Đóa súng hồng mất dấu môi hôn

Chúng ta đi qua quá nhiều điều thách thức và đổi thay trong các niềm tin mờ tỏ.

Khi trẻ, mình tin vào huyền thuật, huyễn tưởng và lắm thứ đâu cần lập luận. Tôi nhớ con bọ ngựa giơ những thanh kiếm khẳng khái giữa chớp giật của cơn giông trưa hè tái mét. Như cậu nhóc tì lí lắc, hầu hết chúng mình học hỏi về tín lý, rất sẵn lòng tin vào điều bất tri. Ấy nỏ phải vì khờ dại, chỉ do là có nhiều thứ mình chưa thấu tỏ về tính diệu kỳ của điều thứ cơ chừng hết sức tự nhiên. Dĩ nhiên, với số đông, hiện hữu nơi đó Thượng Đế; thật dễ dàng để tin y sì rứa tuyệt không suy suyển.

Rồi vào cái đận ngất ngưởng đầy đụng độ của lý trí và suy tư, chúng ta mất mát đức tin quá mức. Thay vì tới để thấy, mình bảo tắp lự với giọng điều gây hấn: chỉ tôi xem. Nếu không thể chứng thực, nó không phải là sự thật. Một phó sản của hệ thống giáo dục. Truy cầu câu trả lời đúng đắn. Thượng Đế không toi, ngài chỉ sống dở chết dở hạ hồi phân giải thôi. Nhiều kẻ lớn bé lần lượt rời bỏ đức tin.

Nhiều rốt lại chẳng còn cóc nhái khỉ khô chi. Không quà tặng, khuyến mãi, không cờ phướn bay trong gió sớm, không cầu nguyện hay chắp tay ngưỡng vọng bốn phương tám hướng xô bồ. Dàn quân đồng phục xông lên phía trước, bần cùng hóa và cô độc tột độ. Mất mát những ngày ấy không hề giống chút nào với tai ương từng xảy đến…

Câu chuyện của tình yêu, đức tin và cái bể nước ngầm rò rỉ khó hình dung viễn cảnh hồi đáp tương xứng. Sự vay mượn thêm thắt là thời điểm của chuẩn bị, dự liệu trước và hy sinh. Như đứa trẻ to xác, chúng ta bị răn đe để quyết chí từ bỏ kẹo ngọt.

Cơn rùng mình vừa qua

Cảm giác vừa hơi run vừa vụt thoáng vui mừng vội.

Rùng mình được hiểu là trải nghiệm phấn khích tạm thời song cảm thấy rõ ràng về mặt cơ thể, thường trỏ vẻ xốn xang của lần đầu tiên.

Mỗi lần gió rét về, một lần xao xuyến khác. Cũng chẳng ớn lạnh giống nhau khi thân chủ đột ngột kết nối, liên lạc vào đêm hôm khuya khoắt.  Và nỗi niềm nhìn thấy khuôn mặt dân quê ra phố bán hàng dịp Tết chẳng thể nào khắc tạc vội vàng.

Cái buổi mai hôm ấy. Đôi chân lần đầu bước vào giảng đường đại học. Chiều nghe tiếng chuông gióng vọng về mơ hồ vì đang lỗi nhịp. Ngồi trên xe máy là liều mạng đổ đèo Hải Vân luôn. Bị điện giật khi trên đường đi tắm biển về; cận tử nghiệm…

Đừng hỏi về trạng thái mong đợi và hụt hẫng sau đó, đừng lo chuyện liệu lặp lại hay không, chớ dự đoán khả năng cuộc đời sắp sang trang rẽ ngã.

Công việc chuyên môn đích thực thì chẳng liên quan chi lắm đến sự rùng mình; nó là chuyện hiện diện và làm việc, nhằm tiếp nối biểu diễn thêm những gì đã tạo tác thuở nào chưa xa xôi lắm.

Rùng mình quả là tốt lành, vì nó nhắc nhở và bảo bọc ta. Nội dung bộc lộ thì còn quan yếu hơn thế nhiều.

Giơ tay rồi ngồi nhìn vào mắt nhau: trông thấy điều lo lắng không cân xứng

Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây...
Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây…

Thật cảm động khi có cơ hội ngồi đối diện nhìn vào mắt nhau; chắc càng tuyệt, nếu giơ thêm bàn tay vệ sinh sạch sẽ trước vấn nạn biến đổi khí hậu toàn cầu. Nghiên cứu cho thấy, chỉ cần 4 phút tiếp xúc mắt liên tục sẽ làm tăng thêm sự thân mật, thậm chí, có thể xảy ra chuyện khiến kẻ lạ phải lòng nữa. Vâng, thường thì tuổi trẻ vốn có xu hướng lãng mạn và không ngại ngần tiến hành cách mạng đủ mọi loại thứ trên đời.

