Tếu táo và vu vơ ăn theo tí tẹo khi mưa to gió lớn não nề về xu hướng giáo dục

Việc từ bỏ thói quen đọc báo, xem TV và theo dõi tin tức thời sự hàng ngày có cái lợi nhãn tiền là chính mình tiếp tục tự khẳng định niềm tin (riêng với bản thân thôi) chắc như định đóng cột rằng mục tiêu không đạt được bằng tốc độ.

Bất chợt gặp phải đây đó nghiến răng bàn về xu hướng giáo dục là thêm một lần giật thột phát hiện thấy rất nhiều người có tham gia vào dự án mãi vẫn chưa chịu kết thúc này. Mọi nỗ lực, về mặt lý thuyết, đều đáng tưởng thưởng. Tất cả chúng ta gánh lấy trách nhiệm trong sự phát triển nghề nghiệp (dân gian truyền tụng câu cửa miệng ‘tập trung vào chuyên môn nào’), vì thế, hãy cùng nhau cống hiến cho ý tưởng rằng khoa học giáo dục sẽ trở thành chủ để nổi bật đủ đem lại lợi lạc ở hết thảy bậc học và cho mọi lứa tuổi.

Điều cần nghiêm túc lần nữa, việc định dạng các nhấn mạnh và xác lập các mối quan tâm trong chính sách và thực thi giáo dục chắc chắn sẽ khác biệt, tỷ dụ, một số thuộc phương pháp luận, số khác nằm ở triết lý, số khác nữa là chuyện tổ chức; tương tự, không giống nhau ở tông giọng: một số cần ghi chú khẩn cấp, một số khác đòi hỏi kế hoạch dài hơi,…

Đêm hôm gió máy nên nhớ đại khái là xu hướng giáo dục chi chi có thể hiểu về mặt thao tác theo chương trình đào tạo thể hiện khả năng thích nghi với cuộc sống, tổ chức hướng dẫn bằng các vấn đề nảy sinh trong cộng đồng, tăng cường trách nhiệm của học sinh cho việc lập kế hoạch trải nghiệm giữa đời, cố gắng nhắm vào sự hiểu biết những phương thức mà trẻ đang học hỏi, phải liên quan tới các phương pháp tư duy…

Nên thẳng thắn vận dụng đúng điệu xứ Quảng ‘nói phải củ cải cũng phải nghe’ đặng mong rằng sẽ là nhiệm vụ tuyệt vọng trong nỗi niềm ước ao định hình *tất cả* các xu hướng giáo dục đương thời, tuyệt vọng và chắc chắn vô ích nữa, vì một số sẽ được khai thác cạn kiệt và các xu hướng mới mẻ sẽ phát triển trước khi bất cứ điều gì có thể được thực hiện về các xu hướng đã xác lập này.

Thiển nghĩ, vì giời vừa ngưng đổ mưa và tiếng động cơ máy bay đáp xuống phi trường thành phố ồn ào quá, nên tạm thời chốt lại là cần phải làm gì đó về các xu hướng; định hình chỉ vì lợi ích của việc định hình chung quy đâu có được chi, ngoài chuyện chúng mình bận rộn quay mòng mòng suốt ngày.

Nỗi niềm âu lo khôn ngoan

Lo lắng, ngại sợ bị phiền nhiễu có thể được hiểu trong bối cảnh thật hết sức tự nhiên. Tất thảy thông qua làn da, chúng ta thấm thía từ thông điệp chuyển gửi của hệ thống thần kinh báo cho biết điều gì đó không ổn.

Nếu bất kỳ phần nào trong cơ thể chúng ta quá nóng, quá lạnh, bị va chạm mạnh hoặc châm chích ghê gớm thì chúng ta sẽ tri nhận như sự đau đớn. Cơn đau không thuần túy là thông tin trừu tượng; phụ thuộc vào độ căng thẳng, nó túm bắt sự chú ý của chúng ta. Không thích thú cơn đau, hầu hết thời gian chúng ta làm bất cứ điều gì khả thể đặng giải thoát khỏi cơn đau càng nhanh càng tốt và điều ấy hầu luôn luôn là câu trả lời đúng đắn, chí ít nhằm tránh bị gây hại.

Song có những trạng thái mà cơn đau không thể hiện chức năng như dự tính, nó kéo dài lâu hơn lúc vết thương đã lành, hoặc khi khó làm thuyên giảm, êm dịu đi được. Các trạng thái đau đớn trường diễn kiểu thế đòi hỏi một đáp ứng cách khác, vì giờ đây tín hiệu gây hại là lầm lạc rồi.

Quan ngại và âu lo có thể rất giống với con đau thể lý. Ở tầm mức nhất định, con người ta có thể cảm nhận không chỉ những gì đang xảy ra trong hiện tại mà còn có thể cảm nhận cả cơn đau tương lai, nhờ khả năng tưởng tượng, dự đoán và cân nhắc hậu quả…

Lo lắng giúp chúng ta bớt nhẹ nguy cơ tương lai, tựa cơn đau khiến mình tránh bị thương thêm nữa. Và, giống cơn đau thể lý, lo lắng cũng gây ác cảm. Chúng ta không thích điều kinh hãi của sự bất hạnh cơ chừng sắp đổ ụp xuống; chúng ta muốn rời xa không chỉ tương lai kinh hoàng mà cả khoảnh khắc hiện tại gây nỗi niềm u ám. Lo lắng còn bỏ lơ mục đích, và quấy rầy chúng ta về các sự kiện sắp đến là bất khả hoặc không thể thuyên giảm được, giống như cách cơn đau mãn tính khiến chúng ta nghĩ rằng chẳng lợi lạc gì.

… Đôi khi, mọi chuyện chỉ cần một từ, một ý nghĩ, hoặc một cảm giác là đủ bao vây tâm trí và nhúng chúng ta vào một trải nghiệm, như thể mình đang xem bộ phim kinh dị bằng công nghệ 3D sắc nét, sống động vậy. Thưc tế, nếu lượng giá các âu lo cùng các tiêu chuẩn như đánh giá phim ảnh, chúng ta sẽ dần nhận ra chúng là thứ phim khủng khiếp chẳng đáng xem. Nếu các nỗi lo âu của chúng ta là các bộ phim, mình sẽ rời khỏi chúng trước khi cảnh đầu tiên kết thúc, bởi vì chúng đầy vẻ mờ ám và lặp đi lặp lại kinh hoàng, vô vàn bất hạnh đâu đâu, các vai chính vớ vẩn, và kịch bản nhiều lỗ thủng.

