Sao chẳng nghĩ là chúng ta đang cười nhạo chính mình nhỉ?

Chuyện đùa tếu hay nhất là thứ chuyện khiến chúng ta sẽ cười phá lên sau khi nó chọc thẳng vào chính mình đầy khó nhằn và hết sức gay gắt.

Bạn càng dễ dàng cảm nhận như thế khi xem xong bộ phim Hàn quốc A Muse/ Nàng Thơ (2012).

Hãy nghe nhân vật cậu học trò, văn sĩ trẻ mới nổi phát ngôn:

Quan hệ giữa một ông già 70 tuổi và một nữ sinh trung học không phải là quan hệ yêu đương. Không bao giờ! Đó là một vụ tai tiếng, thưa Thầy!… Một vụ tai tiếng bẩn thỉu! Một câu chuyện về một nhà thơ tầm cỡ quốc gia làm tình với một cái gương? Thưa Thầy, Thầy là một lão già bẩn thỉu!

Và như thế, câu chuyện quá chừng kỳ cục, hết sức bất bình thường trên nền nhạc hòa âm vô cùng dồn dập theo điệu mời gọi dục vọng và cố ý khơi gợi thân xác ấy cứ triền miên diễn tiến… Bất chấp tất cả những chối bỏ một phần hay toàn bộ cảm nhận hốt nhiên của khán giả về cái sự thật đích thực ở đời.

Dưới đây, sơ qua nội dung phim:

Lee Jeok-yo (Park Hae-il đóng), thi sĩ dạng “quốc gia chi bảo”, bước vào tuổi 70 khi ông chấp bút cho Seo Ji-woo (Kim Moo-yeol) cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Phát hiện thấy nữ sinh trung học Eun-gyo (Kim Go-eun) thiếp ngủ trên ghế dưới mái hiên nhà mình, ông ngay lập tức phải lòng, và thay vì trừng phạt tội đột nhập tư gia trái phép, vị thi sĩ (ngấm ngầm) đồng ý thuê cô bé làm công việc dọn dẹp…

Càng dành nhiều thời gian bên Eun-gyo, ông Jeok-yo càng nhanh chóng bị cô bé cuốn hút thôi rồi đến độ khởi sự viết liền một truyện ngắn về mối quan hệ tình dục huyễn tưởng với người đàn bà trẻ hừng hực.

Trong lúc hai người kia càng ngày càng tiến sát gần nhau hơn, chàng Ji-woo nhận ra mình không còn chiếm được vị trí đối với lão gia thi sĩ như trước nữa, đồng thời cũng phản cảm ghê gớm với mối quan hệ mà cậu ta cho là tởm lợm, tuyệt đối chẳng xứng hợp chút nào.

Phát hiện bản thảo của Jeok-yo, nỗi hậm hực bấy lâu trong lòng xen lẫn niềm ghen tuông với mối quan hệ của Jeok-yo và Eun-gyo (thêm cả vẻ đẹp rúng động trong tác phẩm của thầy mình) bùng lên mãnh liệt khiến Ji-woo đánh thó bản thảo và gửi đăng truyện ngắn bằng tên của mình…

Wow, thực tế, chúng ta tự vấn bao nhiêu lần trong đời đã bị chọc tức, chơi khăm ít nhiều hơi hướng như trên bởi những ai đó tình cờ đi ngang qua đời mình.

Sự thật là mình có thể không bao giờ dám thổ lộ chân tình rằng người xa lạ hoàn hảo mình bỗng dưng chạm mặt ấy, người quyến rũ mình vào bất kỳ trò chơi “dở hơi, điên khùng” hay thậm chí trong tình huống bình thường đấy lại không đúng là một kẻ khoác vai đùa cợt, chơi khăm ta.

Mình nên đáp ứng sao đây với người, chẳng hạn, cần trợ giúp vì một đặc ân, xin xỏ, muốn được biệt đãi? Liệu mình có đối xử với anh ta/ cô ta một cách nghiêm túc hay tránh né, xua đuổi họ đi tức thì?

Bất kể mình nhìn sự hiện diện của những kẻ trêu đùa, chọc tức này là một sự vụ phiền bực hoặc một hơi thở mát lành hiếm hoi thì rốt cục câu chuyện đều có thể chỉ kể về chính bản thân mình mà thôi.

Tương tự, bị chộp bắt không tỉnh thức trong một câu chuyện cười thiết thực có thể phơi bày nhiều khía cạnh về tính cách bản thân mà ta đã chẳng hề nhận ra bấy lâu ẩn nấp, tồn tại trong lòng.

Những đặc tính ẩn tàng này đích thực chỉ “chực chờ” cơ hội phù hợp để bật nảy, xổ tung, bung bét… Liệu mình sẽ bị ăn phải bả bởi lòng tham thông qua một vụ lừa đảo liên quan đến tiền bạc, đất cát chẳng hạn? Liệu mình có náo động và làm tanh bành hết lên vì bị xỏ gạt? Bằng cách nào mình có thể cười xòa liền với một cảm thức hài hước thường trực sau tất thảy các khả thể như vậy? Cách thức mình đáp ứng là thước đo phạm vi, mức độ tâm linh của bản thân.

Không giỡn đâu! Cứ thử ghi chép lại– bất kỳ suy tư, phát ngôn hay hành động dự tính nào khởi lên khi mình chơi trò lừa gạt hoặc đang bị gạt lường– theo trạng thái tâm trí mình xem, rồi khắc biết ngay!

Tỷ dụ, lừa ai đó với mục đích cợt nhả, cười nhạo có thể sẽ xấu lắm, mà sự phản ứng ăn miếng trả miếng khi biểu đạt giận dữ do bị lừa cũng tồi tệ không kém. Nghịch lý thay, trợ giúp chân thành một kẻ chọc ghẹo, gây tức giận trong một tình huống ‘giả tưởng’ lại tạo nên được một nghiệp lực tốt đẹp.

Giả định bạn rảnh rỗi và tò mò nên vừa xem trực tuyến xong bộ phim… Nào, giờ bạn sẵn sàng để ‘bị chơi’, ‘chấp nhận để thử nghiệm’ chưa? Cách duy nhất biết rõ mọi chuyện là làm một con mồi bị rơi vào một trò chơi khăm, trêu chọc.

[Bật mí tí xíu ngoài lề: Có thể ông Phật không chỉ cười xòa khi nhận ra tính phi ngã, đức ngài còn có thể cười thoải mái ngay cả vào chính cái ‘ngã’ của mình nữa.]

Một loại ảo giác khá lạ, thuộc về bên trong cơ thể

Một trong các triệu chứng chí ít được hiểu trong loạn thần là những ảo giác được gọi tên do thuộc cảm giác bệnh lý (cenesthesias, chẳng hạn).

