Dấu nhắc dở dang

Bất đối xứng

Đôi khi, tất cả những gì ta có thể là viết. Gõ xuống cái laptop bạn cho mượn, và ngồi yên trong bộ quần áo của một người khác thoải mái thải ra.

Đọc vội những dòng chữ thời sự về Bob Kerrey qua cái nhìn của người thân nạn nhân cũng như lãnh đạo chương trình liên quan vụ thảm sát, dễ thấy ngay còn thiếu hẳn một sợi dây buộc ràng, xâu chuỗi và kết nối bền chặt. Chẳng phải quan điểm phía Hoa Kỳ, chẳng phải tâm tư bên cựu quân nhân Việt Nam Cộng sản, ngay cả với chút thầm thĩ sẻ chia kèm theo nhu cầu liên hệ bản thân sâu kín rất người của nhà văn Nguyên Ngọc vừa mới đẩy lên vài ba tiếng đồng hồ (trên Văn Việt) đâu.

Vốn lẽ nhăng nhít ở đời thì động cơ, cái tại sao của hành vi í, lắm lúc khó tìm biết rạch ròi. Con chữ lạc phận nghịch duyên này giờ đây hóa thành thứ khỉ gió nỏ ma quỷ hay thánh thần nào dung chứa toàn bộ. Là dấu chỉ hùng hồn còn lê la mãi đến hôm nay của một thời sợ vãi cả linh hồn, đái són ra ướt hết đến nỗi con dân Việt thượng vàng hạ cám, trọng khinh nghèo giàu chi thảy đều ám ảnh theo kiểu lờ tịt đi và cố gắng xua bỏ, gạt phắt kinh khiếp hơn cả đuổi tà. Hiện rõ lên bức màn sinh tử quyết liệt đằng sau ấy chính là quyền lực thống trị khủng khiếp tập thể vô hình của chế độ nghiễm nhiên tồn tại mấy chục năm rồi.

Dựa trên thuật ngữ dùng kèm mô hình 6 mức độ của nhà tâm lý trị liệu Marsha Linehan (cách tiếp cận DBT), một chiến lược đơn giản như đang giỡn để cải thiện các quan hệ liên nhân là hiểu biết về độ hiệu lực, chuẩn thuận (validation): cách làm sao để chấp nhận. Bởi chuẩn thuận là cách truyền thông chứng tỏ chấp nhận bản thân mình và (những) người khác; không có nghĩa nó là tán dương hoặc đồng ý. Một kiểu thể hiện trợ giúp và củng cố quan hệ trong khi vẫn duy trì quan điểm khác biệt. Thái độ đúng đắn vậy thì chơi với nhau mới bền lâu, thiết thực xác quyết rằng quan hệ là quan trọng.

Chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các cảm quan, tình cảm, suy tư và hành vi của tha nhân là có thể thấu hiểu được. Tự chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các suy tư, cảm xúc, cảm quan và hành vi của chính bản thân mình là có thể thấu hiểu được,

Còn có thể viết, còn có thể ngồi xuống, còn có thể nhìn thấy nhau, còn có thể phát ngôn nghĩa là còn có cơ hội. Nghĩa là rốt ráo may quá, còn sống sót, còn phát triển, thay đổi và chuyển hóa trên hành trình phụ thuộc lẫn nhau. Dù dấu nhắc dở dang và đớn đau đến mấy; từ khía cạnh cá nhân đơn lẻ hay dọc dài lịch sử một dân tộc…

Thái độ bảo thủ chính trị duy trì như một dạng điên nhẹ?

Đội ngũ những người quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội ở Việt Nam tỏ ra chê bai trình độ dân trí nước nhà ngày càng đông đảo; nhiều tuyên bố lạ lùng và lắm phát ngôn trên nghị trường gây sốc khủng khiếp đối với công luận, không ít tuổi tên chính trị gia bị gắn với tục danh mang tính dè bỉu lẫn khinh bỉ; vô số hành động xử lý, ra quyết định chẳng hề giống ai, xa lạ quá chừng thế giới văn minh, v.v…

Chủ đề chính trị và bệnh tâm thần có thể được minh họa lịch sử từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, bởi vì nó làm cho tinh thần quốc gia thêm cường tráng, song với nhiều người tham gia thì niềm vui trở thành cơn mê sảng (delirium).

