặc có trí nhớ siêu tuyệt, như quan niệm truyền thống về trí thông minh đòi hỏi.

Quà tặng cho các năng lực cơ bản

Một bài báo năm 2011 trình bày bằng chứng từ lĩnh vực đào tạo âm nhạc cho thấy các năng lực cơ bản– dạng người tài năng bẩm sinh– có thể dự đoán thành công với một dải ranh rộng với các nhiệm vụ cực kỳ phức tạp.

Theo đó, nghiên cứu thiết kế nhằm lượng giá xem thử việc rất chủ tâm thực hành liệu vượt qua nổi hiệu ứng mang tính quyết định của năng lực làm việc dựa vào trí nhớ trong chuyện chơi nhạc mà không cần nghiên cứu trước của người chơi dương cầm (ví dụ, năng lực chơi một đoạn không cần chuẩn bị gì cả); kết quả khẳng định năng lực làm việc dựa vào trí nhớ là một “chỉ báo tích cực của việc biểu diễn và vượt trên chuyện kỳ công luyện tập” và rằng không có bằng chứng xác thực cho chuyện càng tập luyện kỳ công thì có thể làm giảm hiệu ứng mà năng lực dựa trên trí nhớ bộc lộ khi trình bày.

Nói khác, theo các tác giả nghiên cứu thì thực hành, luyện tập không thể kiến tạo sự hoàn hảo nếu không có chút sự trợ giúp của bà mẹ tự nhiên.

Trực giác đối đầu nhận thức

Theo quan điểm của trường phái kinh tế học hành vi với đại diện nổi tiếng Daniel Kahneman thì lập luận của người ta được phân thành hai kiểu là trực giác (hệ thống 1) và cố ý, chủ tâm (hệ thống 2). Nghiên cứu của Kahneman đưa ông tới kết luận rằng, các cá nhân nào thường công nhận, cho phép trực giác ngay liền hoặc chấp nhận các ý tưởng và giải pháp đầu tiên xuất hiện trong tâm trí thì họ bỏ bê, không dùng đến sự thận trọng, suy nghĩ rốt ráo. Ngay cả trong những tình huống dường như đòi hỏi suy tư thấu đáo và lượng giá cẩn thận, chúng ta cơ chừng để mặc mọi chuyện cho nguyên tắc suy nghiệm và chứa chất tình cảm khống chế hơn hẳn khía cạnh lý trí của bản thân.

Tóm lại, dường như năng lực đặt để các mục tiêu, việc nhận ra các con đường mạch lạc để đạt được chúng, và dõi theo lập luận mang tính trực giác đủ lâu theo con đường thì chúng ta dễ đặt được các nền tảng chắc thật cho sự thành công cá nhân; và, lần nữa, thêm chút trợ giúp từ bà mẹ thiên nhiên tuyệt chẳng hề gây hại gì hết.

Những quả mướp ngọt, bó rau mồng tơi và sự thông minh trong thời mạng lưới điểm toàn cầu

Những quả mướp ngọt lành như chính sự mềm mại, mượt mà, nhỏ nhắn và thon thả chúng thể hiện qua hình hài. Khi chạm tay vào, phần cắt vỏ trượt dài theo thân có cảm giác thấy rõ sự rẩy run, trong suốt của cỏ cây giản dị tâm hồn. Những quả mướp non tơ dừng ngắt đời mình ở giai đoạn khởi tạo thẩm mỹ rung động nhất.

Và các chiếc lá mồng tơi đếm được, cẩn thận chấp nhận tách khỏi cành gọn ghẽ. Những chiếc lá mồng tơi nham nhám thì bao giờ cũng thế, chúng hơi trơn nhẫy khác biệt bề mặt; đặc tính quang hợp diệp lục khiến loại thực vật này xòe bàn tay bằng khuôn dạng khôn khéo ra hứng ánh sáng mặt trời không quá độ chói chang. Kiểu lá mọc đối, tuy vậy, chẳng đủ quyền năng khiến chúng miễn trừ bụi bặm đeo bám…

Thơm thảo là những chiếc lá khơi dậy mùi hương tự nhiên, đột ngột kéo gợi sang thắc mắc liệu các đồ hình kết nối về toàn bộ hệ thống thần kinh có đáng giá, dẫn dụ ta về hành vi của chúng?

