Ngu ngơ đi tìm bằng chứng cho Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner

Cùng với phong trào nhà nhà, người người hướng về Tây phương đặng mong cầu chỉ bày và vươn tới chuẩn mực, quá nhiều các phương pháp lẫn cách tiếp cận trên đủ các mặt trận, lĩnh vực được giới thiệu, quảng bá, chào bán,… Giờ các bậc phụ huynh hết lòng hết sức vì tương lai con em chắc hiếm ai chưa từng một lần nghe nói tới nhiều kiểu dạng trí thông minh ở bé.

Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner (Multiple intelligences, MI) khuyến cáo thiên hạ cải thiện không ngừng việc học hỏi: chúng ta biết một số người học hỏi thông qua tiến hành công việc, số khác lại nhờ chuyện đọc sách. v.v… Do vậy, tin rằng người đời có nhiều kiểu thông minh khác nhau, rằng những thông minh của họ như thế thật độc sáng, và rất nên đồng thuận cùng hiện tượng có nhiều phương cách học tập ở trên giảng đường và lớp học.

Nếu giờ tiếp cận vấn đề từ việc tìm kiếm bằng chứng xác thực, liệu có chăng các dạng kiểu thông minh khác nhau như MI mà Gardner xiển dương?

Lý thuyết MI lần đầu tiên được Gardner trình bày năm 1983 trong cuốn sách Frames of Mind, dù về sau thì MI trải qua nhiều chỉnh sửa, thay đổi. Ngay từ 1983, Gardner đưa ra sự tồn tại của 7 loại trí thông minh:

1. Ngôn ngữ (linguistic). 2. Âm nhạc (musical). 3. Logic- toán (logical-mathematical). 4. Không gian (spatial). 5. Cơ thể- vận động (bodily-kinesthetic). 6. Cảm nhận nội tâm (intrapersonal sense of self). 7. Lên nhân cách (interpersonal)

Trong cuốn Intelligence Reframed xuất bản sau đó 16 năm, tác giả Garner thêm một dạng khác là ‘trí thông minh tự nhiên’ (naturalistic intelligence) nhằm trỏ sự thấu cảm đối với các ngoại vật tự nhiên, và ông còn gợi ý một dạng khác: ‘trí thông minh hiện sinh’ (existential intelligence), được xem là khả năng ngập chìm tính tâm linh trong tác phẩm nghệ thuật.

Với phiên bản gần nhất năm 2004, Gardner đề nghị thêm hai dạng nữa là ‘trí thông minh rọi sáng tâm trí’ (mental searchlight intelligence) và “trí thông minh laser (laser intelligence). Gardner tuyên bố, mỗi loại trí thông minh chứa đựng nhiều tiểu dạng thông minh, và mỗi loại thông minh được kiểm soát bởi các vùng não bộ khác nhau, và ông cho biết các khoa học gia Thần kinh “đang trên tiến trình hướng đích về bản chất của các thao tác căn bản trong mỗi dạng trí thông minh“.

Lý thuyết MI của Gardner thu hút sự chú ý của giới chuyên môn, và cơ chừng MI thiếu vắng bằng chứng xác thực. Theo tổng thuật được Waterhouse thực hiện năm 2006, không thấy nêu một nghiên cứu nào hỗ trợ cho độ hiệu lực của MI; Gardner đã cố gắng đáp trả các chỉ trích này từ 2004 như sau:

Lý thuyết MI được ít người say mê trong số các nhà đo nghiệm tâm lý hoăc những đối tượng dựa trên nền tảng tâm lý học khác là bởi vì họ yêu cầu: “đo nghiệm tâm lý hoặc bằng chứng thực nghiệm phải cho phép người ta chứng tỏ sự hiện hữu của nhiều trí thông minh khác nhau”.

Ngay từ 2004, tác giả Chen (được Waterhouse dẫn trong tổng thuật nêu trên) lại thử bênh vực cho sự kiện MI thiếu sự hỗ trợ của thực nghiệm thông qua lời tuyên bố:

“Một lý thuyết tất yếu có giá trị bởi vì nó được hỗ trợ bởi các kết quả của các test thực nghiệm” và “trí thông minh không phải thứ hữu hình để mà có thể đo lường được”.

Đi sâu hơn, tác giả Chen đã chỉ ra 5 điểm gây tranh cãi cụ thể với lý thuyết MI:

  1. MI không có đủ các bằng chứng thực nghiệm thiết yếu
  2. Trí thông minh không phải là đối tượng hữu hình, có thể sờ mó được
  3. MI là các cấu trúc mới đòi hỏi các công cụ đo lường mới
  4. Lý thuyết MI xác định độ hiệu lực của nó thông qua các ứng dụng tại lớp học
  5. Lý thuyết MI mô tả sơ lược kỹ năng nhận thức tốt hơn so với các tiểu thang đo IQ.

Nói tóm, theo cách lập luận của Chen thì có vẻ không có điểm nào  làm cho nhu cầu xác nhận lý thuyết MI là ít cần thiết cả. Dường như MI duy trì nó “đích thị là một lý thuyết” không thể công nhận là có giá trị được (validated), trừ khi các thành phần của lý thuyết được định vị, thiết lập rõ ràng. Khi Gardner tuyên bố rằng ông sẽ không định rõ các thành phần đó, lý thuyết MI khó nghiêng theo hướng đạt độ hiệu lực mong muốn.

Tác giả Chen (2004) cho rằng dẫu lý thuyết MI đạt độ hiệu lực thông qua việc ứng dụng nó, tuy thế, điều ấy không đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu với dữ liệu có cơ sở chắc chắn, vì dạng thức ứng dụng kiểu vậy không cung cấp dữ liệu đáng tin cậy. Sau rốt, không có nghiên cứu nào chứng thực rằng năng lực nhận thức được MI mô tả sơ lược tốt hơn khi dùng các tiểu thang đo IQ cả.

Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD): cập nhật thông tin mới nhất, thực trạng siêu phức tạp, và vài ba cách thức hỗ trợ hiệu quả

Kể từ những bài xa xưa từng giới thiệu khá chi tiết quen lệ rồi, đến nay rối loạn phổ Tự kỷ (ASD) vẫn tiếp tục được blog Tâm Ngã chọn là chủ đề ưu tiên lên trang.

Ba hôm trước, đại học Carnegie Mellon công bố đã làm rõ vai trò của tính di truyền, đột biến, và các yếu tố môi trường; theo đó, nguy cơ di truyền của ASD chủ yếu khởi phát từ các genes thông thường hơn là các biến thể hiếm gặp hoặc đột biến tự phát.

Từ nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy rằng di truyền đóng vai trò chính trong sự phát triển rối loạn tự kỷ so với các yếu tố môi trường, góp phần quyết định gây nên tự kỷ hơn chúng ta tưởng; mỗi một trong nhiều yếu tố nguy cơ nhỏ khác thêm vào đẩy người mắc vươn ra rìa của phổ tự kỷ…  Không có các công cụ thống kê mới, không phát hiện được kết quả, và bây giờ chúng ta phải dựa trên những gì học hỏi được kèm sử dụng các cách tiếp cận thống kê để sắp đặt các nguồn lực tương lai, và quyết định hướng nghiên cứu nào hữu ích nhất đáng tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân gây ra tự kỷ.

Như thế chứng tỏ, tự thân yếu tố môi trường không quyết định hết thảy nguyên nhân gây ra ASD; và con số 55% có thể di truyền cho thấy genes chịu trách nhiệm hơn một nửa việc một đứa trẻ có khả năng mắc tự kỷ (80% di truyền liên quan đến chiều cao).

Lần nữa, qua thượng dẫn sơ bộ, điều ngạc nhiên ở nghiên cứu là các nguy cơ di truyền gây tự kỷ đa phần nằm ở các biến thể genes thông thường chứ không phải các đột biến dị biệt. Một đột biến nhỏ trong một gene đơn lẻ có thể gây một căn bệnh chẳng hạn như Huntington, và đột biến gene BRCA1 làm tăng lên khả năng phụ nữ phát triển ung thư vú. Các đột biến như thế chỉ chiếm 2,6% nguy cơ gây tự kỷ, so với 52% biến thể genes thông thường; với phần lớn trường hợp gây mắc tự kỷ, không có một gene sai lạc nào mã hóa rối loạn này mà chính sự kết hợp các biến thể thông thường với nhau mới dự đoán nguy cơ tự kỷ. Và dù chỉ ra các yếu tố môi trường không phải là nguyên nhân chính, song nhóm tác giả không chắc cụ thể những yếu tố môi trường nào quy cho việc mắc tự kỷ.

Liên quan đến thực trạng phức tạp gây tranh cãi, bất chấp mấy thập niên nghiên cứu khẳng định điều ngược lại thì niềm tin tự kỷ có thể là do nguyên nhân trục trặc trong quan hệ gắn bó mẹ- con vẫn thịnh hành. Trước thông tin nghiên cứu rằng có mối liên quan giữa độ tuổi cao của bố mẹ với việc mắc tự kỷ khiến một số bố mẹ còn chưa thôi lo lắng quyết định có nên sinh con sau độ tuổi 30 thì công việc của nhóm nghiên cứu quốc tế do nữ khoa học gia thuộc đại học Carnegie Mellon đứng đầu giải thích chủ yếu do genes.

Sự trộn lẫn các yếu tố nguy cơ không dễ cảm nhận thấu đáo và việc chẳng rõ ràng nguyên nhân gây ASD có thể khiến một số bố mẹ lựa chọn các giải pháp liều lĩnh và cảm tính. Một ví dụ sống động kéo dài là chuyện bố mẹ quy cho hóa chất thimerosal (đã bị gỡ bỏ hơn 10 năm nay) vốn có mặt trong vacine trẻ em gây tự kỷ, tạo điều kiện cho phong trào chống tiêm phòng thành công và gây ra nguy cơ cho con cái họ mắc một số bệnh mà chúng ta đã biết cách tránh…

Với tỷ lệ 1/ 68 trẻ em Hoa Kỳ mắc ASD, trong độ tuổi 6-17 thì chẩn đoán mắc tự kỷ tăng khoảng 1% từ 2007 đến 2012. Các triệu chứng tự kỷ đa phần không hợp trội, nổi bật cho đến khi trẻ lên 2 hoặc 3 tuổi, và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán. Nguyên nhân hiện chưa sáng tỏ hoàn toàn, sau nhiều năm nghiên cứu có thể nghĩ tới chừng mực: các biến chứng khi sinh, thuốc trừ sâu, không phải do thiếu thốn tình yêu thương, không phải vì nhiều giun sán.