Theo nghiên cứu, chủ nghĩa bảo thủ là một dạng điên khùng (insanity) nhẹ. Một phân tích gộp chọn từ 88 mẫu ở 12 quốc gia với 22.818 đối tượng đã vén lộ “nhiều biến số tâm lý dự báo chủ nghĩa bảo thủ về chính trị”. Các biến gồm: sợ chết, hệ thống bất ổn, giáo điều về sự nhập nhằng, tâm trí nhỏ hẹp, thiếu khoan dung về trạng thái không chắc chắn, nhu cầu cao về tính thứ bậc (bộc lộ nhận thức), cấu trúc, phức hợp thống nhất thấp, lo hãi bị đe dọa và mất mát, và kém tự tin. Nhóm tác giả kết luận khá chua chát rằng “ý thức hệ căn cốt của chủ nghĩa bảo thủ nhấn mạnh việc kháng cự với thay đổi và biện hộ cho sự bất bình đẳng”.

Không những chẳng hay ho gì lắm, người ta đang nói tới ai đó đầy sợ hãi, với cảm quan cái tôi nghèo nàn, và vắng thiếu tinh thần linh hoạt. Khoan dung với mơ hồ, nhập nhằng là điểm tâm lý đặc biệt sáng giá ở người trưởng thành vì thế giới nào chỉ có hai màu đen, trắng. Theo nghiên cứu trên, người bảo thủ sở hữu cơ bản phẩm tính ngược lại: không khoan dung với mơ hồ và không có khả năng giải quyết điều phức tạp.

Các nghiên cứu khác còn khẳng định, khi vắng bóng nỗ lực suy tư đầy cân nhắc thì ý thức hệ bảo thủ càng tăng lên; năng lực nhận thức và chủ nghĩa bảo thủ tương quan nghịch. Nghĩa là, nỗ lực tinh thần sút giảm thì làm tăng các niềm tin bảo thủ; tức các thuộc tính trách nhiệm cá nhân (đối lập việc nhận ra ảnh hưởng của các yếu tố tình huống), chấp nhận thang bậc và khung tham chiếu giữ nguyên trạng có thể được xem là dấu ấn của niềm tin bảo thủ.

Các phát hiện của chúng tôi khẳng định những lối tư duy bảo thủ là căn bản, bình thường và khá tự nhiên, nhóm nghiên cứu khẳng định. Các yếu tố động cơ thúc đẩy là những xác quyết chủ yếu của ý thức hệ, trợ giúp hoặc chỉnh sửa các đáp ứng ban đầu phụ thuộc vao mục tiêu, niềm tin, và giá trị của người ta…

Dù tiếp cận từ các góc độ xã hội học, phương pháp luận, thành phần cấu trúc và triết lý thì bảo thủ chính trị vẫn còn đáng xem xét thấu đáo, chẳng hạn cụ thể về khía cạnh chủ động tạo áp lực xã hội, toàn trị, v.v…

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

“Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử?”

Thiệt là mắt làm hại não, vì do cái nhìn xớn xác thiếu tập trung nên tôi liếc thấy tiêu đề bài báo quả dễ gây tò mò.

Và trong phần tranh luận với đại diện VKS, trong phần đối đáp cũng kéo dài chừng 120 phút, bị cáo Nguyễn Đức Kiên lại đặt thêm một câu hỏi khác: Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử không? Minh chứng cho câu hỏi này, ông Kiên nói mình đã tuân thủ pháp luật Việt Nam và thực hiện mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Sở dĩ ông Kiên đặt ra câu hỏi đó bởi vì có hàng ngàn người đang kinh doanh cổ phần, cổ phiếu giống như ông Kiên, họ cũng góp vốn và đầu tư giống như ông Kiên, họ cũng ký hợp đồng ủy thác giống công ty mà ông Kiên đại diện pháp luật nhưng chỉ một mình ông Kiên bị khởi tố vì tội kinh doanh trái phép, trốn thuế và cố ý làm trái quy định của Nhà nước.

Bị cáo Kiên lý luận rằng trong cùng một điều luật, một nền tư pháp nhưng chỉ một mình ông bị phân biệt đối xử, trong khi mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật.

Bị cáo này cũng cho rằng nếu không phải VKS đang phân biệt đối xử với ông thì hàng ngàn cá nhân, doanh nghiệp khác đang đứng trước nguy cơ bị khởi tố, còn các cá nhân đảm nhiệm các chức vụ trong các cơ quan chức năng sẽ phải đứng trước nguy cơ bị cáo buộc về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng bởi đã không ban hành kịp thời các văn bản luật để hướng dẫn các doanh nghiệp.