(Ai hay biết, chúng là thứ hàng biếu kèm miễn phí do người thay phiên chợt xốn xang thấy rõ trên khuôn mặt và cử chỉ khi kẻ mua biết mình là vợ của cậu con trai duy nhất mà cô bán hàng vẫn thường nhắc tới…)

… Vẫn còn đó câu hỏi sự thông minh ẩn giấu ở đâu trong các genes?

Và hiểu sao đây, sự thông minh trong thời mạng lưới điểm toàn cầu?

Rằng vượt thời gian, các chỉ số IQ không ngừng tăng lên (hiệu ứng Flynn), nên chi internet và T.V không có cơ nào để biến chúng ta thành những kẻ ngu xuẩn, đần độn đâu, nhỉ?

Nếu vậy, ý tưởng cơ chừng đích thực chính là chuyện thay đổi cách thức chúng ta suy nghĩ: phát triển một số thứ thuộc kỹ năng tinh thần (mental skills) trong khi dìm nhấn xuống (de-emphasized) một số khác chăng? Song, những gì đích thị bị dìm nhấn xuống?

(Thêm vào vụ không đắm mình trong các cuốn sách, bọn nhóc có thể còn ít tham gia hẳn vào các cuộc trao đổi, chuyện trò và những thứ kiểu tương tác thành lời đầy ý nghĩa khác nữa. Các nhóc tì bé xíu, chẳng hạn, giờ đây tự bộc lộ, phơi bày hướng tới độc giả và loại sách điện tử (e-books)– một sự phát triển khá quan ngại nếu bố mẹ chú trọng vào các câu chuyện kể, minh họa trên giấy. Một số nghiên cứu chứng tỏ, bố mẹ nào đọc cho trẻ các loại sách e-book thì việc tương tác với con cái thường thể hiện kém tương tác về chính tự thân câu chuyện, hỏi con trẻ ít hơn so với các bố mẹ ít đọc chuyện [cám ơn bạn đọc đã phát hiện lỗi chính tả, xin sửa lại thành “đọc truyện] cho con từ sách in. Điều đấy thậm chí do giả định rằng, bố mẹ hãy còn ngồi cạnh và đọc cùng trẻ, không để trẻ tùy nghi sử dụng thiết bị và cuốn hút vào các minh họa quyến rũ lẫn hiệu ứng âm thanh hấp dẫn.)

Thực tế, bộ não có thể thích ứng nhằm giải quyết với công nghệ kỹ thuật số theo một nền tảng căn bản, song cứ tồn tại một nơi chốn (dường như ngày càng không được đoái hoài, chú ý đến) mà việc xử lý tâm thần không có nhịp bước nhanh kịp: thói quen trầm ngâm suy nghĩ, tính kiên nhẫn, khả năng theo đuổi một tranh luận thành lời khá phức tạp.

Mọi người mô tả thế giới chúng ta đang sống là “bước đi nhanh nhẹn” và đây- đó- nọ kia quả đúng thế thật, song không phải mọi thứ về thế giới lẫn cách chúng ta sống, suy nghĩ, quan hệ với những người khác đều gắn bó, thân thiết vậy cả.

Nhắn (17): Người tài trí lưu ý

Và đây là là dòng chữ lật úp mạnh mẽ nhất: sự thông minh dường như khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hẳn đi. Các khoa học gia đề nghị sinh viên tiến hành bốn thang đo “mức độ tinh tế về mặt nhận thức”. Như họ báo cáo trong bài, tất cả bốn thang đo đều cho thấy các mối tương quan đồng biến, ” chứng tỏ rằng những người tham gia càng có mức độ tinh tế về mặt nhận thức bao nhiêu thì càng biểu lộ các điểm mù định kiến rộng rãi hơn bấy nhiêu.”

Xin đừng tự mãn, thỏa chí.

Hình thể, máy móc, cảm xúc, thời đại lai ghép và kỹ thuật sinh học với đời sống con người

Bõ công lội bộ quãng dài rác rến, nước dâng đầy nhầy nhụa, áo quần thấm ướt khi rốt cục lại được xem phim tài liệu Tình yêu của người máy (2007).

Cuối cùng thì gì là người; bản chất robot nằm ở đâu, liệu sẽ xảy đến biến động chi khi đã lâu lắm rồi ta không nhìn vào cõi lòng?

