Loạn thần và Phân ly: ‘tình trong như đã’…

Trong tâm tưởng dân chúng nói chung, loạn thần cơ chừng đã là cái tên gây nhiều hoảng sợ, cặp đôi với phân ly nữa thì quá dễ làm dấy lên những nghi ngại vô cùng kinh hoàng.

Cả thập niên trôi qua rồi mà vấn đề cần sa gây loạn thần vẫn chưa thể đưa ra lời cuối dứt khoát, đủ thấy câu chuyện dây dưa khủng khiếp với nhiều hệ luỵ khó lường. Thực tiễn lâm sàng cũng ghi nhận việc người ta mắc loạn thần và thái độ kháng cự dùng thuốc. Tiếp cận loạn thần như kết quả của sang chấn và các hiện tượng tinh thần thì đối lập với chuyện chú mục vào bộ não, mô hình thực nghiệm và y khoa của căn bệnh tâm thần; và nếu thế, liên quan tới các kỹ năng học hỏi. Trải nghiệm tâm thần và phân ly trong trạng thái loạn thần cũng sẽ được trình bày ở đây.

Kỹ năng học hỏi và loạn thần

Những khác biệt rõ rệt giữa trải nghiệm ảo giác và hoang tưởng giúp giải thích tại sao các đặc trưng này có khả năng cải thiện nhờ thuốc. Lưu ý rằng, ảo giác và các trục trặc cảm xúc như hoang tưởng là các trải nghiệm nội tạng, và vì thế, chúng có thể liên quan nhiều tới hoá chất bất thường ở não mà từ đó loạn thần xuất hiện. Tuy vậy, các vấn đề nhận thức và xã hội thì lại phụ thuộc vào trải nghiệm trong các thế giới tinh thần và vật chất.

Khi trao đổi nhận thức ở một người mắc tâm thần phân liệt (TTPL), khó khăn trong tư duy của họ là hiển nhiên. Các liên kết lỏng lẻo, từ rối rắm, và câu cú nghèo nàn là vài ví dụ chứng tỏ những khó khăn nhận thức ở những người loạn thần. Một thực tế hiếm khi được xem xét là những người mắc TTPL đối phó với trải nghiệm chưa hề từng được khám phá, nó mới tinh, và không hề dễ dàng để sự nỗ lực của người mắc TTPL hiểu về mặt nhận thức sự thao túng của trải nghiệm loạn thần. Tại sao thiên hạ mong đợi người mắc TTPL có khả năng nghĩ đến những trải nghiệm không phổ biến và không theo chuẩn tắc nhỉ. Không có cơ sở thực tế, không có truyền thống tư duy đích thực đặng cho phép người mắc TTPL suy nghĩ thật hiệu quả về loạn thần.

Các yếu kém rõ ràng về mặt xã hội ở người mắc TTPL phụ thuộc vào trải nghiệm trong thế giới vật chất. Do xu hướng mắc loạn thần xuất hiện ở tuổi vị thành niên và mới lớn, có những hoạt động rất thiết yếu từ khía cạnh phát triển bị buộc phải thoả hiệp do sự chín chắn về mặt xã hội. Dùng cách diễn giải của Erikson về các giai đoạn phát triển xã hội, khi TTPL xuất hiện, cá nhân ở giai đoạn ‘bản sắc đối chọi với sự rối rắm về vai trò’, hoặc giai đoạn ‘gần gũi đương đầu với cô lập’. Loạn thần dẫn tới các trục trặc trong sự hình thành nhân cách và tha hoá liên nhân. Điều này e chừng là do trải nghiệm không chuẩn tắc và trải nghiệm kiệt quệ về mặt xã hội.

Cơ bản, các kỹ năng xã hội và nhận thức yếu kém ở người mắc TTPL bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm không chuẩn tắc, và các ảo giác lẫn hoang tưởng gây hiệu ứng nhân quả tới sự nhận thức lệch lạc và thiếu hụt kỹ năng xã hội. Nếu ảo giác và hoang tưởng có thể giảm bớt ngay từ sớm trên tiến trình mắc TTPL, có thể trải nghiệm không chuẩn tắc này sẽ không gây rắc rối cho các kỹ năng xã hội và nhận thức. Rõ là, hoang tưởng và ảo giác liên quan nhân quả tới kỹ năng nhận thức và xã hội. Bất luận thế nào, hoạt động nhận thức yếu kém và kỹ năng xã hội hạn chế phụ thuộc vào trải nghiệm không chuẩn tắc trong thế giới tinh thần.

Nói gọn thì các kỹ năng xã hội và nhận thức kém cỏi là kết quả của khả năng học hỏi bị giảm sút. Tuy thế, các kỹ năng nhận thức có thể được phản ánh ở siêu nhận thức (meta-cognition) vì nó liên quan tới loạn thần. Nâng cao nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về loạn thần có thể cho phép người mắc TTPL tách rời khỏi trải nghiệm loạn thần của vị ấy. Điều này có thể chứng thực là trị liệu. Tương tự, hướng dẫn các kỹ năng xã hội có thể cũng đem tới lợi lạc trị liệu. Do những thiếu hụt trong học hỏi, các kỹ năng nhận thức và xã hội kém cỏi có năng lực đáp ứng với việc học, và đây là tương quan dương tính với thực tế là các kỹ năng xã hội và nhận thức được hình thành. (còn tiếp)

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.

Từ chống kháng tới cuồng loạn: vết nứt rạn căn bản

Cách nhau chỉ vài phút ngồi đợi ở bến xe bus trên phố Huỳnh Thúc Kháng, tôi đã thấy hai cảnh tượng phản ánh cùng một  xu hướng hoang đàng, nhập nhằng chung riêng; chứng tỏ người sống trong thành phố chưa chắc đã hình thành được phẩm chất căn bản của thị dân: tôn trọng luật pháp, tuân thủ quy định ứng xử nơi công cộng.

Một chiếc ô tô trờ tới trước mặt, dừng ngay giữa tim đường, cửa xe mở ra để một cậu thanh niên chạy từ trong vỉa hè bước vào… Xe máy xịch lại đúng khu vực dành cho xe bus đón đỗ khách, một vị đàn ông trung niên béo tốt nhảy xuống vẫy tay chào nhau vui vẻ và hồn nhiên băng qua bến xe bus phía đối diện.

Chứng kiến sự kiện này sau khi tham dự buổi trao đổi với khách mời về chủ đề thanh niên với công tác chống tham nhũng, dĩ nhiên không thể không nhắc tới minh bạch và liêm chính.  Gần 200 sinh viên của Học viện, đa phần theo đuổi chuyên ngành Công tác Thanh niên nói chuyện riêng rổn rảng, chẳng thấy các nét mặt chăm chú lắng nghe hay tập trung cao độ cho vấn đề quốc nạn, hoặc cất lên vài ba câu hỏi thể hiện tư duy hết sức sâu sắc, đầy tràn tinh thần trách nhiệm của người lãnh tụ tương lai dẫn dắt phong trào “thanh niên anh dũng tiến lên”.

Chiều nay, tin nhắn từ tổng đài 1080 của VNPT gửi vào mobile cá nhân của người dân nội dung trích trong công điện Thủ tướng chính phủ về đảm bảo an ninh trật tự (nguyên trọn điểm 2, song có thay đổi trật tự câu.)