Nhân tiện, xin nêu một vài nghiên cứu liên quan: trẻ có bố mẹ làm các nghề kỹ thuật mang tỷ lệ tự kỷ cao hơn; thiếu hụt kỹ năng vận động càng làm mức độ tự kỷ nghiêm trọng; suy yếu khả năng chú ý không phải là thành phần tự thân của tự kỷ; cảm giác thứ phát hay thường thấy ở người mắc tự kỷ; chết đuối là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ ASD; chụp quét não bộ có thể hỗ trợ công tác chẩn đoán; có việc làm giúp cải thiện các triệu chứng tự kỷ ở người trưởng thành; nghiên cứu DSM-5 chỉ ra tác động của việc chẩn đoán và sự phổ biến ASD, v.v…

Chẳng nhất thiết phải nghi ngờ một điều rằng, tự kỷ thực sự khó hiểu đối với những ai không trải nghiệm trực tiếp. Với hầu hết mọi người, tự kỷ cơ chừng là ai đó lạ kỳ, cách biệt và khuyết tật tinh thần; các tường rào ngăn cách trong đời sống người mắc tự kỷ có vẻ là khó hiểu thấu; những trở ngại và thách thức họ phải đương đầu là thực tế lạnh lùng, một thực tế của ai đó khác. Con số 1/68 trẻ em mắc ASD cho thấy hầu hết mọi người dễ bắt gặp, nghe thấy hoặc tiếp xúc khá gần gũi với ai đó mắc tự kỷ; tiếc thay, phải chờ cho đến khi tự mình trải nghiệm cá nhân trực tiếp những con người ấy độc đáo và đặc biệt như thế nào thì mới phần nào nắm bắt câu chuyện.

So với ASD, ngu dốt mới đích thị là căn bệnh lớn nhất trong xã hội. Bố mẹ các trẻ mắc tự kỷ chắc chắn trải nghiệm sống động khía cạnh với người xung quanh họ; một khía cạnh tồn tại ở nhiều người song nó chỉ bộc lộ ra khi bị thách thức bởi điều gì đó khác thường, như kiểu giao tiếp với người mắc tự kỷ. Đó không phải là tội ác, chỉ là ngu dốt mà thôi.

Có rất nhiều vấn đề xoay quanh ASD. Một đứa trẻ mắc tự kỷ ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong gia đình theo các cách thức khác nhau. Bố mẹ/ người chăm sóc giờ đây phải đặt để ưu tiên chú tâm trong việc trợ giúp con em họ, xử lý stress nảy sinh ngày càng mãnh liệt trong đời sống hôn nhân, ở các đứa con khác, công việc, tài chính, và các trách nhiệm lẫn quan hệ liên nhân cách khác nữa. Bố mẹ có con mắc tự kỷ phải chuyển khá nhiều nguồn lực thời gian và tiền bạc cho việc cung cấp phương thức điều trị và can thiệp cho đứa trẻ, hạ thấp các ưu tiên cấp bách khác.

Bố mẹ trẻ thường quen đối mặt với các thái độ và dịch vụ bất công trong xã hội. Họ bị thúc ép đương đầu và giải quyết với sự ngu dốt. Vượt trên việc xử lý các vấn đề sự vụ đời thường, hàng ngày liên quan đến tình trạng rối loạn của con em mình, họ cũng buộc phải trở thành người biện hộ và đấu tranh, các chuyên gia y tế cung cấp thông tin chính xác cho cộng đồng họ thường tiếp xúc, bởi vì định hình các chương trình can thiệp sớm thích đáng, độ an toàn và phù hợp trong chẩn đoán cũng như tự thân việc trị liệu và chăm chữa y tế tương xứng dĩ nhiên không phải là điều dễ dàng chút nào ở một đất nước đang phát triển bộn bề như Việt Nam.

Các cơn thịnh nộ, đập phá từ nhẹ tới nặng, khó khăn trong ăn uống, đủ thứ rắc rối với việc ngủ nghỉ, nhiều giới hạn bó buộc của tiến trình xã hội hóa và tương tác với những người khác, đi kèm lắm thiếu hụt xử lý cảm giác và lượng giá môi trường… chỉ là một vài vấn đề mà trẻ em cũng như người lớn mắc ASD phải đối phó thường xuyên.

Điều quan trọng hiểu tự kỷ là trạng thái rối loạn phổ rộng, nghĩa là các cá nhân sẽ thể hiện nhiều triệu chứng khác biệt nhau, một số thì nhẹ và một số thì nặng, số khác vừa vừa… Tương tự, cơ bản là bóc trần huyền thoại người mắc tự kỷ không có khả năng biểu đạt các cảm xúc bản thân hoặc cảm nhận về tình yêu thương, nỗi niềm hạnh phúc, buồn rầu, đau đớn như mọi người khác. Đơn giản vì họ không thể biểu đạt các cảm xúc bản thân theo cách của đa phần mọi người, không có nghĩa họ không có cảm xúc. Đây là sự ngu dốt và thiếu giáo dục chu đáo khiến thiên hạ tiếp tục mang vác huyền thoại vừa nêu.

Nếu nói với bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ, mình sẽ thường nghe thấy các câu chuyện dũng cảm không thể ngờ nổi, sự kiên nhẫn vô bờ bến, những nỗ lực khủng khiếp và nỗi buồn bã, tuyệt vọng trong những ngày đen tối luôn ít nhiều phảng phất trên khuôn mặt. Mình cũng có thể nghe thấy các câu chuyện về tình yêu thương vô điều kiện, sự trân trọng đời sống, hành trình khám phá bản ngã mà họ không hề nuối tiếc dấn thân cũng như không lãng quên ước mơ, hy vọng về một tương lai tươi sáng cho con cái.

Người mắc ASD cũng là nhân loại chúng mình. Mỗi người thì khác nhau và ai cũng độc đáo. Điều họ cần chí ít là đừng ai đánh giá, xa lánh, đối xử bất công và thể hiện sự ngu dốt hướng về họ. Những gì họ cần là tình yêu, xử sự công bằng, tôn trọng, thấu hiểu và đủ đầy ý thức để xã hội nâng cao hơn nữa khả năng trợ giúp, nâng đỡ họ cùng với gia đình họ nhiều hơn nữa. Họ cần nhiều phương thức trị liệu đúng đắn và hiệu quả, tiếp cận được, chẩn đoán và can thiệp sớm, và nhiều nghiên cứu cũng như ủng hộ quỹ, vận động chính sách, tài trợ nhiều hơn nữa.

Bố mẹ cũng cần giúp đỡ với nhiều chi phí phải trả, các chương trình phù hợp giúp con em họ có việc làm, nơi học tập, được hỗ trợ cảm xúc và tâm lý, hội thảo và giáo dục đặc biệt đặng giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh với trẻ mắc tự kỷ. Chúng ta cần mở rộng các mạng lưới, cộng đồng khuyết tật phủ khắp và tạo điều kiện để các gia đình có cơ hội tương tác với nhau, trao đổi thông tin, ý kiến, tiếp cận được ngày càng nhiều dịch vụ và nhiều hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như xã hội.

Dưới đây là vài bước khuyến cáo cụ thể từ giới chuyên môn mong có thể trợ giúp cho người mắc ASD.

1. Giải thích từng giai đoạn một những gì mình định làm, những gì sẽ xảy đến tiếp theo và tại sao.

2. Cho người mắc ASD đủ thời gian để hiểu thông tin mình đang chia sẻ và đợi đáp ứng chứ đừng vội vàng, mong ngóng.

3. Các câu hỏi nên được đặt ra thật dễ hiểu theo cách sử dụng ngôn ngữ trực tiếp, dùng tranh ảnh khi cần thiết; đừng phụ thuộc vào việc trẻ làm quen, nắm bắt được tình cờ nghĩa của các câu hỏi nêu ra hoặc ngôn ngữ cơ thể.

4. Người mắc tự kỷ dễ nghiêng theo hướng nắm lấy lời mình nói theo nghĩa đen nên cần tránh dùng từ ngữ mang nghĩa nước đôi và thể hiện tính hài hước rất dễ bị hiểu nhầm.

5. Duy trì công việc và thói quen hàng ngày; tương tự là điều quan trọng đối với người mắc tự kỷ.

6. Các khó khăn trong giao tiếp xã hội có thể bao gồm việc tiếp xúc mắt, các ngôn ngữ cơ thể bất thường, nói chuyện vào những lúc bất tiện hoặc nói về các chủ đề không thích hợp lắm.

7. Các hành vi lặp đi lặp lại có thể là cơ chế đối phó, và đo đó nên được tôn trọng.

8. Mội trường rất quan trọng. Một số người mắc tự kỷ đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng, chuyển động, tiếng ồn và sự sờ chạm. Cố gắng thiết lập môi trường yên an, tĩnh lặng để giúp bình hòa nỗi lo lắng, sợ hãi.

9. Luôn luôn thử đặt mình ứng xử, hành động như người mắc tự kỷ dù đó quả là thách thức ghê gớm.

10. Hỏi người mắc tự kỷ, bố mẹ, người chăm sóc hoặc vị giám hộ họ những gì họ cần.

@ Cập nhật, 15h42′ cùng ngày

Phương thức dạy nhận thức về Tự kỷ giúp giáo viên đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều hiểu được rối loạn và giúp đỡ trực tiếp bạn mắc ASD; nâng cao nhận thức về những nhu cầu và khó khăn mà người mắc Tự kỷ gặp phải, giải thích ASD là gì, và tại sao nó ảnh hưởng các kỹ năng truyền thông, xã hội và tư duy.