Các cảm giác mang yếu tố bệnh lý ấy là các cảm nhận “nội tại cơ thể” vốn thường không tương ứng với bất kỳ thứ gì từng được biết hoặc thậm chí những trải nghiệm khả thể thuộc thân xác.

Đội ngũ nghiên cứu từ Nhật Bản vừa mới công bố một nghiên cứu về các bệnh nhân trải nghiệm cenesthesias ở trong miệng.Dưới đây là tập hợp các ảo giác:

“Cảm thấy như thể khí gas đang bùng lên trong miệng anh ta”, “cảm thấy như thể điều gì đó đang giành giật nhau, như thể có một con vật trong mồm anh ta vậy”

“Cảm thấy sự hiện diện của những sợi dây điện trong những chiếc răng cửa hàm dưới khi di chuyển hàm răng”

“Cảm thấy điều gì đó tựa bầy nhầyđang đến rất nhanh trong miệng cô ấy”, “cảm thấy như một màng đang bao phủ và xiết chặt lấy những chiếc răng cửa của cô ấy”

“Cảm thấy như đồ rác rưởi đang dâng lên từ đằng sau hàm răng cô ấy”, “cảm tháy như đầy nhớt dãi trong miệng cô ấy”

“Cảm thấy như nước bọt đầy nhớt dãi”, “cảm thấy như răng cô ấy làm bằng sắt và thật đau nhức khi nhai”

Nghiên cứu dùng một kiểu quét não bộ định danh là SPECT (yếu tính là tiêm vào bộ não lượng đường phóng xạ, đặng nhìn xem những gì đang diễn ra với một máy ảnh tia gama) để xem xét sự cân bằng của hoạt động thông qua hai bán cầu đại não khi các bệnh nhân đang nghỉ ngơi thực sự.

Nhóm nghiên cứu phát hiện rằng hoạt động chủ yếu xảy ra nhiều hơn ở bán cầu phải, điều khá thông thường song hết sức chẳng đáng tin cậy trong nghiên cứu loạn thần.

Nhân tiện, dành cho ai mê thích điện ảnh: sự kiện thảo luận màn bạc có thể biểu đạt các trạng thái thay thế của loạn thần như thế nào.

Trạng thái loạn thần dưới cái nhìn của Tâm lý học (3)

[Tiếp tục]

Có thể nói rằng, người mắc loạn thần gặp vấn đề hoạt động của thùy não trước trán bị hạn chế.

Từ đây làm nảy sinh câu hỏi: “Liệu loạn thần là nguyên nhân hay hậu quả của hoạt động bị hạn chế của thùy não trước trán?” Có lẽ, câu trả lời là cả hai. Cá nhân mắc loạn thần đặc trưng có lý trí tự thân: “Tôi nghe tiếng nói ở trong đầu. Điều này nghĩa là có ai đó hoặc điều gì đó đang nói trong đầu của tôi.”

Dù khoa học dạy chúng ta rằng không được định kiến về trải nghiệm thể lý và tâm trí bằng cách loại trừ nét khác biệt trên bề mặt giá trị của nó, song loạn thần, bao gồm ảo giác và hoang tưởng, thể hiện của nhiều cá nhân mắc loạn thần cho thấy không thể có ý thức thích đáng, hoặc khó mà am hiểu rốt ráo đầy lý trí.

Năm 1929, Freud tuyên bố: “Cảm nhận về cái tôi hiện tại chỉ là phần dư còn lại của một cái gì rộng lớn hơn– thực sự gộp vào tất cả– cảm nhận tương ứng với một mối dây liên kết thân thiết hơn giữa cái tôi (ego) và thế giới xung quanh.

Trong phạm vi thuộc phẩm chất niềm tin trị liệu, một trải nghiệm thông qua quan hệ với một vị thần, tôn giáo biểu đạt mối liên kết với một vị thần có thể biểu đạt một sự diễn lại trạng thái nguyên thủy đến độ nó tái tạo mối kết nối cộng sinh  mà ý nghĩa báo trước mối quan hệ với đối tượng bà mẹ.

Sự đồ vật hóa (reification) của một mối quan hệ dễ được xem là mục tiêu của mối đồng minh mang tính trị liệu. Tuy vậy, một sự kết nối như thế với nhà trị liệu trong đời sống trưởng thành của một người không phải là sự tái tạo của mối kết nối với Thượng đế, hoặc đối tượng bà mẹ, hoặc bất kỳ một nhân vật mang tính biểu tượng cơ bản nào khác từng được xây dựng trong thuở thiếu thời hoặc tâm trí vô thức.

Người trưởng thành không phải là nguyên khởi bất chấp cái ấy (id) đang bị che lấp. Người trưởng thành sở hữu cái tôi (ego) và một lương năng (conscience) được thiết lập như lẽ phải và cảm nhận về bổn phận đạo đức. Vì các lý do đó, mối quan hệ giữa thân chủ (client) và nhà trị liệu của anh ta (therapist) không đòi hỏi phải kết nối với tôn giáo hoặc tình mẫu tử, cộng sinhvà thân mật quá mức, hoặc một sự cảm nhận hồi quang tất tật nhằm đạt được hiệu quả. Thực tế cho thấy nhu cầu này có thể làm trục trặc chức năng và phản trị liệu.

Phẩm chất bản năng đi kèm với các ảo giác, tuy vậy, trong một vài thực tại có thể được các nhà trị liệu và lâm sàng không loạn thần xem như là trải nghiệm loạn thần.

Cá nhân mắc loạn thần không thể biết lý trí với các ảo giác. Anh ta không thể làm hiện lên trong mình sự đồng cảm, thấu cảm hoặc tội nghiệp. Anh ta không thể vượt thoát khỏi khu vực trong đó chúng trú ngụ, bất kể những ảo giác của người mắc loạn thần xảy đến tại lãnh địa thể xác hoặc tâm trí.

Hơn nữa, như một sự lặp lại định tĩnh và đáng giá, trải nghiệm loạn thần có thể xảy đến như một hiện tượng mà tự thân sự biểu đạt trên mức độ của trải nghiệm bên trong tâm thần đã không thể chịu đựng và chấp nhận nổi trong sự được tri nhận như tính thân mật nội tâm thần.

Các thực tại không thường được đề cập bởi các nhà trị liệu và lâm sàng không loạn thần  thuộc địa hạt của những tưởng tượng, và sự tưởng tượng có thể chỉ là phương tiện duy nhất mà các nhà cá nhân không mắc loạn thần cơ chừng dễ thấu cảm với đối tượng mắc loạn thần.

Các cá nhân mắc loạn thần sống với các trải nghiệm sinh động mà hầu hết thiên hạ có thể thấu hiểu nổi, và nếu người không mắc loạn thần nhận ra sự kiện này, điều ấy có thể giúp cho các cá nhân mắc loạn thần hiểu biết tốt hơn trải nghiệm loạn thần.

