Chuyện học của người lớn tuổi, tính cá nhân, và sự phát triển xã hội

Vươn lên đón mặt trời, an nhiên sống với đời

Những ồn ào chứng tỏ và tranh cãi lại qua trong vụ nên đặt tên đường hay không, như cách vinh danh hai vị giáo sĩ phương Tây đã có công lớn với sự hình thành chữ quốc ngữ, khiến lòng người quan sát xốn xang quyết ý: ‘chi bằng học’ (Phan Châu Trinh).

Cái lợi lạc lớn nhất cộng đồng người Việt được hưởng từ cuộc nói năng đông đảo và hơi kéo dài mấy ngày nay trên mạng facebook đúng là nó nhắc nhở về nghịch lý của việc học hỏi: trở thành cá nhân giữa đời thường xa xót. Khởi từ trải nghiệm sống nên học, và xã hội nào mà chẳng tồn tại kẻ đang học. Do vậy, thật may mắn và đáng mừng vui xiết bao khi các con dân đủ mọi lứa tuổi, trình độ, tầng lớp bị/ được thu hút vào sự vụ mà quyền phủ quyết phụ thuộc cơ quan quản lý nhà nước, dù là cấp thành phố trực thuộc trung ương (Danang trước đây là nhượng địa thời thuộc Pháp).

Không hề tự dưng, vô cớ, rảnh rỗi hay hết sức quá thao thức, nhiệt thành, bức xúc; thư từ, khuyến nghị, trách nhiệm, nghĩa vụ, tinh thần công dân, tính chính trực, lẽ công bằng, cơ hội biểu tỏ tiếng nói, một dịp xiển dương tôn giáo, luyện tập kỹ năng tranh luận, thực hành các quyền được pháp luật bảo hộ, thể hiện kiến thức, bảo vệ sự thật, xới lật những gì có vẻ chưa xong xuôi, ngã ngũ, v.v… Phe nhóm, đội, hội, quốc nội, nước ngoài, giáo sư tiến sĩ, nhà nghiên cứu, kẻ mộ đạo, hiếu học, ưa tham gia đám đông, ghét cái gì đè nén, lòng chưa thôi lo lắng nọ kia, diễn đàn học thuật, status chửi rủa, dạy khôn, mắng mỏ, khẩu chiến, gọi điện thoá mạ, gõ phím cay cú, chịu khó chia sẻ bài vở sưu tầm, tích luỹ bấy lâu, v.v…. Lượng, chất thực hư ra sao không cần vội vàng xét đoán. Phong trào dẫu nhỡ tào lao chi sự, muộn nở sớm tàn đi nữa thì cũng thành tựu muôn vàn độc sáng khó bỏ quên ngay: dân khí, dân trí, dân tình. Chẳng đến độ phục sinh triệt để thì mong sớm chiều hợp duyên e rồi tới hồi thái lai, tươi đẹp bởi nhà, người có vẻ cố gắng quy tụ, truyền thông.

Những ai trưởng thành, đã lớn ắt dần dần thức nhận ít nhiều giá trị của việc học hỏi suốt đời. Các vị làm giáo dục của nước nhà hẳn buộc phải thay đổi quan điểm khi nào, bằng cách sao, và ở nơi nao thì người ta bắt đầu học hỏi. Không còn duy trì thêm mãi việc học chỉ khu trú và thu rút vào trong học khu, nhà trường, tức bối cảnh của các thiết chế giáo dục chính thống mà giờ đây bối cảnh lan ra toàn xã hội, gồm gia đình, dòng tộc, nơi công sở, các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng… Việc học là đòi hỏi của cả đời đặng cho ta hiểu biết bản sắc cá nhân, mục đích cùng ý nghĩa sống dọc dài theo năm tháng, và thích ứng với việc ghi nhận rồi tiếp cận những nghịch lý xã hội ngày nay.

Những gì liên quan đến tiếng nói, chữ viết, hồn nước, dân tộc tính, tinh thần đồng bào,… vô hình trung, hoà trộn trong tính phức tạp của trải nghiệm học tập, góp phần vén lộ cách văn hoá, giới, sắc tộc, và các yếu tố xã hội khác nữa định dạng bản sắc cá nhân và khả năng vận hành các mối quan hệ: nền tảng của hết thảy, mọi thứ học hỏi. Dĩ nhiên, ẩn lộ, phơi giấu cũng khá dễ nhận ra một cái gì phản ứng uất ức, nổi xung, trút giận, xâm kích, chọc ngoáy, la làng, châm chích, bất mãn… với những gì hiện hành, nhất là đại diện giới lãnh đạo, ban ngành cùng chính sách quản trị tiếp tục gây nên tùm lum hậu hoạ tệ hại, khôn lường.