Như lời đề từ, bộ phim minh họa cho cảm nhận ‘yêu và được yêu’ như bài học quý giá; bất luận đó là hình thể phi nhân tính, chó con robot, trẻ con suốt ngày chúi mũi vào màn hình điện tử, đôi tay táy máy chơi game kèm máy gắn hai tai nghe nhạc,…

Kỹ thuật sinh học tối tân kiến tạo những thiết bị, bộ phận làm giả cơ thể người rồi đây sẽ thay thế tứ chi chúng ta; và khả năng đáp ứng, làm được tất tật mọi thứ dễ khiến thiên hạ thầm chợt ước ao hay bất mãn tuyên bố thành lời rằng mình cần nó hơn ông chồng vô tích sự?

Ảo, thật đích thực quan trọng tới mức độ nào, khi với một bà cụ không còn người thân thì niềm vui lần đầu tiên biết tới là con vật cưng cắm điện có đôi mắt chớp, bộ lông mềm mượt và âm thanh cất giọng đủ khiến người phụ nữ ấy bất chấp tất cả dị nghị, suốt ngày bận bịu vuốt ve, cưng nựng và hồi âm đến độ gần khản cả tiếng.

Sự hợp trội giữa người và máy móc biểu lộ cho nét kỳ dị, phi thường đang bước sát gần rồi? Mai này dùng phương thức nào để đảm bảo nhân loại sẽ “mang tính người hơn’ khi robotics ngày càng trình diễn ngoạn mục, thổi bay mọi tâm trí chưa hết ngỡ ngàng?

Bộ phim của Đan Mạch tối nay minh họa thêm cho ý tưởng phấn khích rằng, con người đang lôi cuốn sự hứng thú của kỹ thuật không chỉ từ khía cạnh sinh học, vật lý mà còn cả chiều kích tâm lý nữa— trong thời đại lai ghép này.

Vậy, đâu là Hệ số Công nghệ (TQ: Technology Quotient) của bạn và tôi?

Đó là lý do tại sao người ta cảnh báo về sự nguy hiểm của việc tồn tại thông minh?

… Ngoài trời lại đang mưa rả rích.

Tỏ tình, tính kinh tế và khả năng kiềm chế đê mê

Lướt vội qua vụ tỏ tình; dù đã có nhiều phản ánh trước đây, song có vẻ hơi xui tí cho cặp đôi này do có lẽ, họ bày tỏ tình cảm quá công khai trong lúc bàn dân thiên hạ lại đang rên la vì đời sống eo hẹp, khó khăn.

Tiền bạc đứng cạnh sự lắm chuyện— dù là nói tới cái đẹp– e sẽ dễ gây ra đâm thọt, đàm tiếu.

Lại còn gợi liên tưởng dính dấp sôi máu khó chịu giữa trình độ IQ tỉnh bơ của thời buổi tăng cao mức vô cảm với tốc độ yêu nhanh quá mức không thèm đợi chờ nữa cơ; đã hết đâu, dân tình chưa chịu quên việc giới hàn lâm vẫn còn bỏ công tụng ca trạng thái thu hút tức thì hết biết luôn của tình yêu.

Một nghiên cứu gần đây dùng chụp ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI) để thấy bằng cách nào tình yêu tác động tới bộ não. Những sự cân nhắc của nó về tình yêu đã tạo nên sức hấp dẫn khủng khiếp… 12 vùng thuộc não bộ cùng hợp lực làm việc suốt tiến trình yêu, phóng thích hàng loạt hóa chất gây sướng khoái mê tơi như dopamine, oxytocin, adrenaline và vasopressin. Đang hồi yêu đương ngây ngất thì cũng tương tự lúc cocaine dồn lên gấp gáp. Yêu đương ảnh hưởng tinh tế tới cả các tiến trình trí năng của bộ não nữa. Khi một người phải lòng rồi thì sự diễn dịch tâm thần, các ẩn dụ và thậm chí hình ảnh cơ thể cũng đều bị lôi cuốn vào tuốt… Rốt ráo, [các nhà nghiên cứu] phát hiện rằng, yêu thực sự tốt.

Giời ạ, tình yêu giữ một vai trò quan trọng trong hành vi kinh tế, song những ngày này thì đó là điều chúng ta không được phép; nói nôm na đó là thứ hành vi chứng tỏ chúng ta hữu lý, biết tự quan tâm bản thân và ích kỷ, trong khi tình yêu thì đối lập hẳn với sự tự quan tâm.