Không ngó ngàng các vụ án hình sự đã lâu, đặc biệt lại chẳng quan tâm hành tung chi chi của vị đầu bạc này nên hầu như u ơ tình tiết đúng sai, phải tội. Điều duy nhất tôi biết chắc dù chưa nghe đài, đọc hoăc đoán về bản kết luận vụ án là kẻ nào trở thành đối tượng bị phân biệt đối xử tất sẽ gánh chịu hậu quả bất công, và nếu anh ta lại còn la làng phản đối thì càng bị vít đầu gấp đôi oan ức.

Hiện tượng này chẳng quá hiếm thấy trong xã hội. Nhiều nghiên cứu không chỉ nhắm vào khía cạnh sắc tộc mà đề cập cả tình dục như những đối tượng bị bêu riếu và phải lên tiếng khi trải nghiệm cảm giác bị đối xử không mấy thiện chí.

Ví dụ liên quan đến một trong các thực nghiệm; người tham gia đọc tin một người Mỹ Phi châu bị điểm kém trong một bài test. Một số học hỏi rằng không có khả năng nào bị đánh điểm vì nan phân biệt đối xử với người da den cả; một số khác được bảo là có khả năng 50%; và số còn lại thì nghe nói rằng sự phân biệt đối xử là chắc chắn 100%. Một vài người trong từng nhóm  được kể rằng kẻ làm test nói anh ta bị đánh rớt vì sự phân biệt đối xử; một số khác thì được bảo anh ta quy điểm số của mình do các yếu tố khác như mức độ khó của bài test hoặc chất lượng câu trả lời của bản thân.

Người đọc thấy rằng kẻ làm test quy điểm số do bị phân biệt đối xử thảy đều coi anh ta như rơm rác. So sánh với những ai đọc thấy anh ta quy điểm số vì các yếu tố khác, người đọc về sự phân biệt đối xử có xu hướng nói người đàn ông ấy là kẻ gây rối hoặc hạng người hay kêu ca, phàn nàn; họ cũng tỏ ra ít thích anh ta hoặc không hề nghĩ anh ta sẽ là một người bạn tốt.

Phát hiện kế tiếp còn gây ngạc nhiên hơn hẳn. Không thành vấn đề xác suất khách quan rằng người đàn ông ấy đích thực bị phân biệt đối xử. Ngay cả khi hoàn toàn chắc chắn rằng anh ta bị điểm kém vì người chấm thể hiện thái độ phân biệt đối xử chống lại người Mỹ gốc Phi thì mọi người vẫn cứ đánh giá anh ta càng thêm tiêu cực khi anh ta tuyên bố mình bị phân biệt đối xử chứ không im lặng.

Có lẽ, người ta muốn những kẻ khác chịu trách nhiệm hơn là đổ lỗi kết quả của bản thân sang các yếu tố ngoài mình. Song chỉ ra các yếu tố ngoại giới khác hơn là sự phân biệt đối xử (ví dụ, độ khó của test) không làm hạ thấp được mức độ tiêu cực và việc chửi rủa do sự phân biệt đối xử tạo nên.

… Khi một người là đối tượng nhắm tới của sự phân biệt đối xử thì đấy là điều tốt lành và cao quý để tỏ thái độ bảo vệ cho người đó. Tuy nhiên, một nghiên cứu lại chỉ ra rằng có một cái giá đắt cho cả người quan sát khi họ trỏ rằng kẻ khác là đối tượng bị phân biệt đối xử. Lần nữa, người quan sát kẻ khác bị phân biệt đối xử nhìn nhận quá gắt gao, khó chịu nếu họ biết rõ đối tượng bị đối xử bất công và bị phân biệt hơn là khi họ không hay biết gì về điều đó. Họ, cũng nhìn đối tượng bị phân biệt đối xử như những kẻ gây rối và hay ca cẩm, những kẻ đa sự và nhạy cảm quá.

Lúc một người quan sát đang chỉ ra sự phân biệt đối xử, điều ấy không thể nói rằng người quan sát nên chịu trách nhiệm cá nhân cho kết cục xấu tệ. Người quan sát không phải là kẻ trải nghiệm kết  cục xấu tệ. Các tác giả nghiên cứu tin rằng những gì đang thực sự diễn ra là nhiều người muốn tin tưởng hệ thống công bằng, bình ổn. Nếu ai đó đạt được một điểm số tốt hơn hoặc nhận công việc ngon lành thì điều ấy là do họ giành được và xứng đáng hưởng. Một tuyên bố phân biệt đối xử đe dọa niềm tin về một hệ thống chính trực và thế giới công bằng.