Tâm lý trị liệu trong truyền thống nhân loại có thể trợ giúp cho các cá nhân mắc loạn thần, đặc biệt với năng lực truyền đạt sự thấu cảm bởi nhà lâm sàng không loạn thần đối với trạng thái cảm xúc của cá nhân người mắc loạn thần, là kết quả của trạng thái ý thức của anh ta. Trạng thái ý thức này có thể được nhà lâm sàng tri nhận đầy thấu cảm mà không hề tán thành, đối với thế giới quan của cá nhân mắc loạn thần.

Trải nghiệm của cá nhân mắc loạn thần có thể cần được chấp nhận trước tiên, thứ đến là thấu hiểu, rồi sự thử thách sau rốt, nếu đây là điều khả thể của các nhà lâm sàng khi làm việc với người mắc loạn thần.

Cách trị liệu đáng tin cậy nhất cho loạn thần vẫn là dược lý, và hiệu quả của cách điều trị này phải được xem xét hài hòa với thực nghiệm khéo léo trong việc phát hiện thuốc men đúng đắn, hoặc nối kết thuốc men với đặc tính sinh hóa thuộc cá nhân người mắc loạn thần.

Lý thú là, với hầu hết giai đoạn trong đời, các thuốc chống loạn thần (antipsychotic medications) được gọi bằng cụm từ “các loại áo bao bọc trực tiếp tâm thần” song gần đây, các thuốc thế hệ không theo truyền thống mới hơn có năng lực để “tổ chức tâm trí”.

Cũng đáng nói, các cá nhân mắc loạn thần như thế có điểm số xấp xỉ 10. trở lên trong thang điểm IQ tổng quát khi học sử dụng thuốc chống loạn thần thể hiện mới hơn, đối lập với điểm số của những người tham gia thực nghiệm không dùng thuốc.

Trong khi điều này có thể tiếp tục cổ vũ cho việc điều trị người mắc loạn thần thì vấn đề loạn thần vẫn còn là điều vô cùng khó khăn để gỡ bỏ, mà dường như chính là đang cần gỡ bỏ dần tâm trí loạn thần.

Trạng thái loạn thần dưới cái nhìn của lý thuyết tâm lý học (2)

Cuộc trò chuyện xảy đến bên trong mối quan hệ cái tôi – đối tượng khách thể này cho phép đồ vật hóa các niềm tin mang tính loạn thần hoặc hoang tưởng (delusions) vốn nảy sinh trên sự lêu bêu của cá nhân mắc loạn thần đi ra khỏi suy nghĩ thông thường, nhằm hướng tới công nhận suy tư huyền ảo được kế thừa bởi một xác định về sự làm ra vẻ tồn tại của một hoặc nhiều bản dạng bên trong lĩnh vực tâm trí, mà cá nhân mắc loạn thần đánh giá là đang đối thoại với cái tôi.

Tự thân điều diễn bày này như một vết nứt vỡ trong tâm trí người mắc loạn thần. Khi lêu bêu với tâm trí bị nứt vỡ ấy, anh ta sẽ hiểu, có lẽ ngẫu nhiên thôi, một số lý giải hoặc các “trực giác” thấm nhuần trong những hoang tưởng mà anh ta biểu đạt. Những diễn bày như vậy cân bằng với phần đồ vật hóa và bị nứt gãy của tâm trí được dẫn dắt bởi các đánh giá thuộc về tiến trình loạn thần mà cá nhân trải nghiệm ngay lập tức.

Không có lý do nào để cho rằng một người mắc loạn thần có thể khách quan được trong tình huống này. Anh ta không có khoảng cách khách quan với các hiện tượng loạn thần như thế, anh ta không có nền tảng cơ bản để hiểu biết trải nghiệm, đa phần bởi vì những người khác bảo trải nghiệm của anh ta mấu chốt là không tồn tại, và đặc biệt dường như cưỡng bức cá nhân người mắc loạn thần để có thể tri nhận anh ta lành mạnh được. Mục tiêu vừa nêu có thể là điều bắt buộc, mang tính sai khiến đối với hầu hết những ai mắc tâm thần phân liệt (schizophrenics).

Một giả định về sự tự do ý chí (free-will) theo nghĩa thuộc suy tư tự định hướng và có dự tính giúp người mắc loạn thần kiến tạo, chí ít với đối tượng mắc tâm thần phân liệt dạng paranoid, những hoang tưởng kỳ cục và có hệ thống mà bất kỳ nhà lâm sàng nào đều có khả năng nhận ra mức độ cam go, ác liệt của chúng.

Những suy tư tỏ ý định tùy thích như thế có thể tăng cường thêm lập trường hoang tưởng là những nỗ lực ngõ hầu không những đưa đến việc tránh bị cô lập, ngược đãi mà còn thậm chí nghĩ về những hoang tưởng của người ta có thể kéo dài miên man sự hình thành quan niệm loạn thần. Đây như là kết quả của những gắng sức phát hiện ra một cách thức nhằm nhìn nhận chính suy tư của mình không thuộc diện loạn thần, và, như đã ngụ ý, hầu hết các cá nhân mắc loạn thần có thể được thúc đẩy bởi mục tiêu về sự lành mạnh.

Tuy nhiên, sẽ miên man loạn thần, và nhất là cứ hoang tưởng. Các ảo giác miêu tả những biểu tượng hoặc khái niệm bên trong tâm trí, thậm chí ngay cả chỉ thuộc phạm vi các ảo thanh là những từ ngữ như những biểu tượng mà cá nhân mắc loạn thần “nghe thấy” trong tâm trí của anh ta.

Cần phải xác quyết rằng loạn thần có thể được mô tả như một tiến trình mà tự nó là một thứ trải nghiệm chẳng hề dựa trên lý trí (theo bản năng) đang ảnh hưởng đến những cảm xúc trên các bình diện của cái ấy (the id), cái tôi (the ego) và cái siêu tôi (the superego).

Loạn thần có thể gợi mở về những bản năng, sự bóp méo lý trí, và tàn phá lương tri. Đây có thể là kết quả của loại trải nghiệm không chuẩn tắc của người mắc loạn thần, đối tượng cảm thấy và suy tư rằng những “người khác” ẩn nấp bên trong tâm trí anh ta được thức nhận như là thuộc về tất cả các khía cạnh của chính bản thân anh ta.

Như một vài cá nhân không loạn thần phân biệt ra, một sự thiếu vắng các ranh giới với những người khác, các ranh giới vốn được tri nhận là không hề tồn tại bên trong tâm trí của cá nhân mắc loạn thần là nguyên nhân làm cái tôi bị tan rã và có thể dẫn tới một trạng thái căng trương lực (catatonia) về cả khía cạnh cảm xúc lẫn tâm trí người ta.