Vậy làm thế nào mà kinh tế học có thể giúp đỡ đời sống tình yêu đây?

Trả lời: áp dụng lý thuyết đưa tín hiệu! Theo đó, đây là nỗ lực để hiểu phương thức thông tin chuyển di trong một thị trường mà người bên bán biết điều gì đó về sản phẩm họ đang bán được người phía bên mua tri nhận một cách không hoàn hảo (ví dụ, khi tuyển dụng, đánh giá thông tin của ứng viên qua bằng cấp của họ).

Ấn tượng một thời qua hàng loạt film ảnh lãng mạn là trò đứng dưới cửa sổ ca vọng lên, hoặc trơ mặt ngoài đường suốt đêm thi gan với muỗi cắn, mưa rơi, sương lạnh mà trồng cây si nhà nàng kèm với cái máy hát (cassette) hoặc ôm đàn guitar nghêu ngao đủ lâu.

Nếu chàng trai trẻ chỉ quan tâm tới tiền (món của hồi môn mà gia đình nhà gái sẽ có thể cho cô dâu tương lai) thì giá của việc gửi đi tín hiệu (dầm dề bám trụ nhiều ngày trước căn hộ tín chủ) sẽ là lớn lao vô kể với cậu ta, hơn là nếu chàng đích thị đang phải lòng nàng và ngóng trông tới thời điểm được sống cùng người vốn sinh ra để sánh duyên nhau. Nói khác, phần tham dự của cậu chàng trong nghi thức khá hao tốn ấy đánh dấu mối quan tâm chân thành, vì nó dễ đã bị xem là ngu ngốc với đối tượng hoặc không…

Giờ là lúc phù hợp để đề cập tới sự tiết chế, kiềm hãm. Dưới góc độ của khoa học thần kinh, đây chủ yếu là vấn đề của việc tự quản thúc, điều độ, hoặc tự kiểm soát hết sức công phu.

Ở mức cơ bản, đây là khả năng kháng cự lại và chế ngự với miếng bánh phết chocolate gấp tư kèm lớp kem mát lạnh, hoặc để tránh từ bỏ nửa chừng công việc khiến mình sắp kiệt quệ.

Càng có khả năng chống lại các xung năng tự nhiên của bản thân, ta càng thêm phần hiệu quả trong việc tập trung năng lực tinh thần vào nhiệm vụ trước mắt, bất luận nó có thể là sung sướng hay gây điều khó chịu.

Kết quả sau cùng: làm được nhiều việc hơn, và làm mỗi việc tốt hơn. Bởi vì không thành vấn đề công việc của mình có ngon lành cành đào thế nào, chẳng thèm đếm xỉa tới chuyện bạn bè vui vẻ ra sao, bất kể thoải mái đến đâu về khoản dự trữ tài chính thì rốt ráo, đời sống luôn đòi hỏi sự rèn luyện và tính kỷ luật.

Lời cuối. Mời nghe tí nhạc thư giãn nhé; tạm biệt!

‘Trí tuệ cảm xúc’: tạm dừng sôi sục để hiểu biết thấu đáo hơn

Chắc chắn, cụm từ ‘trí tuệ cảm xúc‘ (emotional intelligence) nghe ra quá chừng quen thuộc, không hề xa lạ chút gì với độc giả. Thậm chí, lâu nay EI còn được xem là quan trọng gấp đôi so với chỉ số thông minh (IQ) và người ta cho rằng, 80% thành công phụ thuộc vào EI nữa cơ.

Tạm lắng lòng buông thư tí nhé, thử nhìn lại xem EI rốt ráo là cái món chi chi; đích thị sự thật về nó cần được thấu hiểu như thế nào?

Một thoáng lướt nhanh về trí tuệ cảm xúc

EI rất dễ gây bối rối vì có nhiều cấu trúc khác nhau, mỗi thứ lại được định nghĩa chẳng hề tương tự.

Mô hình dẫn đầu và là mô hình dựa trên nền tảng nghiên cứu lớn nhất chính là mô hình Mayer-Salovey.