Quay lại về vụ ‘bầu Kiên”; những lời phát biểu sau cùng  của bị cáo này trước hội đồng xử án vẫn tỏ rõ khí phách và không hề nhận tội. Tôi còn nghĩ đến tâm cảnh của bạn phóng viên viết mục Sổ tay trên báo Tuổi trẻ đã thượng dẫn. Dường như có một tâm lý ngấm ngầm không hề báo trước ở đây, khi dư luận cơ chừng bức xúc trước sự bó vỉa khủng khiếp của sự phân biệt đối xử rờ rỡ, tựa như đang thể hiện kiểu lối đồng vọng sâu xa thông qua việc chính bản thân trải nghiệm ít nhiều cảm giác bị đối xử bất công và oan trái vậy. Và dĩ nhiên, lực lượng đối lập và có quan điểm trái ngược cũng không hề im hơi lặng tiếng…

Từ chống kháng tới cuồng loạn: vết nứt rạn căn bản

Cách nhau chỉ vài phút ngồi đợi ở bến xe bus trên phố Huỳnh Thúc Kháng, tôi đã thấy hai cảnh tượng phản ánh cùng một  xu hướng hoang đàng, nhập nhằng chung riêng; chứng tỏ người sống trong thành phố chưa chắc đã hình thành được phẩm chất căn bản của thị dân: tôn trọng luật pháp, tuân thủ quy định ứng xử nơi công cộng.

Một chiếc ô tô trờ tới trước mặt, dừng ngay giữa tim đường, cửa xe mở ra để một cậu thanh niên chạy từ trong vỉa hè bước vào… Xe máy xịch lại đúng khu vực dành cho xe bus đón đỗ khách, một vị đàn ông trung niên béo tốt nhảy xuống vẫy tay chào nhau vui vẻ và hồn nhiên băng qua bến xe bus phía đối diện.

Chứng kiến sự kiện này sau khi tham dự buổi trao đổi với khách mời về chủ đề thanh niên với công tác chống tham nhũng, dĩ nhiên không thể không nhắc tới minh bạch và liêm chính.  Gần 200 sinh viên của Học viện, đa phần theo đuổi chuyên ngành Công tác Thanh niên nói chuyện riêng rổn rảng, chẳng thấy các nét mặt chăm chú lắng nghe hay tập trung cao độ cho vấn đề quốc nạn, hoặc cất lên vài ba câu hỏi thể hiện tư duy hết sức sâu sắc, đầy tràn tinh thần trách nhiệm của người lãnh tụ tương lai dẫn dắt phong trào “thanh niên anh dũng tiến lên”.

Chiều nay, tin nhắn từ tổng đài 1080 của VNPT gửi vào mobile cá nhân của người dân nội dung trích trong công điện Thủ tướng chính phủ về đảm bảo an ninh trật tự (nguyên trọn điểm 2, song có thay đổi trật tự câu.)

2. Tuyên truyền vận động nhân dân không có những hành động vi phạm pháp luật, không nghe theo kẻ xấu, cùng nhau giữ gìn an ninh trật tự, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống và góp phần cùng cả nước bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc theo đúng luật pháp của nước ta và luật pháp quốc tế.

Như thế là chính phủ có phản ứng chính thức một cách công khai với tầm mức rộng rãi nhất khắp toàn quốc liên quan đến vụ việc chống kháng dẫn đến cuồng loạn ở Bình Dương, Vũng Áng (và có thể vài ba nơi khác trên đất nước). Lịch sử chắc chắn khi ghi nhận giai đoạn này không những thêm đậm dấu chỉ truyền thống của sự thù hận, ghét bỏ bè lũ bành trướng Trung Hoa mà còn khó phủi sạch nổi nghịch lý đấu đá nội bộ xen lẫn nỗi niềm rúng động khi lòng dân ly tán, bất an được đính kèm trêu ngươi hòa cùng tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc.

Đúng vậy, nếu việc chống kháng, bất đồng là điều tự nhiên trong xã hội dân sự thì cuồng loạn, bạo động khó được thế giới văn minh thừa nhận như quyền. Và từ dự tính chống kháng ban đầu thông qua biểu tình lại dẫn đến cuồng loạn hậu họa dây dưa thì câu chuyện đã mang bản chất hoàn toàn khác hẳn: vết nứt rạn căn bản ở đây là người ta không còn e sợ, ngần ngại nhà chức trách, giới cầm quyền nữa.