2. Tuyên truyền vận động nhân dân không có những hành động vi phạm pháp luật, không nghe theo kẻ xấu, cùng nhau giữ gìn an ninh trật tự, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống và góp phần cùng cả nước bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc theo đúng luật pháp của nước ta và luật pháp quốc tế.

Như thế là chính phủ có phản ứng chính thức một cách công khai với tầm mức rộng rãi nhất khắp toàn quốc liên quan đến vụ việc chống kháng dẫn đến cuồng loạn ở Bình Dương, Vũng Áng (và có thể vài ba nơi khác trên đất nước). Lịch sử chắc chắn khi ghi nhận giai đoạn này không những thêm đậm dấu chỉ truyền thống của sự thù hận, ghét bỏ bè lũ bành trướng Trung Hoa mà còn khó phủi sạch nổi nghịch lý đấu đá nội bộ xen lẫn nỗi niềm rúng động khi lòng dân ly tán, bất an được đính kèm trêu ngươi hòa cùng tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc.

Đúng vậy, nếu việc chống kháng, bất đồng là điều tự nhiên trong xã hội dân sự thì cuồng loạn, bạo động khó được thế giới văn minh thừa nhận như quyền. Và từ dự tính chống kháng ban đầu thông qua biểu tình lại dẫn đến cuồng loạn hậu họa dây dưa thì câu chuyện đã mang bản chất hoàn toàn khác hẳn: vết nứt rạn căn bản ở đây là người ta không còn e sợ, ngần ngại nhà chức trách, giới cầm quyền nữa.

Dù động cơ tham gia là vui vẻ, hùa vào đám đông đặng tranh thủ cướp bóc, hôi của, đập phá thì khó mà chấp nhận quyền cuồng loạn, bạo động; tương tự, cũng khá ngây thơ và lý tưởng lắm lắm khi xem xét các điều kiện nhằm thỏa mãn một định đề tâm lý phổ quát: không có công lý, không có hòa bình.

Thực tế, bạo động và cuồng loạn không bao giờ xảy ra ở các quốc gia mang danh đàn áp nhất; những kẻ chuyên quyền khủng khiếp hầu như chưa từng phải lo lắng việc bạo động và cuồng loạn. Việc này không bao giờ xảy ra ở các nước mà người dân dè chừng chính quyền, và tại nơi mà sự bất công bộc lộ gay gắt nhất; bạo động và cuồng loạn cơ chừng dễ xảy đến ở nơi mà người dân KHÔNG còn sợ hãi chính quyền nữa và tại nơi mà sự bất công được cho là khá nhẹ nhàng, chịu đựng được.

Xin mời đọc thêm lúc rảnh rỗi, thư giãn: 1, 2, 3.

@ Cập nhật, 9h41 ngày 16.5.2014: Tôi đã đọc phần 1 trước khi gõ xuống bài này, giờ đưa vào như tài liệu tham khảo do mới biết phần 2.

Những cảm xúc hoang tưởng và giận dữ giữa đời thường

Hàng ngày, quá nhiều những vụ việc bạo lực được báo chí quốc nội đẩy lên mạng lưới điểm toàn cầu góp phần khiến thiên hạ bàng hoàng và không thể lý giải thấu tình đạt lý nguồn cơn.

Đứa trẻ, hoặc đứa trẻ trong người lớn, chống chọi để bảo vệ phần thiện lành trước sức tàn phá của các trải nghiệm xấu ác, và lý tưởng hóa là một sự phòng vệ. Thật khó khăn nhằm biết chắc đối lập với lý tưởng hóa có phải là trạng thái ái kỷ quá mức (tự lý tưởng hóa bản thân), hận thù và gièm pha, hoặc hoang tưởng (phóng chiếu hận thù) hay không.

Giống như người lý tưởng, kẻ trải nghiệm các ý nghĩ hoang tưởng cũng dùng cơ chế phòng vệ phân liệt và tách biệt (splitting), dù trong ví dụ này thì anh, chị ta phóng chiếu tất tật các cảm nhận tồi tệ khỏi bản thân, nhìn nhận thế giới, một số cá nhân nào đó, hoặc con người nói chung như lực lượng thù địch và khủng bố, đang đặt để tấn công cái tôi ngây thơ và thiện lành.

Một con người như thế không ngừng gìn giữ cảm xúc tiêu cực của kẻ cùng đường bởi việc chối bỏ sở hữu chủ của chúng rồi đá chúng sang những kẻ khác. Trong những trường hợp cực đoan, thể hiện dưới dạng hoang tưởng paranoid, kẻ ấy tri nhận các kịch bản và cơ chế dù mang tính người hay không, như là ‘thực tế’ đối với thân chủ cho dẫu nhà trị liệu biết rằng chúng chỉ là huyễn tưởng mà thôi.

Dù có thể biểu tỏ trạng thái cực đoan, các cảm xúc hoang tưởng là dấu hiệu trải nghiệm đời thường, tuy không gây ngờ vực hoặc xung hấn kéo dài. Khi đời sống trở nên tồi tệ, chẳng bất thường việc phóng chiếu hụt hẫng và tức giận ra ngoài, và tự hỏi tại sao các kẻ khác hoặc ngay chính cuộc đời, lại đối xử như thế với chúng ta. Đây là cách hay gặp đặng xử lý các cảm xúc tiêu cực, khi những ý nghĩ hoang tưởng là cơ chế phòng vệ chống kháng với sự tức giận hay hận thù của người ta.

Các cảm giác hoang tưởng là phương thức đặc thù giải quyết những cảm xúc tiêu cực. Bản chất tức giận và nguồn gốc gây xung hấn hãy còn tranh cãi, nhất là mức độ xung hấn tự nhiên và cần thiết cho sự phát triển cũng như sống còn, và liệu nó đáp ứng với hụt hẫng hay sợ hãi đến đâu. Xem xét một vài lý thuyết để hiểu thêm về sự phức tạp của các cảm xúc khủng khiếp này.

@ Lý thuyết Bản năng- Sinh học: thường nhìn nhận hành vi xung hấn như là sự diễn bày của thành phần nội tại, hiển nhiên thuộc bản chất con người, là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên (Lorenz, 1966).

@ Các lý thuyết Phân tâm:

a) Một số nghĩ xung hấn như phần tự nhiên của con người, một bản năng phá hủy; lực lượng chống lại đời sống và bản ngã; một sự ngăn cản việc phát triển cái tôi; bảo vệ cái tôi trước môi trường thể hiện tính ngăn trở;

b) Một số nhà tâm lý cái tôi (ego) nhìn xung hấn như phản ứng đối với các xung đột hiển nhiên trên tiến trình thích nghi, một phản ứng bất mãn và cảm xúc trầm uất;

c) Một số nhìn xung hấn như động cơ nỗ lực vượt qua một trở ngại;

d) Với một số nhà tâm lý bản ngã (self), xung hấn là phản ứng trước mối đe dọa mang tính ái kỷ thái quá, một dấu hiệu gây tổn thương tiềm tàng bản ngã;

e) Balint (1968) đặt nền móng xung hấn trong sự thất bại khi gắn khít nhu cầu của trẻ cho sự phụ thuộc tuyệt đối và đáp ứng của bà mẹ, sự hận thù phục vụ như rào cản dựng lên nhằm bảo vệ cái tôi khỏi ‘người không yêu thương chúng ta’;

f) Hầu hết các nhà Phân tâm độc lập Anh quốc nhìn động năng sống (libido) có yếu tính đổ tràn xung hấn, và do đó, xung hấn trẻ con là phần tranh đấu lành mạnh chống lại các tương tác bệnh lý. Winnicott (1971) duy trì quan điểm rằng xung hấn khởi từ hoạt động trước sinh của đứa trẻ.