Theo đó, EI được xem là khả năng

    • Nhận ra các cảm xúc hết sức chính xác
    • Khởi tạo các cảm xúc đủ để trợ giúp ý nghĩ
    • Thấu hiểu các cảm xúc và kiến thức về cảm xúc
    • Điều chỉnh các cảm xúc nhằm tăng thêm sự tiến triển của trí tuệ và cảm xúc [Mayer, J.D., & Salovey, P. (1997)]

Nói khác, đó là “sự kết nối mang tính hợp tác giữa trí tuệ và cảm xúc“. Mô hình này cũng nhìn EI như một khả năng hoặc tập hợp kỹ năng, hơn là một nét tính cách hoặc món ‘quà tặng’.

Rõ ràng, khung tham chiếu này của EI không tạo nên những tuyên bố mạnh mẽ như mình nghe lâu nay nhỉ.

Những quan điểm kiểu ấy thuộc các mô hình khác mà thực tế thì nhà nghiên cứu sử dụng mô hình này để gắng sức một cách chủ động hầu phơi bày các tuyên bố dân dã song lại không có nền tảng vừa nêu.

Vậy nên, nếu ta mới bắt đầu đọc về EI và băng qua các ganh đua, tranh cãi này nọ thì hãy tỉnh táo giữ thái độ hoài nghi, bởi biết đâu ta lại đang tiếp xúc với điều gì đó chẳng được nghiên cứu hỗ trợ.

Bốn phân nhánh của trí tuệ cảm xúc

Các kỹ năng và năng lực ‘mông má’ EI có thể bị bẻ gãy, gom vào 4 ‘phân nhánh’:

1) Tri nhận và biểu đạt cảm xúc

Chi nhánh này là năng lực nhận ra các dấu hiệu cảm xúc ở người khác, thông qua những thể hiện trên khuôn mặt, ngôn ngữ cơ thể và giọng nói; bao gồm cả năng lực phát hiện những biểu đạt cảm xúc giả dối.

Nó cũng gộp vào năng lực người ta biểu đạt cảm xúc riêng thông qua cùng những kênh nhắc tới. Ví dụ như người bán hàng biết ngay ai đang sẵn sàng mua hàng.

2) Dùng cảm xúc để hỗ trợ suy tư

Nhánh này phản ánh sự nhạy cảm đối với sự kiện rằng, một số cảm xúc cơ chừng thích ứng với một số kiểu loại suy tư nào đó hơn, và năng lực vươn tới kiến thức hết sức thông minh đòi hỏi đạt được này. Ví dụ, nhà doanh nghiệp biết tâm trạng tốt giúp ông sở hữu những ý tưởng độc đáo cho nên ông kích họat tâm trạng sao đó phù hợp trước khi tiến hành động não.

3) Thấu hiểu cảm xúc

Nhánh thứ ba này phân tích các cảm xúc, một sự nhận thức về các khuynh hướng xúc cảm, và sự hiểu biết những gì thường thành tựu từ những xúc cảm ấy.

Nó chứa năng lực gán nhãn và phân biệt các cảm xúc khác nhau, độ căng của chúng, và những chuyển biến nhất thời giữa những cảm xúc trái ngược nhau. Mức độ cao của kỹ năng trong nhánh này phản ánh mức độ cao của sự tự nhận thức (self-awareness).

4) Kiểm soát cảm xúc

Ở đây trình bày năng lực của cá nhân kiểm soát cảm xúc bản thân và cảm xúc người khác, tương xứng với những mục tiêu riêng biệt, kiến thức bản thân và các chuẩn tắc xã hội. Ví dụ, cậu bé con được dạy đếm đến 10 khi cảm thấy tức giận, hoặc huấn luyện viên thể thao thúc giục đội mình bằng bài phát biểu lan truyền tràn đầy cảm hứng.

Thứ tự các chi nhánh giới thiệu chừng mực năng lực được tích hợp vào phần còn lại của tâm lý con người. Điều này đích thị đòi hỏi phải giải thích kỹ càng hơn nữa.

Nếu tưởng tượng có một nhóm các hệ thống cảm xúc ở bộ não, thì nhánh thứ nhất tích hợp sâu xa nhất vào những hệ thống vặn xoắn, bền chặt này, trong khi nhánh thứ tư sẽ ít tích hợp nhất, và đa phần mở ngỏ biến thể thông qua trải nghiệm.