Trong những cơn đau dữ dội của nỗi âu lo, cần dành nỗ lực đích thực để tách biệt huyễn tưởng với thực tế. Tin tốt là chẳng mấy chốc, mình nhận ra ngay rằng nỗi niềm âu lo là phim tồi tệ, và mình lựa chọn ‘bước ra’; thậm chí hay hơn, mình hiểu bản thân không chỉ là khán giả ngồi xem các thứ phẩm mà mình cũng là tác giả kịch bản và đạo diễn. Điện ảnh hiện đại, như ở phương Tây, tạo cho khán giả cảm nhận rằng các anh hùng trong phim có thể chịu đựng khốn khổ xong rồi sẽ được minh oan, giải thoát vào đoạn kết; kỳ lạ nhất, phim ảnh trong đầu chúng ta thường chạy theo hướng các câu chuyện cổ tích Grimm nguyên bản mà chỉ tồn tại tí xíu hoặc chẳng hề có chút tẹo hy vọng nào trong đó. Trầm cảm và lo âu làm mên một đội ngũ khủng khiếp, khi trầm cảm gắng bảo ta kém cỏi hoặc không có khả năng đối phó trong khi lo âu gieo ném mình vào toàn các hoàn cảnh tưởng tượng thảm khốc; chúng cướp đoạt hy vọng của ta về tương lai.

Tại sao mình không cập nhật các kịch bản tinh thần theo các tiêu chí hiện đại? Khi lo âu chỉ là một bộ phim do mình đang tạo tác, tại sao không để bản thân tự đóng vai người hùng đang gặp thời cơ thuận lợi. Thực tế, khi xu hướng mình thường xuyên hạ thấp năng lực bản thân, tại sao không làm cho mình cao hơn và mạnh mẽ hơn so với thực tế? Cứ để mặc sự vụ thế đi, thay vì khiến chúng lớn lao hơn thì chỉ cần để chúng như thực tế là… Biết mình có các tiếp điểm tốt và xấu trong đời, và cho phép chúng tô vẽ trí tưởng tượng. Cuối cùng, để bản thân có cái kết tốt đẹp, và khi mình tái chế lại các bộ phim tinh thần theo cách ấy, nhận ra rằng lo âu chuyển sang đúng vai trò của nó là hệ thống khuyến cáo và lập kế hoạch giúp mình thoát khỏi rắc rối trước khi nó bộc lộ ra.

Thay hình chuyển dạng, biến hóa nỗi niềm lo âu vớ vẩn thành kế hoạch hữu ích là cách hiệu quả giúp vượt qua lo lắng. Cách khác là sống nhiều hơn với thế giới ngoài kia chứ không phải bận tâm cái trong đầu, cho phép phần còn lại trong ngày giành lấy nhiều mối quan hệ khác, sau khi chỉ định một khoảng thời gian nào đó là ‘thời gian lo âu.

Lựa chọn việc tập trụng, chú ý vào hiện tại là nơi chốn mình có thể gây tác động tích cực, khiến lo âu giảm đi tác dụng trong thế giới nội tâm. Đừng nên để nỗi lo âu vật chất hóa, và nếu mình bận rộn trong lúc đợi chờ vì đoán biết trước xui rủi, bất hạnh sẽ ập đến thì mình cũng không buộc phải, nhất thiết cần trải qua đớn đau, khổ sở ở đời.

Quan sát trong thiền tập

Ai từng trải qua khóa thiền Vipassana gần 12 ngày thảy đều có thể cảm nhận rõ ràng về vai trò của quan sát khi được đề nghị thực hành theo dõi: hơi thở vào ra bên trong khoang mũi, dùng tâm trí quét dọc ngang thân thể từ trên đỉnh đầu xuống dưới chân rồi vòng lại, chú ý tới khoảng tam giác bé xíu ngay dưới cánh mũi, v.v…

So sánh các kỹ thuật Phật giáo của việc quan sát (Vipassana) chúng ta có thể phân biệt cách tiếp cận khác nhau tạo nên nhiều điều đáng để suy ngẫm.

Đầu tiên, xác lập tự thân việc quan sát chỉ là ‘quan sát những gì hiện là’ trong giả định mọi thứ diễn bày trung tính. Các truyền thống khác nhau định rõ đây đơn giản là việc ‘nhìn vào những gì đang xảy đến’ mà không can thiệp, dính líu tới.

Để mặc khoảnh khắc mà độ tập trung có thể xảy đến hoặc không đạt tới được, trường phái tư duy đặc thù một cách truyền thống này tin rằng điều đó đủ cho việc “quan sát hết sức tỉnh thức”. Với họ, sự đói khát thường tương đương với nỗi thèm muốn, ước ao hoặc ghét bỏ trong các cảm xúc.

Cách tiếp cận thứ hai kế thừa mọi điều vừa nêu, tuy thế họ yêu cầu phương thức quan sát đầu tiên xét kỹ một điểm tinh tế và quan trọng: nếu chúng ta nhất trí, đối tượng quan sát của chúng ta là danh- sắc-và- hình- tướng cũng như ý thức và rằng chúng ràng buộc nhau bởi một dạng thức nọ kia sâu xa của trạng thái khát thèm, hơn là hàm ý mỗi một khoảnh khắc khi chúng ta trải nghiệm có ý thức khoảnh khắc của ‘tôi đang quan sát nơi đây’ và ‘có đối tượng được tôi quan sát’ thì chúng ta đã níu bám rồi. Chúng ta từng tán đồng bằng dạng thức nọ kia rằng cái bị/ được quan sát là của mình hoặc thuộc về chúng ta, tức là chúng ta đang đặt một quan hệ với nó. Do đó, chúng thách thức ta giá mà ‘chỉ để tự mình quan sát’ thì đã tóm lấy cái đầu con rắn chứ không phải hầu hết thời gian thiền tập trải nghiệm việc núm bắt đuôi hoặc thân con rắn. Vậy, dẫn tới việc thiền tập sẽ bao gồm hầu hết thời gian nắm bắt các suy tư, cảm xúc, tri giác, v.v… và không đủ tiêu chuẩn cho những gì Đức Phật biểu thị là ‘chú ý sắp sửa dẫn tới cội nguồn’ của trải nghiệm. Các trường phái Phật giáo truyền bá rộng rãi tuệ giác này thường hay giới thiệu một kỹ thuật chú ý để dừng tâm trí lập tức ngay khi bất kỳ nào khởi lên như “vô thường”, “đau đớn”, “trống rỗng”, v.v… Các nhãn mác này quen được dùng đặng miêu tả ngắn gọn là việc gọi tên tự thân trong dạng thức căn bản nhất của sự chú ý, nhằm dừng chẳng bao lâu sau khi tiến trình phát sinh mỗi một ấn tượng cảm giác được tâm trí ghi nhận. Ở đây, thiền giả cố gắng nắm bắt trải nghiệm cảm giác đang phơi lộ của con rắn sát gần đầu nó khả dĩ. Tiến trình này thoạt trông rất giống cách mô tả bên trên, song rốt cuộc ẩn bên dưới nó, tiến sát gần hơn tới một dãy chân trời- sự kiện trải nghiệm sinh khởi. Cách tiếp cận thế tạo công cụ thiết yếu để “khôn ngoan nhìn thấy khởi lên và biến mất” về thế giới (lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà không hề thỏa hiệp. Một thỏa hiệp hàm ý để mặc tâm trí phơi tỏ trong một mối quan hệ với đối tượng mà kết cục người ta sẽ tri nhận tự thân sự đang quan sát: bắt chụp rõ ràng trong tính hai mặt, đối ngẫu.