@ Lý thuyết Hụt hẫng (frustration): nhìn hành vi xung hấn gồm việc thoát khỏi trở ngại cho các tiến trình và/ hoặc hành vi làm hài lòng. Người ủng hộ thuyết này còn cho rằng đáp ứng với xung hấn là hiện tượng phản ứng và chống kháng được đánh thức ở cá nhân bởi các hoàn cảnh ngoại giới.

@ Lý thuyết Học hỏi Xã hội: hành vi xung hấn là kết quả từ bản chất các hành vi chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ và những thăng trầm của tiến trình xã hội hóa và tích hợp nhóm. Bằng chứng cho quan điểm này được hình thành từ các dữ liệu thu thập bởi các nhà xã hội, nhân học, và tâm lý học theo định hướng lý thuyết học hỏi.

Tức giận, dĩ nhiên, có thể diễn ra dưới nhiều dạng thức; Malan (1979) quan sát một số bệnh nhân hay bộc lộ các hiện tượng:

  • tiền sử thiếu thốn cảm xúc, đôi khi quá mức trầm trọng, thường diễn ra vào giai đoạn cuối thời thơ ấu;
  • các xung năng hung dữ và phá hủy thật khó tin nổi, đi kèm độ căng tương ứng của tình yêu thương;
  • bằng chứng cho sự bị tước đoạt để lại chủ yếu hướng tới bà mẹ;
  • các chủ đề chính yếu liên quan với việc nuôi dưỡng- bú mớm.

Dĩ nhiên, đôi khi khó khăn để tưởng tượng trải nghiệm hụt hẫng của một đứa trẻ. Tuy vậy, chúng ta quan sát cách một đứa trẻ vặn xoắn cả người như dạng bùng nổ, thịnh nộ vậy. Malan cho là xung hấn lâu đời hàng triệu năm so với cảm xúc yêu thương cá nhân, nên quan hệ đầu tiên của đứa trẻ đối với mẹ mình là xung hấn? ( nhận được hơn là cho đi).

Khi nhà trị liệu làm việc với thân chủ biểu lộ sự sợ hãi trước nỗi giận dữ mang tính phá hủy thì dưới đây là một số gợi ý cần nhớ:

  • giúp thân chủ lưu giữ các đặc trưng và thành tựu mang tính tích cực, thiện lành, biểu lộ khía cạnh đó của bức tranh đi kèm với bất kỳ khía cạnh nào khác khiến thân chủ cảm thấy sợ hãi hoặc tội lỗi;
  • khuyến khích thân chủ nói thành lời sự giận dữ trong phiên trị liệu, hơn là hành động mang tính tự tàn phá bản thân hay đối tượng, ai đó ở bên ngoài, có lẽ quan sát cách biểu tỏ nó thành lời trong môi trường an toàn của trị liệu là không gây hại;
  • biểu tỏ, thông qua quan hệ với thân chủ, rằng diễn bày sự giận dữ thành lời (đặc biệt hướng tới nhà trị liệu) hoặc mô tả các huyễn tưởng phá hoại không hề gây hại cho nhà trị liệu hoặc thân chủ, hoặc quan hệ của họ;
  • cần thiết duy trì trạng thái vững vàng để không làm nảy sinh bất kỳ biểu đạt mang tính phá hủy về mặt thể lý trong phiên trị liệu;
  • tạo các kết nối giữa quá khứ và hiện tại để có thể giải thích độ mãnh liệt của sự giận dữ hoặc tội tội khi đang trải nghiệm nó; cùng lúc cho thấy một sự khác biệt giữa một đáp ứng đúng lứa tuổi ở thời thơ ấu và những gì không thích hợp trong hiện tại;
  • hỗ trợ thân chủ biểu đạt thích hợp sự giận dữ ở mức độ về các tình huống đương đại;
  • làm rõ sự khác biệt giữa tội lỗi thực tế là kết quả từ  việc biểu đạt nỗi tức giận gây đau đớn cho người khác, và tội lỗi không đúng đắn làm hư hại cảm nhận thân- tâm an lạc của chính thân chủ;
  • với lý do chính đáng của tội lỗi, khuyến khích và nâng đỡ ước ao của thân chủ tạo ra sự cách biệt trực tiếp hoặc gián tiếp: khả năng vá lành các tình huống và sửa chữa các quan hệ là dấu hiệu rằng nhu cầu phá hủy không nhất thiết kết thúc;
  • nhớ rằng bên dưới sự tức giận chắc chắn là một nỗi buồn đau sâu thẳm, sự trống rỗng hoăc trạng thái tuyệt vọng và yếu đuối khôn cùng là phòng vệ trước nỗi niềm thù hận. Người bị tổn thương có thể thích đáp ứng đầy tức giận hơn là chỉ ra cách thức họ đang thực sự chịu đau đớn hoặc yếu đuối. Càng nhận ra cách thức riêng có phù hợp với họ càng trợ giúp họ hiệu quả hơn;
  • cần thấu hiểu rằng nhà trị liệu và tham vấn cũng ghét bỏ thân chủ, nhất là những ai khiến họ cảm thấy không hội đủ năng lực hoặc ngần ngại (Winnicott, 1975). Chuyển kênh thích hợp nỗi niềm xung hấn ở nhà trị liệu hướng tới các mục tiêu rốt ráo của trị liệu sẽ hạn chế tối thiểu sự ngăn cách giữa thân chủ ‘tồi tệ’ và nhà trị liệu ‘tốt đẹp’;
  • cuối cùng, Malan thêm rằng sự tích hợp tình yêu thương và lòng hận thù dẫn đến các khoảnh khắc thay hình đổi dạng hết sức lớn lao, trong đó thế giới, cả quá khứ lẫn hiện tại, thay đổi từ ‘xấu xa’ thành ‘tốt lành’ (1979).

Thực tế, cũng cần biết rằng, một số thân chủ thấy mình khó khăn để biểu đạt sự thù địch đầy lo lắng rằng nếu họ làm thế, họ cũng sẽ tàn phá bản thân luôn; nên họ bộc lộ các hành vi trầm uất hoặc tự đập phá; cắt đứt các mối quan hệ, chẳng hạn, trước khi họ trở nên giận dữ với người khác; thậm chí, ở nhiều trường hợp phức tạp, gây hại với chính bản thân.

Tăng động và bị điếc: hiệu ứng đáng suy tư của những sự thiếu thích nghi ở trẻ

Tiếp xúc với một trẻ bị điếc chưa đến tuổi đi học tại nhà, cùng với bố mẹ của cậu bé; thấy chị gái cháu, sinh cách 10 năm, lấp ló đứng trên gác hỏi vọng xuống…

Người bố béo tròn, cố bám níu hy vọng da diết vào vài ba chi tiết để cố tin rằng rồi vào một hôm đẹp trời con trai sẽ bật lên thành tiếng hẳn hoi, cho dẫu họ đã thăm khám chuyên khoa đàng hoàng và có kết luận chính thức; người mẹ thì nhẫn nhịn, khuôn mặt không ẩn giấu hay che hết nỗi đau bên trong được, chia sẻ chắc chắn bên chồng về một nỗi niềm lo lắng tràn bờ ở tư thế ngồi bồn chồn, vọng động.