Chính bởi lý do như vậy, cá nhân mắc loạn thần có thể bị tác động vô cùng bất lợi từ các tiến trình loạn thần vượt thoát khỏi việc suy tư mang tính phân tích, có lẽ tồn tại riêng biệt, không thể và sẽ không bị giảm giá trị, gièm pha hay nói xấu được đâu.

[chưa hết]

Trạng thái loạn thần dưới cái nhìn của lý thuyết tâm lý học

Thường dựa trên cam kết của tâm lý trị liệu theo lối tiếp cận nhận thức – quan hệ và thuốc men định hướng sinh học như là cách xử lý hiệu quả tiến trình loạn thần thì cả lý thuyết lẫn thực tiễn lâm sàng đều chứng tỏ tính phức tạp ghê gớm mới có thể định dạng, bàn tính tới hiện tượng loạn thần.

Theo thuật ngữ Phân tâm học, tư duy nói chung được kinh qua như sự liên tưởng tự do của nhận thức hoặc các ý nghĩ. Một cá nhân bị loạn thần trải nghiệm các ý nghĩ một phần sở hữu bởi “cái tôi” (“the self”), một phần bởi “tha nhân” (“the other”). Người mắc loạn thần có thể dấn tới thể hiện tính khách quan (objectification) trong thế giới tâm trí, do đó trải nghiệm một phần tâm trí thuộc của riêng anh ta, trong khi một số phần vốn trội hơn hẳn của tâm trí anh ta– thuộc về những người khác– mọi thứ này đều cho là của cá nhân mắc loạn thần.

Đối tượng ấy trải nghiệm một sự tha hóa (alienation) đầy ý nghĩa, dễ chừng được giả định rằng sự tha hóa bao gồm cả nguyên nhân xô đẩy và tác động có thật của sự phóng chiếu (projection) của kiểu dạng này nằm bên trong tâm trí người ta. Điều này cơ chừng làm vơi bớt nỗi cô đơn để tri nhận những ảo giác (hallucinations) là “thật”.

Bởi vì cuộc trạm chán với những ảo giác của cá nhân mắc loạn thần thường hay dựa trên sự diễn bày của các cuộc trò chuyện có liên quan với “tha nhân”, đối lập với trạng thái thoải mái của các mệnh giá (entities) bên trong tâm trí, nên cũng có thể nói rằng người mắc loạn thần trải nghiệm một trạng thái thân mật hết sức trơ trẽn với “tha nhân” được phóng chiếu, một sự thân mật tri nhận là trần truồng về mặt tâm lý. Tri giác thân mật này hoàn trả lại các tiến trình loạn thần vốn được thiết lập như để trừng phạt người mắc loạn thần vậy.

Tình huống phóng chiếu lên trên lãnh địa tâm trí dù có thể gây hậu quả làm bối rối tựa một mối quan hệ mang tính ác liệt giữa cái tôi và đối tượng khách quan, nó được người mắc loạn thần tri nhận, thậm chí ngay cả khi nó làm thuyên giảm, dịu bớt mức độ tha hóa và đơn độc.

[Hơi uể oải, tạm dừng đây vì đã muộn giờ, và vài bữa sẽ viết thêm đặng nhanh chóng kết thúc bài]

“Hết sức điên khùng”

Thật giật mình, nhớ tới cụm từ “điên khùng” (Google cho 2.430.000 kết quả, sau 0, 29 giây) bởi quá ấn tượng với cách một tờ báo giật tiêu đề.

Hôm nay, tròn 1 năm vụ án Đoàn Văn Vươn, và diễn ra phiên xử kỳ án vườn mít lần 3.

“Hết sức điên khùng” xem ra là cách gọi dân dã cho rối loạn tâm thần mang tên Tâm thần phân liệt (TTPL, Schizophrenia).

Như từng giới thiệu (nhấp chuột vào tag “tâm thần phân liệt” ở bên dưới bài viết), thuật ngữ “schizophrenia” là do nhà tâm thần học Thụy Sĩ Eugen Bleuler tạo ra năm 1908. Trong lời giới thuyết, Bleuler nhất quyết thay cho “dementia praecox” (sa sút tâm trí sớm), một thuật ngữ được Arnold Pick sử dụng lần đầu tiên để phân loại một rối loạn tương tự (hoặc một nhóm rối loạn). Bleuler mô tả yếu tính của schizophrenia là “những mối liên kết phóng đãng” giữa nhân cách, suy tư, trí nhớ và tri giác. “Dementia praecox” có sự chú tâm khác, nhằm mô tả các bệnh nhân đang gặp một sự phá vỡ toàn bộ các tiến trình tri giác và nhận thức (dementia) đi kèm với khởi phát sự công kích (praecox).

Từ “schizophrenia” nguyên vốn gốc Hy Lạp và được chuyển ngữ khá sát thành “trạng thái phân ly của tâm trí” (“splitting of the mind”). Nó thường được viết vậy, bởi thế, schizophrenia bị hiểu sai là đang có một sự phân ly hoặc đa nhân cách. Ngoài ra, nó còn được biết đến như “rối loạn nhân dạng phân ly” (“dissociative identity disoder“) là  “một nhân cách phân ly”: người ta có hai hoặc nhiều hơn các nhân dạng khác biệt hoặc các nhân cách hết sức thay đổi kiểm soát hành vi của anh/ chị ta. Tôi không tuyệt đối đoan chắc rằng rối loạn này tồn tại theo nghĩa thẳng thắn nhất song bất luận thế nào, hiểu biết chúng ta hiện có về schizophrenia rốt cục chẳng hề giống gì như vậy cả.

Starbucks là một thương hiệu điên khùng“, tờ BBC bảo thế. Giời ạ, chính là cái tin thương hiệu café nổi tiếng này sẽ mở cửa hàng đầu tiên tại Saigon vào tháng tới khiến tôi càng để ý hơn tới các từ ngữ ám chỉ sức khỏe tâm trí và các rối loạn tâm thần.

Với những đối tượng mắc và gia đình họ, TTPL có sức tàn phá khá ghê gớm. Song thay vì đơn giản sử dụng như vậy, “schizophrenic” (“điên khùng”) thường được dùng hầu như bình thường để chỉ “không nhất quán và nghịch ngược”. Ngoài ví dụ của đài vừa nêu trên, đây là ví dụ điển hình tiếp tục cho thấy có một sự hiểu không chính xác liên tục đã làm mất thể diện, gây tổn thương một nhóm người.

Nhân tiện, tôi không biết tại sao một số cách dùng nọ kia vẫn được duy trì và chấp nhận; chẳng hạn, người trẻ bây giờ rất thích đùa cợt vui vẻ với từ “tự kỷ”.

Cũng nên biết, người ta đang đề nghị xem có nên sử dụng cụm từ “tâm thần phân liệt” (“schizophrenia”) hay không.

Ngày số đẹp qua đi và sự mê tín lì lợm vẫn còn ở lại

Với cá nhân tôi, hôm nay là ngày thật đẹp vì tình cờ đọc được tin nữ nạn nhân bạo lực năm nào giờ đã yên ấm và sinh con cùng với một người chồng mà lý do “đến với nhau ban đầu vì thương.”