Dù cách tiếp cận thứ ba cũng kế thừa mọi thứ đã trình bày, song nó lại không cho phép bất kỳ ‘lời bào chữa’ nào do không lưu tâm, ghi nhận tới. Nói khác, trong khi cách tiếp cận/ trường phái thiền tập thứ hai vẫn làm dúm dó và biện hộ một sự thay đổi dự tính sẵn trong quan sát thiền tập, cách tiếp cận thứ ba này khẳng định rằng một khi chúng ta bước vào mô thức quan sát như thế thì thể nào ngay bây giờ điều chi hẳn là đều được quan sát một cách nhị nguyên, mang tính đối ngẫu. Tỷ dụ, trong khi một số tuệ giác của thiền sư theo cách tiếp cận thứ hai hợp pháp hóa rằng một thiền sinh có thể ‘thay đổi đối tượng thiền tập nếu một đối tượng thứ phát trở nên hay gặp’, cách tiếp cận thứ ba quả quyết không nên có điều tựa thế. Nếu chúng ta dấn thân vào bất kỳ điều quan sát nào nhằm cố thấy ra những gì đang hiện diện đúng với căn cốt của nó thì ngay cả một ước muốn/ dự tính chuyển đổi các đối tượng cũng nên được ghi nhận. Tiếp tục và ước thay đổi đối tượng thiền tập thì thực tế tựa như một cách tiếp cận dính mắc mà kết cục hàm ý ôm nắm và bám níu vào đối tượng quan sát. Một khi khởi sự thiền tập, tự thân việc ghi nhận cũng nên trở thành một đối tượng của ý thức! Đích thị khó khăn để lại ngừng ngay cả việc thiền tập này song như tất cả chúng ta đều biết, ham muốn và luân hồi sẽ rốt cục là cứu cánh khi đồng nhất hóa nỗi đớn đau với thân xác này trở nên ngập tràn quá độ và thiền giả cứ để mặc nó vậy rồi tự định hình bản thân lần nữa.

… Tóm lại, dù ba cách tiếp cận trên có vẻ như mới được nhìn nhận từ viễn tượng mang tính lý thuyết thì tất cả chúng đều muốn trợ giúp thiền giả buông phóng khỏi cái tình gắn bó sâu xa với việc nhìn, nghe, ngửi, nếm… suy tư.

Ngoài ra, nếu tìm hiểu cặn kẽ thì biết là đã có sẵn các hướng dẫn chi tiết. Xin ghi nhận sự kiện rằng bất kỳ điều chi (không có ngoại lệ) đều phải được ghi nhận, và thứ hai cách một cái nhãn ngắn gọn cơ chừng được áp dụng ở đây nhằm ngừng tâm trí nhanh nhất có thể ngay khi vừa quan sát thấy ‘đang bị dính vào’ hoặc là ‘thành phần’ của câu chuyện.

Chí ít, có ba mô thức thực hành đáng lưu tâm kỹ càng. Trước tiên, vốn đang lan rộng phổ quát ở các điểm tu tập thiền định tại phương Tây là chuyện nhấn mạnh khía cạnh tâm lý của các nhóm ôm nắm hoặc các bầu khí cảm giác được thay thế bằng một diễn giải đậm tính triết lý quá. Thứ hai, đặc trưng bởi việc không ngừng gây trở ngại cho tiến trình ghi nhận vì sự lợi lạc của ‘kỹ thuật’ mà khá buồn cười, có vẻ gây ra hạn chế cho chính sự triệt để của khoảnh khắc đó. Thứ ba, áp dụng việc ghi nhận tất cả bao quanh mà không loại trừ bất kỳ điều gì.

Tri ân sự nỗ lực chú ý dõi theo bài viết của độc giả và chúc quý vị may mắn với việc quan sát kỹ lưỡng, thấu triệt.

Lợi lạc của công tác tiếp thị trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần

Sự thật khá kỳ cục, các rào cản lớn nhất để làm cho việc marketing trở nên thiếu hữu hiệu đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần tư nhân thực tế lại không dính dáng nhiều đến tự thân chuyện tiếp thị, hoặc chẳng liên quan bao nhiêu với việc cạnh tranh cả.

 Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, trở ngại lớn nhất e chừng khởi đi bởi các viễn tượng nảy sinh bên trong lòng cá nhân người hành nghề, do các giả định và thành kiến sẵn có của họ. Chí ít phảng phất hai chuyện:
  • các vấn đề thực tế, liên quan đến chuyện thật ở đời
  • các vấn đề triết lý, liên quan đến chuyện gì được cho là ‘đúng đắn’

Các vấn đề thực tế thì dễ làm rõ bởi vì chúng phụ thuộc vào cách cuộc đời vốn đích thị như nào. Các vấn đề triết lý thì thú vị hơn và phụ thuộc vào quan điểm cá nhân người ta, nghề nghiệp và đời sống của chính họ.

Một ví dụ cho vấn đề thực tế là không ít người tin rằng (đúng hoặc sai) là cơ quan, văn phòng, trung tâm chuyên nghiệp đáng kính của họ cấm bất kỳ hoạt động marketing hoặc quảng cáo nào. Không thực sự có cuộc tranh luận gì với loại vấn đề này. Đó thuần là chuyện kiểm nghiệm để biết thật, giả ra sao: chính xác thì chính sách của các đơn vị là gì? Ngay cả thế, nếu mình tin mình bị ngăn cấm không được làm điều gì đó thì bản thân sẽ ít thích thú tiến hành gì vụ đó.