Có lẽ, toàn thể gia đình gồm cả bà ngoại là người trông cháu từ sáng đến tối khi bố mẹ đi làm, sẽ học ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp qua lại với cậu út.

Và cho dẫu (các) cô giáo tình nguyện đến dạy ngôn ngữ ký hiệu cho bé sẽ tiếp tục chịu đựng một quãng thời gian nữa, chứng kiến nọ kia ngoài ý muốn dấu hiệu, biểu hiện lăng xăng, chẳng ngồi yên đủ lâu và khó tập trung vào bài nếu cháu không được cầm lấy điện thoại, v.v…  thì cũng chưa đủ chứng cớ xác thực chẩn đoán với cái nhãn ‘tăng động’ (bài báo cập nhật lên tiếng về sự lạm dụng thang đo chẩn đoán và điều trị bằng thuốc rối loạn ADHD) mà một trung tâm nghiên cứu giáo dục đặc biệt đánh giá. Điều cơ chừng cần ưu tiên tìm hiểu và trợ giúp cải thiện tình hình hơn là trạng thái giao tiếp, quan hệ của môi trường bao quanh trẻ. Một sự chú tâm quá mức duy mỗi đứa bé cho việc học ngôn ngữ cử chỉ hay khởi đầu tiến trình ‘viết chữ, làm toán’ quen thuộc lâu nay e chưa thiết thực, khẩn thiết cho bằng công việc luyện tập giao tiếp không lời, tương tác sao cho trẻ dần nắm bắt được cảm xúc người khác và tự tin biểu đạt cảm xúc bản thân, nhất là khám phá chuyển biến khuôn mặt và khẩu hình người phát ngôn.

… Khả năng đọc khẩu hình khi đang chuyện trò là một sự tiến triển quá siêu tuyệt, song có dự án muốn đặt câu hỏi người bị điếc liệu có giỏi giang hơn hẳn cả trong việc giám sát an ninh nói chung.

Hình như chưa có nghiên cứu nào so sánh người nghe được và người bị điếc trong chuyện thực hiện giám sát những việc chuyên biệt, song có bằng chứng khẳng định người bị điếc thừa hưởng nhiều lợi thế từ bình diện chú ý khía cạnh thị giác. Đây không phải như chuyện nhìn thấy phổ quát kiểu năng lực cảm thụ sắc sảo về thị giác, mà có bằng chứng rõ ràng rằng người bị điếc giỏi hơn trong chuyện lưu ý đến những thứ bên rìa ngoài của sự nhìn thấy và cũng giỏi ở việc phát hiện sự chuyển động. Tiềm năng độc đáo này khiến người bị điếc đáp ứng hoàn hảo công việc và có vẻ giỏi hơn các đồng nghiệp có khả năng nghe được. Vậy nên, dự án không chỉ gợi ra cụ thể con đường hướng đích tuyển dụng ‘người khuyết tật’ vào làm việc mà còn phát hiện đối tượng nào có khả năng ‘siêu phàm’ nữa; góp phần làm đảo lộn toàn bộ ý tưởng về sự khiếm khuyết, tàn tật.

Nhân đây, giới thiệu thêm một số nghiên cứu chưng cất các trải nghiệm khác nhau về chuyện “nghe các giọng nói” ở người bị điếc; chẳng hạn, ở đây cho thấy các trường hợp bị điếc trước khi học được ngôn ngữ và bộc lộ việc nghe các giọng nói như dấu hiệu của việc bị mắc bệnh tâm thần.

Dù giả định thường gặp là người bị điếc có thể mang các dấu hiệu mắc ảo giác song nghiên cứu vừa nêu trên lại rất cẩn thận xem xét người bị điếc quan tâm vấn đề ra sao và dường như họ tuyên bố rõ ràng là mình ‘nghe’ các giọng nói.

Các bệnh nhân chỉ được đánh giá là mắc các ảo thanh nếu họ tỏ rõ là mình nghe các giọng hơn là nhận được thông tin bằng con đường khác, và vài cá nhân đưa dấu hiệu nhờ nói, đặt câu hỏi về cách họ có khả năng nghe, trong trạng thái điếc, vốn không am hiểu được. Đa phần bệnh nhân thì chỉ nhún vai hồi đáp kiểu “không rõ’, hoặc biểu thị rằng họ không hiểu câu hỏi.

Những bệnh nhân khác nỗ lực giải thích giả tạo, dễ dãi hoặc nọ kia không thỏa mãn kiểu ‘có thể đang nói trong não bộ’, hoặc ‘đôi khi tôi bị điếc, đôi khi tôi nghe thấy’. Một bệnh nhân khẳng định mình có thể nghe nhạc nếu anh ta vặn nó to lên (khả năng cao là biểu đạt tri giác về sự dao động), và hàm ý tương tự sự thật về chuyện phát ngôn. Những người khác vẫn tuyên bố không thật hoặc hoang tưởng rằng họ có thể nghe hoặc từng có khả năng nghe thấy.

Một nghiên cứu khác cố tránh các cạm bẫy khi nghiên cứu hiện tượng ảo thanh ở người có hạn chế hoặc không nghe được.

Bởi thực tế, một số nghiên cứu trước đó về người bị điếc nghe các giọng nói bị chỉ trích khi giả định rằng một người bị điếc mô tả một ‘giọng nói’ nghĩa tương đương là họ đang có một trải nghiệm tương tự với người nghe được. Tỷ dụ, khi một người bị điếc mô tả trải nghiệm như ‘tiếng ồn’ thì họ chỉ hàm ý nó đặc trưng bị tống bừa vậy thôi, chứ nó không mang các thuộc tính âm thanh riêng biệt.

Nghiên cứu thượng dẫn dùng phương pháp phân loại, gồm tập hợp các tuyên bố về trải nghiệm mà người điếc thể hiện và họ được đề nghị chọn các câu nào mô tả tốt nhất trải nghiệm của bản thân. Dữ liệu được xử lý qua phương pháp phân tích nhân tố (factor analysis) nhóm thành 5 nhóm người/ ‘nhân tố’ trải nghiệm tương tự nhau.

Lời cuối. Bi hài thay, có nhiều chiều kích căn bản khiến chúng ta tức cười. Tất cả mọi người cười vui, và kẻ cười đùa í luôn luôn kèm theo một mẫu hình giông giống nhau của các âm thanh ồn ào vui nhộn. Người bị điếc không bao giờ nghe được một âm thanh vẫn  còn khiến người ta cười phá lên; tiếng ồn ào vỡ òa í tạo tác bởi những con người chia sẻ nhiều thuộc tính thanh âm của ngôn ngữ, hơn là thuần túy bằng chứng cho việc tấn công chớp choáng não bộ và trạng thái cơ thể chúng ta dùng khi hít thở và nói năng.

Lòng vòng khát khao định danh

khủng
khủng

Quả hơi ngại ngần xen lẫn mệt mỏi chút khi bất chợt buộc phải chạm tới vài ba khái niệm tưởng chừng nắm vững lắm rồi song hốt nhiên phát hiện ra rằng bé cái nhầm. Ấy là khi người ta cứ tưởng thế quá rõ ràng, song đối tác thì tuỵệt không thèm nghĩ như vậy.