Hướng dẫn nhấn mạnh không những nhu cầu của cách tiếp cận cá nhân khi làm việc với học sinh mắc ASD mà còn bao gồm một số chiến lược “nắm trọn” như cách bắt đầu bài học với các hoạt động ngắn, vui và thực tế nhằm giúp có được cấu trúc ngay lập tức rồi đề cao các điểm tưởng thưởng để chào đón trẻ. Khẳng định những thay đổi trong môi trường lớp học là giảm tiếng ồn xung quanh, sử dụng ánh sáng tự nhiên và tránh các tranh, ảnh gây ‘bắt mắt’.

Ý tưởng cho ngân hàng chiến lược làm việc với trẻ mắc ASD là đi theo các quy định rất rõ ràng ở lớp học, hỗ trợ việc trình bày miệng với bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh, xác lập nhiệm vụ với các mục tiêu rõ ràng, và hướng dẫn ngắn, đơn giản.

Một vài mẹo thực hành cho giáo viên như khung làm việc SPELL: nhắm vào cấu trúc (structure), hành vi tích cực (positive behavioir), thấu cảm (empathy), ít gây kích thích (low arousal), và liên kết (link) với nhiệm vụ ở nhà. Mục tiêu là giảm bất kỳ trải nghiệm lo lắng nào ở trẻ, để chúng làm việc hiệu quả hơn trong một môi trường khiến chúng cảm thấy an toàn.

Nhằm giúp giáo viên giảm thiểu nguy cơ trẻ bị bắt nạt, hướng dẫn nhắm vào “tính đa dạng thần kinh” giúp học sinh hiểu những khác biệt trong cách người ta suy nghĩ hoặc tri nhận thế giới; được thiết kế để khuyến khích nhận thức nhóm bạn cùng trang lứa, chấp nhận về mặt xã hội, thấu cảm và hòa đồng ở mọi học sinh cho dù một số bạn có thể biểu lộ hành vi khó thấu hiểu hết được…

Hiển thị im lặng trong phiên trị liệu tâm lý

Thường im lặng kéo dài xuất hiện đột ngột giữa một cuộc chuyện trò đang hồi rôm rả chắc không mấy khi khiến người trong cuộc cảm thấy thoải mái; có lẽ vì khó chịu đựng những lúc âm thanh ngưng bặt ấy nên thiên hạ hay chóng tránh né và lấp nhanh nhất khoảng trống bằng việc thích thú buôn dưa bán tám đủ thứ.

Trạng thái im lặng ít nhiều lúng túng kiểu thế cũng thấy xuất hiện trong khi làm việc, trao đổi ở các phiên trị liệu/ tham vấn tâm lý. Thân chủ có thể tự hỏi tại sao nhà trị liệu là chuyên gia quan hệ và vốn thuần thục kỹ năng giao tiếp lại tạo ra một lỗi mặc định như thế. Kỳ thực, ngoài dấu chỉ tê liệt thì im lặng được nhìn nhận dưới nhiều nghĩa khác nhau với nhà trị liệu, và trong phiên làm việc, nhiều ‘quy tắc’ thông dụng về trò chuyện được nhà trị liệu cho khởi lên nhằm đem lại lợi lại cho chính thân chủ.

Tiếc thay, chất lượng trao đổi, nhất là việc lắng nghe thật tốt, vẫn tiếp tục là điều khá hiếm hoi trong đời sống hàng ngày. Lắng nghe ai đó chia sẻ trong một nhóm nhỏ thôi đã đủ khiến mình mệt mỏi hoặc kiệt sức khi nảy sinh áp lực do các thành viên tranh nhau bày tỏ và mọi người đều thích quan tâm xem tha nhân đón nhận ý kiến của bản thân ta ra sao hơn là tập trung nghe xem ai đó đang biểu đạt điều gì…

Mong mỗi một thân chủ có cảm giác rõ ràng là họ được nghe đủ đầy và đậm đà phẩm chất tôn trọng khi tham gia tham vấn. Trong lúc một số thân chủ ưa thích nhà trị liệu có tố chất hay giữ im lặng và dừng lâu thì một số khác có thể cảm thấy không chịu nổi, thậm chí mất tự tin và dễ nổi giận… Với chuyện trò ngoài đời, người ta quen được nói vô tư đồng thời lắm lúc còn cảm thấy bị hối thúc bởi cả đống từ ngữ chực muốn tuôn trào nữa… Im lặng tựa các cơn thủy triều rút ra xa, chợt lắng xuống rồi để lại một khoảng vắng mênh mông. Một thân chủ dè dặt có thể chui êm vào sự rỗng không này, kẻ khác lại dễ nảy sinh bất mãn, đối tượng quen kiểu hùng hồn tuyên ngôn lại có thể đánh giá cao sự im lặng của nhà trị liệu.

Nhà trị liệu tâm lý biểu lộ sự im lặng không chỉ nhằm để tạo ấn tượng cho thân chủ rằng họ đang được lắng nghe mà còn đích thực muốn nắm bắt những gì thân chủ đang suy tư, cảm nhận vốn có thể là vấn đề đối với thân chủ. Đa phần nhà trị liệu tâm lý thích để thân chủ dẫn dắt cuộc trao đổi, kể cả tông giọng lẫn nội dung trong hầu hết thời gian làm việc cùng nhau.

Nhờ duy trì sự im lặng và tránh việc định hướng cuộc trao đổi, nhà trị liệu nhận thấy điều này giúp mình phát hiện ra cái gì là quan trọng với thân chủ và các chi tiết nào chẳng mấy liên quan sâu xa. Đôi khi, cuộc trò chuyện có thể hình dung như chuyến xe bus; một lộ trình dừng ở bốn bến chẳng hạn thì khá giống một cuộc trao đổi trong phiên làm việc với thân chủ chợt va đập khiến tạo nên một cú dừng đột ngột vậy. Nếu nhà trị liệu nói gì đó vào thời điểm đó thì e là sẽ bị mất đi cơ hội nìn thấy cách thức người lái xe (thân chủ của mình) đổi hướng, rẽ ngoặt, quay vòng; có thể thân chủ quay trái, quay phải, hoặc đi thẳng, thậm chí có thể thân chủ chỉ ngồi đực ngay đó thôi, chạy vòng vèo hoặc lái lung tung… Trải nghiệm có thể dạy cho nhà trị liệu biết rằng bất kể chiều hướng thân chủ nhắm đến ra sao, thường có điều gì đó đáng giá được phát hiện theo cùng hướng đích ấy.

Cũng không phải là điều gì quá kỳ cục hoặc xa lạ khi nhận ra rằng những gì quan trọng với thân chủ chẳng phải luôn luôn là điều nhà trị liệu nghĩ tương thích nhất; khi nhà trị liệu nắm bắt nó như sự chệch hướng thì đôi điều quả đúng là sự thật thôi… Do vậy, trước tiên nhà trị liệu có thể cần thích ứng mô hình bản thân những gì thân chủ coi trọng và biết các giá trị ấy là yếu tính căn cốt đặng thấu hiểu thân chủ; thứ đến, có thể là thân chủ đích thực bỏ rơi điều gì đó quan trọng mà nhà trị liệu cần giúp thân chủ chú ý tới chuyện ấy.

Đây cũng là dịp trải nghiệm để nhận ra lời khuyên nhủ cứ luôn bày sẵn đó đây. Ví dụ dễ cảm nhận là lắng nghe các chương trình trên sóng phát thanh, khi các chuyên gia biểu tỏ sự quan tâm và khôn ngoan chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn đã có thể đưa ra ngay được lời khuyên nhủ đáp ứng với một câu hỏi cụ thể nào đó. Loại nói chuyện kiểu ấy có thể mang tính giải trí, dù thỏa mãn nhất định nhu cầu của người gọi và bạn nghe đài chứ khó phản ánh đúng đắn bản chất mối liên hệ giữa nhà trị liệu với thân chủ ở trong văn phòng tham vấn.

Lần nữa, đừng quên rằng trước khi gặp nhà trị liệu thì thân chủ đã tích lũy, hỏi han rồi nhận được không ít lời khuyên nhủ, bày vẽ nọ kia từ bạn bè, người nhà, và cả kiếm tìm trên mạng lưới điểm toàn cầu rồi. Nếu điều ấy thích hợp thì chắc chẳng cần đến tham vấn làm gì nữa; ngoài ra, nếu trị liệu hầu như là chuyện cho lời khuyên thì nó không đáng giá đến thế, nhất là khi lời khuyên có thể tìm thấy ở các nguồn rẻ hơn rất nhiều.

Và tựa như mọi chuyện ở đời, nói thì dễ hơn làm. Các giải pháp sẵn có (trong dạng thức vội vàng trao tay ngay) dễ thành vô dụng vì cả loạt lý do; một trong những trở ngại lớn nhất đó là sự khác biệt cá nhân. Một tính cách riêng biệt hoặc nảy sinh bởi hoàn cảnh đặc thù có thể làm cho một kế hoạch tốt đẹp của nhà trị liệu rối tinh rối mù và thậm chí thất bại thảm hại.

Làm việc với một thân chủ tầm một tiếng đồng hồ mỗi tuần trong một năm, vị chi nhà trị liệu có thể gặp gỡ thân chủ của mình 52 giờ tất cả; trong khi đó thân chủ sống đời mình hàng ngàn ngày rất riêng tư. Nhà trị liệu có thể nghĩ về thân chủ của mình như một chuyên gia của chính đời họ, và điều ấy nhắc nhở nhà trị liệu lùi lại rồi nhìn ngắm những gì thân chủ nói về vấn đề của chính họ, cách họ nghĩ về chúng, những gì họ đã cố gắng và rồi bị thất bại trong nỗ lực thành tựu mong ước,… trước khi nhà trị liệu đưa ra các ý tưởng tiếp nạp với vai trò người trợ giúp chuyên nghiệp.