Ví dụ không hoàn toàn là vấn đề đơn giản song vẫn khá sát hợp với sự tinh tế có tính triết học hoặc dính dáng tới tầm nhìn cá nhân ở đời: một số người cho rằng marketing là tương tự với quảng cáo. Nếu nghĩ vậy thì cũng hay vì chứng tỏ công ty của mình tốt. Thực tế không khó đoán, nhiều tài liệu bìa ngoài là về marketing song trong ruột đầy tràn các lời khuyên về quảng cáo. Kỳ thực, quảng cáo chỉ là một phần của marketing, phần rất đặc biệt về các cách thức truyền đi một thông điệp marketing cụ thể, thường nhắm tới khách hàng tiềm năng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Bắt chước kiểu nói của dân marketing, đó là phần từ trong ra ngoài (inside-out), tức lan truyền thông tin, hơn là phần từ ngoài vào trong (outside-in), tức lắng nghe và nắm bắt nhu cầu khách hàng rồi thích ứng để thỏa mãn họ. Ở đây, lần nữa, nếu mình vốn tin rằng marketing và quảng cáo là như nhau, mình biết (tỷ dụ thế) là mình không thích quảng cáo thì rồi mình có thể không nhất thiết được khuyên can đừng làm bất kỳ hoạt động marketing nào (!)

Từ mối quan hệ giữa các vấn đề thực tế và marketing vừa nêu, nảy sinh các câu hỏi về marketing. Hấp dẫn hơn nhiều so với hai ví dụ chán ngán bên trên, là vấn đề làm cách nào mà mình, như một cá nhân hành nghề, nhìn nhận marketing và vị trí của nó trong tập hợp các suy tư lẫn cảm xúc về công việc, về thân chủ, về đời sống rộng lớn hơn bên ngoài công việc chuyên môn, và về vai trò của bản thân trong sự chuyển đổi thương mại gồm thời gian và công sức bỏ ra để thu lại tiền bạc, lời lãi. Các vấn đề này đa phần phát sinh từ quan điểm của mình về bản thân và về chuyện đâu là con đường, cách thức đúng đắn hơn là thuộc vấn đề của thế giới thực tế thường nhật.

Khi lọ mọ tìm hiểu vấn đề marketing trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, tôi nhận thấy đó chính là câu chuyện phản ánh vị thế độc sáng của người làm chuyên môn.

Rất thường, các vấn đề ấy gợi cả lố lo lắng khó chịu, bất định, lảng tránh, đôi lúc còn là ước muốn ‘tuyên bố quan điểm’ dứt khoát của bản thân về chiều kích thế này, thế khác… Song bất luận phản ứng ra sao, thậm chí chỉ cần khởi sự cân nhắc các vấn đề đã nêu là đã tạo nên một sự bắt đầu quan trọng hướng tới việc hiểu biết tốt hơn cách nhìn nhận thực tế không thể chối bỏ liên quan đến nghề nghiệp chuyên môn của bản thân.

Nhờ phản ánh quan điểm cá nhân về marketing và một số khái niệm liên quan cận kề mà mình có thể dần nhận ra các sức mạnh tiềm tàng trong marketing, điểm yếu chết người, và một số lĩnh vực hoặc mối quan tâm mình muốn lờ đi. Và quan trọng nhất, mình có thể vượt qua bất kỳ rào cản ngăn trở không cần thiết để marketing thành công, những rào cản có thể dựa trên điều mình không thực sự nghĩ một cách cụ thể trước đây hoặc chỉ đơn giản là do thiếu thông tin mà thôi.

Bởi việc tiếp tục kiên trì khám phá, nghi vấn, kiểm nghiệm, thử giả định, và phản ánh mà tôi tin mình có thể dần hiểu biết tốt hơn lên về người bạn đồng minh tốt nhất trong công việc marketing.

Cả thực tế lẫn lý thuyết đều chứng tỏ rằng nắm bắt cơ bản về marketing sẽ giúp mình khớp nối với những người khác (thân chủ tiềm năng, người sử dụng lao động, v.v…) về những giá trị nào mà dịch vụ của mình đem lại cho họ, và cả việc hiểu biết điều gì đó thuộc cảnh quan cạnh tranh bên trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần đặc thù mà mình thao tác.

Như thế, lợi lạc đầu tiên nhờ hiểu biết cơ bản marketing là sẽ giúp mình tiến hành hòa hợp với các nhóm khác nhau, cả khách hàng tiềm năng hoặc các nhà quản lý, ông bà chủ cơ quan, đơn vị liên quan: tại sao họ nên quan tâm, dù bé tí thôi, những gì mình có thể làm được cho họ.

Vi tế hơn chút, căn bản marketing sẽ giúp mình kết nối với các nhóm người đánh giá cao dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu của họ. Rốt ráo, không có hiểu biết về giá trị mình sẽ cung cấp, tại sao một thân chủ hoặc người quản lý nào đó phải sử dụng dịch vụ của bên mình?

Để khớp nối thông điệp giá trị này đòi hỏi:

  • hiểu biết các nhu cầu của người khác thực sự là gì,
  • cần thiết thích ứng đến độ mình có thể thỏa mãn các nhu cầu đó, và
  • giao lưu, truyền thông từ viễn tượng của họ để giá trị trong dịch vụ của mình làm sao thỏa mãn các nhu cầu họ mong muốn.

Thưc tế thì không phải vấn đề truyền thông và hiểu biết là câu chuyện dễ dàng tinh thông đối với những ai hành nghề dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần? Tuy có thể đúng thế thật, song tin xấu là không nhiều người hành nghề giỏi giang việc áp dụng trực tiếp các kỹ năng họ sở đắc trong chuyên môn vào nhiệm vụ marketing.

Rõ ràng dễ thấy là nhờ áp dụng các kỹ năng nhằm chuyển tải thông điệp giá trị trong công việc đang theo đuổi, mình sẽ sửa soạn tốt hơn để:

  • bước vào hành nghề tư nhân,
  • có nhiều thân chủ hơn trong công việc đang làm, hoặc
  • kết thúc các nghiên cứu rồi tìm ra phân khúc thị trường phù hợp với chuyên môn.

Lợi lạc thứ hai nhờ hiểu biết căn bản marketing là nó sẽ giúp mình hiểu biết bối cảnh cạnh tranh bên trong lĩnh vực chuyên ngành mình theo đuổi rồi định vị bản thân hoặc công việc phù hợp bối cảnh đó. Đây là chiến lược thị trường, nó suy cho cùng là áp dụng hiểu biết marketing cơ bản để nâng cao và hướng đích ‘giá trị đề nghị’ của bản thân, ví dụ, khớp nối giá trị mình cung cấp, đối với một lượng khách hàng lĩnh hội được và sẵn sàng chi trả cho giá trị mình cung cấp.