Chẳng hạn, trước hết phân biệt giữa “cần” và “muốn”. Để làm sáng tỏ, có thể dẫn mục từ “Cần” (need) trong Từ điển Tâm lý học (Cambridge, 2009):

  1. Bất kỳ thứ gì thiết yếu cho sự sống còn của một sinh thể (organism);
  2. Khao khát bất kỳ thứ gì thiết yếu cho sự sống còn của một sinh thể;
  3. Một khát khao điều, họat động, hoặc trạng thái khá đặc thù thiết yếu cho sự trải nghiệm an lạc của một sinh thể, như nhu cầu sáng tạo hoặc vui chơi.

Như thế, hình dung các tầng bậc, mức độ của sự khát khao (desire):

  • Ước ao (wish)
  • Want (muốn)
  • Cần thiết (need)

Nói khác đi, cần là điều phải có cho sự sống còn như chúng ta cần không khí để thở; vì thế, chúng ta muốn không khí trong lành, sạch sẽ; trong bối cảnh này, muốn là nỗi khát khao. Tức, cần là điều nhất định phải có để người ta tồn tại, muốn là sự tham lam, khát khao là thứ mình ước ao. Cần có thể sẽ bị hạn chế; muốn sẽ bị ngăn cấm; còn khát khao, tức cần thì mang tính cưỡng bách, thúc ép; muốn là sự lựa chọn, khát khao thì tìm kiếm…

Ở góc nhìn khác, cần thể hiện sự đau đớn, thiếu thốn; muốn: đòi hỏi, khát khao thì mong mỏi, thuộc về.  Ví dụ, giá mà có nhiều tiền, muốn có chiếc xe mới, cần nhiều thời gian hơn.

Vậy tình dục là một nhu cầu, điều cần thiết hay một ham muốn? Để khẳng định tình dục không phải là điều bắt buộc phải có để sống còn, không nhất thiết thuộc nhu cầu cơ bản như ăn uống, ngủ, hít thở không khí thì cũng nên biết rằng động cơ nôm na chính là khát khao để thực hiện, muốn làm. Nó là yếu tính đặt để và duy trì mục tiêu, và nghiên cứu chỉ ra rằng mình có thể tác động, bị ảnh hưởng các mức độ riêng tư bởi động cơ và sự kiểm soát bản thân. Vậy phát hiện ra những gì mình muốn, dùng năng lượng băng qua giai đoạn đau đớn, và khởi sự ở trong trạng thái mình muốn là.

Theo nhà nghiên cứu tình dục tiên phong Alfred Kinsey, điều phổ quát nhất trong tình dục của con người là chính sự khác biệt của nó. Từ hành vi tự thân cho tới các định hướng, tình dục có thể là vấn đề của người ta ở giai đoạn nào đó trong đời. Dù các tòa án dễ duy trì các hàm ý thuộc khía cạnh đạo đức và chính trị thì chí ít không khó đi đến một sự nhất trí rằng đó là lý do giải thích tại sao còn tồn tại đến hôm nay và là điều trước tiên thế hệ tương lai phụ thuộc vào.

Dẫu vậy, đó không nhất thiết phải là nhu cầu phải có từ góc độ cá nhân.

Thứ đến, ngoài việc xâm hại tình dục trẻ em thì thực tế, việc giết người man rợ là điều thật khó thấu hiểu tỏ tường. Tại sao những người dường như hiền lành, chân chất lại ước muốn giết chết chính đứa con mà họ dứt ruột đẻ ra– hay gặp là các bé gái mà họ mang thai, sinh nở rồi dành thời gian nuôi nấng, chăm bẵm cả một thời gian dài– vì danh dự gia đình, do giận chồng/ vợ nên con cái thành nạn nhân…

Bởi vì dưới góc độ tiến hóa thì thường người ta không giết kẻ mà họ chia sẻ hầu hết nguồn gene (ví dụ, con cái chẳng hạn); họ nên ước muốn chết vì con cái– chí ít thì nuôi dưỡng hay bảo vệ chúng– chứ không giết chúng.

Tuy nhiên, từ góc độ tâm lý và văn hóa thì khả thể có thể lý giải vài điều như sau.

Ở một mức độ rộng lớn, những vụ giết người dã man và kinh hoàng liên quan đến con cái thường tỏ bày tính đàn ông át trội và do đó, cũng góp phần phản ánh tình trạng thấp kém của phụ nữ; lý giải các ông bố hay giết con gái; ngoài ra, nó có thể dính dáng tới việc ngăn chặn tình dục: các bố mẹ “mất trí” giết con cái hết sức khủng khiếp nhằm để trừng phạt cho bản năng con người rất lành mạnh và tự nhiên (yêu thành viên thuộc nhóm, cộng đồng khác, ‘nạn nhân’ của một sự hiếp dâm, quan hệ trước hôn nhân, v.v…)

Tựa như rất nhiều hành vi ‘điên khùng’, các vụ giết người man rợ liên quan đến con cái thường phát sinh từ một cảm nhận mang tính hiện sinh của sự tổn thương và bất toàn. Dưới dạng thức những áp lực của tình huống, khi tương tác với năng lực và điều kiện thì tất khơi gợi lên những định hướng riêng biệt về mặt đạo đức. Chẳng hạn, trong môi trường nâng đỡ và nồng nhiệt thì khía cạnh đạo đức dấn thân của chúng ta được nuôi dưỡng; song khi cảm thấy bị đe dọa thì tầm nhìn bị thu hẹp và chúng ta có thể nghĩ rằng hữu ích để tự bảo vệ bản thân… Nói khác đi, những cách thức giết người lắm khi có thể khó dự đoán và không ai mong muốn…

Có một nghiên cứu tiến hành vào thập niên 60 của thế kỷ 20 đã chỉ ra động cơ bố mẹ giết con cái, ngoài sự vị tha còn là vì loạn thần cấp, đứa trẻ không mong đợi, bất ngờ (phần vỏ não thùy trán trước PFC nếu bị thương tổn thông qua uống rượu bia quá mức có thể dẫn đến kém kiểm soát các xung năng và cảm xúc và ít khả năng đoán định được các hậu quả của hành động), và hận thù chồng/ vợ. Thậm chí, tác giả này còn chia thành 2 kiểu: giết trẻ sơ sinh không mong muốn và giết một đứa trẻ với một nơi chốn rõ ràng trong gia đình. Trẻ càng nhỏ thì nguy cơ bị giết càng cao; và khi trẻ càng lớn, thì khả năng cao tội đồ chính là ông bố.

Phụ nữ trong nghiên cứu của tác giả Resnick đa phần là có mưu toan tự sát hoặc hoang tưởng, và thường có xu hướng nhìn đứa con đã chết là có khiếm khuyết, nên cần được cứu vớt khỏi một định phận tồi tệ về sau, hoặc bị quỷ ám; một số phụ nữ giết con còn nỗ lực che giấu tội ác. Trong một nghiên cứu cho thấy, các bà mẹ giết trẻ sơ sinh đa phần ở độ tuổi 16-38, song khoảng 90% là 25 hoặc trẻ hơn; chưa tới 20% lập gia đình rồi và chưa tới 30% bị loạn thần hoặc trầm cảm; hầu hết còn độc thân, không có các nguồn lực và giấu giếm việc sinh nở với xung quanh: họ thường sinh con một mình và tống khứ bé nhanh nhất có thể (nhớ lại vụ cô gái trẻ ở Hà Tây thì phải đã ném con xuống ao trước nhà í).