Ngày hôm nay được số hóa ấn tượng là 12.12.(20)12 sẽ  trôi qua trong chưa đầy chục phút đồng hồ thôi để khẳng định lần nữa yếu tố tuyến tính của thời gian; những háo hức, buôn dưa của không ít người trẻ được các trang mạng lá cải khuếch trương chắc chắn lại lắng xuống rồi trôi đi, như chưa từng có những thời khắc không ngờ mình lại dở hơi và phóng túng đến vậy.

Tiếc là, sự mê tín lì lợm vẫn còn ở lại; dù mình không nhất thiết buộc phải mê mải, gắn bó sát sao nó đến độ chẳng thể thay đổi nổi đối với thân phận con người cùng cuộc đời trần tục này.

Năm mới 2013 cũng sắp đến. Thêm cơ hội gợi nhớ nỗi ám sợ con số 13. Thêm dịp đau đớn nhìn thấy những đồn đoán, vọng động, múa may quay cuồng khôn cùng khi hiện trạng “tâm viên ý mã” còn là điều bình thường hàng ngày.

Thật dễ dàng để dán nhãn thời thượng ngõ hầu đánh lừa nhau và tự dối mình về cái gọi là “Thượng Đế” hoặc tôn giáo hay tâm linh.

Kết thúc ngày hôm qua với một cuộc nói chuyện trực tuyến tình cờ về một trạng thái tắc tị và dính mắc lâu rồi, chứ không vội vàng chấp nhận những định hình bề mặt do công việc ngập đầu, hoặc do căng thẳng bởi hạn mức đòi hỏi còn ít ỏi.

Cháu luôn có những hành động sai lầm trong cơn bấn loạn. Hậu quả thì nghiêm trọng thôi rồi. Ít ra lúc này đã nhận ra được!” Tôi thích khoảng im lặng dài hơi của cô gái trẻ có bằng sau Đại học chuyên ngành ngôn ngữ trước khi gõ xuống mấy dòng giản dị này.

Sáng nay thức giấc với tag chờ sẵn về một bộ phim mang chủ đề đang ồn ào rất sến của Abel Ferrara, và cậu bạn đạo diễn điện ảnh trẻ dường như cả đêm thao thức chưa đủ nên được dịp tranh thủ tâm sự, dũng cảm tự thú như thao tác lướt mạng cuối cùng trước khi đi ngủ.

Em luôn cảm thấy mình sa ngã trong từng suy nghĩ.

Em luôn cảm thấy mình đã khôn vặt bởi đã sống trong một môi trường không thực sự tốt đẹp nhưng bản năng được tôi luyện cho sự khôn ngoan, lươn lẹo.

Thật căng thẳng khi chạm tới những vấn đề của ranh giới và ngăn cấm, của năng lực duy trì trạng thái cân bằng và kỹ thuật giữ gìn ngọn lửa sáng tạo, việc được lắng nghe và tạo dựng môi trường nâng đỡ vô tư mà không kèm miễn phí lời răn dạy, vùi dập hay định hướng,…

Hôm nay, sinh nhật và cũng là ngày tạ thế của Yasujiro Ozu— vị đạo diễn Nhật Bản sống trọn lục thập hoa giáp, tác giả của những bộ phim tính Không giản dị đến độ làm ta khó nguôi quên sự trống vắng bao la để lại.

Bây giờ, cơ chừng những người trẻ tôi quen biết và làm việc có một nỗi buồn khó đỡ hơn; tưởng đầy tràn, thao thiết, háo hức, bất cần, sẵn sàng quên mình hy sinh đấy mà kỳ thực thì hụt hẫng, mất lòng tin, xa xót và – đúng vậy- khôn lỏi… Những chiêu trò kêu gọi chơi đùa ru giấc ngủ vùi trộn lẫn nét mỏi mệt và vẻ cay đắng phi lý; họ rất dễ đốp trả, phản ứng song lại cảm thấy quá chừng khó khăn đặng kiểm soát tâm trí đã quen thả rông hoang dã cùng với việc cưng chiều vô lối cảm xúc lố bịch.

Hậu quả của một tuổi thơ tha hóa và èo uột biểu tượng người cha đích thực.

Đấy mới chính là sự hủy diệt âm ỉ chắc chắn sắp dẫn tới kết cục bàng hoàng đáng lo lắng nhất.

Tác động xã hội, tâm trí và loạn thần: những câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ khi đọc sách, báo

Một bài báo đáng đọc, về vai trò tác động của môi trường xã hội đối với người mắc Tâm thần phân liệt (Schizophrenia, TTPL), bao gồm cả ảnh hưởng thái độ và hành vi của những người khác nữa.

Ý tưởng cơ bản: bộ não không thao tác cách biệt, cô lập; nó cùng xem thân xác như một toàn thể, xuống đến họat động ở những tế bào xa xôi nhất. Chúng ta không ngừng đáp ứng và tương tác với các môi trường xung quanh.

Dẫu có thể giữ vai trò quyết định trong điều trị bệnh tâm thần, đặc biệt các trường hợp nghiêm trọng, song thuốc men không phải là tất cả và không thể giải quyết được mọi vấn đề. Tương tự, việc chụp quét sóng não và đánh dấu các mẫu hình kích họat não bộ. Những gì chúng bảo cho tôi biết về một cái gì như là bạn đây? Suy nghĩ, mơ mộng và trải nghiệm thế giới theo cách bạn tiến hành?

Tác giả Luhrmann viết:

Sâu xa chúng ta là những tạo vật xã hội. Thân xác giam nhốt, chế ngự chúng ta, song các tương tác xã hội mới tạo nên chúng ta.

Chúng ta không thể hiểu biết đủ đầy về nhau, song tại sao cứ vờ như chẳng biết được gì rốt ráo tách ra khỏi những phẩm chất khá giả tạo?

Nội dung R. Laing trình bày trong cuốn sách của mình là một sự thấu thị về tâm lý trị liệu– nơi mình không buộc phải gắng sức đầy thúc ép nhằm làm người ta “bình thường” (bất luận những gì bình thường xảy đến với một xã hội nào đó) song là làm một người hướng dẫn họ, và nghe đích thực những gì họ nói về trải nghiệm của bản thân– thay cho việc chẳng ngừng xua đuổi nó để thành ra một tập hợp các triệu chứng.

Một vài điểm xuyết vội vàng về cuốn sách hấp dẫn của Laing:

1) Chúng ta sống trong một xã hội mà không thực sự thu nhận chuyện tồn tại của một “thế giới nội tâm’ phức tạp của những giấc mơ/ tưởng tượng/ huyễn tưởng, v.v… mang bất kỳ ý nghĩa tí ti chi nên ra đời những năm 1960, cuốn sách vẫn còn thích hợp với thời buổi ngày nay.