Chính những phái sinh vượt ra ngoài câu chuyện ý tưởng, ngữ ngôn bề mặt mà chạm mó sâu xa vào tất tật khía cạnh kinh tế- chính trị- văn hoá- xã hội khiến ai quan tâm sẽ phải kiên nhẫn đợi chờ thành quả của sự vun bồi nghiêm cẩn của tư duy phản biện cùng hành động phản tư trong một xã hội vốn coi trọng, đề cao bằng cấp, học vị, tuổi tên hư danh, giả tạo để từ đó, những ai đầu tư cho việc học hỏi suốt đời sẽ đích thị say sưa thực hành rồi triển nở tốt lành tựa một lựa chọn khôn ngoan vì biết lượng giá lại năng lực sáng tạo, thành người.

Nhận ra điểm khác biệt giữa hiệu năng và sự học hỏi

Thực tế trêu ngươi là dù tiến trình học hỏi có vẻ được hiểu kỹ càng lắm rồi, thế mà chúng ta vẫn thất bại trong việc vận dụng những gì mình đã biết.

Khi thấu tỏ học hỏi là chi, và hiệu năng thể hiện khác biệt như nào với việc học hỏi, các bậc phụ huynh dễ phát hiện một điều nghịch lý rằng, đứa cháu gái mình đạt 100% tất cả các lịch biểu học tập đề ra hàng ngày lại trở thành điều tồi tệ.

Tưởng tượng có câu chuyện về hai lớp học.

Lớp đầu tiên tuy không quá đặc biệt song nó khác với hầu hết lớp học trẻ con chúng ta quen thuộc. Trong lớp này, giáo viên phát tận tay mỗi em lịch biểu công việc học tập riêng tự bản thân tiến hành, không nhờ ai giúp đỡ cả. Một nữ sinh giả dụ tên là Lan, liếc xéo tờ lịch biểu học tập; nó dưới tầm của cô bé và cơ bản hơn, gây phiền phức cho dịp được nghỉ ngơi ở nhà của Lan. Cỡ mười phút sau, Lan đã làm xong nên cô bé ngó mông lung lên trần nhà chờ bạn bè còn đang loay hoay. Cô bé đang học hỏi rằng thành công đến với mình không phải do mình chăm chỉ ra sao mà chỉ bởi vì mình giỏi giang hơn hẳn bạn bè.

Trong khi đó, cậu bé Dũng ngồi bên cạnh Lan lại đang trầy trật với câu hỏi. Cậu chàng nhìn chăm chăm vào tờ giấy và bóp đầ,u vắt trán cho tới khi lời giải lóe lên. Dù nỗ lực gắng sức hoàn thành xong lịch biểu bài tập, Dũng vẫn cảm thấy tồi tệ vì e rằng có đôi câu hỏi trả lời sai và tốn nhiều thời gian so với Lan. Cậu nghĩ thầm tại sao mình không giỏi giống như Lan.

Lúc này, Hoa ngồi kế bên Dũng, lại úp mặt xuống bàn. Cô bé không hiểu tờ lịch biểu công việc này. Hoa mơ hồ về nó có thể vì hồi đêm ngủ không đủ giấc, bị chuyển tới đây học kỳ rồi, hoặc đang buồn thiu do không được chẩn đoán là gặp khó khăn trong học tập. Chẩn đoán bất thường về cô bé (do bạn cùng lớp và cả giáo viên đánh giá) là lười biếng và không thông minh cho lắm, và cô bé thật may mắn lắm thì mới theo kịp chương trình. Tỷ dụ, Hoa hình dung sẽ thế nào nếu em ngỏ lời nhờ Lan hoăc Dũng bày vẽ, giúp đỡ mà điều đó thì trái với nguyên tắc, quy định. Vả lại, gì đi nữa, cô bé Hoa biết rằng mình sẽ luôn là kẻ đội sổ lớp dù có cố gắng hay không; vậy thì quan tâm, lo lắng để làm gì cơ chứ…

Bây giờ, chúng ta chuyển sang một lớp khác: một lớp học về bơi lội. Ngôi trường này chú trọng dạy các bài học bơi với từng em hơn là bài học bơi chung cho cả nhóm. Mỗi giáo viên hướng dẫn không chỉ bơi lội giỏi mà còn hiểu biết về các tiến trình cũng như giai đoạn học sinh thường trải qua từ trình độ sơ cơ cho đến thành vận động viên tiềm năng. Vượt trên các kỹ năng vật lý của việc bơi lội, các hướng dẫn viên này có các hiểu biết thực tế về khả năng của mỗi em trong việc phối hợp các động tác cơ thể, lưu giữ chú ý, cũng như điều kiện và sức chịu đựng… Họ biết các điều ấy vì họ luôn giám sát và lượng giá đều đặn tiến bộ ở từng học sinh. Các giáo viên dạy bơi chỉ ra ngay lập tức và nhắc nhở liên tục về những thành công và vấn đề đủ cho một học sinh có vô vàn cơ hội cải thiện với từng bài học trong 30 phút.