Điều này gắn khít với những quan sát khác như nghiên cứu thú vị của Paul Ekman khi ông mô tả các nền văn hóa bộ lạc có ít phơi bày với bên ngoài thường hay dùng lối biểu đạt khuôn mặt giống nhau nhằm thể hiện các cảm xúc giống nhau như là phần còn lại của thế giới (nhánh 1), và sự khác biệt giữa các nền văn hóa mà cảm xúc được thể hiện đúng y như nó là (nhánh 4).

Và như thế chốt gọn lại, EI quả rất đáng quan tâm và am hiểu thấu đáo, đặc biệt ta cần trang bị quan điểm thực tế hơn khi nhìn nhận để không bị những thổi phồng, quảng cáo luôn đi kèm theo nó làm lầm lạc, mê hoặc.

Rùa Hồ Gươm– linh vật dân tộc, thêu thùa đồ chùa và lý tính chanh chua

Hôm nay, lãnh đạo Thủ đô đã chốt hạ phương án cứu chữa và bảo vệ linh vật.

Chưa bao giờ được nhìn nhận thuần túy chỉ là một loài động vật, cụ Rùa Hồ Gươm có sức lay động cực kỳ ghê gớm trong tâm thức dân tộc Việt.

Câu chuyện thời sự râm ran kéo dài mãi từ trước Tết tới giờ phản ánh những biến chuyển về niềm tin tâm linh, giá trị truyền thống, quan niệm lãnh đạo, truyền thông xã hội, nhận thức cá nhân và thái độ đối với môi trường sống.

Quan sát tâm tư người dân thể hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng về sự kiện có liên quan cho thấy, cơ bản là đồn đoán, tấm lòng lo lắng băn khoăn, nhiệt tình hiến kế giải cứu, kèm nỗi niềm bất mãn với não trạng… rùa của đội ngũ quản lý, thảng hoặc bộc lộ xót xa tột độ.

Riêng bản thân tôi vô cùng ngạc nhiên chẳng hiểu tại sao giới lãnh đạo các cấp lại bỏ qua cơ hội quý báu trong nỗ lực tạo thành quả thu phục nhân tâm thật ngoạn mục này.

Lãnh đạo trước hết và luôn là lãnh đạo con người, chứ không phải chỉ chăm chắm và/ hoặc chỉ biết các con số chỉ tiêu lắm loại đủ kiểu.

Nhà lãnh đạo khôn ngoan, tài ba cần học cách kiên trì nắm bắt thấu đáo các biểu hiện đa dạng trong ngôn ngữ, động cơ, văn hóa, hệ thống xã hội vô cùng khác biệt.

Ông/ bà ta và đội ngũ cộng sự cũng phải biết cách giành được điểm cao tôn trọng và tích lũy dày niềm tin tưởng của người dân.

Chính ở đây, thuận tiện đề cập nhu cầu khẩn thiết về môi trường sống; đồng thời, nhấn mạnh cơ sở nghiên cứu khoa học.

Tiếp tục dựa trên trục tư duy là mối liên hệ quan- dân, nảy nòi khả năng nhận thức và hệ số trí tuệ IQ.

Bởi, vẫn xuất hiện không ít ý kiến sắc sảo, nhìn khác đi hiện tượng đang bàn.

Các kỹ năng nhận thức là những năng lực tinh thần cơ bản giúp chúng ta suy tư, nghiên cứu và học hỏi; bao gồm dải rộng nhiều tiến trình tâm thần hỗ trợ phân tích âm thanh và hình ảnh, nhớ lại thông tin từ ký ức, tạo các liên kết qua dữ liệu thông tin thu thập được, và duy trì sức tập trung vào những công việc đặc thù.

Trong khi đó, hệ số trí tuệ IQ nói chung mô tả một điểm số cụ thể đánh giá năng lực nhận thức bản thân trong so sánh với mẫu dân số chung; test IQ được thiết kế để đo lường năng lực giải quyết vấn đề và hiểu biết về khái niệm.

Các năng lực nhận thức có thể được huấn luyện và cải thiện. Test IQ do dự tính đo lường năng lực hiểu ý tưởng và không xác thực định lượng kiến thức nên việc học hỏi thông tin mới không tự động làm tăng lên hệ số IQ.

Cũng nên biết rằng, người thông minh hơn thường thể hiện lối tư duy như một nhà kinh tế học, gợi liên tưởng về khoảng cách niềm tin tồn tại bấy lâu giữa chuyên gia và dân thường ‘nhà kinh tế học đúng, cộng đồng sai’.