Bằng thực tiễn tác nghiệp hành nghề, nhà trị liệu còn phát hiện thấy quá chừng quan trọng việc ngắt bẻ cái mô hình thân chủ mình nhìn nhận việc tham vấn như ‘talk show’, hoặc thậm chí tồi tệ hơn, nghĩ nhà trị liệu như ‘bậc thầy am tường’ để háo hức tới gặp và xin lời khuyên, giải pháp siêu tuyệt. Cho dẫu nhà trị liệu có sẵn các giải pháp song anh ta nên thoát ra khỏi các mô hình, lý thuyết và tiến trình mang tính gây sốc toàn tập để tạo nên sự thay đổi. Sự phụ thuộc của thân chủ dễ trở thành gánh nặng trong trị liệu bởi vì  tiềm năng làm sao thỏa mãn các nhu cầu của thân chủ cần được quan tâm và vai trò quan trọng của nhà trị liệu. Khi nhà trị liệu càng thích thú làm việc với thân chủ của mình một cách đúng đạo đức hành nghề, anh ta phải giúp đỡ thân chủ mình tiến dần đến sự độc lập nhiều hơn, đó là nơi mà các dịch vụ tham vấn/ trị liệu tâm lý không còn cần thiết kéo dài nữa.

J. Soi (36): Nhắm vào động cơ nội tại; làm chi đánh thó nổi, chỉ sợ đích thị mình có gì không thôi

Được địp đồng nghiệp nhờ hỗ trợ thiết kế bộ mấy chục kỹ năng mềm theo yêu cầu của thủ trưởng đơn vị, tôi nghiêm túc ướm lời về cách xử lý công việc cơ quan. Bạn có vẻ tự hào với khả năng nhanh nhạy, việc khó mấy cũng tìm ra cách xử lý ổn thỏa; bao sân nhiều món và thừa năng lực cá nhân để vừa quán xuyến được từ cái tăm, chiếc ghế và món tráng miệng giữa buổi hội thảo cho đến chuyện kịp đúng hạn nộp bài nghiên cứu khoa học cấp nọ kia.

Cống hiến thời gian và công sức tập trung nhằm thỏa mãn các nhu cầu cả về tinh thần và thể lý đem lại cho chúng ta một sức chịu đựng, độ nhẫn nại phục vụ tha nhân, cộng đồng. Cảm giác mạnh mẽ trong đam mê và mức đồng cảm ấy có thể đẩy chúng ta cho nhiều hơn những gì mình có, kết quả dẫn tới sự mệt lả hoặc kiệt sức.

Không những cần biết cách cân bằng giữa giữa sự đồng cảm vì người với sự chú ý tới việc tự chăm sóc bản thân, bất chấp việc tăng lên thông thường của lương bổng và thu nhập, thực tế không có gì thúc đẩy chúng ta tốt hơn việc có lý do bên trong, hết sức riêng tư để thực hiện điều gì đó.

Nghiên cứu lý do đăng ký vào học của tầm 11.000 học viên trường sĩ quan West Point (Hoa Kỳ) cho thấy chẳng có gì đáng ngạc nhiên “càng mãnh liệt với các lý do nội tại (trở thành một lãnh đạo ra trò) khi vào West Point thì đó là các học viên dễ tốt nghiệp và chóng được cấp bằng sĩ quan”, so với người có động cơ ngoại giới (đạt được viễn tượng nghề nghiệp ngon lành).

Điều các nhà nghiên cứu ngạc nhiên, những học viên có cả động cơ ngoại giới và nội tại thì lại thi hành công việc kém cỏi hơn so với ai chỉ có các động cơ nội tại không thôi; những người ôm đồm cả hai loại động cơ thì ít được thăng tiến và thời gian lưu lại trong quân đội sau thời gian quy định phục vụ năm năm cũng ít hơn. Kết luận rút ra là các hoạt động nên được cấu trúc sao cho các hậu quả ngoại giới, như lương cao hơn, không nên trở thành các động cơ phấn đấu của bản thân. “Giúp đỡ người ta tập trung vào ý nghĩa và ảnh hưởng của công việc họ làm, hơn là chú mục vào chẳng hạn thu nhập tài chính mang lại, có thể là cách tốt nhất để cải thiện không những chất lượng công việc mà còn tạo thành tựu cả về mặt tài chính nữa”.

Thời gian cộng tác ngắn cũng khiến tôi kịp liên tưởng tới việc khởi nghiệp. Rằng khi các người khởi nghiệp tìm kiếm nhà đầu tư, điều căn cốt là công ty nhắm vào các ý tưởng tốt nhất chứ không phải tốn thời gian hoàn thành việc bảo vệ ý tưởng hợp pháp nhằm ngăn ngừa các nhà đầu tư đánh thó ý tưởng của họ đem về. Đáng chú ý, cả nhà đầu tư lẫn các công ty mới khởi sự thường ít thích các ý tưởng điều chỉnh theo ý của thị trường, thay vào đó, tự kiểm soát phù hợp, các công ty mới gia nhập có thể bảo vệ các ý tưởng riêng có và tăng tốc kinh doanh thêm lên… Như lời trích dẫn trong bài báo “nguy cơ tiến chậm thì đáng lo ngại hơn là nguy cơ bị sao nhái ý tưởng”.

Lời cảnh tỉnh từ ngoại quốc thật thiết thực, quá chừng đúng đắn và sống động giữa thời buổi giao thời, nhiễu nhương.

Xác định hành vi bất thường và mô hình y khoa điều trị rối loạn tâm thần

Khi xem xét các yếu tố quan trọng nhất liên quan đến sức khỏe tâm thần nói chung, thường một chuyện đích thực căn bản lại rất hay bị lờ đi. Đó không phải là chuyện giảm stress, một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục, các quan hệ tốt đẹp, hoặc tuân thủ thuốc đã chỉ định.

Điều gì ư? Đó là để họ ngủ như với người lính sống sót trong vụ tai nạn chết người do rơi máy bay. Lên cơn hoảng loạn, ngất xỉu, kiệt sức và sợ hãi, nhiều người trải qua sang chấn có thể cảm thấy thân xác rã rời và suy yếu với trạng thái tinh thần bị đánh sụp nghiêm trọng.

Tại sao ta làm điều ấy trước tiên? Bởi vì ngủ là điều quan trọng nhất để phục hồi sức khỏe tinh thần. Chúng mình có thể đã lâu không ăn, uống gì song không thể không ngủ; vấn đề quan trọng này thường hay bị lờ đi, và chúng ta quen nhắm tới chế độ dinh dưỡng và tập luyện thân thể. Ngủ quan trọng, song người ta thường nỗ lực lập công đến độ quên ngủ đủ vì muốn phá vỡ các kỷ lục thế giới. Sau vài ngày, người ta khởi đầu ảo ảnh, ngôn ngữ trở nên mông lung và các giác quan dần trục trặc. Thiếu ngủ là vấn đề nghiêm trọng gây ra các nguy biến cho sức khỏe nói chung.

Dĩ nhiên, nghệ thuật và trò chơi không chỉ dành riêng cho trẻ con. Các hình vẽ, đường nét cho người ta phương thức biểu đạt những gì xảy ra với bản thân nhiều hơn là dùng thuần túy kể lể. Nền văn hóa chúng ta còn chú trọng đến giá trị của các từ cất thành tiếng cùng lắm suy tư đầy trí tuệ. Song các cảm xúc, thường biểu đạt qua nghệ thuật và trò chơi, có thể đôi khi mang quyền năng gấp hàng ngàn lần; liên quan riêng đến sang chấn, dân gian quả là sáng suốt qua ví von: “một bức tranh giá trị cả ngàn lời nói”.

… Lòng vòng chút để quay về bàn thế nào là hành vi bất thường cũng như vấn đề xác định rối loạn tâm thần.

Khi miêu tả mô hình y khoa áp dụng cho việc chẩn đoán bệnh tâm thần, thường thấy giải thích rằng bệnh tâm thần được nhìn như hành vi bất thường, và điều ấy làm nảy sinh câu hỏi: làm thế nào chúng ta quyết định một hành vi con người nào đó là ‘bất thường’ và ‘bình thường’?

Liệu chúng ta nên gọi hành vi vô đạo đức là ‘bất thường’? Nếu vậy, chúng ta sẽ áp dụng đạo đức loại gì đây? Một số nền văn hóa cho phép có nhiều vợ, một số xem như thế là vô đạo đức; một số cho phép dùng rượu bia, một số xem thế là vô đạo đức; một số ăn thịt bò, một số xem bò là vật thiêng nên việc ăn thịt bò là vô đạo đức. Phiên bản đạo đức nào đảm bảo tính chuẩn tắc đây? Liệu chúng ta nên gọi các hành vi đặc biệt là ‘bất thường’? Tôn giáo của ai đó có thể là ‘bất thường’ với niềm tin của kẻ khác.

Chúng ta nên gọi hành vi đặc biệt là ‘bất thường’? Đặc biệt, khác thường với ai? Một số nhìn việc xăm hình là bất thường, một số không; một số cho là bất thường khi nghe các tiếng nói hoặc nhìn thấy những điều không hiện diện nơi này, những người khác xem xét điều ấy như là trải nghiệm tâm linh. Các nhà tâm lý tin rằng một số tác gia sáng tạo nổi tiếng như Isaac Newton, Albert Einstein, Vincent Van Gohh, Emly Dickinson là các nhân cách có biểu hiện, kiểu dạng tâm thần phân liệt. Chuyện gì xảy ra nếu giả định là họ bị buộc phải làm người bình thường? Làm thế nào điều ấy ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của họ?

Một cách có thể xác định vấn đề các hành vi trở thành “bất thường’ và cần can thiệp tâm lý là khi thân chủ trải nghiệm hành vi đang có vấn đề, hoặc nhận ra hành vi quấy nhiễu việc thực hiện chức năng khiến họ không dấn thân đủ đầy trong đời sống, như họ xác định về chúng. 