Bọn ta *nên* lo lắng điều gì? (Lo lắng vì chẳng phải ai khác, chính chúng mình góp phần tạo dựng tương lai).

E chừng ấy là nỗi sợ hãi không cân xứng: sự thiếu nhất quán giữa trạng thái khách quan của khoa học với sự khinh rẻ của đám đông to mồm đó đây. Nguồn cơn khởi phát dễ tìm thấy khi cân nhắc điểm khác biệt căn bản giữa hai ‘thế giới’.

Một là thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, đặc thù khoa học như khối kiến thức gồm các lý thuyết khả thể và đích thực, sự đúng đắn hoặc có thể sai của chúng, tính có thể bác bỏ, các trắc nghiệm chấp nhận hoặc thất bại, các khẳng định tin cậy hoặc chẳng thuyết phục, các mục tiêu thỏa mãn hoặc không trả lời nổi, sự triển khai bằng chứng cốt lõi, thành tựu tiến bộ đạt được. Khoa học theo Darwin chẳng hạn, giữ vị thế cao trong thế giới này với kiến thức khách quan tựa như ‘ý tưởng duy nhất hay ho chưa từng ai sở hữu’, và chắc hẳn độc sáng trong lịch sử khoa học; tưởng chừng không thể bị thay thế, sinh học sẽ là mãi mãi theo kiểu Darwinian, vì sự chọn lọc tự nhiên có vẻ là cơ chế duy nhất thực hiện thiết kế mà không có nhà thiết kế. Và hiểu biết Darwinian về bản chất con người là sự ứng dụng trực diện với tuệ giác căn bản đó. Nỗ lực nghiêm cẩn đầu tiên khoa học vì bản thân chúng ta…

Thế giới khác là thế giới chủ quan của các trạng thái tinh thần, của con người và xã hội: suy nghĩ, niềm tin, tri giác, cảm xúc, tình cảm, hy vọng, hoài bão.

Lưu ý sự phân biệt này, chúng ta có thể ghi nhận hết sức chính xác sự mất cân đối, không tương xứng và tại sao nó lại gây lo lắng đến thế.

Nói chung, sự tiếp nhận của công luận về một lý thuyết khoa học tán thành do và đa phần nhất trí bởi việc đánh giá thế giới khách quan của các ý tưởng. Tuy nhiên, nó không giống trường hợp hiểu biết khoa học về bản chất tiến hóa của nhân loại và vượt trên tất cả, các bản chất giữa giống đực và giống cái, đàn ông và đàn bà. Nếu các tranh cãi về khoa học tiến hóa của bản chất người được thực hiện trong thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, sẽ không có cạnh tranh; lý thuyết tiến hóa sẽ thắng thật dễ dàng. Song, như một sự kiện xã hội học, giữa thị trường công khai thì khả năng nó sẽ thất bại thảm hại trước những chỉ trích om sòm.

Bằng cách nào ư? Vì trong một sự đảo chiều hoàn toàn của quan hệ khách quan giữa khoa học với những chỉ trích như thế, tất cả mọi sự bất tương xứng, không cân đối đều lật ngược. Thứ nhất, sức nặng của ‘chứng cứ’, sức nặng của lập luận được chuyển di từ những chỉ trích vào thành khoa học, nó là chủ nghĩa Darwinism vốn chờ xét xử. Các thái độ chống Darwin không buộc phải tự phòng thủ, họ được chấp nhận khỏi bị phê phán, các tiêu chí đánh giá về các quan điểm này gồm tất thảy sự sẵn sàng tín nhiệm và ngờ vực tuyệt không chút tin tưởng. Thứ đến, thêm sự sỉ nhục gây tổn thương, một trạng thái quá thừa thãi các đồ thay thế tạo tác tại gia dùng làm trò ảo thuật đặng lấp đầy khoảng cách với cái khoa học nên là. Dạng khoa học bản- thân- tự- làm- lấy này bao gồm những tuyên bố dựa trên phương pháp giả tạo vốn chỉ là tên gọi mà thôi; sự ‘vướng mắc’ không thể thay đổi giữa tự nhiên và nuôi dưỡng nhằm nêu lên bản chất đố mà hiểu thấu rốt ráo do đó, cởi bỏ ‘bản chất tinh tuyền’ để được thảo luận đầy đủ chi tiết, một kỵ sĩ không thèm đôi co với bằng chứng thực nghiệm khó khăn mới chiến thắng nổi, dù sở hữu thiên hướng động não giỏi giang; tiềm năng ma mãnh của ‘tạo mẫu rập khuôn’ và ‘các mô hình vai trò’; một quyền lực bất chấp logic để dựng lên những điều bí hiểm trong tâm lý của cái rỗng không, như trong ‘xã hội hóa’ và ‘trao quyền’; gán ghép các cơ chế mà thậm chí không mấy tin tưởng: làm nhiều việc cùng lúc, lòng tự trọng, đe dọa rập khuôn; những phàn nàn về ‘sự việc gây tranh cãi’ và ‘có dụng ý, động cơ’ tựa như khoa học xã hội đích thực nhưng thực sự thì giả dối về mặt khoa học. Chính sách thoát- ly- khoa- học kiểu như thế là do vận động hành lang, được gán cho giả thuyết ‘định kiến và rào cản’ và một sự chối bỏ tiền nghiệm về khoa học của những khác biệt giới tính chẳng hạn.