Ấn tượng nhất là cách các hướng dẫn viên ở đây hết sức tránh việc huấn luyện kỹ năng thành lão luyện. Khi một học sinh đạt khả năng cơ bản để dùng như một kỹ năng thì người hướng dẫn tạo ra điều mới mẻ mang tính thách thức hơn chút. Chỉ cần một học sinh đã học cách đập chân ở kiểu bơi tự do (còn hơi khó khăn) thì em này đã sẵn sàng để được bày các nguyên tắc cơ bản cho kiểu bơi bướm. Sau khi thiết lập kỹ năng cơ bản, việc ôn luyện sẽ diễn ra vài tuần để kỹ năng đó ngày càng thuần thục hơn song không bao giờ để nó thành việc học gạo, diễn ra đều đều mỗi ngày. Các huấn luyện viên ‘đòi hỏi’ học sinh vươn xa hơn khả năng các em có thể đạt được, ngay cả khi việc đòi hỏi ấy tạo nên ‘sai sót’ tầm 50- 75%, vì mục tiêu là nhắm vào tạo lập các cải thiện nho nhỏ mỗi lần… Trẻ bị thách thức, động viên và đề nghị dấn thân. Bố mẹ các em ngạc nhiên biết bao bởi sau một thời gian ngắn, con em họ đã tiến bộ trông thấy.

Có hàng tá khác biệt quan trọng giữa hai kịch bản nêu trên, song ở đây chỉ muốn nhấn mạnh duy nhất một thứ. Trong lớp học truyền thống, thành công được đo bởi việc thể hiện sự giỏi giang, lão luyện, thuần thục và chính xác: một dạng thức đo lường cho hiệu năng tiến hành. Đo lường hiệu năng không xấu, song nếu chúng ta mải mê với sự kiện rằng hiệu năng là cái đợi mình sau chặng đường dài của cái gọi là ‘học hỏi’ thì rồi mình sẽ dễ thành người như bé Lan (thường học tập không cần mấy cố gắng, và không biết làm sao khi gặp chuyện khó nhằn), hoặc như Dũng (dù không ngừng học hỏi song lại cảm thấy kém cỏi vì không đạt mức hiệu năng cao như Lan), hoặc là Hoa (bị đẩy ngồi vượt cao hơn trình độ song không ai phản hồi hoặc giúp đỡ và do đó, bị tổn thương đến độ dễ thấy mình tuyệt vọng, không học tập nổi).

Cho dù chuyện hướng dẫn cá nhân cho mỗi một em học sinh là điều không thực tế lắm, vẫn tin rằng những gì các huấn luyện viên bơi lội biết rõ và thực hành xứng đáng đem vào từng lớp học. Những học sinh tài năng như Lan cần hiểu rằng tài năng của các em không phải là thứ vé ưu tiên để vào cửa hàng bánh kẹo ăn uống thoải mái, và rằng có thể các em thừa khả năng học hỏi mà không cần gắng sức bao nhiêu khi còn bé, song trừ khi các em trở nên thành thạo trong ứng dụng các kỹ năng từ chất liệu học hỏi nằm bên ngoài vòng tay nắm bắt của mình, bằng không các em sẽ khuyết tật về mặt học thuật ngay khi tốt nghiệp, rời nghế nhà trường phổ thông hoặc đại học. Tất cả học sinh tựa bạn Dũng, những người học hành chăm chỉ song thất vọng với bản thân đến độ ngóng trông sang các học sinh tài năng bay bổng nhẹ nhàng mà cóc thèm đầu tư bao nhiêu, cần biết rằng đâu là điều mà những người học hỏi thực sự đang tiến hành.

Thói quen áp dụng năng lực tập trung chú ý và chuyên cần, chăm chỉ hình như bắt đầu đã được ít nhiều đánh giá cao hơn các điểm số bài thi và bằng cấp. Và vì các em như Hoa ở đời, những học sinh sẽ bị vứt xuống đáy tháp tức khắc nếu không sẵn sàng, cần biết rằng không có khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó chẳng phải là lời buộc tội, nó đúng hơn là dấu chỉ để kiếm tìm nguồn cơn của vấn đề và truy cầu một cách thức vòng qua trở ngại để học hỏi.