Theo thời gian, cơ chừng cách nghĩ này vẫn còn hữu dụng. Điều quan trọng là lưu ý rằng tùy vào thân chủ để quyết định xem hành vi trở thành vấn đề, chứ không phải do ai đó khác. Chúng ta gặp người cứ khăng khăng đòi ai đó cần phải thay đổi hành vi của họ; kiểu như viết thư hỏi làm thế nào để buộc một người bạn nhất thiết dùng thuốc, rõ ràng, người này không thoải mái với hành vi và trải nghiệm của bạn mình, song thật tiếc chúng ta không nhìn thấy anh ta khó chịu với hành vi hoặc trải nghiệm của bản thân.

Có thể xác định ‘chức năng’ như này. Là người đó:

  1. ăn
  2. ngủ
  3. tương tác với người khác theo ý thích
  4. làm việc như mình thiết lập
  5. tiến hành thích đáng việc tự chăm sóc bản thân như cách họ xác định (ví dụ, vệ sinh, chăm chữa y tế)

Vậy áp dụng cách nào trong thực tế? Liệu người dưới đây là ‘bất thường’?

  1. Một người đàn ông mặc bộ đầm dài
  2. Người làm nhà sống trên cây
  3. Ai đó chọn lối sống ‘ẩn dật’

Rốt ráo, tất quay về xem họ tự đánh giá đấy có là vấn đề không; trừ hai ngoại lệ với nguyên tắc chung này là:

  1. Khi ai đó ngừng ngắt hoàn toàn chức năng đến độ đời sống của họ gặp nguy hiểm. Nếu họ không thể ăn uống, ngủ nghỉ, có xu hướng gây thương tích hoặc sức khỏe đe dọa mạng sống hoặc họ thể hiện hành vi khác đe dọa mạng sống trong một vụ can thiệp đảm bảo chất lượng song không được họ đồng thuận.
  2. Khi ai đó gây nguy hiểm cho những người khác, một vụ can thiệp đảm bảo bảo chất lượng song không được họ đồng thuận.

Tuy vậy, nếu họ không hề tự gây nguy hiểm cho bản thân hoặc cho người khác thì tôi tin, thân chủ nên là người quyết định hành vi của họ là ‘bất thường’ hay không và có ước muốn nhờ sự trợ giúp. Bạn đọc nghĩ gì, làm thế nào chúng ta quyết định thế nào ‘bình thường’ và khi nào thì hành vi trở nên ‘bất thường’?

Hệ thống vẫn tận dụng được để chẩn đoán và điều trị các ‘rối loạn’ tâm thần là mô hình y khoa. Thế nào là ‘mô hình y khoa’ và tại sao nó lại quan trọng đối với sự hiểu biết của quảng đại quần chúng?

Mô hình y khoa là một cách để nhìn nhận về các vấn đề sức khỏe tâm thần. Có thể chỉ ra những điểm khác biệt giữa mô hình y khoa và mô hình xã hội trong nhìn nhận các thiếu hụt thể lý, tinh thần hoăc cảm quan chẳng hạn.

Khái niệm ‘bất thường’ được mang khoác vào một ý nghĩa ngụy khoa học rất lớn; vốn nó dựa trên các lượng giá từ quan điểm khuyết thiếu chống kháng với sự bình thường: những gì người ta không thể làm, so với những gì ai đó có thể thực hiện được. Mô hình y khoa, tỷ dụ, nhìn người khuyết tật như kẻ có vấn đề; họ cần được thích ứng với thế giới như nó là vậy.

Nền văn hóa đặt nặng vào mô hình y khoa về sức khỏe tâm thần. Nếu chúng ta trải nghiệm khó chịu về mặt tinh thần hoặc cảm xúc căng thẳng thì rồi ta vội tìm đến bác sĩ để được cho toa uống thuốc. Làm thế nào điều này ảnh hưởng tới việc điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần?

1. Các cảm xúc được xem là ‘bất thường’ và ‘được điều trị’. Tại sao điều này lại là vấn đề? Bởi đa phần các đáp ứng cảm xúc đối với những sự kiện ở đời là bình thường.

2. Bác sĩ ‘chỉ định’ thuốc. Bệnh nhân trải qua các chuyện tác dụng phụ hoặc phàn nàn về cảm xúc của họ đang bị ‘tê đờ’ có liên quan với việc thay đổi thuốc uống. Bệnh nhân gián đoạn việc uống thuốc vì họ cảm thấy chúng không hiệu quả, hoặc gây tác dụng phụ chẳng chịu đựng thêm được nữa so với nhãn mác khuyến cáo.

3. Bệnh nhân được điều trị không như một người cộng sự hoặc đối tác bình đẳng trong mối quan hệ bác sĩ/ bệnh nhân. Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân và đưa ra các y lệnh, chỉ định. Thường thì các chẩn đoán không được thảo luận với bệnh nhân cũng như không hề mời gọi họ tham gia vào tiến trình chẩn đoán.

4. Một chẩn đoán sai lệch khỏi chuẩn mực hoặc tính bất bình thường thì cần tìm đến việc giải quyết vấn đề sức khỏe tâm thần. Phương pháp giải quyết các vấn đề sức khỏe tâm thần quá phổ biến đến độ nhiều thân chủ tin rằng họ phải được chẩn đoán thì mới giải quyết được vấn đề. Đây đích thực không phải là sự thật. Hệ thống chẩn đoán được tạo ra tuân theo mục đích nghiên cứu; về sau được các hãng dược chấp nhận như một mã hóa các ‘rối loạn’ phục vụ mục đích của họ. Một chẩn đoán không nhất thiết điều trị một vấn đề trục trặc thuộc sức khỏe tâm thần và nhiều nhà thực hành chối từ việc đưa ra chẩn đoán. Nhiều nhà lâm sàng tin là việc chẩn đoán đặt một  nhãn mác không cần thiết để bảo thân chủ rằng họ đang ‘bất thường’ bất chấp việc họ không ngừng nhận ra dù làm bất kỳ gì, thân chủ đang thể hiện một cơ chế phỏng vệ mà họ phát triển nhằm giải quyết với đời. Họ thích nhìn thân chủ như các kẻ sống sót làm bất cứ điều chi để vượt thoát được giai đoạn này. Họ nhìn nhận thân chủ là đối tượng đang đề nghị được giúp đỡ như con người hiện kiếm tìm các cách thức phát triển tốt đẹp hơn theo hướng giải quyết vấn đề, và đây là sự lựa của một con người hết sức lành mạnh.

5. Hành vi ‘bất thường’ được xác định rồi và bất kỳ điều gì khác biệt với nhãn mác này là ‘bất thường’ và đôi điều gì đó vì thế, cần được chỉnh sửa, khớp khít lại. Song ai xác định như nào là ‘bình thường’. Sự chuẩn tắc đến từ ai?

6. Lĩnh vực y khoa chịu ảnh hưởng sâu nặng bởi các hãng dược hướng tới thuốc men đầu tiên, và đôi khi, là cách điều trị duy nhất dù có nhiều cách khác tương ứng và lắm lúc tính khoa học còn đáng tin cậy hơn. Một ví dụ, nghiên cứu khẳng định nhất quán rằng tâm lý trị liệu với trầm cảm có thể nên được dùng là liệu pháp trước tiên trừ khi người đó hăng hái tự sát. Các thuốc chống trầm cảm chỉ nên dùng thêm vào khi tự thân tâm lý trị liệu không đáp ứng ổn thỏa toàn bộ hoặc bản thân người đó không chắc với chuyện họ tự sát hoặc không đảm bảo chức năng đủ để tham gia các phiên trị liệu. Tiếc là tâm lý trị liệu hiếm khi được khuyến cáo trước, và đầu tiên thường luôn là thuốc chống trầm cảm.

Điều quan trọng là cần hiểu biết cách thức mô hình y khoa tác động đến việc điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần trong đời sống văn hóa của chúng ta. Quan trọng không kém còn là việc nhận ra có các phương pháp trị liệu thay thế khác nữa. Các thân chủ nên được khuyến khích kiếm tìm các phương thức lành mạnh tác động đến cảm xúc và tâm trạng của họ bất kể đó là việc luyện tập thể lực, thiền tập, thay đổi chế độ dinh dưỡng lành mạnh hơn, ngủ nhiều hơn, giảm thiểu các tác nhân gây stress trong đời sống, chuyển đổi công việc, tham gia trị liệu tâm lý, giải quyết các bất ổn trong hệ thống gia đình, đăng ký học một lớp yoga, dành nhiều thời gian hơn cho gia đình hoặc các sở thích, biểu đạt bản thân thật sáng tạo hoặc phát triển chiều kích tâm linh,… Thân chủ nên được nhìn nhận lại sức khỏe tâm trí và việc trị liệu sức khỏe tâm thần trong chuyện chăm sóc và chữa lành bản thân theo cách riêng.

Lệ Rơi, lên thuyền ra khơi, hay quẩn quanh ven bờ: buông lơi bàn chơi về tính chuyên nghiệp đua chen cùng đặc thù truyền thông hiện đại

Có vẻ câu chuyện chàng nông dân Hưng Yên mang biệt danh Lệ Rơi sắp đến hồi kết.

Ở một góc độ nhất định, tất thảy chúng ta dù muốn hay không và/ hoặc vô tình hay hữu lý, đều hướng tới phục vụ cộng đồng xã hội theo tâm nguyện ‘mua vui cũng được một vài trống canh’. Vượt trên những đau đớn trái ngang của thân phận, chính tính mục đích trong biểu lộ mối quan tâm, chú mục hành động và cơ sở tạo thành những nhận xét, đánh giá nọ kia về một hiện tượng hoặc nhân vật nào đó chắc chắn chi phối giá trị bản thân chúng ta: rốt ráo, động cơ và dự định là gì, nhằm ý đồ chi?