Sự rối rắm này coi thường giá trị khoa học, song nó lại không hề bị đối xử như ý kiến đối lập với khoa học; trái lại, về mặt tâm lý và xã hội học, nó có một tiếng nói cực kỳ ảnh hưởng và gây tác động mạnh mẽ hơn địa vị khách quan được đảm bảo của chính nó.

Bi hài và thực trạng gì thì chí ít nó đang hiện diện. Song, dưới quan điểm dài hạn, vô tư của bản chất con người như sản phẩm của công trình chọn lọc tự nhiên, một viễn cảnh rộng lớn hơn đang mở ra. Và điều đó gây ấn tượng cho chúng ta về đặc ân được sống trong thời điểm của các giá trị Phục hưng, phương thức hiếm hoi, cục bộ, các giá trị gần đây trong lịch sử hai triệu năm cũng như đấy là các giá trị thuộc bản chất của giống loài chúng ta sẽ tiếp tục được bồi dưỡng. Đóng góp của Darwin trong sự hiểu biết của chúng ta về chính bản thân mình là điển hình cho tiến bộ nhân loại, một lý tưởng thần kỳ không chỉ của khoa học mà cả dí sản văn hóa rộng lớn hơn là các tư tưởng Phục hưng.

Hiểu biết sự phân biệt giữa tính khách quan tự trị của thế giới các ý tưởng và trạng thái hết sức khác của tâm lý và xã hội, chúng ta có thể lượng định giá trị đích thực của khoa học. Và khi ghi nhớ nằm lòng viễn tượng sâu xa ấy, chúng ta sẽ ít lo lắng hẳn đi về những nỗi sợ hãi thiếu cân đối, không tương xứng này.

Hạnh phúc lang thang như mây và tâm trí lêu bêu vô nghĩa lý…

Ca từ thoáng nhớ ra khá phù hợp với tin đưa về bảng xếp loại các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới thường niên năm 2015. Các tiêu chí đánh giá là thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ, quan hệ gia đình (có ai đó trông mong), tự do lựa chọn, tình trạng tham nhũng, và sự rộng lượng.

Nhóm tác giả của báo cáo cho biết, khát vọng chung được nuôi dưỡng bởi các thành viên; không chỉ tiền bạc mà còn nằm ở sự công bằng, chân thành, tin tưởng và sức khỏe tốt. Rằng người ta hạnh phúc hơn khi họ có thể dựa cậy vào gia đình, bạn bè và các thiết chế xã hội; cần khuyến khích các chính quyền khắp thế giới lắng nghe và đáp ứng bằng các chính sách ưu tiên cho trạng thái thân- tâm an lạc (well-being), đồng thời người ta cũng thấy quốc gia nào có tiềm lực xã hội và thiết chế vững vàng thì không chỉ trợ giúp tốt hơn trạng thái thân- tâm an lạc mà còn chóng thích nghi trước các khủng hoảng kinh tế- xã hội.

Lần nữa, rõ ràng chỉ số dính dáng hạnh phúc (happiness) thuộc phong cách Mỹ; theo tinh thần đã được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, việc theo đuổi và mưu cầu hạnh phúc là động lực phát triển niền kinh tế, cả phía khách hàng tiêu thụ lẫn nhà đầu tư. Và thực tế, nhiều người chúng ta nghĩ theo đuổi hạnh phúc là ý nghĩa sống ở đời dẫu cho nghiên cứu ngờ vực sự khôn ngoan đó.