Dù động cơ tham gia là vui vẻ, hùa vào đám đông đặng tranh thủ cướp bóc, hôi của, đập phá thì khó mà chấp nhận quyền cuồng loạn, bạo động; tương tự, cũng khá ngây thơ và lý tưởng lắm lắm khi xem xét các điều kiện nhằm thỏa mãn một định đề tâm lý phổ quát: không có công lý, không có hòa bình.

Thực tế, bạo động và cuồng loạn không bao giờ xảy ra ở các quốc gia mang danh đàn áp nhất; những kẻ chuyên quyền khủng khiếp hầu như chưa từng phải lo lắng việc bạo động và cuồng loạn. Việc này không bao giờ xảy ra ở các nước mà người dân dè chừng chính quyền, và tại nơi mà sự bất công bộc lộ gay gắt nhất; bạo động và cuồng loạn cơ chừng dễ xảy đến ở nơi mà người dân KHÔNG còn sợ hãi chính quyền nữa và tại nơi mà sự bất công được cho là khá nhẹ nhàng, chịu đựng được.

Xin mời đọc thêm lúc rảnh rỗi, thư giãn: 1, 2, 3.

@ Cập nhật, 9h41 ngày 16.5.2014: Tôi đã đọc phần 1 trước khi gõ xuống bài này, giờ đưa vào như tài liệu tham khảo do mới biết phần 2.

Không lãng quên chốn cũ đi về

Gió thổi vài ba chiếc lá rớt vào phòng… Gió làm cho cây khế trông như mảng màu xanh dúm dó ấn vào bầu trời, nhăn nheo lại. Gió không nói cho ai biết về cách thức quyến rũ của cung đường vòng vèo sau cơn bão. Thành phố tỏa cái mùi bị bỏ rơi và lãng quên kể từ dạo cơn mưa xuân ướt át kéo qua vội vàng, chiếu lệ…

Tôi nghĩ tới mức độ lẫn thực trạng hiểu biết nhau của chính chúng ta. Ngày Hiền Mẫu đích thị không phải của Mẹ; nó hiện diện bất ngờ để dành cho những đứa con mãi chưa thôi ứa nước mắt mỗi lần ngồi nhớ về lối rẽ ra cánh đồng làng đầy các dấu chân trâu đọng nước, đó có thể là chuyến hành hương của vị khách ngoại quốc cao lớn chầm chậm đọc tên trên các ngôi mộ trong nghĩa trang khuất lấp sau rặng núi xa, là tấm bia nơi góc lũi lầm ven con phố vương chút bó hoa bé nhỏ đã tã cánh, rời cành, v.v…

Chí ít điều gì vừa xảy ra, như đã từng tiến hành rồi; thời sự không chỉ với người đã nằm xuống mà cả cho bao kẻ đang hít thở giữa trần gian này. Lần nữa, các món quà di tặng khiến chúng mình được như ngày hôm nay. Những lời tri ân dù chưa đáng giá song e chừng cũng góp phần cất bớt đi chút đau đớn của tủi hèn và mặc cảm. Vì sự hy sinh đã cho tất thảy tự do, với bạn và với tôi.

Ôi mẹ ơi, chúng ta không yêu đất nước Việt Nam của mình à? Có thể nói quá nhiều và thật ít lắng nghe; thử một lần đi sẽ thấy vượt trên các khía cạnh thể lý và cảm xúc, nỗi buồn ứa tràn trên mỗi cánh tay. Ngay cả khi tính vị tha chẳng chứa chút giá trị gì.

Hôm nay, mình vinh danh Hiền Mẫu, Trái Đất, Tổ quốc và thân phận riêng mình. Dẫu sự duy nhất và độc sáng không khiến cho nhiều quý vị chúng sinh thay đổi.

Giảm bớt, dừng lại, hoặc tái chế điều gì đó. Và nếu khả thể, xin lắng nghe tiếng gọi của Mẹ mình.

Nhân một cơ hội hợp tác và chia sẻ kiến thức chuyên ngành

Không phải lần đầu được mời gọi trả lời phỏng vấn báo chí (mạng, giấy, truyền hình, radio, v.v…) song trải nghiệm tí chút với vụ trao đổi rồi văn bản cuối cùng lên khuôn thế này khiến tôi vẫn muốn nghĩ ngợi đôi chút.

Trước hết, cần nói ngay để tránh hiểu nhầm rằng dạng chủ đề bài báo quan tâm cũng như thực tế làm việc với bạn phóng viên liên quan hoàn toàn không cần bàn thêm gì, bởi sự ổn thỏa của thủ tục giao tiếp và mục tiêu hướng tới quá đơn giản. Đích thực, đây chỉ là cái cớ gợi hứng nhìn ra, nói rõ hơn về đôi điều bấy lâu quan sát từ góc độ hành nghề tác nghiệp cá nhân mà thôi.