Dự tính và hậu quả

Từng nghe ví von rằng ‘thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội đồ ra sao vẫn còn tương lai’ (chỉnh sửa tí cho nó vần êm dịu đặng tranh thủ hít thở thoải mái), soi chiếu vào tiêu chí căn bản vừa nêu lên ấy, sự khoe giọng phơi mặt của một con người trước bàn dân thiên hạ quả là một minh họa nghịch hợp quá chừng thương xót: ‘đã mang lấy nghiệp vào thân…”, chịu đựng và hứng khởi cùng phát tán đến độ gây cảm tưởng khó kiểm soát nổi, nổi tiếng và mỏi mệt, chi phối và phác thảo cái khung sườn phản ánh của diễn biến tâm tư lẫn tới lui chứng kiến đồng thời.

Chừng nào cứ quen nhìn ngó, xét soi nhân vật đình đám tựa ‘nạn nhân’ u mê bị dắt mũi hay kẻ quấy rối, chơi trội dị hợm nỏ hiểu gì về đời thì bất quá cũng không thể thoát khỏi tiền định sai lầm: tư duy nhị nguyên hướng tới phán đoán đúng sai, tốt xấu, người quan sát và đối tượng được quan sát, v.v…

Nên chi, đáng thành vấn đề nhất không chỉ là sự tinh tuyền của động cơ mà cũng cần để ý cả các hậu quả xảy đến nữa; thu hoạch mong muốn cũng quan trọng chẳng kém việc thiếu vắng nó. Liệu những ý định tốt lành có xứng biện hộ cho kết cục xấu tệ? Nảy sinh vấn đề phiền muộn vì đa phần chúng ta khởi sinh các dự tính ô hợp, thậm chí hơn một thứ duy nhất.

Không ai trong chúng ta hoàn hảo, song nơi chốn này đây nên luôn cần được làm tăng thêm tính thiện xảo (skillfulness) thay vì khiến giảm sút đi trạng thái tỉnh thức (mindfulness), về lý do rất chính xác tại sao chúng ta tiến hành những gì muốn làm, và các kết quả tiềm năng được thành tựu tác động, ảnh hưởng đến chính bản thân mình cũng như những người khác.

Lần nữa nhắc lại, khi tâm trí khởi sinh mọi sự, việc hiện diện hoặc mất bóng từ bi và khôn ngoan quyết định một biểu đạt hành động dẫn dắt tới Hạnh phúc xác thực hay không. Thực tế, nếu ai đó đích thị từ bi thì kẻ ấy sẽ nghĩ ngợi hết sức khôn ngoan gấp đôi trước khi đẩy đi món thứ có thể sẽ gây xáo trộn, mập mờ hoặc tàn hại tha nhân.Từ bi chỉ đích thị khi được dẫn dắt thực sự bởi khôn ngoan, vì chúng là hai điều hỗ tương qua lại.

Bật nhanh lên trong hiểu biết về dự tính, ý định của bản thân là tốt hay xấu, và chầm chầm lại việc xác quyết, tuyên bố về trải nghiệm mình kinh qua là tốt hay xấu.

Thiển nghĩ, sự thả xuống, rời xa, quên đi đích thực không gì khác hơn là xả bỏ dính mắc, ác cảm và hoang tưởng. Mức độ một người thả bỏ phụ thuộc vào tâm tính và tình huống riêng tư của chính anh/ chị ta. Song cái nên gìn giữ lại như nguyên tắc điều hướng là điều này thôi: việc đạt được tuyên bố đòi hỏi sự nhổ rễ, trừ tiệt toàn bộ sự thèm khát, và tiến bộ theo cùng trên hành trình là nỗi niềm thôi thúc ở tầm mức nhất định nào đó vượt qua sự thèm khát. Bẻ gãy tính chủ đạo, át vía của ham muốn chắc không hề dễ dàng song khó khăn không nào hề thủ tiêu sự cần thiết thực hiện. Khi khát thèm là cội nguồn của dukkha (vô vàn bất toại nguyện), tận diện nỗi khổ niềm đau ấy phụ thuộc việc tiết giảm thèm khát, và liên quan trực tiếp tới tâm trí muốn thả bỏ, rời xa…

Lúc này, khi ai đó nỗ lực cởi bỏ dính mắc, người ta bất chợt gặp phải một sự kháng cự ghê gớm ở bên trong. Tâm trí không hề muốn từ nhiệm chuyện nắm giữ các đối tượng mà nó cứ dần gắn bó thêm lên mãi. Cả quãng thời gian đằng đẵng nó quen thói tích góp, ôm ấp, và nắm chặt nên cơ chừng bất khả việc tháo gỡ các thói quen này nếu chỉ dựa vào mỗi hành động của ý chí. Người ta có thể dễ tán đồng nhu cầu cần phải từ bỏ, có thể rất muốn rời xa khỏi việc dính mắc ẩn sâu bên dưới, song khi tiếng gọi vang lên thì nghe chừng tâm trí dội ngược ngay liền và tiếp tục tiến bước trong nỗi khát khao thít chặt, ôm nắm những ham muốn, khát thèm sẵn có.

Biện pháp không nằm ở cách thế dồn nén; nỗ lực dẫn dắt ham muốn thoát ra với một tâm trí ắp đầy sợ hãi và kinh tởm. Cách tiếp cận này không những chẳng giải quyết được vấn đề mà còn đẩy nó chìm sâu, khuất lấp khỏi bề mặt trông thấy và vẫn phát triển âm thầm. Công cụ phóng thích tâm trí khỏi ham muốn là trạng thái hiểu biết. Sự xả bỏ, buông xuống đích thị không phải là vấn đề tự thuyết phục chính mình để từ bỏ các thứ hãy còn được ấp ủ, hoài nhớ trong lòng, mà là đổi thay viễn tượng về chúng (nhận ra chúng vô thường và không thật) đến độ chúng không còn ràng buộc ta được nữa. Khi hiểu biết bản chất của các ham muốn và thèm khát, khi điều nghiên thật sát gần nó với sự chú tâm nghiêm túc thì các ham muốn và khát thèm sẽ tự thân rơi rụng, biến mất mà không nhất thiết đòi hỏi phải đấu tranh, gạt bỏ.

… Câu chuyện của Lệ Rơi tựa các dự tính, ý định thu hút sự chú ý khác như vụ chụp ảnh khoe thân là câu chuyện của chính chúng ta, bởi vì hoàn cảnh đang chẳng ngừng chung đụng mọi thứ.

Cơn cớ chi chúng ta thù ghét nhau?

(sẽ viết tiếp các phần khác khi tiện dịp)

Bác sĩ ơi, giá mà…: chút liên tưởng đến việc thực hành dựa trên bằng chứng

Gạo nếp lứt rang vị café

Đang nghĩ tới nó ít nhiều thì bắt gặp đúng ngay bài báo cung cấp dưỡng chất cho suy tư cất cánh thêm chút.

Theo 2 lãnh đạo khoa Nội tim mạch, sáng 26.6, khi bệnh nhân Trang khó thở, bác sĩ đã tiêm cho bệnh nhân này liều thuốc lợi tiểu và đến gần trưa thì bệnh nhân này tử vong. “Tiêm thuốc lợi tiểu nhằm giúp bệnh nhân đi tiểu được để làm cho gan nhỏ lại. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của bệnh nhân là do phù phổi cấp, chứ không phải do sốc thuốc như phản ánh của người nhà” – bà Yến nói.

Cũng theo bà Yến và ông Đông, sở dĩ trước đó bác sĩ Thị nói với người nhà bệnh nhân Trang rằng bệnh nhân này sắp được xuất viện là vì “nhiều khi không nói thật với người nhà được”. Bà Yến và ông Đông nói đây là “nghệ thuật của bác sĩ”, nhằm để “bệnh nhân có mất thì mất ở nhà chứ không mất ở bệnh viện”.

Lãnh đạo của khoa Nội tim mạch cũng cho biết, người nhà của bệnh nhân Trang trước đó đã đề nghị bác sĩ mổ thay van tim cho bệnh nhân này. Bệnh viện cũng đã xét mổ cho bệnh nhân nhưng chưa thực hiện được do bệnh nhân phải được điều trị đến khi hết suy tim rồi mới mổ được.

Cụm từ tôi quan tâm là “nhiều khi không nói thật với người nhà được“, chuyện ấy thuộc “nghệ thuật của bác sĩ“.

Bên dưới mỗi nỗi niềm sinh tử đều luôn ẩn chứa nguyên do xa gần đi kèm câu chuyện cụ thể. Dẫu thực hư ra sao chưa rõ, song có vẻ lương năng dễ mách bảo người hành nghề trợ giúp cứu người về lời thề tác nghiệp, rằng họ không nên hứa hẹn điều không thể hoặc sẽ khó giữ lời trọn vẹn được. Điều này thậm chí có thể áp vào mọi bác sĩ, rằng chỉ nói về sự kiện đúng như nó là; bác sĩ cần cảm thông, sẻ chia song bác sĩ cũng cần sự thật và thông tin để tạo nên các lựa chọn đúng đắn. Đánh giá cao tinh thần lạc quan lẫn phẩm chất thân thiện bằng hữu, song chung cuộc, nó cho chúng ta hy vọng giả tạo dễ dẫn mình vượt quá xa niềm đau nỗi khổ cả về mặt thể lý và tâm thần cho chính bệnh nhân cũng như người thân, gia đình.

Tôi thoáng nhớ lại vài ba lễ hội Macchabée tri ân những người hiến xác mình từng được tham dự từ thập niên trước, gắn với kỷ niệm tìm hiểu nhà xác thuộc đại học Y Huế.

Một điều cũng liên quan sát sườn là việc nhận bản cam kết, tán đồng với cách điều trị và cho phép tiến hành phẫu thuật. Bao nhiêu bác sĩ dành thời gian giải thích thấu đáo cách điều trị có thể tác động cụ thể tới đời sống bệnh nhân bằng một thứ ngôn ngữ dễ hiểu; dành thời gian cho suy tư, trù tính và sẵn sàng trả lời các câu hỏi một cách nghiêm cẩn và tuyệt không định kiến.