Ý nghĩa thường được hiểu là điều gì vượt trên bản thân và hạnh phúc cá nhân của chúng ta; nó cột buộc vào điều rộng lớn so với chính mình: gia đình, quốc gia, nhân loại, sức khỏe hành tinh, kiến thức, trường trận hiểu biết con người, các tiêu chí nghệ thuật. Hạnh phúc là thuộc cảm giác tốt trong khi ý nghĩa khởi đi từ việc cống hiến cho tha nhân hoặc xã hội trong cách thức to lớn hơn. Nói chung, ý nghĩa ngang bằng với đức hạnh, trong khi hạnh phúc là những thứ người ta đạt được cái họ muốn có; nó là câu chuyện cho hơn là nhận.

Tuy vậy, tất cả mọi người muốn được sống thật hạnh phúc. Nghịch lý xoay quanh hạnh phúc, như xoay quanh Tỉnh thức, là nó quá dễ đánh lừa. Tâm lý gia Viktor Frankl, tác giả Logotherapy, từng viết rằng ‘hạnh phúc không thể theo đuổi được; nó phải sinh ra’; ông cũng ghi rõ là ‘mỗi một theo đuổi hạnh phúc sẽ gây cản trở hạnh phúc’.

Vấn đề được phát hiện là mọi người ‘đặt tầm quan trọng nhất’ để được hạnh phúc thì ít thưởng thức ‘các cảm xúc tích cực’ 50%, có 35% kém ‘thỏa mãn’ và khốn khổ bởi 75% do trầm cảm và 17% thiếu hụt ‘thân – tâm an lạc về mặt tâm lý’, so với người đặt các ưu tiên vượt trên hạnh phúc bản thân.

Nghiên cứu tìm thấy các nguy cơ sức khỏe khi thiếu vắng ý nghĩa ở người hạnh phúc thể hiện ở đáp ứng hệ thống miễn dịch tương tự những người đang phải vật lộn với các khắc nghiệt kéo dài như đau buồn vì mất mát người thân; kiểu như cơ thể họ chuẩn bị đối kháng với sự nhiễm khuẩn vậy. Một hệ thống miễn dịch trong trạng thái này do kéo dài giai đoạn dễ làm tăng lên nguy cơ mắc bệnh ung thư và tim mạch, vì cơ thể sẽ ở trong trạng thái không ngừng bị viêm nhiễm.

Thôi thúc ngắn hạn để đạt hạnh phúc sẽ tạo ngay kết quả: các đối tượng cố ý nhắm tới thông qua một bài tập thể dục tức thời để đạt giá trị vui sướng trong môi trường thực nghiệm, rồi lập tức hướng về một sự kiện tích cực như xem một bộ phim hài thường thưởng thức sự kiện tích cực kém hơn những ai hướng tới các giá trị khác.

Ý nghĩa, về phần nó, tương quan với khả năng cải tiến sự phục hồi là khả năng chịu va đập vượt qua các tai ương nghịch cảnh. Nghiên cứu gần đây chỉ ra tương quan bản ngã và sự siêu việt tâm linh xét từ khả năng phục hồi.

Sự khác biệt giữa việc theo đuổi hạnh phúc và theo đuổi ý nghĩa mang lại nhiều cuộc tranh luận triết học nảy lửa, góp phần định hình trạng thái văn minh hóa của Tây phương trải qua 2000 năm, về bản chất của đời sống tốt lành.

Nguồn gốc của khổ đau là do khát khao thèm muốn. Lưu ý, với Đức Phật, hạnh phúc không phải là vấn đề; thực tế, hạnh phúc (sukha) đối lập với khổ đau (dukkha), với tiền tố ‘su’ và ‘du’ mang nghĩa ‘tốt’ và ‘xấu’. Khao khát hạnh phúc là vấn đề, lý do tại sao hạnh phúc hầu như bất khả theo đuổi thành công, ngoại trừ khoảnh khắc phù du ngắn ngủi khi, như kết quả của hành hạ dằn vặt do đói khát, một nhu cầu được thỏa mãn tạm thời.

Một cách tuyệt đối, chúng ta bước vào con đường hướng tới Tỉnh Thức, cho chúng ta một ý nghĩa siêu việt mang tính chất sử thi anh hùng ca và dẫn đến sự hoàn hảo trong tính cách con người như vị tha đầy lý tưởng, từ bi, thanh thản và khôn ngoan.