Nếu chúng ta xác định việc học hỏi quan trọng hơn hiệu năng thể hiện thì rồi tôi tin, chúng ta sẽ được nhìn thấy ở trong các ngôi trường hiện nay trên khắp đất nước còn vô vàn khó khăn này những gì từng chứng kiến ở lớp học bơi: cam kết đầy hứa hẹn, nhiệt tình năng động, và tiến bộ không ngừng vượt xa mọi kỳ vọng, mong chờ của chúng ta.

Lợi lạc của công tác tiếp thị trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần

Sự thật khá kỳ cục, các rào cản lớn nhất để làm cho việc marketing trở nên thiếu hữu hiệu đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần tư nhân thực tế lại không dính dáng nhiều đến tự thân chuyện tiếp thị, hoặc chẳng liên quan bao nhiêu với việc cạnh tranh cả.

 Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, trở ngại lớn nhất e chừng khởi đi bởi các viễn tượng nảy sinh bên trong lòng cá nhân người hành nghề, do các giả định và thành kiến sẵn có của họ. Chí ít phảng phất hai chuyện:
  • các vấn đề thực tế, liên quan đến chuyện thật ở đời
  • các vấn đề triết lý, liên quan đến chuyện gì được cho là ‘đúng đắn’

Các vấn đề thực tế thì dễ làm rõ bởi vì chúng phụ thuộc vào cách cuộc đời vốn đích thị như nào. Các vấn đề triết lý thì thú vị hơn và phụ thuộc vào quan điểm cá nhân người ta, nghề nghiệp và đời sống của chính họ.

Một ví dụ cho vấn đề thực tế là không ít người tin rằng (đúng hoặc sai) là cơ quan, văn phòng, trung tâm chuyên nghiệp đáng kính của họ cấm bất kỳ hoạt động marketing hoặc quảng cáo nào. Không thực sự có cuộc tranh luận gì với loại vấn đề này. Đó thuần là chuyện kiểm nghiệm để biết thật, giả ra sao: chính xác thì chính sách của các đơn vị là gì? Ngay cả thế, nếu mình tin mình bị ngăn cấm không được làm điều gì đó thì bản thân sẽ ít thích thú tiến hành gì vụ đó.

Ví dụ không hoàn toàn là vấn đề đơn giản song vẫn khá sát hợp với sự tinh tế có tính triết học hoặc dính dáng tới tầm nhìn cá nhân ở đời: một số người cho rằng marketing là tương tự với quảng cáo. Nếu nghĩ vậy thì cũng hay vì chứng tỏ công ty của mình tốt. Thực tế không khó đoán, nhiều tài liệu bìa ngoài là về marketing song trong ruột đầy tràn các lời khuyên về quảng cáo. Kỳ thực, quảng cáo chỉ là một phần của marketing, phần rất đặc biệt về các cách thức truyền đi một thông điệp marketing cụ thể, thường nhắm tới khách hàng tiềm năng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Bắt chước kiểu nói của dân marketing, đó là phần từ trong ra ngoài (inside-out), tức lan truyền thông tin, hơn là phần từ ngoài vào trong (outside-in), tức lắng nghe và nắm bắt nhu cầu khách hàng rồi thích ứng để thỏa mãn họ. Ở đây, lần nữa, nếu mình vốn tin rằng marketing và quảng cáo là như nhau, mình biết (tỷ dụ thế) là mình không thích quảng cáo thì rồi mình có thể không nhất thiết được khuyên can đừng làm bất kỳ hoạt động marketing nào (!)

Từ mối quan hệ giữa các vấn đề thực tế và marketing vừa nêu, nảy sinh các câu hỏi về marketing. Hấp dẫn hơn nhiều so với hai ví dụ chán ngán bên trên, là vấn đề làm cách nào mà mình, như một cá nhân hành nghề, nhìn nhận marketing và vị trí của nó trong tập hợp các suy tư lẫn cảm xúc về công việc, về thân chủ, về đời sống rộng lớn hơn bên ngoài công việc chuyên môn, và về vai trò của bản thân trong sự chuyển đổi thương mại gồm thời gian và công sức bỏ ra để thu lại tiền bạc, lời lãi. Các vấn đề này đa phần phát sinh từ quan điểm của mình về bản thân và về chuyện đâu là con đường, cách thức đúng đắn hơn là thuộc vấn đề của thế giới thực tế thường nhật.

Khi lọ mọ tìm hiểu vấn đề marketing trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, tôi nhận thấy đó chính là câu chuyện phản ánh vị thế độc sáng của người làm chuyên môn.