Thay vì đặt câu hỏi chẳng tệ lắm rằng làm sao truyền thông kiến thức cùng hiểu biết chuyên ngành cho thật hiệu quả, đạt chất lượng tốt nhất với quảng đại quần chúng; băn khoăn thiết thân hơn e chừng nên là: bằng cách nào chúng ta có thể tạo ra nền tảng căn bản cho các cuộc trao đổi sắc sảo, thông minh nằm bên ngoài nhóm hội chuyên môn?

Theo thói quen và thông lệ, thường chúng ta theo sát rốt ráo các thông điệp muốn chuyển tải khi ai đó muốn lắng nghe điều mình thích trình bày. Giới thiệu nghiên cứu với đồng nghiệp tại một hội thảo; giảng giải với sinh viên về các lý thuyết tâm lý; thách thức hơn hẳn, trao đổi trực tuyến, như với một phóng viên muốn biết ý kiến chẳng hạn. Dĩ nhiên, ngay một cuộc hội thảo đa ngành thôi đã thừa sức làm thay đổi thông điệp cực kỳ kịch tính. Tương tự, chúng ta thích nghi cách truyền thông phù hợp mức độ kiến thức hay tính chuyên gia của lượng khán giả này đặng điều chỉnh nó với những ai không phải nhà khoa học, điều mà giới nghiên cứu nhận thức xã hội gọi là “thuận theo khán giả”.

Thực tế, vượt trên điều chúng ta nghĩ mình có thể, sự vụ truyền thông nan giải và phức tạp hơn rất nhiều. Tiếp cận cởi mở việc chia sẻ kiến thức sở hữu chắc chắn nên được đặt định nghiêm túc, bài bản đi kèm chặt chẽ với suy tư tìm cách khởi sự khả thể việc trộn lẫn bản thân với các diễn trình xã hội khác nhau.

Rõ ràng, giới truyền thông luôn khao khát tiếp cận được với các nguồn cung cấp tin đáng tin cậy. Mình có hay dùng các dịch vụ của phóng viên? Kết quả ra sao? Có tốt lành? Cơ hội một người viết, nhà báo, phóng viên nào đó sử dụng ta như một nguồn sẽ tăng lên nếu mình biết đáp ứng đúng cách. Ví dụ ư? Đi thẳng vào vấn đề và đưa ra cụ thể điều họ muốn (nếu họ cần hai chiêu mẹo hay nhất, gửi ngay, thay vì bảo sẽ trả lời bằng thư điện tử hoặc đàm thoại sau); chuẩn bị sẵn một tóm tắt tiểu sử khoa học ngắn gọn và chuyên biệt; đáp ứng ngay lập tức và sớm nhất có thể (ai cũng bận rộn nên cố gắng là người đầu tiên đáp ứng).

Nhiều điều thu lượm được thật thú vị khi làm việc với giới truyền thông đại chúng. Và dĩ nhiên, vài ba điều nhà báo có thể học hỏi từ khoa học gia, tỷ dụ, kể chuyện có thể dễ gây sự mơ hồ trong việc hiểu biết khoa học nên đảm bảo chắc chắn rằng câu chuyện mình kể được hậu thuẫn thực nghiệm vững vàng. Đơn giản hóa các phát hiện khoa học có thể gây nguy hại, do đó, đừng e ngại nghi ngờ gấp đôi và kiểm tra các sự kiện đặng đảm bảo các ẩn dụ mình dùng là đúng đắn, chính xác; và nếu được, xin đừng quên mình đang tóm tắt vài đoạn, chút dòng ngắn gọn công việc của một người mà bản thân họ đầu tư tốn bao năm mới thành tựu.

Với các nhà khoa học thì truyền thông ngành mình làm việc càng tốt cho nghề nghiệp đang theo đuổi; lĩnh vực chuyên sâu và xã hội nằm trong tính tổng thể. Khởi sự dùng các nguồn lực truyền thông bày tỏ các thiết chế chuyên môn để đưa ra một vài hướng dẫn và lời khuyên nhủ, rồi gắng thoát khỏi; bởi tất cả mọi người cần được hưởng lợi từ nó. Các khoa học gia có thể và sẽ lắm khi không được thấu hiểu đúng đắn, nên dĩ nhiên, phóng viên hoặc nhà báo có quyền lờ tịt đi chuyện đó trừ khi bạn nghĩ rằng nhà khoa học ấy còn đang gìn giữ điều gì đó đáng giá.