Vậy, có thể nghĩ tới lý do bệnh lý tâm thần, sự vô ý thức, ngu ngốc hoặc thậm chí vô cảm. Và bài học có thể rút ra ở đây? Chắc chắn là nên, chí ít như thế này.

– Sự thiếu vắng và không được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm trí cũng như tính định kiến về tham vấn và trị liệu tâm lý. Ngoài sự chăm sóc, quan tâm và nâng đỡ của cả người thân và cộng đồng, họ rất cần được giới chuyên môn trợ giúp kịp thời.

– Người cảm thấy nỗi đớn đau thống khổ về mặt tâm lý như thế thường cảm thấy bản thân đang lâm vào cảnh nguy hiểm, và đe dọa tính mạng của chính họ lẫn những người khác.

– Các đối tượng trong nỗi đau trầm luân như thế càng nguy hiểm khi họ có thể tiếp cận được các điều kiện có thể dẫn đến chết người (thuốc trừ sâu, vũ khí gây sát thương, v.v…).

Lượng giá nguy cơ mắc Tâm thần phân liệt ở trẻ sơ sinh đầu đời

Thấy gì trong mắt người?
Thấy gì trong mắt người?

Tâm thần phân liệt (Schizophrenia, TTPL) thường là rối loạn tấn công khủng khiếp ở tuổi trưởng thành; nó quấy nhiễu đời sống của cả người mắc lẫn đối tượng điều dưỡng, chăm sóc cho họ.

Nếu chẩn đoán chủ yếu về sau mới được tiến hành thì những thiếu hụt nhận thức -thần kinh khi tùy chọn các cách điều trị chữa bệnh thường trực nhằm cải thiện chất lượng sống sẽ càng trở nên hạn chế. Lượng giá sớm nguy cơ phát triển TTPL là yếu tính mang tới các can thiệp nhằm giảm thiểu tác động của những thiếu hụt vừa nêu.

Dù toàn bộ các gene liên quan đến TTPL vẫn chưa được định hình xong, việc phân tích di truyền chỉ ra rằng một số vùng thuộc nhiễm sắc thể cho thấy có các mối tương quan mạnh mẽ với các sự thiếu hụt mang tính hành vi đặc trưng ở người mắc TTPL.

Một trắc nghiệm chẩn đoán là lượng giá về sự ức chế thính giác đối với một kích thích lặp lại âm thanh. Ở người mắc TTPL, một âm đơn lẻ nào đó “được nghe” khi kích thích đã dự phòng rồi và được biểu lộ như sự đốt cháy của các tế bào thần kinh (neuron). Tuy thế, nếu cùng một dấu hiệu thì việc được cung cấp lặp đi lặp sẽ làm đáp ứng của các neuron bị nhòe mờ đi, bằng cách ấy có thể khiến người mắc TTPL tảng lờ các âm thanh trùng lặp hoặc tiếng ồn nền phía sau.

Thiệt hại của việc kiềm hãm thính giác này được ghi nhận ở những người lớn đang khốn khổ vì TTPL. Đáp ứng ức chế bị giảm xuống được đo bằng tỷ lệ của các đáp ứng gợi lên bởi các kích thích thính giác bị thiếu hụt (S2:S1).

Các lượng giá tương tự do Hunter và cộng sự tiến hành vào 2011 trên trẻ em từ 0 đến 6 tháng tuổi nhằm nỗ lực tìm hiểu vai trò của loạn thần ở người làm cha làm mẹ, trầm cảm liên quan đến việc sinh nở và hút thuốc lá. Các ghi nhận của các đáp ứng với kích thích thính giác bị thiếu hụt được tạo nên khi các đứa trẻ đang tích cực ngủ, một trạng thái tương tự giấc ngủ REM ở những người trưởng thành.

Nhóm nghiên cứu phát hiện, con cái của các bố mẹ mắc loạn thần thể hiện sự hư hại trong ức chế thính giác. Đáp ứng thanh âm đối với kích thích thứ hai giống với đáp ứng thứ nhất cũng cho thấy sự thiếu hụt khả năng kiềm hãm. Trái ngược, trẻ sơ sinh mà bố mẹ không hề mắc loạn thần nào thể hiện sự kiềm hãm thính giác còn nguyên vẹn đối với các kích thích thành cặp.

Các yếu tố nguy cơ khác sản sinh kết quả tương tự thì rơi vào các bà mẹ mắc trầm cảm khi sinh nở và hút thuốc lá. Tất cả trẻ sơ sinh được lượng giá trong nghiên cứu nêu trên cùng có các giai đoạn thai nghén 33- 38 tuần bộc lộ việc chậm trễ phát triển như một nguyên nhân của các đáp ứng rõ rệt. Các kết quả này chứng tỏ chẩn đoán sớm TTPL là khả thể ở trẻ sơ sinh đầu đời và có thể cung cấp một thời điểm cửa sổ tốt ở độ tuổi 16- 18 nhằm đưa ra các can thiệp mang tính trị liệu.

Các đáp ứng thính giác chỉ ra bởi các neuron biểu thị thụ cảm thể alpha-7 acetylcholine. Việc kích hoạt thụ cảm thể này bằng choline đáp ứng sự phát triển của việc kiềm chế não bộ đối với các kích thích thính giác.

Trong nghiên cứu khác, tác giả Ross và các cộng sự (2013) đã khảo sát một can thiệp chế độ ăn uống nhằm thiết lập sự ức chế não bộ. Các phụ nữ mang thai được hỏi mức tiêu thụ phosphatidylcholine suốt kỳ thai cũng như ba tháng sau khi sinh nở. Trẻ sơ sinh cũng được nuôi dưỡng với chất bổ sung này từ khi ra đời cho tới 3 tháng tuổi. Hợp chất bổ sung chứa gấp đôi phosphatidylcholine được bày ra ở các chế độ ăn uống bình thường.

Ghi nhận các đáp ứng thính giác của trẻ sơ sinh cho thấy, hợp chất bổ sung chứa phosphatidylcholine trợ giúp hữu hiệu cho việc hồi phục sự ức chế bộ não bình thường đối với các đáp ứng âm thanh. Các kết quả này chứng tỏ, những can thiệp sớm liên quan đến sự phát triển như thế là có khả năng phục hồi các chức năng sinh lý bình thường của các neuron biểu thị thụ cảm thể alpha-7 acetylcholine.

Thú vị nhất, với các cá nhân điều trị giả dược, trẻ sơ sinh có kiểu gene CHRNA7 (bị khiếm khuyết di truyền ở thụ cảm thể alpha-7) đã thể hiện khả năng nhỏ nhoi trong sự ức chế não bộ. Tuy vậy, trong nhóm cung cấp dưỡng chất bổ sung, trẻ sơ sinh cùng kiểu gene lại cho thấy sự ức chế não bộ bình thường.

Vậy, các chất bổ sung thực dưỡng chứa phosphatidylcholine có thể làm phục hồi những khuyết thiếu sinh lý vốn thể hiện rõ ràng ở người mắc TTPL, chí ít trong các hệ thống thần kinh biểu thị thụ cảm thể alpha-7 acetylcholine.