Rất thường, các vấn đề ấy gợi cả lố lo lắng khó chịu, bất định, lảng tránh, đôi lúc còn là ước muốn ‘tuyên bố quan điểm’ dứt khoát của bản thân về chiều kích thế này, thế khác… Song bất luận phản ứng ra sao, thậm chí chỉ cần khởi sự cân nhắc các vấn đề đã nêu là đã tạo nên một sự bắt đầu quan trọng hướng tới việc hiểu biết tốt hơn cách nhìn nhận thực tế không thể chối bỏ liên quan đến nghề nghiệp chuyên môn của bản thân.

Nhờ phản ánh quan điểm cá nhân về marketing và một số khái niệm liên quan cận kề mà mình có thể dần nhận ra các sức mạnh tiềm tàng trong marketing, điểm yếu chết người, và một số lĩnh vực hoặc mối quan tâm mình muốn lờ đi. Và quan trọng nhất, mình có thể vượt qua bất kỳ rào cản ngăn trở không cần thiết để marketing thành công, những rào cản có thể dựa trên điều mình không thực sự nghĩ một cách cụ thể trước đây hoặc chỉ đơn giản là do thiếu thông tin mà thôi.

Bởi việc tiếp tục kiên trì khám phá, nghi vấn, kiểm nghiệm, thử giả định, và phản ánh mà tôi tin mình có thể dần hiểu biết tốt hơn lên về người bạn đồng minh tốt nhất trong công việc marketing.

Cả thực tế lẫn lý thuyết đều chứng tỏ rằng nắm bắt cơ bản về marketing sẽ giúp mình khớp nối với những người khác (thân chủ tiềm năng, người sử dụng lao động, v.v…) về những giá trị nào mà dịch vụ của mình đem lại cho họ, và cả việc hiểu biết điều gì đó thuộc cảnh quan cạnh tranh bên trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần đặc thù mà mình thao tác.

Như thế, lợi lạc đầu tiên nhờ hiểu biết cơ bản marketing là sẽ giúp mình tiến hành hòa hợp với các nhóm khác nhau, cả khách hàng tiềm năng hoặc các nhà quản lý, ông bà chủ cơ quan, đơn vị liên quan: tại sao họ nên quan tâm, dù bé tí thôi, những gì mình có thể làm được cho họ.

Vi tế hơn chút, căn bản marketing sẽ giúp mình kết nối với các nhóm người đánh giá cao dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu của họ. Rốt ráo, không có hiểu biết về giá trị mình sẽ cung cấp, tại sao một thân chủ hoặc người quản lý nào đó phải sử dụng dịch vụ của bên mình?

Để khớp nối thông điệp giá trị này đòi hỏi:

  • hiểu biết các nhu cầu của người khác thực sự là gì,
  • cần thiết thích ứng đến độ mình có thể thỏa mãn các nhu cầu đó, và
  • giao lưu, truyền thông từ viễn tượng của họ để giá trị trong dịch vụ của mình làm sao thỏa mãn các nhu cầu họ mong muốn.

Thưc tế thì không phải vấn đề truyền thông và hiểu biết là câu chuyện dễ dàng tinh thông đối với những ai hành nghề dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần? Tuy có thể đúng thế thật, song tin xấu là không nhiều người hành nghề giỏi giang việc áp dụng trực tiếp các kỹ năng họ sở đắc trong chuyên môn vào nhiệm vụ marketing.

Rõ ràng dễ thấy là nhờ áp dụng các kỹ năng nhằm chuyển tải thông điệp giá trị trong công việc đang theo đuổi, mình sẽ sửa soạn tốt hơn để:

  • bước vào hành nghề tư nhân,
  • có nhiều thân chủ hơn trong công việc đang làm, hoặc
  • kết thúc các nghiên cứu rồi tìm ra phân khúc thị trường phù hợp với chuyên môn.

Lợi lạc thứ hai nhờ hiểu biết căn bản marketing là nó sẽ giúp mình hiểu biết bối cảnh cạnh tranh bên trong lĩnh vực chuyên ngành mình theo đuổi rồi định vị bản thân hoặc công việc phù hợp bối cảnh đó. Đây là chiến lược thị trường, nó suy cho cùng là áp dụng hiểu biết marketing cơ bản để nâng cao và hướng đích ‘giá trị đề nghị’ của bản thân, ví dụ, khớp nối giá trị mình cung cấp, đối với một lượng khách hàng lĩnh hội được và sẵn sàng chi trả cho giá trị mình cung cấp.

Học hỏi từ trải nghiệm: nói lại cho rõ

Cách tốt nhất để học hỏi là từ trải nghiệm, song tự thân trải nghiệm không thôi thì không đảm bảo toàn bộ câu chuyện. Học hỏi không thuần túy chỉ là chuyện giáo dục hoặc trải nghiệm; chúng ta cần cả khuyến khích sự phát triển cá nhân nữa.