Về một sự nghiện ngập mềm dịu

Thường nhắc đến sự nghiện ngập, đa phần chúng ta nghĩ về các chất như cocaine, heroin, và bia rượu. Những thứ này là loại nghiện ngập chắc cứng. Song quá nhiều người không hề cho rằng các hành vi mềm dịu mang tính nghiện ngập có thể tạo nên vô vàn rắc rối cũng như gây ra nhiều phiền nhiễu khiến chúng ta mất đi bản tính cao quý.

Các loại nghiện ngập mềm dịu có thể là hành vi như lướt mạng, chơi game, xem TV, đọc sách, mua sắm, làm việc bất kể ngày đêm, phàn nàn, buôn dưa, trì hoãn lần lữa, và nhiều thứ khác mà chúng ta hay thực hiện quá mức.

Tất cả chúng ta lao mình vào các dạng nghiện ngập mềm dịu với sắc thái, tầng mức khác nhau, thậm chí một số chúng là tích cực; một số thứ là lớn lao song mặt khác nếu tiến hành trong trạng thái cưỡng bức, cực đoan thì có thể tàn phá chúng ta.

Lực thúc đẩy đằng sau mọi nghiện ngập, kể cả nghiện ngập mềm dịu, là sự truy cầu để tê liệt, lờ đi, vượt thoát, hoặc đè nén các suy tư lẫn cảm xúc khó chịu. Rồi chúng ta dùng các hoạt động này một cách xung hấn, lặp đi lặp lại không ngừng để khiến chính mình bị xao nhãng hoặc lảng tránh các cảm xúc, suy tư vô thức/ ý thức. Điều này có thể mang lại một cảm nhận phấn khích, gây phóng thích chất endorphin, và tạo ra một sự sự trốn thoát tạm thời nỗi đau đớn trong lòng.

Song ở tầm mức nhất định, hành vi như thế làm đời sống càng khó khăn hơn, tạo nên kháng cự và chi phối, phá hủy và thỏa hiệp với nhiều khía cạnh khác nhau trong đời; bao gồm công việc, các mối quan hệ, và trạng thái thân- tâm an lạc, cũng như các hoạt động khác và một cuộc sống xác quyết đầy niềm vui, hoan lạc. Chúng ta trả giá cho các dạng nghiện ngập bằng tiền bạc và thời gian, làm chết điếng đời sống nội tâm, và khóa tắt luôn ý thức của bản thân. Đặc biệt, đáng chú ý không kém, các hành vi nghiện ngập kéo chúng ta ra khỏi việc sống hoàn mãn, tràn đầy như nó vốn có.

Điều hữu ích nhất mình có thể tiến hành khi đang đương đầu với bất kỳ loại nghiện ngập nào là thấu biết đời sống nội tâm chính mình: nhận ra và sống cùng với các suy tư, cảm xúc của bản thân. Với một số người, đấy có thể là chuyện khá khủng khiếp, đe dọa họ khi thoáng nhìn mù mờ về đời sống nội tâm bí ẩn cùng với mớ rối rắm của các suy tư, ý nghĩ hỗn độn.

Để thấu hiểu sâu sắc các cảm xúc lẫn suy tư ẩn bên dưới đã dẫn dắt hành vi nghiện ngập, cần định hình và làm việc không ngừng nghỉ với thói quen lập trình cá nhân đang níu giữ, giam hãm mình; được thế, chắc chắn sẽ tạo nên một bước tiến bộ vượt bậc.

Có rất nhiều nguồn lực trợ giúp chúng ta trên tiến trình. Huấn luyện, hướng đạo, tâm lý trị liệu, các chương trình 12 bước, thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation), chữa lành năng lượng, và các loại sách tự trợ (self-help books)…

Ngu ngơ đi tìm bằng chứng cho Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner

Cùng với phong trào nhà nhà, người người hướng về Tây phương đặng mong cầu chỉ bày và vươn tới chuẩn mực, quá nhiều các phương pháp lẫn cách tiếp cận trên đủ các mặt trận, lĩnh vực được giới thiệu, quảng bá, chào bán,… Giờ các bậc phụ huynh hết lòng hết sức vì tương lai con em chắc hiếm ai chưa từng một lần nghe nói tới nhiều kiểu dạng trí thông minh ở bé.

Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner (Multiple intelligences, MI) khuyến cáo thiên hạ cải thiện không ngừng việc học hỏi: chúng ta biết một số người học hỏi thông qua tiến hành công việc, số khác lại nhờ chuyện đọc sách. v.v… Do vậy, tin rằng người đời có nhiều kiểu thông minh khác nhau, rằng những thông minh của họ như thế thật độc sáng, và rất nên đồng thuận cùng hiện tượng có nhiều phương cách học tập ở trên giảng đường và lớp học.

Nếu giờ tiếp cận vấn đề từ việc tìm kiếm bằng chứng xác thực, liệu có chăng các dạng kiểu thông minh khác nhau như MI mà Gardner xiển dương?

Lý thuyết MI lần đầu tiên được Gardner trình bày năm 1983 trong cuốn sách Frames of Mind, dù về sau thì MI trải qua nhiều chỉnh sửa, thay đổi. Ngay từ 1983, Gardner đưa ra sự tồn tại của 7 loại trí thông minh:

1. Ngôn ngữ (linguistic). 2. Âm nhạc (musical). 3. Logic- toán (logical-mathematical). 4. Không gian (spatial). 5. Cơ thể- vận động (bodily-kinesthetic). 6. Cảm nhận nội tâm (intrapersonal sense of self). 7. Lên nhân cách (interpersonal)

Trong cuốn Intelligence Reframed xuất bản sau đó 16 năm, tác giả Garner thêm một dạng khác là ‘trí thông minh tự nhiên’ (naturalistic intelligence) nhằm trỏ sự thấu cảm đối với các ngoại vật tự nhiên, và ông còn gợi ý một dạng khác: ‘trí thông minh hiện sinh’ (existential intelligence), được xem là khả năng ngập chìm tính tâm linh trong tác phẩm nghệ thuật.

Với phiên bản gần nhất năm 2004, Gardner đề nghị thêm hai dạng nữa là ‘trí thông minh rọi sáng tâm trí’ (mental searchlight intelligence) và “trí thông minh laser (laser intelligence). Gardner tuyên bố, mỗi loại trí thông minh chứa đựng nhiều tiểu dạng thông minh, và mỗi loại thông minh được kiểm soát bởi các vùng não bộ khác nhau, và ông cho biết các khoa học gia Thần kinh “đang trên tiến trình hướng đích về bản chất của các thao tác căn bản trong mỗi dạng trí thông minh“.