(“Thế giới nội tâm” được đặt trong ngoặc kép, bởi vì các ranh giới mập mờ giữa những gì xảy đến trong đầu và thế giới bên ngoài kia– thậm chí, các tri giác căn bản về thế giới bên ngoài được lọc lựa thông qua bộ não, và các suy tư lẫn các tiến trình tâm thần của chúng ta làm biến đổi cách thức chúng ta tri nhận thế giới, những gì chúng ta dự tính thực hiện, những gì ghi nhớ, v.v… Laing tạo một điểm tương tự về chuyện chẳng có gì ngăn cách rõ ràng giữa nội tại và ngoại giới.)

2) Chúng ta nhìn người bị chẩn đoán mắc bệnh tâm thần như loại kém cỏi hơn và thuộc Tha Nhân/ Kẻ Khác; những chuyên gia sức khỏe tâm thần tiến hành tốt nhất sự khuất phục và chỉ định thuốc cho họ, thay vì khám phá và hiểu biết viễn tượng của bệnh nhân.

3) Chúng ta không thể trợ giúp con người phát triển thịnh đạt nếu không nhìn nhận họ là các cá nhân bị vướng víu, lúng túng trong các quan hệ với những người khác và trong tương tác với xã hội, các thiết chế và nền văn hóa.

Làm tâm trí quá chừng khiếp hãi

Phong cảnh tâm trí chúng ta có thể là nơi đáng sợ. Dù nó cũng tươi đẹp, tinh tế song lại không dự đoán nổi, mãnh liệt và kinh khủng.

Laing trích dẫn người từng trải qua– và cơ bản thường trộn lẫn– với các giai đoạn loạn thần khiến họ cảm thấy mình đang du lịch lùi lại thời gian, tiếp chạm vào các chiều kích và bình diện khác nhau của sự tồn tại, gặp gỡ tình cờ các sự thật cốt lõi về đời sống được thể hiện dưới dạng siêu việt, vượt thoát và vô cùng tràn ngập. Ứng biến với việc đối đầu các thấu thị và kỳ quan, người ta có thể dễ dàng đánh mất bản thân trong lãnh địa tâm thần dường như vô giới hạn này, kèm theo các cảnh bóng tối và hoảng hồn nữa.

Cho dù họat động tâm thần trần tục hơn thì nó cũng gây cảm hứng đáng sợ, chẳng hạn, các thao tác sáng tạo hàng ngày: lấp kín một trang giấy trắng với câu chữ và hình ảnh. Chúng đã đến từ đâu? Những gì đích thị là sáng tạo và cảm hứng? Hơn thế, nhiều tiến trình tinh thần cơ bản xảy ra ở dưới thấp so với nhận thức của chúng ta lại đang dẫn dắt các quyết định và hành động.

Laing khái quát về con người trong xã hội hiện đại bị tha hóa, mà cách thức chúng ta tiến tới việc biết mình là ai và tại sao mình chọn lựa hành động như mình thực hiện khi quá nhiều họat động của bộ não thì cần thiết được tỏ lộ bên dưới các lưu ý, ghi nhận?

(Bảo “cần thiết được” bởi vì chỉ với tí chút chúng ta có thể tham dự và lưu ý tại bất kỳ thời điểm nào– trong khi não chúng ta đang tích lũy, phân xếp, xử lý hàng đống thông tin về thế giới và còn thích hợp với những gì đang xảy đến với những ký ức về các sự kiện trước đây.)

Không phải đang cố biện hộ cho một tư thế xua đuổi chính mình như điều bất khả và bỏ mặc ở đó, song những gì mang nghĩa rằnghiểu biết chính bản thân mình“?

Vì lý do chưa rõ, các họat động của bộ não gây ra “tâm trí” (“the mind”)– ý thức, tưởng tượng, trực giác, lý tính, sự hợp lẽ, các hồi tưởng, v.v… Điều đó thật kỳ lạ và huyền bí, và những gì huyền bí có thể tạo nên sự kinh sợ.

Muốn nghiền nát tâm trí

Laing phản đối những giải thích về họat động tâm thần và “bệnh tâm thần” (“mental illness”, một thuật ngữ mà ông chẳng hề muốn dùng) chỉ tập trung vào các hành vi bên ngoài hoặc nhìn nhận con người như các đơn vị tách biệt.

Những ngày này, không ít cá nhân giảm thiểu, thu hẹp các sản phẩm thuộc hoạt động của tế bào hoặc bản năng động vật trong nỗi niềm hối thúc của tiến hóa. Mọi thứ khác thì được đối xử quá ồn ào hoặc giải thích một cách láu lỉnh.

Đọc tác phẩm của Forster, có một đoạn nhắc nhở khuynh hướng vừa nêu: chà phẳng những gì là phức tạp của tâm trí và giả vờ như sự lộn xộn của nó là vô nghĩa (một cuộc cãi vã om sòm):

Tuy vậy, Lucy đối diện với tình huống hết sức can đảm, như hầu hết chúng ta cũng vậy, cô chỉ đương đầu với tình huống một khi nó bao vây cô. Cô không bao giờ soi mói chòng chọc vào những thứ trong lòng mình. Hễ lúc nào có những hình ảnh kỳ cục nổi lên từ đâu đó thẳm sâu, cô đổ tại trạng thái thần kinh kích động… Đôi lúc cô khốn khổ bởi ‘những thứ chẳng ra gì cả ở tận đẩu tận đâu và nghĩa là cô chẳng biết điều chi’. Bây giờ Cecil lý giải tâm lý cho cô vào một buổi chiều ướt át, và hết thảy phiền muộn của tuổi trẻ trong một thế giới bất khả tri đã có thể bị tống khứ đi rồi.

Tâm lý học (và tâm thần học) có thể được dùng, và vốn quen được dùng, như cách thức làm tối tăm, mờ nghĩa sự tự hiểu biết và không chú tâm tới con người. Những kiểu phân loại bệnh lý mang tính tâm thần như vậy đặc biệt dễ gây tổn thương trong khi được ứng xử theo các cách phi nhân: tống thuốc và giam hãm các cô gái, lạm dụng quá mức chiêu bài điều trị, và cho rằng họ không đủ khả năng để tri giác đúng đắn thực tại và trải nghiệm mang đầy ý nghĩa.

Cách tiếp cận sức khỏe tâm thần này chẳng qua là lối thể hiện khác cho việc gạt bỏ, xua đuổi nỗi kinh hoàng trước tính phức tạp của tâm trí– thay vì nỗ lực hiểu biết và làm việc với mỗi cá nhân như một con người;  điều cần gắng sức và có ao ước dám đương đầu với khả năng bị tổn thương và nỗi đớn đau của chúng ta, tình trạng nan đề gây bối rối, và những trải nghiệm dễ thương về cuộc đời– chí ít thì chấp nhận chúng tồn tại và chúng không hề vớ vẩn, vô nghĩa chút nào.