Có thể rất khó nhằn để học hỏi từ trải nghiệm. Cơ chừng đe dọa chúng ta, trải nghiệm dễ khiến ta thấy yếu ớt hoặc tự nghi ngờ bản thân, song chính nó lại cũng làm ta mạnh mẽ hơn lên. Thông thường, những gì trải nghiệm đem đến là định dạng con người đang là của chúng ta.

Tôi tin, đa phần chúng ta thấy rằng hầu hết trải nghiệm cho mình một cơ hội để phát triển cá nhân, song để tận dụng lợi thế ấy, chúng ta cần suy nghĩ về cách thức bằng cách nào trải nghiệm có thể tạo điều kiện cho mình học hỏi.

Tỷ dụ, một người đàn ông gặp khó khăn lớn trong công việc. Anh ta bắt đầu nghĩ bản thân là vấn đề. Các đồng nghiệp truyền gửi thông tin ngấm ngầm rằng anh  ta chắc đang phải “rất khổ sở, mất ăn mất ngủ”. Anh ta tin họ để rồi tự mình đổ tội. vơ mọi thứ vào mình. Anh ta không tìm thấy lối thoát và vì thế, rốt cuộc, xin nghỉ việc.

Làm thế nào trải nghiệm làm dễ dàng và thuận lợi hơn cho việc học hỏi? Thay vì nghỉ việc, anh ta có thể suy tư: “Những nguyên nhân nào tạo nên các khó khăn này, và làm cách nào tôi/ chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện được tình hình đây?”. Cơ chừng, anh ta đã đúng khi ra quyết định nghỉ việc. Cơ chừng, anh ta cho việc bỏ đi là giải pháp dễ hơn nhiều. Quan điểm cá nhân ở đây, chúng ta hay để nhỡ, đánh mất rất nhiều cơ hội để học hỏi, đơn giản chỉ bởi vì chúng ta quên phản tư:

Học hỏi từ trải nghiệm là một trong những phương tiện căn cốt và tự nhiên nhất tương hợp với tất thảy mọi người… Tất cả điều nó đòi hỏi chỉ là phản tư và suy nghĩ, tự mình thôi hoặc với sự cộng tác, hợp sức của người khác.

Theo lý thuyết học hỏi từ trải nghiệm, chúng ta hiểu biết thông qua vòng tròn học hỏi. Trải nghiệm của chúng ta phục vụ nền tảng cho việc phản tư (reflelctions). Từ những trầm mặc suy nghĩ đó, chúng ta phát triển các ý tưởng về thế giới. Rồi chúng ta kiểm tra, trắc nghiệm xem chúng có đích thực là sự thật, và rốt ráo chúng ta có một trải nghiệm mới mẻ. Vòng tròn trải nghiệm không nhất thiết khởi từ trải nghiệm, chẳng hạn, chúng ta có thể nảy sinh ý tưởng mình muốn test thôi:

Suy nghĩ… là nỗ lực được dự tính trước nhằm khám phá những nối kết đặc thù, cụ thể giữa điều gì đó chúng ta thực hiện với các hậu quả tác thành, đến độ cả hai thứ ấy cứ thế tiếp diễn không ngừng (Dewey, 1916).

Có thể ít nhiều tán đồng ngay rằng “học hỏi là phương tiện nhờ thế chúng ta đạt được không chỉ kiến thức và kỹ năng mà còn cả giá trị, thái độ và phản ứng mang tính xúc cảm nữa” (p.4).

Theo đó, học hỏi là sự thay đổi dài hạn trong sự biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí như kết quả của trải nghiệm. Từ định nghĩa, nó gồm ba phần: 1) học hỏi là sự thay đổi dài hạn: nếu nó không phải là việc sử dụng thông tin ngắn ngủi, thoáng qua như kiểu ghi nhớ số điện thoại đủ để gọi cho ai đó rồi quên đi thì rõ ràng nó không cần phải lưu tâm mãi mãi. 2) học hỏi là những biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí vì thế nó cơ chừng đặt để nền tảng ở não bộ. 3) học hỏi là một sự thay đổi như kết quả của trải nghiệm, hơn là tựu thành của sự trưởng thành về mặt sinh lý, trạng thái mỏi mệt, dùng bia rượu ma túy, đang cơn mắc bệnh tâm thần hoặc mất trí nhớ.