Ngoài ra, trong khi suy nghĩ thông thường hay nhìn nhận đức hạnh và việc theo đuổi hạnh phúc cá nhân như cách thế đối lập thì quy luật nhân quả đối xử ngang bằng trạng thái thân- tâm an lạc cá nhân với sự diễn bày đức hạnh và siêu việt bản ngã. Bài học từ các nghiên cứu tâm lý không chỉ là hạnh phúc chẳng thể kiếm tìm, truy cầu một cách hiệu quả mà còn rằng việc sinh ra từ chuyện mưu cầu những gì ý nghĩa nhất vượt trên cái tôi. Đuổi theo ham muốn bản thân, bị dẫn dắt bởi tham lam, thù hận và vô minh là nghiệp xấu.

Qua kết quả nghiên cứu của đại học Harvard dựa trên ứng dụng Track Your Happiness với 2500 người trên toàn cầu nhằm hỏi những gì người ta nghĩ và làm vào khoảng rảnh dừng ngẫu nhiên, cho thấy tâm trí lêu bêu hầu như là trạng thái mặc định quen thuộc, chiếm khoảng 46,9% thời gian; không đáng ngạc nhiên chi khi người vui nhất là người làm tình, song nghiên cứu này nhấn mạnh một trong các lý do tại sao sex giá trị thế vì rằng tâm trí chúng ta đỡ lang thang hẳn khi làm chuyện ấy.

Một tâm trí lêu bêu là một tâm trí bất hạnh; hạnh phúc của một người ít phụ thuộc vào hoạt động mà nằm nhiều hơn ở mức độ tỉnh thức xuyên suốt hoạt động. Nói theo ý tác giả nghiên cứu Dan Gilbert, tâm trí lêu bêu dự báo vượt trội về hạnh phúc của người ta; tâm trí dễ dàng rời bỏ hiện tại biết bao và nơi chúng đến là chỉ báo khá tốt về hạnh phúc so với các hoạt động ta dấn mình vào.

Bất luận hão huyền và viễn vông ra sao, hạnh phúc cứ khởi sinh. Và vì thế, gợi ý của tâm lý gia Viktor Frankl thật đáng ghi nhớ trên hành trình kiếm tìm ý nghĩa đời sống: tạo ra một công việc hoặc tiến hành một hành động; trải nghiệm chuyện gì đó hoặc tình cờ gặp gỡ người khác; chọn lựa thái độ trước nỗi khổ niềm đau (suffering) không thể né tránh.

Tầm quan trọng của nhu cầu được đáp ứng và triển nở về mặt tâm lý

Trên mạng xã hội tối qua loan tin về một bà mẹ trẻ vừa mới mất đột ngột. Thấy nhiều ấm áp cả lời lẫn hình chia sẻ tiếc thương, bồi hồi quý mến, ghi nhớ kỷ niệm, thông cảm nỗi niềm với một sự lựa chọn cuối cùng đã đi về nơi xa ấy…

Mình chắc biết thỏa mãn nhu cầu tâm lý là yếu tính cho trạng thái thân- tâm an lạc, và rằng nó nên là một trong các ưu tiên hàng đầu trong đời rồi chăng?

Y cứ lý thuyết tự quyết (Self- determination theory) thì con người ta có ba nhu cầu tâm lý căn bản: tự trị, cạnh tranh, và kết nối với nhau.

Nghiên cứu xuyên văn hóa cho thấy, thỏa mãn nhu cầu là điều cần thiết để tất cả chúng ta lành mạnh cả về sự phát triển, dấn thân, động cơ, và thân- tâm an lạc nói chung. Thỏa mãn nhu cầu thậm chí còn liên quan tới việc thành tựu tốt hơn trong công việc, giảm bớt stress, và giảm bớt hẳn các dự tính lung tung xèng; chưa nói, khi các nhu cầu không được đáp ứng (gây trở ngại), nảy sinh nhiều hậu quả tâm lý hết sức tiêu cực.

Qua các cứ liệu ghi nhận được từ nhiều nền văn hóa và bối cảnh khác nhau, lý thuyết chuyên biệt được rằng con người ta tiến hóa thay vì học hỏi các nhu cầu; nói khác đi, các nhu cầu mang tính phổ quát. Lý thuyết tự quyết xác định sự tự trị như lối hành xử do cảm nhận thuộc ý nguyện, sự tán thành, ước ao và lựa chọn; năng lực cạnh tranh  là việc lão luyện về môi trường, còn tính kết nối với nhau tựa cảm nhận liên quan với những kẻ khác theo một cách nọ kia.