Thảng hoặc, Laing lãng mạn hóa các giai đoạn loạn thần và tiềm năng của chúng trong việc khám phá tâm trí, song chính là ông đối trọng với các cách tiếp cận khác phủi sạch toàn bộ mớ rác rưởi của tâm trí, giết chết sự tự ý thức, và xua đuổi tính thân mật giữa con người với nhau.

Một điểm Laing cứ không ngừng trở đi trở lại– và nó quả thật đáng giá như thế– là khi con người ta trải nghiệm thế giới theo những cách được phân loại, sắp kiểu thuộc “bệnh tâm thần” (tùy cá nhân, anh/ cô ta có thể không đích thị bị bệnh, chỉ bị gán nhãn vậy thôi), họ không hề trải nghiệm bệnh tâm thần của mình như sự xa rời mọi người, mọi vật.

Những mối quan hệ liên nhân cách của họ và xã hội mà chính họ đang sinh sống có một tác động ghê gớm tới diễn tiến bệnh lý, các biểu hiện của nó, tới tiềm năng hồi phục và thích nghi với đời sống hàng ngày, và bất luận thế nào đi nữa, họ được chấp nhận như một con người– thay cho một tình trạng lúng túng và một sự nhắc nhở khó chịu về cách thức tâm trí nhảy nhót vượt trên hẳn sự níu chạm của các nhãn mác và sự kiểm soát của con người.

Nhiều câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ

Cuốn sách của Laing không thực sự phân tích chi tiết những thay đổi trong điều trị như vậy sẽ tạo được thành tựu thực tế ra sao.

Quan điểm chủ đạo của Laing về một xã hội trong đó con người ta bị tha hóa khỏi bản thân và người khác, song không rõ ràng sự thay thế ông đề xuất: ví dụ, những gì là một xã hội, theo quan điểm của ông, liệu sẽ cải thiện hơn về mặt sức khỏe tâm thần và chấp nhận sự khác biệt của các trải nghiệm cá nhân?

Tất cả các xã hội đều dựa trên những thỏa hiệp giữa các cá nhân và cùng đồng thuận tuân thủ một số nguyên tắc nhất định. Những gì về các quan hệ riêng tư– một mối quan hệ bố mẹ – con cái lành mạnh, chẳng hạn? Không trực tiếp, Laing chỉ nói rằng, các tiềm năng phụ huynh “sát thủ” khác nhau với con cái của họ và khuôn theo các đặc thù mang tính xã hội. Nếu Laing đúng, điều gì thực sự ổn thỏa đây?

Laing cũng chỉ ra một vài minh chứng ấn tượng trong quá khứ hoặc ở một số nền văn hóa có thể khám phá các trạng thái tâm thần khác nhau (thông qua các loại ma túy, kiêng khem chay tịnh, v.v…) song con số liệu có được bao nhiêu? Thi thoảng các họat động của họ là thương vụ, khi thì được tôn sùng, song lắm lúc họ bị đánh giá là nguy hiểm hoặc lầm lạc.

Một người Laing có miêu tả trong sách đã trải qua giai đoạn loạn thần vẫn không bị làm sao nói rằng, thế giới trở thành bức tranh minh họa dưới nhiều phương thức mới mẻ, thậm chí ngay cả khi anh ta tiếp tục đời sống hàng ngày với những bộ mặt giả dối và che đậy của chính nó. Mở rộng ra, liệu có một trải nghiệm siêu việt hơn của thế giới đồng tồn tại với đời sống hàng ngày vốn là những tương tác thấp tè, bé nhỏ hơn nhiều?

Rốt ráo, Laing đặt để một điểm quan yếu: nếu xã hội chúng ta quá sai lệch, trục trặc về mặt chức năng thì tại sao chúng ta vẫn muốn thích nghi với ý tưởng rằng chức năng tâm thần của nó là bình thường?

“The Hours”: ví dụ điện ảnh về chuyện khởi đầu quan hệ và kết thúc đời người

Một bộ phim đẹp hoàn hảo. Một minh chứng bằng băng hình da diết về cuộc đời, hạnh phúc, luyến ái, sự sống và cái chết.

Đó là những thời khắc hàng ngày, dài lâu, ngưng đọng, trọng đại, sung sướng, tê dại, bệnh lý hay giản dị,…– tất thảy, tùy thuộc cảm nhận và góc nhìn của mỗi một nhân vật, và mỗi một khán giả.

The Hours (2002) trộn chứa trong mớ rối rắm sắp đặt của tâm trí những mưu toan lưu giữ kỳ vọng, níu kéo thời gian và duy trì quan hệ; là nỗi mất mát thầm lặng chẳng thể nguôi ngoai, lãng quên của tuổi thơ ấu ám ảnh lo âu dây dưa sợ bị bỏ rơi, và tháng tháng năm năm trưởng thành mơ hồ diện kiến trên cõi trần gian cứ chực chờ cơ hội buông thả tất cả những gì đang sở hữu…

Nhấn mạnh chủ đề các rối loạn tâm thần quen thuộc, bộ phim này tạo dấu ấn mạnh mẽ đáng ngợi khen bởi chuỗi suy tư bồng bềnh hư thực, loạn thần và phi lý hiện sinh xen lẫn khuynh hướng xiển dương phong trào nữ quyền đương đại. Triết lý tự tử ở đối tượng nữ giới– nhất là khi nó phát sinh từ các cá nhân trí thức, có học– chắc chắn, khiến kẻ khác (bất kể danh xưng đồng tính, song tính hay dị tính) cộng hưởng bàng hoàng.

Lối tư tưởng cấp tiến âm thầm chảy trong huyết quản đàn bà dọc dài xuyên thế kỷ muốn hiểu biết rốt ráo đặng làm chủ thấu đáo vận mệnh chính mình quyết không bao giờ là thói buồn đau, sầu muộn thời thượng xa xỉ; nhất định tâm trạng ấy, phẩm chất ấy, lối tề gia nội trợ và quản lý tình yêu, gia đình, chồng con ấy cơ chừng phải thổ lộ sâu xa cho chúng ta biết về một sự thật trụi trần không thể chống kháng: sinh ra đời, tồn tại, tái tạo (đẻ con và viết ra tác phẩm nghệ thuật), thiết lập quan hệ với tha nhân và chuẩn bị cách thức từ giã thế giới.

Cái giai điệu âm nhạc quyến luyến trong phim cùng những cú máy quay lia qua vội cuống vội quýt; kiểu cắt cảnh kỹ càng, điêu luyện bởi các lọ hoa, cánh cửa, cảnh trí địa lý tự nhiên và tâm cảnh lòng người run rẩy lây lan; lời thoại hô ứng bắt vận nhịp nhàng, tới lui chặt chẽ… như chỉ càng thêm cố gắng góp phần thúc đẩy mãnh liệt đến độ cao trào, đỉnh điểm của ước muốn kết thúc, thả rời, chấm hết.