Bác sĩ ơi, giá mà… Ngay cả quan niệm hiện tồn rằng y khoa là nghệ thuật hơn là khoa học thì nếu bác sĩ muốn bệnh nhân giữ một vai trò chủ động hơn trong công tác chăm sóc y tế, cách có thể làm là giải thích tại sao mình đang tiến hành những điều này. Bác sĩ khá dễ giả định tính chuyên môn sâu hiếm hoi vì mình biết hơn ai hết. Song không phải ta luôn biết nhiều hơn. Tỉnh giác, dõi theo mỗi ngày mình là ai và những gì mình thuộc về, đi kèm với thái độ cảm thông giữ chức năng phương tiện và cứu cánh của nghề nghiệp.

… Các góp ý và mong đợi như thế tất chạm tới nền y khoa dựa vào bằng chứng (evidence- based medicine). EBM dùng các thống kê; đại khái, các thống kê này là những tỷ lệ thành công cũng như mức tin cậy có thể đặt vào các tỷ lệ thành công này, nhiều lợi lạc so với giả dược (placebo), v.v… Đối lập với chuyện dựa vào ký ức của bác sĩ “mình từng làm điều này trước đây và dường như nó ổn”, hoặc tồi hơn, “người ta nói điều này được việc”.

EBM khá tường minh, song nhìn lại, không dễ dàng để thực hiện. Cơ thể con người, các lối hỏng hóc của nó, và những mối tương tác của nó với y khoa hiển nhiên là quá chừng phức tạp. Tiêu chuẩn vàng của bằng chứng có thể sẽ là kiểu “Chúng ta thấy thật chính xác các triệu chứng này, và chỉ các triệu chứng này, nhiều lần, và khả năng kiểm soát cực kỳ nghiêm ngặt người nhận điều trị, bao khắp vượt khỏi các khả năng riêng biệt khác”. Điều này khó khăn thực hành hơn so với nắm bắt lý thuyết; có nhiều khó khăn khác nảy sinh nữa. Một bác sĩ giàu kinh nghiệm sẽ gặp vô số tình huống mà không tìm thấy bằng chứng sát hợp, và bằng chứng tương tự gần sát nhất lại có thể dẫn dắt khác biệt rất sai lầm.

EBM thật tuyệt khi nó tỏ ra hiệu quả, tác động lớn lao làm giảm thiểu các kiểu dạng định kiến mà bác sĩ thể hiện trong công việc: trí nhớ chọn lọc, niềm tin sai lạc, đào tạo không sát đúng, v.v… Các bác sĩ tốt ngày nay hay dùng EBM và thải loại ra các bước tiến hành chỉ dựa mỗi trên giai thoại; khi bất khả, họ vẫn còn có sự tự đánh giá tốt nhất bởi vì trong trường hợp người ta đang đau đớn thì đòi hỏi mọi giá bác sĩ cần hành động.

… Lời cuối. Chút liên tưởng đến việc giới thiệu sơ khởi khái niệm áp dụng thực hành dựa trên bằng chứng trong lĩnh vực tham vấn/ tâm lý trị liệu.

Khởi từ y khoa, việc thực hành dựa trên bằng chứng (evidence- based practice) lan sang các ngành nghề trợ giúp khác như tâm lý học và công tác xã hội.

Các lý do để lựa chọn EBP bao gồm đạo đức, luật pháp, lâm sàng, giáo dục, và kinh tế đi kèm với ba triết lý khoa học là thực chứng (positivism, niềm tin thuộc một thực tế tâm trí- độc lập), cấu trúc luận (constructivism, niềm tin trong nhiều cách thức thấu biết khác biệt mà giá trị ở cả nghiên cứu định tính và định lượng) và chủ nghĩa hiện thực phê phán (critical realism, phù hợp hơn cho tiến trình mang tính tiến hóa của EBP).

Thế nào là một người thực hành EBP? Đặt để lợi lạc của thân chủ lên trên hết, người làm EBP chấp nhận một tiến trình học hỏi suốt đời bao gồm việc nêu không ngừng các câu hỏi chuyên biệt liên quan đến tầm quan trọng thực tiễn trực tiếp hướng tới thân chủ, kiếm tìm một cách khách quan và thật hiệu quả cho bằng chứng hiện tại tốt nhất liên quan với từng vấn đề, và hành động phù hợp dưới sự dẫn dắt của bằng chứng.

Theo cấu tạo, có 5 giai đoạn căn bản trên tiến trình thực hiện EBP.

  1. Tạo ra các vấn đề có thể trả lời được
  2. Truy tìm bằng chứng
  3. Xác định bằng chứng
  4. Thích ứng và áp dụng bằng chứng
  5. Lượng giá các kết quả.

“Ilo Ilo”: vài điều ngồ ngộ mai mỉa trong một bộ phim

Hồ Tây, ngày mơ hồ lên tay...
Hồ Tây, ngày mơ hồ lên tay…

Ilo Ilo” được xem là phim tiếng Hoa hay nhất của năm 2013.

Những vết xước gắng sức chịu đựng trong việc giữ gìn một gia đình nhỏ để vẫn sống cùng nhau được; là chuyện thêm một người bước vào căn hộ có thể khiến động năng của nó bộc lộ ở cả hai mặt tốt lên và xấu đi. Dưới đây là 7 điều ngồ ngộ nhận thấy qua các tương tác giữa họ.

1. Không còn tình yêu để duy trì gia đình, cả ông bố và bà mẹ của cậu bé cố gồng mình bám lấy công việc; tức điều ấy ngầm nghĩa họ giảm sút chất lượng thời gian dành cho con. Trách nhiệm mỉa mai thay, dẫn đến thiếu vắng tư cách làm cha mẹ, kéo theo hụt hẫng mối quan hệ bố mẹ và con cái. Trạng thái thiếu hụt này chưa được kiểm tra.

2. Do tình yêu đã hết dần cạn kiệt, bố mẹ thuê giúp việc trông nom cậu bé. Trạng thái bỏ bê vai trò làm cha mẹ càng rõ ràng hơn với sự quan tâm của người giúp việc dành cho cậu bé; hậu quả, bà mẹ ghen tuông song chính bản thân mình lại không nhận ra rõ ràng. Ông bố quá buồn phiền với công việc nên không hề hiểu nguyên nhân của sự ghen tuông. Trạng thái ghen tuông chưa được kiểm tra.

3. Người giúp việc trở thành bà mẹ thay thế, trong khi đứa bé là cậu con trai khác của người giúp việc. Hiện diện cả tình yêu thương lẫn sự thù ghét trong cách mà đứa bé gây khó cho người giúp việc để rồi về sau cậu ta cũng hiểu đó còn là sự quan tâm nữa. Người giúp việc cũng pha trộn ghét bỏ và nhu cầu chăm sóc cho cậu bé. Các cảm xúc trái ngược, mâu thuẫn ấy chưa được kiểm tra.

4. Cả bà mẹ và người giúp việc thấy được sự thiết yếu cần kiếm nhiều tiền hơn, đó là lý do tại sao họ để “người xa lạ” chăm sóc con trai còn nhỏ của mình. Bà mẹ đi làm và để con trai ở nhà cho người giúp việc chăm sóc bất đắc dĩ, trong khi người giúp việc sang nước ngoài  lao động và để con trai cho chị gái không sẵn lòng chăm sóc. Trạng thái trớ trêu này chưa được kiểm tra.

Hầu như cũng chưa được ngó ngàng tới, có ba mối quan hệ kỳ cục dính tới động vật trong bộ phim này.

a) Gia đình kéo vào KFC gà rán ăn uống no nê để tổ chức tiệc sinh nhật cậu bé trong khi ông bố tặng quà cho cục cưng của mình bằng hộp có mấy chú gà con liếp chiếp. Dẫu cho hành động ấy nhằm đền bù vì đã vất xuống đường con gà điện tử của cậu con thì đấy là ví dụ vui chăng cho cách thức nhiều người chúng ta tự mâu thuẫn trong ứng xử mà thậm chí chẳng hề để ý tới. Trạng thái bất hòa về mặt nhận thức này chưa được kiểm tra.

b) Cậu bé rất chú ý chăm bẵm đàn gà con cho đến khi chúng lớn phổng phao; lúc ấy, cậu ta lại không chút chần chừ đề nghị người giúp việc thịt một con để làm mâm cỗ cúng cho ông nội đã qua đời, với niềm tin mong cầu ông mình sẽ phù hộ cho cậu ta trúng vé xổ số (kết cục trật lất). Nhìn vào cách cậu chàng trẻ con ngả giá và đặt điều kiện khi thể hiện tình yêu thương với động vật, cũng như nỗi khấp khởi đầu tư ‘hy vọng’ cho sự đổi thay và phát đạt của cả hai mẹ con quả ít nhiều cám cảnh. Trạng thái niềm tin sai lạc này chưa được kiểm tra.

c) Nếu cậu bé đích thực thương yêu đàn gà, chắc chắn nó sẽ không để cho ai làm hại chúng, nói gì đến việc đề xuất giết thịt. Liệu một khi muốn thịt gà, cậu bé có nên tự tay mình thực hiện? Sự thật, giống nhiều kẻ ăn thịt, nó không hề giết động vật dù thích ăn thịt chúng, đặc biệt các con vật trông đáng yêu. Trạng thái đối xử bất công, thiên vị này chưa được kiểm tra.

Dĩ nhiên, bộ phim ‘Ilo Ilo’ minh họa lắm thứ phức tạp bằng vô số cảnh quay thú vị hơn thế, song thức nhận ra những điều ngồ ngộ, mỉa mai vậy để càng suy ngẫm với thực tế đời sống chứa mang vô vàn sắc thái vi tế khác nữa.