Đến thời điểm này, chúng ta biết ít nhiều về bản chất của các nhu cầu tâm lý; và nên tìm ra nhiều cách thức dễ dàng hơn để thỏa mãn chúng. Thỏa mãn nhu cầu nên là một trong các ưu tiên nhằm tận dụng hiệu quả tác dụng của nó tới trạng thái an lạc thân- tâm.

Mỗi một chúng ta dễ chừng từng trải nghiệm cách thức các nhu cầu bị gây trở ngại hoặc được thỏa mãn như nào. Tỷ dụ, một số quan hệ không ngừng chịu sự kiểm soát trong khi một số khác lại mang tính nâng đỡ và tự trị. Một số trải nghiệm giảm thiểu các cảm xúc cạnh tranh, trong khi một số làm tăng thêm sự tự tin. Một số tình huống khiến nỗi niềm cô đơn lên cao, trong khi số khác kích thích cảm xúc gắn kết với nhau.

Hết thảy minh họa vừa nêu chứng tỏ tầm quan trọng của môi trường xã hội với việc thỏa mãn nhu cầu, trạng thái an lạc thân- tâm và sự phát triển bản thân:

Nếu đặt cái hom lê con vào một chậu đất, nó sẽ thành một cây lê, bởi vì đó là bản chất tất yếu của cây… [Song để điều ấy xảy ra] chúng cần ánh sáng mặt trời; cần nước tưới; và cần nhiệt độ thích hợp. Các thành phần này không trực tiếp khiến cây lớn lên, nhưng đấy là các chất dinh dưỡng cần  thiết để lê thực hiện những gì cần làm một cách tự nhiên. (tr. 98)

Nhắn (66): Một mùa Xuân lại gần để nhân quần yêu thương mãi…

Danh sắc còn trên vô thường rất khẽ, ngồi yên an thật mới đón chào xuân.
Danh sắc còn trên vô thường rất khẽ, ngồi yên an thở nhẹ đón chào xuân.

Tất niên Giáp Ngọ bó sát mặt, ngựa vẫn chồn chân, tẩy trần bốn phương chưa chứng đắc;
Khai xuân Ất Mùi nùi sừng chắc, dê khéo cần lao, tạo hứng chúng sinh thành sự nghiệp.

#########

Năm mới Ất Mùi vừa sang

tặng nhau hiện diện đàng hoàng tâm- thân;

đào hồng nương ánh thanh tân

tháng ngày bình thản tri ân người đời…

Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Quyết định đầu năm: tính sao giữ được?

Căng tròn mộng xuân tình, linh tinh đời hóng hớt...
Căng tròn mộng xuân tình, linh tinh đời hóng hớt…

Theo thói quen hí hửng trong bầu không khí khởi sự tưng bừng đầu năm mới, thiên hạ thường hay đưa ra các lời hứa, quyết định đầy tâm huyết.

Bất chấp thực tế là rất nhiều dự tính chỉ hoàn công cốc, tầm một nửa (46%) số người tuyên bố quyết tâm đầu năm đã thành tựu trái quả tốt lành xoay quanh việc thay đổi hành vi lành mạnh như mong muốn.

Nghiên cứu từ thập niên trước phát hiện ra 5 chiến lược tiến hành triển khai các quyết tâm đầu năm đạt kết quả tích cực; cụ thể:

1. Ý chí

Không có gì đáng ngạc nhiên là những ai đạt được các lời hứa đầu năm ở mốc 6 tháng thì đều nói tới vai trò của ý chí.

2. Duy trì sự phấn khích

Người thành công thường để ý làm sao cho các đồ vật ở xung quanh nhắc nhở mình lưu tâm tới điều đã tuyên bố. Đây cũng là lý do tại sao dán các mảnh giấy, minh họa be bé ở tủ lạnh, đầu giường, góc tường hoặc trong nhà vệ sinh chứng tỏ hữu hiệu.

3. Né tránh

Đôi khi đơn giản là không đưa mình vào các tình huống dễ làm đổ vỡ lời hứa, kiểu muốn bỏ thuốc lá thì không tới khu vực các tay ghiền hay phì phèo. Thay vì thử thách ý chí bản thân, vấn đề sẽ được giải quyết nhờ việc lờ đi.

4. Trông chừng chuyện củng cố

Bí quyết nằm ở chỗ dùng vài ba phần thưởng nhỏ nhặt để củng cố thêm hành vi chắc vững hơn lên.

5. Suy nghĩ tích cực

Người nào giữ được quyết định đầu năm thì thường tỏ thái độ tích cực về năng lực bản thân và ước ao thay đổi các hành vi mình không ưng thích kéo dài nữa.