Toàn bộ các nghiên cứu vừa giới thiệu minh họa khả năng mang lại các đo lường thể hiện tính phục hồi để chỉnh trị TTPL. Dẫu thế, cần các nghiên cứu tiến hành dài hạn sau đó nữa nhằm hiểu biết cần thiết rằng các can thiệp như này thực sự có đem lại sự phục hồi thường trực những thiếu hụt nhận thức- thần kinh ở những ai mắc TTPL hay không.

Cách tiếp cận trị liệu Nhân văn về Loạn thần (2)

Cố ý sắp đặt sự đời
Cố ý sắp đặt sự đời

Mục tiêu của trị liệu từ cách tiếp cận Nhân văn là tạo điều kiện để thân chủ đạt đến sự thích đáng (congruence) về cái tôi thực tế (real self) và cái tôi lý tưởng (ideal self).

Điều này có nghĩa, những gì con người là và những gì anh ta muốn là nên trở thành một khi trị liệu tiến triển. Lòng tự tin (self-esteem) thành tựu trong trị liệu sẽ cho phép thân chủ nâng cao cảm nhận về những gì anh ta là, và lòng tự tin cũng sẽ làm giảm nhẹ nhu cầu làm người tốt hơn những gì anh ta đang là. Hết sức thiết yếu, khi cái tôi thực tế càng được thân chủ chấp nhận, và lòng tự tin nổi cao tất sẽ cho phép anh ta ít thuộc một số dạng thức của cái tôi “lý tưởng” mà anh ta cảm thấy mình bị thúc ép trở thành.

Các phẩm chất của tôn trọng tích cực vô điều kiện, thấu cảm đích xác và chân thành trong nhà trị liệu Nhân văn cho phép nhà trị liệu trợ giúp thân chủ trong việc vun bồi sự thích đáng giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng từ viễn tượng của thân chủ.

Những gì mà người mắc TTPL trải nghiệm có thể gây bối rối. Rõ ràng, hầu hết các nhà trị liệu, tâm thần học và lâm sàng không thể hiểu các viễn tượng của bệnh tâm thần kéo dài mãn tính. E chừng, giá mà giới chuyên môn hiểu được những gì người mắc rối loạn tâm thần cảm nhận việc họ bị cầm tù bên trong làn da mình và một sự cô độc không kiểm soát nổi của tâm trí, với tiếng la hét của các ảo giác thì các nhà lâm sàng điều trị bệnh tâm thần sẽ thừa khả năng để thấu cảm tốt hơn với người mắc bệnh tâm thần.

Vấn đề về sự thấu cảm của nhà lâm sàng đối với bệnh tâm thần chính là quan điểm nhìn nhận người mắc bệnh tâm thần thì biệt lập và bản thân họ không có khả năng suy tư. Có lẽ, những cô độc bên trong các tâm trí của người mắc TTPL hầu như là khía cạnh đớn đau nhất của thực trạng bị mắc TTPL, thậm chí các ảo thanh có thể được thiết lập là thuộc nhóm tâm thần.

Dựa vào các tiêu chuẩn khiến họ cảm thấy không phù hợp, bệnh nhân tâm thần đáp lại với sự sỉ nhục, bêu xấu bằng việc nội tâm hóa nó. Nếu người mắc bệnh tâm thần có thể thành tựu mục tiêu thích đáng giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng, các kỳ vọng của họ hướng tới việc “họ nên là” có thể được điều hợp thành sự chấp nhận “mình đang là ai”. Khi họ hạ thấp các tiêu chuẩn cao đòi hỏi họ nên là, sự chấp nhận của người mắc bệnh tâm thần về các cái tôi thực tế có thể diễn ra hết sức tự nhiên.

Carl Rogers nói, “Khi tôi chấp nhận bản thân như tôi đang là thì rồi tôi đích thị có thể thay đổi.” Trong cách tiếp cận Nhân văn, thậm chí nhà trị liệu có thể trợ giúp một người mắc TTPL chấp nhận họ đang là ai nhờ không ngừng phản ánh sự chấp nhận cá nhân người mắc loạn thần.

Điều này có thể dẫn đến khả năng chữa khỏi được tối đa, dù có thể không phải là sự chữa lành hoàn toàn. Tuy vậy, khi người mắc TTPL ngày càng trở nên chấp nhận bản thân hơn, họ có thể thay đổi. Chấp nhận xã hội là yếu tố cơ bản để đương đầu với TTPL, và chấp nhận xã hội còn dẫn tới việc người mắc TTPL tự chấp nhận bản thân mình. Thái độ chấp nhận của nhà trị liệu có thể là thành phần căn cốt nhằm giảm thiểu các hậu quả tiêu cực do sự sỉ nhục, bêu xấu mang lại như nó không ngừng tác động tới cá nhân người mắc bệnh tâm thần.

Câu chuyện như vậy liên quan tới các điều kiện tưởng thưởng và xu hướng hiện thực hóa. “Các điều kiện tưởng thưởng” ảnh hưởng đến người mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng hơn nhiều so với các đối tượng khác. Thuần túy được chấp nhận và thấu cảm bởi một nhà lâm sàng có thể tạo nên sự chữa lành ở một phạm vi nhất định, ngay cả với bệnh tâm thần mãn tính. Nếu người mắc TTPL được phóng thích khỏi mọi điều kiện tưởng thưởng vốn bám đuôi bởi sự sỉ nhục, bêu xấu thì có lẽ khuynh hướng hiện thực hóa sẽ tự khẳng định nó theo dạng thức tích cực, vắng bóng sự bóp méo.

Theo truyền thống trị liệu theo cách tiếp cận Con người- trọng tâm, thân chủ được phép dẫn dắt cuộc trao đổi hoặc đối thoại trong các phiên trị liệu. Đây là điều lý tưởng cho cá nhân mắc loạn thần, cung cấp niềm tin cho anh ta rằng mình đang được nhà trị liệu lắng nghe. Thật rõ ràng, tâm trí nhà trị liệu sẽ phải căng ra khi họ tìm cách thấu hiểu viễn tượng chủ quan của thân chủ. Theo thuật ngữ của trị liệu Nhân văn, lý thuyết đang bàn cơ chừng áp dụng đối với tất cả cá nhân, vì nó dựa trên tâm lý thuộc mọi con người, mỗi cá thể hết sức độc sáng, đặc thù có khả năng được hưởng lợi từ cách tiếp cận này thông qua tiềm năng triển nở mà họ thừa hưởng từ chúng. Carl Rogers đem lại hy vọng, bởi nhờ phương tiện của lý thuyết, đã đem lại sự cải thiện nhất định cho các cá nhân mắc loạn thần.

Cách tiếp cận Trị liệu Nhân văn về Loạn thần

Thường nhiều người vẫn cho rằng loạn thần hoặc cụ thể như Tâm thần phân liệt (Schizophrenia, TTPL) thì không thể thuyên giảm, vợi bớt đi được, ngay cả nếu có can thiệp bằng trị liệu tâm lý đi nữa.

Trong bài này muốn chỉ ra rằng ngược lại, đấy là điều mà trị liệu, đặc thù như cách tiếp cận của Nhân văn, có thể hữu ích đối với cá nhân mắc loạn thần; song, có lẽ, nhà trị liệu sẽ gặp khó khăn trong việc thấu hiểu cách trường phái này áp dụng vào các vấn đề liên quan đến loạn thần.