Chúng ta cần phản tư trải nghiệm bản thân để khuyến khích việc học hỏi suốt đời và phát triển cá nhân, do vậy, trải nghiệm tự thân nó không thôi chưa đủ:

Khi chúng ta kinh qua một trải nghiệm, điều ấy không luôn luôn dẫn tới những hiểu biết và học hỏi mới mẻ. Ví dụ, nếu trải nghiệm chỉ phục vụ nhằm xác nhận một vài niềm tin mình vốn quen nắm giữ thì nó sẽ đóng vai trò diễn giải đặng hỗ trợ cho nhận thức nguyên trạng bấy lâu mà thôi (tham khảo lý thuyết nhận thức của Piaget), và nó ít chú ý tới sự đáng giá của trải nghiệm. Nếu chúng ta không chú tâm vào thì cơ hội học hỏi mới mẻ sẽ không hề xảy ra (pp. 15-20).

Học hỏi: khởi sự từ sớm, tâm trí cứ lơi bơi và cái lợi khi thất bại

Hành trình học hỏi của một đứa bé khởi ngay từ gia đình trẻ, trước cả khi chúng bước chân đến trường; ở độ tuổi 0- 5, hầu hết những sự phát triển ngoạn mục đạt tới sẽ tiếp tục đồng vọng suốt cuộc đời.

Do đó, theo nhà lịch sử giáo dục Diane Ravitch, thay vì nghiêng về vai trò thầy, cô giáo chịu trách nhiệm duy nhất thì còn có hiểu biết khôn ngoan hơn về cách trẻ lớn lên, triển nở và học hỏi rồi nhận ra rằng, nhà giáo dục đầu tiên là gia đình chúng, cũng như nuôi dưỡng, tác động của môi trường đích thực là vấn đề cần quan tâm.

Thành tựu nghiên cứu hiện tại khẳng định, học hỏi bắt đầu từ khi mới sinh ra, thậm chí, sớm hơn thế nữa; đứa trẻ đạt được những thành tựu thuộc trí năng và phát triển từ thuở nuôi dưỡng rất sớm, những lợi thế ấy sẽ vẫn còn theo chúng vào tuổi vị thành niên.

Bà Ratvich cho rằng, bộ não của trẻ và thái độ của chúng được định hình trong 5 năm đầu đời, và cơ hội học hỏi của trẻ chịu ảnh hưởng bởi ngôi nhà và cộng đồng chúng lớn lên, bởi sự kính trọng của chúng với chuyện học và với thầy, cô giáo.

Báo cáo phân tích dữ liệu lý giải, ưu tiên cho việc học đọc, viết hoặc làm tính, “trẻ buộc phải đạt được các kỹ năng thô sơ nhằm phục vụ như bước đệm căn bản hướng tới lão luyện các kỹ năng nâng cao và phức tạp hơn.”

Một số trẻ học các kỹ năng này từ bố mẹ và các anh, chị em trước khi đến trường; một số trẻ khác học từ người trông nom trẻ. Song một số thì chẳng học gì hết. Và tất cả “trẻ em giỏi giang các kỹ năng này trong thời gian trước tuổi đi học càng dễ học đọc, viết và làm tính” sớm hơn và càng tỏ ra thành thạo hơn những trẻ khác.

Bài học rút ra như thế, hết sức rõ ràng: bất kỳ chương trình nào dự tính nghiêm túc nâng cao việc học tập cho mọi trẻ em  thì cần bắt đầu thật sớm. Trẻ bé tí sẵn sàng thiết lập hiểu biết chúng có về thế giới và điều hướng cách thức chúng liên quan với việc học như những đối tượng đã chập chững bước đi.

Nghiên cứu gần đây cho thấy, tâm trí lơi bơi lại dính dáng với ký ức làm việc tốt, tự thân thể hiện mức đo lường trí thông minh, khả năng đọc hiểu và chỉ số IQ.

Theo đó, chí ít thì sự phức tạp trong hành vi và mục đích của bộ não của chúng ta thể hiện ở chỗ một nửa thời gian tâm trí lơi bơi, lêu bêu.

Khi tâm trí vẩn vơ đây đó, những suy tư hiện hình là dấu hiệu của ưu tiên với một người– bất luận vô thức hay ý thức; diễn đạt chi tiết hơn, một tâm trí phiêu diêu là cách thức bộ não tối ưu hóa năng lượng sử dụng, định vị các nguồn lực cho những mối  quan tâm khác khi nhiệm vụ trước mắt không đòi hỏi sự chú ý hoàn toàn.

Chốt hạ một lời, tâm trí lang thang là tâm trí vị chi thông minh.

Cũng mới tuần trước, tin vui– vượt ngoài lãnh thổ nước Pháp– cho các bậc làm cha làm mẹ trên thế giới đã khẳng định, khi trẻ bị ám ảnh thành công và e sợ thất bại thì chuyện thể hiện bài vở của chúng có thể khốn khổ; các tác giả nghiên cứu ước đoán, việc trải nghiệm nỗi vật lộn và thậm chí, cả thất bại trong học hành có thể là điều tốt đẹp cho các em về lâu về dài.