Nghiên cứu thượng dẫn cũng cho thấy các chiến lược khiến nhiều người thất bại, bỏ dở lời đã xác lập đầu năm mới, trong đó họ nêu bật việc tự đổ lỗi và lối tư duy dạng ước gì, giá như…

Câu hỏi làm thế nào để vận dụng tâm trí tốt nhất cho việc đạt được các lời hứa đầu năm còn chỉ ra một số mẹo mực thực hiện rất sáng giá và dẫn tới kết quả ngoạn mục. Chẳng hạn, có thể kể 5 chiêu thức cơ bản dưới đây.

1. Theo đuổi mục tiêu thôi là chưa đủ

Tâm lý học động cơ, dưới cái nhìn truyền thống, nhắm vào việc thúc đẩy người ta theo đuổi mãnh liệt các mục tiêu đã cam kết.  Nó giả định rằng người ta trông nom sao cho càng bám thật chặt các mục tiêu đã tuyên thì khả năng rất cao họ dễ chạm đến được các mục tiêu ấy.

Tuy vậy, trong 15- 20 năm gần đây, các nhà nghiên cứu khẳng định, người ta có thể làm nhiều hơn việc chỉ theo đuổi mục tiêu thôi; họ có thể dùng tâm trí để cải thiện một cách chiến lược trên tiến trình nỗ lực chiếm lấy các mục tiêu.

2. Hướng việc lập kế hoạch cho mục tiêu thành lập kế hoạch hành động dạng “nếu- thì”

Lập kế hoạch là điều tiên quyết nếu muốn đat được các quyết tâm đầu năm. Bẻ gãy hoặc kiến tạo các thói quen như bỏ thuốc lá và bắt đầu tập thể dục hàng ngày hoặc bất kỳ mục tiêu nào mình có thể tưởng tượng. Hàng trăm nghiên cứu hỗ trợ ý tưởng việc lập kế hoạch dạng ‘nếu- thì”, tức việc thực hiện và triển khai các dự tính (pp.162- 185), cũng là dạng lập kế hoạch có thể làm cho các cơ hội thành công tăng gấp đôi, gấp ba.

Khi kết nối ‘lúc nào’ với ‘ở đâu’ để biết cách vận dụng câu dạng “nếu- thì” thì mình sẽ dễ đạt được các hiệu ứng như mong đợi. Tỷ dụ, nếu muốn giảm cân, kế hoạch nếu- thì có thể là: Nếu tối muộn ở nhà tôi thấy thèm đồ ngọt thì tôi sẽ có sẵn một tách trà nóng thư thái pha với chút thìa mật ong.

3. Tạo ra hầu hết các kế hoạch dạng “nếu- thì” thể hiện sự trái ngược về tinh thần

Hình thức triển khai các dự tính tốt nhất, thông qua việc dùng một phương pháp gọi là đối lập tinh thần nhằm tìm ra các tình huống nào căn bản rồi gắn chúng với các đáp ứng mang tính công cụ tập trung vào mục tiêu.

4. Động cơ và cảm xúc làm xảy đến mọi điều

Động cơ cần có mặt đúng chỗ, nếu không việc lập kế hoạch “nếu- thì”không hiệu quả. Các mục tiêu kéo dài cả năm đòi hỏi mình phải theo dõi sát sao và không thể thiếu được động cơ thúc đẩy, tiếp thêm nhiên liệu. Tương tự, cảm xúc tích hợp trong vòng quay động cơ có thể gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới các kế hoạch “nếu- thì”, gắn với mục tiêu. Ví dụ, người phụ nữ muốn phàn nàn với quản lý về việc cô ta không muốn bị đuổi việc, vì vậy cần đảm bảo sự vụ không bị đẩy đi quá xa.

5. Nhận ra việc dùng các mục tiêu tự định hình bản thân

Dạng muốn thấy mình là ông bố tốt hoặc nhà khoa học tài ba, và với các mục tiêu này khi mô tả với người khác những gì dự tính thực hiện hoặc cần đạt được thì động cơ có thể bị hạ thấp.

Hiểu biết về nhận thức xã hội giúp mình dễ tìm cách truyền thông các dự tính mà để rồi sẽ có thể tạo nên cảm nhận hoàn thành song lại không đe dọa động cơ.

Sự yếu đuối của ý chí có thể được xử lý, điều chỉnh trên tiến trình đạt được các quyết định đầu năm; góp phần giúp người ta thànhh tựu tích cực nhờ trực tiếp nhắm vào các thách thức và cơ hội…

Chẳng có chi phải lo ngại khi không nói gì…

Khi nhất thiết phải mở mồm và cất tiếng thì quả thật khó khăn biết bao nếu chẳng nói gì cả. Kỹ năng bộc lộ được đẩy mạnh thêm nhờ sự cho phép không cất lời chính là câu chuyện của kiểm soát, như một vấn đề thuộc quyền lực.