Chết kiểu Vietnam: chính trị, tâm lý, và quyết định kết liễu bản thân

Cái chết của một ông tướng công an vốn mang trọng bệnh sẵn trong người rồi tiếp tục làm dấy lên làn sóng dư luận bàn tán theo điệu dè bỉu sâu cay, phản ánh hơi hướng lý thuyết âm mưu và lần nữa, chứng tỏ sự bất mãn xã hội vượt trên cả kết quả xử lý về một vụ án cụ thể. Dĩ nhiên, cái chết đau đớn ấy còn mang cả tính tôn giáo của chính trị về việc kết- thúc- cuộc- đời.

Riêng tôi lại thấy lòng mình nhói lên cảm giác khó chịu khi có một cái chết khác bị bỏ lơ không ai thèm tham gia trao đổi cả: bị cáo tự tử vì xấu hổ.

Nhìn chung, chúng sinh cảm thấy chẳng dễ dàng tẹo nào để nói về cái chết và các hình thức quyên sinh nọ kia; nhiều người vẫn thừa độ tự tin để phán quyết tắp lự ngay rằng họ sẵn sàng trả một giá lành mạnh để kéo dài đời mình lâu hơn, tốt đẹp hơn; đoạn cuối đời thường là giai đoạn kéo dài ra vốn mang theo một cái giá nặng nề thuộc cảm xúc, thể lý, đạo đức, và tài chính khiến cho cái chết trở thành điều cấm kỵ lớn lao nhất. Khái niệm một ngày bỗng biến mất (dù đẹp giời hay không) đích thị đối lập  với nhiều giá trị văn hóa được xác lập quen thuộc bấy lâu; sự khởi lên ghê gớm của cái tôi càng làm tăng cao nỗi niềm phiền nhiễu đặng thức nhận trắng phớ ra rằng các bản ngã cá nhân của chúng ta sẽ không tồn tại lâu thêm được.

Đương đầu với nỗi sợ hãi muôn phần về cái chết đòi hỏi phải hiểu biết rồi thực tập nghiêm cẩn. Và khoảng thời gian đầu đời định hình thái độ chính trị của chúng ta, dựa trên môi trường bố mẹ dạy dỗ.

Vậy nên tự sát– tất thảy các dạng thức tự kết liễu đời mình–  là hành động chính trị, nó hàm ý chỉ trích xã hội? Ở đây biểu tỏ hai hệ thống giá trị kiến tạo hai con đường khác biệt nhằm giải quyết các cảm xúc nảy sinh: xấu hổ và tội lỗi. Theo đó, luân lý xấu hổ là hệ thống giá trị đạo đức mà trong ấy điều ác nhất là ô danh và nhục nhã và điều thiện lành nhất thì ngược lại, chẳng hạn, kiêu hãnh và vinh dự. Còn luân lý phạm tội là hệ thống giá trị đạo đức mà điều ác nhất là tội lỗi và điều thiện lành thì ngược lại, chẳng hạn, sự trong trắng.

Cái chết do đó, chứa đựng thành phần chính trị nhằm buộc tội xã hội thiếu lòng trắc ẩn và không đủ khả năng đáp ứng đủ đầy các nhu cầu của công dân. Mỗi trường hợp tự tử vì vậy, là một hành động chính trị đang ủy thác với lời tuyên bố tuyệt đối rằng xã hội đang khiến cho một số kẻ trở thành vô dụng còn một số người khác thì đáng được vinh danh.

Trong nỗi niềm hoan lạc, phiền muộn và ẩn ức

Ngay cả những rối rắm cũng nở hoa…

35 năm sau một cuộc chiến tranh biên giới. Thời gian qua đi mà không trôi mất, thậm chí, còn để lại bộn bề phản ứng. Khoảnh khắc của mất mát, hy sinh và máu xương thấm đất trở thành thứ cân đong đo đếm cho chủ nghĩa quốc gia, lòng tự hào dân tộc, cơ chế phòng vệ, khát khao tự do, giàu có, hưởng thụ siêu vượt và vô vàn ước ao cá nhân, riêng tư đối nghịch, mâu thuẫn với tinh thần cộng đồng và tham vọng xiền dương ý thức hệ.