Từ chống kháng tới cuồng loạn: vết nứt rạn căn bản

Cách nhau chỉ vài phút ngồi đợi ở bến xe bus trên phố Huỳnh Thúc Kháng, tôi đã thấy hai cảnh tượng phản ánh cùng một  xu hướng hoang đàng, nhập nhằng chung riêng; chứng tỏ người sống trong thành phố chưa chắc đã hình thành được phẩm chất căn bản của thị dân: tôn trọng luật pháp, tuân thủ quy định ứng xử nơi công cộng.

Một chiếc ô tô trờ tới trước mặt, dừng ngay giữa tim đường, cửa xe mở ra để một cậu thanh niên chạy từ trong vỉa hè bước vào… Xe máy xịch lại đúng khu vực dành cho xe bus đón đỗ khách, một vị đàn ông trung niên béo tốt nhảy xuống vẫy tay chào nhau vui vẻ và hồn nhiên băng qua bến xe bus phía đối diện.

Chứng kiến sự kiện này sau khi tham dự buổi trao đổi với khách mời về chủ đề thanh niên với công tác chống tham nhũng, dĩ nhiên không thể không nhắc tới minh bạch và liêm chính.  Gần 200 sinh viên của Học viện, đa phần theo đuổi chuyên ngành Công tác Thanh niên nói chuyện riêng rổn rảng, chẳng thấy các nét mặt chăm chú lắng nghe hay tập trung cao độ cho vấn đề quốc nạn, hoặc cất lên vài ba câu hỏi thể hiện tư duy hết sức sâu sắc, đầy tràn tinh thần trách nhiệm của người lãnh tụ tương lai dẫn dắt phong trào “thanh niên anh dũng tiến lên”.

Chiều nay, tin nhắn từ tổng đài 1080 của VNPT gửi vào mobile cá nhân của người dân nội dung trích trong công điện Thủ tướng chính phủ về đảm bảo an ninh trật tự (nguyên trọn điểm 2, song có thay đổi trật tự câu.)

2. Tuyên truyền vận động nhân dân không có những hành động vi phạm pháp luật, không nghe theo kẻ xấu, cùng nhau giữ gìn an ninh trật tự, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống và góp phần cùng cả nước bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc theo đúng luật pháp của nước ta và luật pháp quốc tế.

Như thế là chính phủ có phản ứng chính thức một cách công khai với tầm mức rộng rãi nhất khắp toàn quốc liên quan đến vụ việc chống kháng dẫn đến cuồng loạn ở Bình Dương, Vũng Áng (và có thể vài ba nơi khác trên đất nước). Lịch sử chắc chắn khi ghi nhận giai đoạn này không những thêm đậm dấu chỉ truyền thống của sự thù hận, ghét bỏ bè lũ bành trướng Trung Hoa mà còn khó phủi sạch nổi nghịch lý đấu đá nội bộ xen lẫn nỗi niềm rúng động khi lòng dân ly tán, bất an được đính kèm trêu ngươi hòa cùng tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc.

Đúng vậy, nếu việc chống kháng, bất đồng là điều tự nhiên trong xã hội dân sự thì cuồng loạn, bạo động khó được thế giới văn minh thừa nhận như quyền. Và từ dự tính chống kháng ban đầu thông qua biểu tình lại dẫn đến cuồng loạn hậu họa dây dưa thì câu chuyện đã mang bản chất hoàn toàn khác hẳn: vết nứt rạn căn bản ở đây là người ta không còn e sợ, ngần ngại nhà chức trách, giới cầm quyền nữa.

Dù động cơ tham gia là vui vẻ, hùa vào đám đông đặng tranh thủ cướp bóc, hôi của, đập phá thì khó mà chấp nhận quyền cuồng loạn, bạo động; tương tự, cũng khá ngây thơ và lý tưởng lắm lắm khi xem xét các điều kiện nhằm thỏa mãn một định đề tâm lý phổ quát: không có công lý, không có hòa bình.

Thực tế, bạo động và cuồng loạn không bao giờ xảy ra ở các quốc gia mang danh đàn áp nhất; những kẻ chuyên quyền khủng khiếp hầu như chưa từng phải lo lắng việc bạo động và cuồng loạn. Việc này không bao giờ xảy ra ở các nước mà người dân dè chừng chính quyền, và tại nơi mà sự bất công bộc lộ gay gắt nhất; bạo động và cuồng loạn cơ chừng dễ xảy đến ở nơi mà người dân KHÔNG còn sợ hãi chính quyền nữa và tại nơi mà sự bất công được cho là khá nhẹ nhàng, chịu đựng được.

Xin mời đọc thêm lúc rảnh rỗi, thư giãn: 1, 2, 3.

@ Cập nhật, 9h41 ngày 16.5.2014: Tôi đã đọc phần 1 trước khi gõ xuống bài này, giờ đưa vào như tài liệu tham khảo do mới biết phần 2.

Nhân một cơ hội hợp tác và chia sẻ kiến thức chuyên ngành

Không phải lần đầu được mời gọi trả lời phỏng vấn báo chí (mạng, giấy, truyền hình, radio, v.v…) song trải nghiệm tí chút với vụ trao đổi rồi văn bản cuối cùng lên khuôn thế này khiến tôi vẫn muốn nghĩ ngợi đôi chút.

Trước hết, cần nói ngay để tránh hiểu nhầm rằng dạng chủ đề bài báo quan tâm cũng như thực tế làm việc với bạn phóng viên liên quan hoàn toàn không cần bàn thêm gì, bởi sự ổn thỏa của thủ tục giao tiếp và mục tiêu hướng tới quá đơn giản. Đích thực, đây chỉ là cái cớ gợi hứng nhìn ra, nói rõ hơn về đôi điều bấy lâu quan sát từ góc độ hành nghề tác nghiệp cá nhân mà thôi.

Thay vì đặt câu hỏi chẳng tệ lắm rằng làm sao truyền thông kiến thức cùng hiểu biết chuyên ngành cho thật hiệu quả, đạt chất lượng tốt nhất với quảng đại quần chúng; băn khoăn thiết thân hơn e chừng nên là: bằng cách nào chúng ta có thể tạo ra nền tảng căn bản cho các cuộc trao đổi sắc sảo, thông minh nằm bên ngoài nhóm hội chuyên môn?

Theo thói quen và thông lệ, thường chúng ta theo sát rốt ráo các thông điệp muốn chuyển tải khi ai đó muốn lắng nghe điều mình thích trình bày. Giới thiệu nghiên cứu với đồng nghiệp tại một hội thảo; giảng giải với sinh viên về các lý thuyết tâm lý; thách thức hơn hẳn, trao đổi trực tuyến, như với một phóng viên muốn biết ý kiến chẳng hạn. Dĩ nhiên, ngay một cuộc hội thảo đa ngành thôi đã thừa sức làm thay đổi thông điệp cực kỳ kịch tính. Tương tự, chúng ta thích nghi cách truyền thông phù hợp mức độ kiến thức hay tính chuyên gia của lượng khán giả này đặng điều chỉnh nó với những ai không phải nhà khoa học, điều mà giới nghiên cứu nhận thức xã hội gọi là “thuận theo khán giả”.

Thực tế, vượt trên điều chúng ta nghĩ mình có thể, sự vụ truyền thông nan giải và phức tạp hơn rất nhiều. Tiếp cận cởi mở việc chia sẻ kiến thức sở hữu chắc chắn nên được đặt định nghiêm túc, bài bản đi kèm chặt chẽ với suy tư tìm cách khởi sự khả thể việc trộn lẫn bản thân với các diễn trình xã hội khác nhau.

Rõ ràng, giới truyền thông luôn khao khát tiếp cận được với các nguồn cung cấp tin đáng tin cậy. Mình có hay dùng các dịch vụ của phóng viên? Kết quả ra sao? Có tốt lành? Cơ hội một người viết, nhà báo, phóng viên nào đó sử dụng ta như một nguồn sẽ tăng lên nếu mình biết đáp ứng đúng cách. Ví dụ ư? Đi thẳng vào vấn đề và đưa ra cụ thể điều họ muốn (nếu họ cần hai chiêu mẹo hay nhất, gửi ngay, thay vì bảo sẽ trả lời bằng thư điện tử hoặc đàm thoại sau); chuẩn bị sẵn một tóm tắt tiểu sử khoa học ngắn gọn và chuyên biệt; đáp ứng ngay lập tức và sớm nhất có thể (ai cũng bận rộn nên cố gắng là người đầu tiên đáp ứng).

Nhiều điều thu lượm được thật thú vị khi làm việc với giới truyền thông đại chúng. Và dĩ nhiên, vài ba điều nhà báo có thể học hỏi từ khoa học gia, tỷ dụ, kể chuyện có thể dễ gây sự mơ hồ trong việc hiểu biết khoa học nên đảm bảo chắc chắn rằng câu chuyện mình kể được hậu thuẫn thực nghiệm vững vàng. Đơn giản hóa các phát hiện khoa học có thể gây nguy hại, do đó, đừng e ngại nghi ngờ gấp đôi và kiểm tra các sự kiện đặng đảm bảo các ẩn dụ mình dùng là đúng đắn, chính xác; và nếu được, xin đừng quên mình đang tóm tắt vài đoạn, chút dòng ngắn gọn công việc của một người mà bản thân họ đầu tư tốn bao năm mới thành tựu.

Với các nhà khoa học thì truyền thông ngành mình làm việc càng tốt cho nghề nghiệp đang theo đuổi; lĩnh vực chuyên sâu và xã hội nằm trong tính tổng thể. Khởi sự dùng các nguồn lực truyền thông bày tỏ các thiết chế chuyên môn để đưa ra một vài hướng dẫn và lời khuyên nhủ, rồi gắng thoát khỏi; bởi tất cả mọi người cần được hưởng lợi từ nó. Các khoa học gia có thể và sẽ lắm khi không được thấu hiểu đúng đắn, nên dĩ nhiên, phóng viên hoặc nhà báo có quyền lờ tịt đi chuyện đó trừ khi bạn nghĩ rằng nhà khoa học ấy còn đang gìn giữ điều gì đó đáng giá.