Tại sao đó là tin hay ư?

Ồ, chắc chắn những ai ghét sự hoàn hảo đều thích khi nghe thấy thế. Không chỉ hoàn hảo đã được định mức quá đáng và gây buồn chán mà nó còn có thể tạo nên sự áp bức, và cực đoan nhất thì có thể thành một thứ rào cản ngăn trở người ta sống đời hạnh phúc, lành mạnh.

Bằng cách nào à?

Với cả trẻ em và người lớn luôn luôn khăng khăng muốn “làm đúng” hoặc thành kẻ hoàn hảo thì họ thường đánh mất nhiều cơ hội và trải nghiệm mà sự hoàn hảo chẳng thích hợp tẹo nào hoặc cực kỳ không nhất thiết mong đợi xảy ra; vẽ vời, làm vườn, đá bóng, viết lách sáng tạo có thể là vài thứ thoáng nảy sinh trong tâm trí.

Những ai khư khư đạt tới sự hoàn hảo thì khả năng cao là cảm thấy khó chịu, lo lắng, hoặc kèm cả sợ hãi trước kiểu loại hoạt động vừa nêu.

Vậy làm sao chúng ta có thể cho bọn nhỏ hiểu được rằng việc vật lộn tâm trí với những hoạt động kể trên để dần tiến tới học hỏi được một kỹ năng mới  thì cũng sẽ trợ giúp chúng trên chặng đường dài sau này?

* Hãy cứ để chúng thấy ta thất bại

Lần cuối cùng, con cái thấy bạn thất bại là bao giờ? Có thể, đó là thời điểm để ta nỗ lực gắng sức tiến hành điều gì mới mẻ đủ để chúng có thể trông ta đang hành động.

* Lưu tâm tới tiến trình và tiến trình, chứ không phải chăm chắm duy mỗi kết quả sau rốt

Thông lệ, là người làm cha làm mẹ và thầy, cô giáo nên người lớn chúng ta thường muốn nhắm tới tiến bộ tưởng thưởng để đạt các mục tiêu, chứ không chỉ với mỗi điểm số và các kết quả trắc nghiệm.

Hình dung điều gì đó thế này: “Này con, tối qua khi con oang oang, mẹ đã thấy con đọc lưu loát thêm được vài từ hơn tuần vừa rồi đó. Tối nay, vẫn còn một vài từ con chưa biết rõ, nhưng con thực sự đang rất tiến bộ trong việc đọc đấy, con à!”

* Biến hoàn hảo thành từ chướng tai gai mắt

Trong trạng thái ôn hòa, hoàn hảo gây buồn chán, còn ở mức phá hoại nhất thì nó làm mình tê liệt.

Tránh kỳ vọng, hối thúc hoặc đòi hỏi chính bản thân mình hoặc con cái bạn sự hoàn hảo. Làm việc hướng tới niềm vui thú của những hành động lầm lạc, bước lỗi sai lệch và những cơ hội tăng trưởng trí năng nhờ có chúng cung cấp cho.

Thất bại, vật lộn và nhu cầu thực tập các kỹ năng ngõ hầu đạt mức độ thuần thục là chuyện bình thường, và giờ đây, ta cũng biết rằng chúng còn mang tới hữu ích, lợi lạc vô cùng nữa.

Ngấm điều bó tay, thấy tự mình khó loay hoay lo liệu được

Đó là nội dung tôi cố tìm kiếm câu chữ để diễn đạt nghĩa cụm từ “learned helplessness“– một thuật ngữ do nhà tâm lý học Martin Seligman tạo ra sau khi thực hiện lọat thực nghiệm nổi tiếng.

Trong một thực nghiệm, một người chăn cừu Đức không ngừng rên rỉ nơi góc phòng nhỏ bằng khung kim loại vì thụ nhận các va đập đau đớn. Con chó dù có thể di chuyển dễ dàng tới góc khác không có cú sốc nào, song nó lại chẳng hề nhúc nhích.

Nguyên do, con chó ngấm trạng thái không nơi nương tựa, chẳng thể làm gì được từ thực nghiệm trước đó. Vài hôm rồi, một bộ đai yên đã khống chế, kiềm giữ con vật. Nó không được tự do, cũng không thể thoát khỏi những cú sốc đau đớn. Con chó nhận ra rằng chẳng còn cách nào cả; vô phương chấm dứt cơn đau, tuyệt không có lựa chọn gì hết, và thôi điều chỉnh, sắp xếp nữa.

Nơi chốn nào trong đời ta đang bị mắc kẹt? Bạn đang đau đớn? E ngại cất bước, chuyển đi?

Bạn cần kiểu quan tâm, chăm sóc nào? Góc khác của căn phòng đang đợi bạn đấy.