Lý thuyết MI của Gardner thu hút sự chú ý của giới chuyên môn, và cơ chừng MI thiếu vắng bằng chứng xác thực. Theo tổng thuật được Waterhouse thực hiện năm 2006, không thấy nêu một nghiên cứu nào hỗ trợ cho độ hiệu lực của MI; Gardner đã cố gắng đáp trả các chỉ trích này từ 2004 như sau:

Lý thuyết MI được ít người say mê trong số các nhà đo nghiệm tâm lý hoăc những đối tượng dựa trên nền tảng tâm lý học khác là bởi vì họ yêu cầu: “đo nghiệm tâm lý hoặc bằng chứng thực nghiệm phải cho phép người ta chứng tỏ sự hiện hữu của nhiều trí thông minh khác nhau”.

Ngay từ 2004, tác giả Chen (được Waterhouse dẫn trong tổng thuật nêu trên) lại thử bênh vực cho sự kiện MI thiếu sự hỗ trợ của thực nghiệm thông qua lời tuyên bố:

“Một lý thuyết tất yếu có giá trị bởi vì nó được hỗ trợ bởi các kết quả của các test thực nghiệm” và “trí thông minh không phải thứ hữu hình để mà có thể đo lường được”.

Đi sâu hơn, tác giả Chen đã chỉ ra 5 điểm gây tranh cãi cụ thể với lý thuyết MI:

  1. MI không có đủ các bằng chứng thực nghiệm thiết yếu
  2. Trí thông minh không phải là đối tượng hữu hình, có thể sờ mó được
  3. MI là các cấu trúc mới đòi hỏi các công cụ đo lường mới
  4. Lý thuyết MI xác định độ hiệu lực của nó thông qua các ứng dụng tại lớp học
  5. Lý thuyết MI mô tả sơ lược kỹ năng nhận thức tốt hơn so với các tiểu thang đo IQ.

Nói tóm, theo cách lập luận của Chen thì có vẻ không có điểm nào  làm cho nhu cầu xác nhận lý thuyết MI là ít cần thiết cả. Dường như MI duy trì nó “đích thị là một lý thuyết” không thể công nhận là có giá trị được (validated), trừ khi các thành phần của lý thuyết được định vị, thiết lập rõ ràng. Khi Gardner tuyên bố rằng ông sẽ không định rõ các thành phần đó, lý thuyết MI khó nghiêng theo hướng đạt độ hiệu lực mong muốn.

Tác giả Chen (2004) cho rằng dẫu lý thuyết MI đạt độ hiệu lực thông qua việc ứng dụng nó, tuy thế, điều ấy không đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu với dữ liệu có cơ sở chắc chắn, vì dạng thức ứng dụng kiểu vậy không cung cấp dữ liệu đáng tin cậy. Sau rốt, không có nghiên cứu nào chứng thực rằng năng lực nhận thức được MI mô tả sơ lược tốt hơn khi dùng các tiểu thang đo IQ cả.

J. Soi (36): Nhắm vào động cơ nội tại; làm chi đánh thó nổi, chỉ sợ đích thị mình có gì không thôi

Được địp đồng nghiệp nhờ hỗ trợ thiết kế bộ mấy chục kỹ năng mềm theo yêu cầu của thủ trưởng đơn vị, tôi nghiêm túc ướm lời về cách xử lý công việc cơ quan. Bạn có vẻ tự hào với khả năng nhanh nhạy, việc khó mấy cũng tìm ra cách xử lý ổn thỏa; bao sân nhiều món và thừa năng lực cá nhân để vừa quán xuyến được từ cái tăm, chiếc ghế và món tráng miệng giữa buổi hội thảo cho đến chuyện kịp đúng hạn nộp bài nghiên cứu khoa học cấp nọ kia.

Cống hiến thời gian và công sức tập trung nhằm thỏa mãn các nhu cầu cả về tinh thần và thể lý đem lại cho chúng ta một sức chịu đựng, độ nhẫn nại phục vụ tha nhân, cộng đồng. Cảm giác mạnh mẽ trong đam mê và mức đồng cảm ấy có thể đẩy chúng ta cho nhiều hơn những gì mình có, kết quả dẫn tới sự mệt lả hoặc kiệt sức.

Không những cần biết cách cân bằng giữa giữa sự đồng cảm vì người với sự chú ý tới việc tự chăm sóc bản thân, bất chấp việc tăng lên thông thường của lương bổng và thu nhập, thực tế không có gì thúc đẩy chúng ta tốt hơn việc có lý do bên trong, hết sức riêng tư để thực hiện điều gì đó.

Nghiên cứu lý do đăng ký vào học của tầm 11.000 học viên trường sĩ quan West Point (Hoa Kỳ) cho thấy chẳng có gì đáng ngạc nhiên “càng mãnh liệt với các lý do nội tại (trở thành một lãnh đạo ra trò) khi vào West Point thì đó là các học viên dễ tốt nghiệp và chóng được cấp bằng sĩ quan”, so với người có động cơ ngoại giới (đạt được viễn tượng nghề nghiệp ngon lành).

Điều các nhà nghiên cứu ngạc nhiên, những học viên có cả động cơ ngoại giới và nội tại thì lại thi hành công việc kém cỏi hơn so với ai chỉ có các động cơ nội tại không thôi; những người ôm đồm cả hai loại động cơ thì ít được thăng tiến và thời gian lưu lại trong quân đội sau thời gian quy định phục vụ năm năm cũng ít hơn. Kết luận rút ra là các hoạt động nên được cấu trúc sao cho các hậu quả ngoại giới, như lương cao hơn, không nên trở thành các động cơ phấn đấu của bản thân. “Giúp đỡ người ta tập trung vào ý nghĩa và ảnh hưởng của công việc họ làm, hơn là chú mục vào chẳng hạn thu nhập tài chính mang lại, có thể là cách tốt nhất để cải thiện không những chất lượng công việc mà còn tạo thành tựu cả về mặt tài chính nữa”.

Thời gian cộng tác ngắn cũng khiến tôi kịp liên tưởng tới việc khởi nghiệp. Rằng khi các người khởi nghiệp tìm kiếm nhà đầu tư, điều căn cốt là công ty nhắm vào các ý tưởng tốt nhất chứ không phải tốn thời gian hoàn thành việc bảo vệ ý tưởng hợp pháp nhằm ngăn ngừa các nhà đầu tư đánh thó ý tưởng của họ đem về. Đáng chú ý, cả nhà đầu tư lẫn các công ty mới khởi sự thường ít thích các ý tưởng điều chỉnh theo ý của thị trường, thay vào đó, tự kiểm soát phù hợp, các công ty mới gia nhập có thể bảo vệ các ý tưởng riêng có và tăng tốc kinh doanh thêm lên… Như lời trích dẫn trong bài báo “nguy cơ tiến chậm thì đáng lo ngại hơn là nguy cơ bị sao nhái ý tưởng”.