Thực tế, tình huống trị liệu từ ban đầu đã bất công; tuy nhiên, thấm thía với tư cách là nhà tham vấn tâm lý cho thân chủ quyền lực để điều hướng tiến trình của riêng họ, mình buộc phải nhận ra rằng đang nắm giữ tất cả kiến thức về tình huống, các chuẩn mực và ranh giới thuộc văn hóa trị liệu, và những kỳ vọng lẫn trải nghiệm cá nhân. Cảm xúc nắm giữ hết thẩy thế của nhà trị liệu dễ khiến một số thân chủ nảy sinh trạng thái bất an, và họ có thể muốn giữ rịt các câu chuyện cho riêng mình để bám chặt một vài kiểm soát nhất định.

Thường người thực hành tâm lý được dạy rằng phiên đầu tiên dành cho các thủ tục ký tá nọ kia, phiên thứ hai mới khởi sự nói về ‘vấn đề đích thực’ nên cũng dễ xảy ra chuyện nếu được phép ngấm ngầm, như dấu chỉ chân thành của lòng tôn trọng từ nhà tham vấn, để bộc lộ toàn bộ tình huống của họ ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ.

Quan điểm trị liệu ẩn bên dưới thông điệp vừa nêu rõ ràng khẳng định rằng thân chủ nợ nhà tham vấn việc cung cấp thông tin, trong đó thổ lộ tự thân nó là mục tiêu, có vẻ là sự dựa cậy quyền lực chẳng mấy hữu ích. Ở đâu bất công về quyền lực, ở đấy sẽ là xung đột. Thiển nghĩ, ý tưởng thân chủ cần ‘đưa cho’ nhà tham vấn câu chuyện đời mình hoặc các cái tôi để nhà tham vấn ‘làm điều gì đó’ với chúng nào khác gì hơn nỗi sợ hợp pháp mà thân chủ có thể sở hữu, điều nhà tham vấn có thể nỗ lực xua đi dứt khoát xuyên suốt phiên làm việc đầu tiên.

Bất kể thân chủ đến với ước muốn chân tình đi thẳng vào ‘vấn đề’ hoặc họ không cảm thấy an toàn để làm điều đó và cần xây dựng sự tin tưởng trước đã, trường hợp nào thì phiên đầu tiên là cơ hội để cả hai bên để ý lẫn nhau rồi thương lượng công việc tương lai dưa trên nên tảng công bằng nhất khả dĩ. Công việc giá trị có thể cũng hoàn thành ngay ở đây và bây giờ giữa thân chủ và nhà trị liệu hoặc trong lòng thân chủ mà không nhất thiết đang nhắc đến ‘câu chuyện’ hay ‘vấn đề’.

Kiểu phiên làm việc như này cũng chứa đựng thông điệp rằng đúng cả khi nói hoặc không cất tiếng gì cả. Nhiều nhiều vấn đề hay ho mang tầm quan trọng sống động có thể đã không hề được thảo luận. Song các thân chủ, một khi họ cảm thấy an toàn, được tự do dùng không gian và các mối quan hệ như họ muốn. Họ không nợ nhà trị liệu điều chi, và nhà trị liệu không hề nghĩ mình bị chơi khăm nếu họ nhận ra tất cả những gì là sự kiện và cảm xúc thích hợp, liên quan.

Bài học nằm ở chuyện tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để không gây áp lực thúc đẩy những người khác bộc lộ, và truyền thông sự vắng bóng áp lực hết sức rõ ràng âu là công cụ hữu ích cho mọi kiểu dạng quan hệ; gợi nhớ ví dụ mẹ liên tục hỏi con kể cho bà nghe những gì xảy ra ở trường trong thời gian đi học xa nhà, hoặc tình huống cô vợ rập khuôn khẩn khoản chồng nói cho mình hay về cảm xúc trong lòng cậu ấy…

Khi cảm thấy được chấp nhận bất kể mình là ai, nói nhiều ít tùy thích, rồi thường hơn là cảm giác an toàn cùng tin tưởng tạo lập nên trong quan hệ, và mình có thể nói nhiều như mình cần thiết và mong muốn bộc lộ. Mình được thoải mái chọn lựa. Và sự chấp nhận tự thân nó đủ xúc tiến, làm tăng lên trạng thái triển nở và thân- tâm an lạc.