Dù ý kiến hiện vẫn còn thịnh hành trong xã hội chúng ta là TTPL không đáp ứng với tâm lý trị liệu, lần nữa, cần khẳng định ở đây bất kỳ nhà trị liệu nào cũng có thể quan hệ với cá nhân mắc loạn thần, và, nếu trị liệu không thành công thì sự thất bại này cơ chừng khởi từ các phẩm chất của chính nhà trị liệu chứ chẳng phải xuất phát bởi đối tượng mắc loạn thần.

Carl Rogers tạo nên lối làm việc với người mắc loạn thần như sự biểu tỏ cho các khái niệm “lý thuyết Nhân văn” và “trị liệu Con người- trọng tâm”. Cách tiếp cận lý thuyết này dựa trên nhiều ý tưởng rất quan yếu phải được thấu hiểu.

Đầu tiên, “các điều kiện xứng đáng” (“conditions of worth”) và “xu hướng hiện thực hóa” (“the actualizing tendency”). Rogers khẳng định, xã hội áp chúng ta vào các “điều kiện xứng đáng”; nghĩa là, chúng ta phải hành xử theo một số cách thức đặng nhận được các sự tưởng thưởng, và chấp nhận các sự tưởng thưởng này hàm ý chúng ta xứng đáng nếu ứng xử theo các cách thức chấp nhận được. Một ví dụ chẳng hạn, trong xã hội, chúng ta được khen thưởng bằng tiền khi mình làm việc ăn lương, tính công sá.

Trong đời sống của đối tượng mắc TTPL, các điều kiện xứng đáng nêu trên dính dáng với các hành động bêu xấu. Các cá nhân mắc loạn thần, chẳng hề cố ý, không thể hành xử theo các cách thức làm nảy sinh sự tưởng thưởng được. Có lẽ một số người tin rằng, đối tượng mắc TTPL là các động vật ăn bám vào xã hội. Lối đánh giá về sự xứng đáng như thế chỉ tổ làm tăng thêm nỗi đau đớn cùng cực hơn cho họ mà thôi; các cá nhân bị bệnh tâm thần và mắc loạn thần thực tế phải chịu đựng hết sức khốn nhục trong mọi khía cạnh xã hội, cá nhân và tài chính.

Sự bất mãn, tuyệt không tán đồng của Carl Rogers về các điều kiện xứng đáng, thậm chí thực tế, ông còn tin rằng con người và các sinh thể khác nỗ lực đạt tới sự toàn mãn các tiềm năng họ có. Phấn đấu, gắng sức này được Carl Roger định danh bằng thuật ngữ “khuynh hướng hiện thực hóa” và “thúc ép ở đời” (“force of life”). Khía cạnh tiến triển mang tính khuyến khích này là động cơ của mọi hình thức sống nhằm phát huy tối đa mọi tiềm năng riêng có. Rogers tin, bệnh tâm thần phản ánh sự bóp méo, xuyên tạc khuynh hướng hiện thực hóa, dựa trên các điều kiện xứng đáng lầm lạc, sai trái. Rõ ràng, người mắc loạn thần giải quyết các điều kiện xứng đáng hết sức tiêu cực, đầy thiên lệch, xiêu vẹo.

Bằng chứng xác thực là bệnh tâm thần có thể nhiều thành tựu trên đời hơn nếu thiên hạ không áp dụng các điều sỉ nhục, bêu xấu họ. Bệnh tâm thần làm cho đối tượng bận tâm vào chuyện tự phỉ báng, bôi bác và cấu xé chính mình đến mức tàn phá cực độ trạng thái bản ngã.

Bạo lực tâm lý nhắm vào bệnh tâm thần được hỗ trợ bởi các cá nhân không mắc rối loạn. Kiểu tự lăng mạ bản thân của các cá nhân mắc loạn thần sẽ chắc chắn giảm thiểu đi hẳn nếu việc xem là vô dụng, một cái gì xa lạ với chuẩn tắc khi mắc bệnh tâm thần không hề được củng cố, xiển dương.

Bất chấp quan điểm phổ biến rằng sử dụng tâm lý trị liệu sẽ thất bại với các cá nhân mắc loạn thần, lý thuyết và cách trị liệu từ bi của Rogers lại tuyệt chưa hề giả định nó không làm nên cơm cháo gì với bệnh tâm thần.

Các thành phần căn bản trong cách tiếp cận tâm lý trị liệu của Rogers bao gồm sự tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard), thấu cảm xác đáng (accurate empathy) và chân thành (genuineness).

Ba thành phần này được xem là phẩm chất cần thiết của nhà trị liệu thể hiện trong quan hệ với thân chủ theo quan niệm của trị liệu Nhân văn. Các phẩm chất này cũng là yếu tính cho tiến trình trị liệu theo lối tiếp cận Nhân văn.

Theo đó, sự tôn trọng tích cực vô điều kiện được hiểu là việc ai đó hoặc thân chủ cảm thấy đang được chấp nhận và đối xử ấm nồng, bất luận họ tỏ lộ như nào trên diễn trình trị liệu dính dáng với chuyện bản thân trải nghiệm hoặc gặp trục trặc về cảm xúc. Nói khác, một cá nhân trong bối cảnh tâm lý trị liệu Nhân văn hoặc trong trị liệu với tâm lý gia hoặc nhà trị liệu Nhân văn mong đợi được nhà trị liệu chấp nhận bất chấp cá nhân đó biểu tỏ ra sao với nhà trị liệu. Với bối cảnh này, nhà trị liệu sẽ chấp nhận và thấu hiểu mà không chấp vào những gì thân chủ kể cho mình nghe.

Sự thấu cảm xác đáng thể hiện hiểu biết thân chủ từ chính viễn tượng của bản thân họ; tức là, tâm lý gia hoặc nhà trị liệu Nhân văn sẽ có khả năng tri nhận thân chủ như thân chủ tri nhận bản thân mình vậy, và vì thế, nhà trị liệu sẽ cảm thấy thấu cảm cùng thân chủ kiến thức nền tảng về thực tế của thân chủ. Nhà trị liệu sẽ biết thân chủ trong cái sự biết mà các suy tư và cảm xúc của thân chủ đối với bản thân, và nhà trị liệu cảm thấy thấu cảm, từ bi với thân chủ trong sự kiện ấy.

Như một phẩm chất cần thiết khác đối với nhà trị liệu Nhân văn, sự chân thành là niềm tin tưởng, lòng thành thật hướng tới thân chủ; nó là sự tích hợp hoặc tự hiện diện như thực tế nhà trị liệu đang là. Chân tình, thành thật với một thân chủ phản ánh các phẩm chất ở nhà trị liệu đòi buộc bộc lộ ra ngoài hơn trạng thái mặc định sẵn trước như một nhà trị liệu; là một con người đích thực đáng tin cậy đối với thân chủ. Carl Rogers tin rằng, là một nhà trị liệu thì mình nên là người đích thực đáng tin cậy đồng thời cũng chứng tỏ mình là người suy nghĩ cân nhắc, cẩn trọng; tức, nhà trị liệu nên dễ là người “thật”, ngay cả khi nhà trị liệu đang nói và làm đầy tính toán theo những gì đòi hỏi đặng trợ giúp thân chủ.

[còn tiếp]