Lời cảnh tỉnh từ ngoại quốc thật thiết thực, quá chừng đúng đắn và sống động giữa thời buổi giao thời, nhiễu nhương.

Huấn luyện viên và nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu: vài khác biệt cơ bản

Vài năm trở lại đây, hướng đạo đời sống và các huấn luyện viên (coaches) mở rộng vị thế trong các ngành nghề liên quan đến chức trách trợ giúp. Tuy thế, ranh giới giữa những gì là một huấn luyện và gì là một nhà tham vấn và trị liệu tâm lý (counselors/ therapists) vẫn thiếu vắng xác định nghiêm túc, từ cả phía khách hàng lẫn bên cung cấp dịch vụ. Tôi nghĩ tới việc chỉ ra vài khác biệt cơ bản giữa huấn luyện viên và nhà trị liệu tâm lý do nhận được đề nghị bình luận với các thông tin liên quan (1, 2).

Ngoài điểm khác biệt nền tảng thuộc giáo dục (bằng cấp, kéo theo đòi hỏi các tiêu chí đào tạo chuyên biệt, tính chuyên nghiệp và đạo đức hành nghề) thì có một vấn đề rất cốt lõi cả huấn luyện viên lẫn nhà tham vấn tâm lý dễ dàng tán đồng ngay: huấn luyện viên không ngụ ý điều trị các rối loạn tâm thần; ranh giới này thường đặt để rõ ràng trước phiên làm việc đầu tiên.

Với tỷ lệ không hề nhỏ dân số có thể sẽ được chẩn đoán mắc một dạng kiểu rối loạn tâm thần nào đó thì cơ hội một người phát triển trạng thái rối nhiễu còn lâu mới là điều vớ vẩn. Và khi một rối loạn nổi trội, điều cuối cùng thân chủ muốn thường là thay đổi người cung cấp dịch vụ. Một huấn luyện viên nghiêm túc có thể chuyển gửi thân chủ, song họ không phải là chuyên gia trong nhận diện và chẩn đoán rối loạn tâm thần do đó, vẫn tiềm tàng nguy cơ bỏ sót các dấu hiệu, triệu chứng… Thực tế, hiếm khi nghe thấy việc chuyển gửi thân chủ sang trị liệu tâm lý do đó, biết hay không, các huấn luyện viên đang làm việc với rối loạn tâm thần.

Đặt sang bên các sự kiện khách quan về huấn luyện viên và nhà tâm lý trị liệu, cả hai nhóm này có văn hóa và niềm tin khác hẳn nhau. Hơn thế, huấn luyện viên thường phân biệt họ với nhà tâm lý trị liệu về các vấn đề này, và điều ấy hết sức đúng đắn. Tuy vậy, một số điểm khác biệt thường nghe lại đặc trưng hóa sai lầm tiến trình trị liệu, và vì thế thật hoan hỉ để nói về nhà trị liệu tâm lý với tư cách một nhà trị liệu tâm lý.

Thường nghe rằng các nhà trị liệu tâm lý bảo thân chủ điều nên làm trong khi huấn luyện viên giúp thân chủ phát hiện những gì họ muốn thành tựu. Ngay cả khi huấn luyện viên tuyên bố đúng đắn họ đề cao các mục tiêu của thân chủ thì đấy là sự thật tương tự với nhà trị liệu tâm lý: được huấn luyện cách đặt để các mục tiêu với thân chủ; nhận ra rằng các mục tiêu do thân chủ chọn lựa là dạng mang tính động cơ nhất và vì thế, thuận ý họ.

Các huấn luyện viên gắng định vị bản thân như người biện hộ và bênh vực cho các thân chủ khao khát thành công rực rỡ còn các nhà trị liệu tâm lý nhắm vào các rối loạn và trục trặc liên quan sức khỏe tâm thần. Trong khi các nhà trị liệu tâm lý chắc chắn thành thạo để làm việc với người mắc rối nhiễu tâm lý theo cách thức mà huấn luyện viên không đáp ứng được thì nhà trị liệu tâm lý như một nguyên tắc, không hề hạn chế bản thân chỉ trong phạm vi điều trị rối loạn tâm thần; kỳ thực, nhiều thân chủ khao khát thành công rực rỡ sử dụng tham vấn/ trị liệu tâm lý như một nguồn dậm nhảy đặng vươn tới các mức độ hiệu năng lớn hơn và phát triển cảm xúc dồi dào.

Tiến trình trị liệu tâm lý đôi khi hay được đặc trưng hóa là thuộc dài hạn, đau đớn và nhắm vào quá khứ, đối lập với việc huấn luyện thường nhanh chóng và nhắm vào các thành tựu tích cực của tương lai. Có rất nhiều dạng thức trị liệu tâm lý đòi hỏi dài hạn và nhắm vào quá khứ mà rõ nhất là các cách tiếp cận tâm động (psychodynamic psychotherapy) truyền thống; dẫu vậy, các nhà trị liệu tâm lý đa phần không thực hành dạng thức trị liệu này và xu hướng trị liệu tâm lý tiến về các cách tiếp cận cho các thay đổi nhanh chóng trong các hành vi tiến bộ. Trị liệu ngắn hạn nhắm vào giải pháp (SFBT) thông dụng nhất thuộc các cách tiếp cận nhanh lẹ, hướng về phía trước vừa nêu.

Cả huấn luyện viên và trị liệu tâm lý đều là các nghề nghiệp tiến triển. Hy vọng ranh giới các vấn đề giữa trị liệu tâm lý và huấn luyện sẽ sớm được chuyển đối theo thời gian. Huấn luyện viên và nhà trị liệu tâm lý nợ chính thân chủ của mình sự xác định thật chính xác và đúng đắn cách tiếp cận và phạm vi thực hành.

Nhân đây, cũng cần biết rằng, với bất kỳ ai đang gặp phiền nhiễu ghê gớm và với ai đó tin rằng vấn đề trục trặc của họ có thể do nguyên nhân thuộc cơ thể, sinh lý thì khuyến cáo đơn giản quan trọng nhất là đến nhờ một bác sĩ tư vấn trước đã.

Mức độ hiểu biết y khoa và tâm thần học mà các nhà tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể nắm giữ, tinh thông trong công việc thì khác biệt khá lớn giữa các cá nhân và giữa các quốc gia, và dĩ nhiên, ngay tại Việt Nam, vẫn có các nhà tham vấn hoặc trị liệu tâm lý hiểu biết ít ỏi kiến thức y khoa, tâm thần thậm chí, không hay biết chút gì.