… Dù gì đi nữa, thực trạng dư luận xã hội càng đòi hỏi truyền thông thật hiệu quả đích thị chỉ đạo tư tưởng hành động của các chính sách công; mặt khác, truyền thuyết Hồ Gươm sẽ sống mãi.

Cuối cùng, đã trót thì trét. Xin cung cấp thêm bên lề: tuổi trẻ vô thần thì có khả năng mắc bệnh tim khi về già, và ý nghĩa ứng dụng của ký hiệu học.

Suy tư và trí tuệ– tóm tắt ý chính

@ Suy tư (thinking)

1. Sử dụng các khái niệm (concepts)– áp dụng từ trải nghiệm (experiences) đã qua cho tới những ý nghĩ hiện tại

a. Khái niệm— nhóm họp mang tính trí tuệ một tập hợp các đối tượng (objects) và sự kiện (events) dựa trên nền tảng của những dấu hiệu quan trọng phổ quát

b. Phải được học hỏi thông qua định nghĩa (definiton) hoặc minh họa (example)

c. Các khái niệm hỗ trợ việc dự đoán (predicting) và diễn giải (interpreting) cũng như tổ chức, sắp xếp (organizing) các trải nghiệm

2. Giải quyết vấn đề (problem solving)– đặt để thông tin nhằm thành tựu mục đích (goal)

a. Các chiến lược

* Định nghĩa vấn đề

** Dùng thuật toán (algorithms)– các phương pháp mang tính hệ thống đảm bảo sản sinh ra giải pháp (solution), hoặc

*** Dùng lối khám phá (heuristics: nguyên tắc có thể hoặc không thể sản sinh ra giải pháp) ví dụ, đơn giản hóa (simplification), suy luận nhờ cách loại trừ (analogy)

b. Trực giác (insight)– đột ngột hiểu thấu và chạm tới giải pháp

@ Trí tuệ, thông minh (Intelligence)– khả năng đạt được và sử dụng ngôn ngữ

1. Đo lường trí thông minh

a. Binet– các trắc nghiệm IQ- tuổi tâm trí (Mental Age, được quyết định bởi test) chia cho tuổi biên niên (Chronological Age) thì thành IQ

b. Wechsler— các test liên quan đến kỹ năng tư duy thành lời (verbal), toán học (mathematical) và vô ngôn (nonverbal)

c. Điểm số trung bình là 100, các điểm số miêu tả mô hình quả chuông úp ngược (bình thường)

d. IQ (Intelligence Quotient) là chỉ số thông minh được tính nhờ lấy ‘tuổi tâm trí’ chia cho ‘tuổi biên niên’ của họ rồi nhân với 100, biểu diễn thành công thức là IQ = (MA/CA)x 100

2. Sử dụng các test IQ

a. Như một chỉ báo (predictor) của sự thành công học đường

b. Thể hiện mối quan tâm ‘công bằng văn hóa’ (‘culture fair’)

3. Bản chất của trí thông minh— một hay nhiều?

4. Ảnh hưởng của môi trường

a. Tính kế thừa (hereditability)– các nghiên cứu trải dài trên 40 năm cho thấy, 50-80% cấu thành di truyền tác động tới IQ. Hệ quả, kết luận nói chung dường như là tính kế thừa có ảnh hưởng thực sự giá trị tới điểm số IQ, với ít nhất phân nửa biến thể quan sát được (observed variation) trong điểm số IQ thuộc về sự khác biệt do di truyền

b. Trải nghiệm quyết định nằm bên trong lĩnh vực di truyền

5. Các thái cực (extremes) của trí thông minh

a. Dấu hiệu đáng quan ngại về trí năng (Intectually Challenged): IQ dưới 70

* Dính dáng tới nền tảng sinh học (Biologically based)– hội chứng Down, hội chứng ngộ độc rượu cồn từ lúc còn là thai nhi (fetal alcohol syndrome)

** Tâm lý xã hội (psychosocial)– bệnh tật (disease), dinh dưỡng kém cỏi (malnutrition), thiếu vắng sự kích thích trí tuệ (lack of intellectual stimulation)

b. Trí tuệ siêu phàm, đáng nể (intellectually gifted)– các kỹ năng về một hoặc một số lĩnh vực trí năng nào đó