Bất định, lo lắng, do dự và lần lữa; tất thảy trộn lẫn đã phản ánh tính phức tạp của thời cuộc cùng đời sống đương đại. Chung đụng xa hoa, những bụi xương rồng rào giậu vẫn ẩn hiện đó đây, dù nơi chúng ta sống chẳng hề kề cận sa mạc xa xôi hay bãi biển mù khơi. Những đồn đoán thật cay đắng, bởi tương lai của láng giềng e chừng cũng là tương lai của chính chúng ta, như một đất nước có chủ quyền– một cảm nhận chẳng hề dễ chịu chút nào.

Đầy nghịch lý, giới làm chính sách quốc nội hình như cóc thèm lưu tâm chi tới những bài học đơn giản cho các hệ thống phức tạp. Cộng đồng người thu nhập thấp và nghèo đói phải chịu đựng rất không tương xứng khi các chuyên gia làm luật kèm nhóm hành pháp quan liêu đã thất bại thảm hại trong việc thu hẹp khoảng cách trên tiến trình giải quyết vấn đề an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe đủ để kiến tạo thêm nhiều thách thức nan giải.

Bài học thể hiện sự nhún nhường cần tỏ rõ rằng chúng ta nên hạn chế những hành vi ngăn cấm trừ khi thừa bằng chứng việc hạn chế thì tốt hơn khả năng bị xâm hại. Với thực trạng thiếu vắng thông tin, nên để người ta tự do bộc lộ sự khôn ngoan, sáng tạo, năng lực doanh thương đặng tự giải quyết vấn đề. Dĩ nhiên, bài học rút ra còn là tránh kiểm soát và điều hành với mệnh lệnh từ trên đỉnh xuống; ví dụ rành rẽ cho sự vi phạm nguyên tắc này là USSR: chóp bu Liên bang Soviet nghĩ rằng họ thấu hiểu toàn bộ nền kinh tế để quản lý tất cả từ một mệnh lệnh trên đỉnh xuống, và ngày nay nước Nga đã khẳng định họ sai. Thứ đến, các hệ thống phức tạp không thể nhai lại hay bắt chước y chang; cách tiếp cận này chắc bị sai lầm ngay trước khi khởi sự, v.v…

Hiểu biết phương thức các tổn thương, đổ vỡ lan truyền qua các thế hệ đòi hỏi nắm bắt các bí mật lịch sử của cha ông, tiên tổ. Việc truyền dẫn tổn thương dựa trên ý tưởng rằng những gì làm nên con người không chỉ chứa đựng riêng mỗi các trải nghiệm của bản thân họ– quá chừng đớn đau tràn lấp, không thể chịu đựng hay nghĩ bàn thấu đáo được– rơi ra thành các diễn ngôn xã hội, mà rất thường khi thì cứ tiếp diễn rồi nhập vào thế hệ kế tiếp như một sự bén nhạy cảm xúc hoặc cơn thôi thúc thật hỗn độn.

 Các đường truyền lây lan xuyên thế hệ vốn bộc lộ qua các giấc mơ, trong hành động, thể hiện “bài học cuộc đời” với giai đoạn cụ thể nào đó và dạy chúng ta về gia đình. Khám phá các sự truyền dẫn này chính là đi tới hiểu biết và kể một câu chuyện rộng lớn hơn, khởi từ thế hệ đã qua; đòi hỏi lắng nghe kỹ càng các câu chuyện của ông bà, cha mẹ, với bối cảnh lịch sử- xã hội họ sống, nhất là khía cạnh kinh tế, chính trị và quân sự.

Mối dây cảm xúc gắn kết giữa đứa trẻ với tổ tiên là yếu tính cho sự phát triển các giá trị của chúng ta; quyết định trả lời các câu hỏi huyền bí: “tôi là ai”, “tôi  là ai đối với gia đình mình”, “ai chúng ta có thể tin tưởng và ai là kẻ thù”, “điều gì gắn chặt tôi với gia đình”, và quan trọng hơn hết, “với những mối dây gắn bó ấy, cái gì tôi cần gỡ bỏ và cái gì tôi cần giữ chặt”. Lớn lên từ các tổn thương tồn đọng của tổ tiên mới ngõ hầu chữa lành các thế hệ tương lai.

Vượt trên chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản, các tiêu chuẩn kép, và sự phức tạp của tội lỗi lầm lạc lẫn trạng thái ngây thơ. Như vậy, mọi thứ xảy đến chỉ là cái cớ cho tâm trí bám vào. Tình yêu gắn bó, dính mắc và ràng buộc. Tại sao con chim trong lồng thôi hót, câu hỏi ấy lắm khi chẳng được đặt ra và thực tế không dễ trả lời được.