Nên chi, một nhà trị liệu thuần thục sẽ khuyến cáo thân chủ tìm đến một vị bác si nếu anh/ chị ta nghi ngờ vấn đề rối nhiễu của thân chủ có thể do nguyên nhân thực thể, thậm chí, rất có khả năng ngay cả với các dự tính thiện lành, anh/ chị ta đã không phát hiện được các triệu chứng, nên lần nữa, nếu bạn nghi ngại bất kỳ trục trặc nào thì cách tốt nhất đảm bảo an toàn là sự lặp lại đáng giá: đến nhờ một bác sĩ tư vấn trước đã.

Nhờ một bác sĩ tư vấn cũng là bước đầu tiên quen thuộc của nhiều người khi tìm kiếm một nhà trị liệu tâm lý. Không ít cơ sở y tế liên kết, tổ hợp trong hệ thống các dạng thức dịch vụ tư vấn/ trị liệu tâm lý nọ kia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cũng sẽ ít hơn hoặc không có lựa chọn với các định hướng lý thuyết thuộc tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể được tiếp cận dễ dàng thông qua mạng lưới tham chiếu thuộc ngành y tế…

… Câu cửa miệng hay nghe là “thực hành tạo nên sự hoàn hảo”; thậm chí, có thể đẩy lên thành ‘thực hành không tạo nên sự hoàn hảo, chỉ có thực hành hoàn hảo mới tạo nên sự hoàn hảo’. Song, những gì tạo nên sự hoàn hảo và làm thế nào để mình hoàn hảo việc thực hành thì đó là chủ đề để dành cho một bài viết khác.

Chỉ với 5 phút thôi mỗi ngày

Với quá nhiều điều trong đời– công việc, gia đình, yếu nhân khác, làm cha làm mẹ, và đủ thứ vai trò nọ kia tùm lum nữa– thật có thể khó khăn vô cùng để chiết xuất, tách ra chút thời gian đặng thiền tập hay xả stress.

Dẫu nghĩ gì và biện hộ tinh vi, tài tình đến mấy đi nữa, thường hầu hết mọi người dễ tìm được cho mình 5 phút. Bé con đang ngủ, và bạn có triệu việc phải hoàn thành, song vẫn có thể có được đúng 5 phút thôi. Trẻ con chạy nhảy long nhong quanh phòng, hàng ngàn chi tiết phải quan tâm, song nếu dừng lao tới đặng dành cho bản thân 5 phút thôi thì cuộc đời dễ chừng được cảm nhận rất khác. Đang chúi đầu chúi mũi vào công việc ở công sở bởi cả đống dự án phải hoàn thành, song mình có thể khép đóng cửa ngõ văn phòng hoặc tạm nghỉ giải lao trong 5 phút…

Hầu hết chúng ta hiểu rằng 5 phút không phải những gì đề nghị nhằm thay đổi đích thực các mẫu hình kéo dài bấy lâu thuộc cảm xúc hay tinh thần, song đấy là khởi đầu và có thể là cách thức từ nay làm chuyển biến hệ thần kinh rồi thay đổi não bộ.

Trong 5 phút ấy, mình có thể lựa chọn để ngồi thật lặng lẽ, hít thở và ở cùng chính bản thân mình, sống với cuộc đời nội tại, với các suy tư và cảm xúc, và thậm chí thảo rất nhanh mấy dòng nhật ký.

Thực sự, chúng ta có nhiều, nhiều nhiều những lần 5 phút trong đời; tỷ dụ, đứng xếp hàng mua vé xem phim, đợi thanh toán ở siêu thị, ngồi ở bến xe bus để chuyển tuyến, hoặc khi đang tắc đường. Rốt ráo mình muốn có khả năng nhận ra nơi chốn yên tĩnh trong lòng, bất chấp đủ lộn xộn vây quanh. Ồn ào là phần đời chung đụng. Ngay cả khi đời bận rộn và ồn ào, luôn luôn có một sự lặng im tự tại sâu thẳm.

Năm phút ấy khởi sự dựng xây các sức lực nội tại, các sức lực thiền tập. Chỗ mạng 5 phút đó cảm thấy quá chừng tốt lành hoặc hữu ích biết bao, vậy nên rồi mình muốn tiến hành trong 10 phút; rồi lên 20 phút.

Vâng, bắt đầu chỉ cần với 5 phút mà thôi…

Vào một ngày không phải thứ Năm và chẳng có ấm trà nào cả

Thứ Năm là ngày tôi yêu thích nhất trong tuần, và trà mạn dù không phải thức uống quen thuộc, bản thân mình tuyệt chẳng phải dân sành chi hoặc đâm ghiền gì song tôi thấy nếu tình cờ được nhấp ngụm hương ấm nóng thế vào ngày mưa gió, giá lạnh luôn khiến thân- tâm thêm phần an lạc; ngay cả hôm đó đường sá nhếch nhác và cái gọi là ấm trà đích thị trỏ một cái bình nhựa bé có chữ Trà bằng Hán ngữ thuộc sản phẩm của Lock & Lock mà thôi.

Vào một ngày không phải thứ Năm và chẳng có ấm trà nào cả, nghe nói về thương hiệu (brand) trong định vị với văn hóa (culture), bản dạng (identity) và máu làm ăn (entrepreunership) quả là trò đủ sức khiến tâm trí tỉnh táo, ngồi thẳng lưng và dỏng tai…

Theo guru marketer hàng đầu Godin thì thương hiệu là tập hợp các kỳ vọng, ký ức, câu chuyện và quan hệ mà đi cùng nhau, chúng tạo nên quyết định lựa chọn một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó của khách hàng; và nếu khách hàng (một doanh nghiệp, người mua, kẻ bỏ phiếu, hoặc cung tiến) không trả giá cao hơn mức thường, tạo nên một sự lựa chọn hoăc lan truyền từ ngữ thì giá trị thương hiệu đó không tồn tại với khách hàng ấy.

 Quá nhiều những tuyên ngôn trong một bối cảnh mà xác định giá cả chỉ được nhìn nhận như là sự trao đổi tiền tệ.

Các khái niệm dùng để đi qua cảm xúc, thay đổi, tỉnh thức và chia sẻ.

Kể câu chuyện quyến rũ.

Và nguyên tắc đầu tiên của tiếp thị và thương hiệu (ngay cả chính bản thân mình) là: giữ lời hứa; muốn một thương hiệu lớn, hãy tạo nên một lời hứa lớn lao rồi giữ lấy lời đã tuyên.