Một bộ phim hay về giá trị sống được liên kết bởi các tầng mức văn bản khác nhau đan cài thuộc nhiều bình diện của chức năng nhân cách: tính khí, sinh học, tâm lý nội tại, nhận thức/ trải nghiệm, xã hội và văn hóa, và sự thích ứng.

Lần nữa, bộ phim chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên này khơi gợi cái nhìn đa dạng, tôn trọng trải nghiệm riêng tư với vô vàn biểu hiện phong phú của dãy hành vi bình thường ở những con người bất thường; lối khai thác đề tài vừa quá nhạy cảm nâng niu, vừa cấm kỵ trình bày đối nghịch vốn dính dáng nền tảng quan hệ xã hội (gắn bó, truyền thông, phát triển) ít nhiều nhắc nhở nghiêm túc rằng, ngay cả khi diễn đạt thành phương trình toán học tường minh [B = f (P, E), trong đó B là hành vi, P là nhân cách và E là môi trường] thì ứng xử của con người mãi chẳng bao giờ thôi hết nét vẻ bí ẩn, khôn lường và bất định.

Nhìn nhận sự phù du, vô thường của đích thực cuộc đời, kỳ cục thay, bộ phim thanh lọc cơn cớ sợ hãi nhỏ, to truyền kiếp và càng làm ta thêm trân quý sự sống, được làm người huyền diệu.

Và những sẻ chia ao ước quyên sinh của nam khán giả trẻ tuổi cũng như tâm sự của bà mẹ có con gái đang lớn cảm thấy cuộc sống nhàm chán vô nghĩa, sau khi xem một ví dụ điện ảnh về chuyện khởi đầu và kết thúc đời người tại TPD (Hà Nội) chiều nay– vô hình trung– chợt đồng vọng hun hút vô thức chung, xóa nhòa dễ dàng ngăn cách Đông – Tây của thân phận chúng sinh khổ đau cùng nhau rất thật.

Xem “The Hours“, để tiện dịp phát hiện thú vị chiều kích lớn lao của năng lực sáng tạo; tái lượng giá tầm mức tác động khó đoán của việc làm do bởi lòng vị tha, cam kết, bao dung; và tiếp tục vinh danh vai trò dẫn đạo yêu thương của chị em phụ nữ.

Nhân Ngày Phòng chống Tự tử, lại nói về chuyện quên mình, hy sinh

Chủ đề tự sát đã từng được đề cập rồi, và giờ đây tôi lại viết về nó do cảm nhận bình luận có vẻ quy kết khá dễ dàng động cơ kết liễu đời mình.

… Tội lỗi do thân, khẩu, ý tạo ra, người tu phải nhận diện để thay đổi, chứ không thể đụng chút là đốt. Đốt thân thể đi có công đức gì đây? Phải hiểu rõ công đức, công là làm cái gì có lợi cho người, cho mình thì mới có đức được.

Khi sống cần phục vụ, giúp đỡ tha nhân, còn khi chết nếu chỉ còn xác thân này vẫn có thể hiến cho y học, cho các trường Đại học y khoa làm công tác nghiên cứu không phải có lợi hơn sao?

Chuyện “chú tiểu chết cháy ở chùa Tây Long” được cho là việc làm thiếu suy nghĩ. Và vụ tự thiêu ấy diễn ra đã ba tuần rồi.

Gì gì, trầm tư mặc tưởng, dự đoán suy tính động cơ thì cũng không dễ dàng có ngay phương thức thấu hiểu rốt ráo trừ khi ta có mặt ở đó. Như ví dụ, ai chưa từng rơi vào trạng thái tuyệt vọng làm sao cảm nhận tận cùng cảm giác của đối tượng.

Thực tế, có rất nhiều lý do dẫn ai đó đến việc tự sát. Chẳng hạn, do họ mắc trầm cảm; xung năng cưỡng bức khó thoát chống nổi; loạn thần; không ngừng khóc lóc, kêu gào những mong sẽ được giúp đỡ mà chẳng tìm thấy giải pháp khác; tạo nên lỗi lầm, dại dột khó ngờ; và có một ước ao mang tính triết lý để được chết.

Mang vào ý thức về cái chết không thể tránh né của cái tôi, theo Lý thuyết Kiểm soát nỗi Kinh hoàng (TMT) thì nguyên nhân gây bấn loạn khởi lên do cái sự chết – đích thị- là một tác nhân động cơ chính yếu ẩn bên dưới nhiều hành vi và ý thức của con người, bao gồm lòng tự trọng, sắc tộc hoặc tôn giáo vị kỷ trung tâm và thậm chí, tình yêu.

Nói cách khác, lý thuyết TMT gợi lời giải thích cho việc hy sinh cho một nguyên nhân thể hiện tính lý tưởng cao cả nào đó.

Đời sống lịch sử và văn hóa nhân loại minh chứng rõ ràng cho ý tưởng rằng, con người không chỉ thân xác sinh vật rồi đây sẽ chết đi, thối rữa mà chúng ta không ngừng được nhắc nhở rằng mình là tạo vật có linh hồn với sự tồn tại còn tiếp diễn khi thân xác đã tan rã, rằng chúng ta vẫn còn sống mãi trong những cộng đồng xã hội lớn bé ngay khi trút hơi thở cuối cùng và nằm dưới nắm đất lạnh lẽo…

Như thế, với lý thuyết TMT, sự hy sinh được hiểu là ước ao xả bỏ bản thân như một phương tiện ngõ hầu bảo vệ hoặc xiển dương cho một lý tưởng, động cơ xã hội nhằm đề cao cảm nhận về ý nghĩa cá nhân; ngoài ra, hết sức thiết yếu, là cảm giác về sự tự siêu việt (self-transcendence) hoặc cảm giác bất tử.

Loài người cơ bản hướng đến sự sống còn. Hầu hết chúng ta đều muốn sống và kéo dài đến mức có thể tuổi thọ cũng như tìm cách lẩn tránh cái chết. Tuy vậy, tất cả chúng ta ít nhiều cũng tiến hành nhiều điều nho nhỏ xác quyết rằng chúng ta cũng rất quan tâm đến việc góp phần, gánh vác sẽ cho phép chúng ta vượt trên cái chết theo một số phương thức nhất định.

Nghịch lý thay, thi thoảng những nỗ lực tự siêu việt như thế làm tăng thêm nguy cơ chết chóc; hy sinh, quên mình e chừng là ví dụ cực đoan nhất của điều này. Chết vì một niềm tin quả thật là cách thức thể hiện đầy quyền năng, song cũng quá mức trầm trọng nhằm thách thức giới hạn và biểu lộ sự coi thường cái chết.

… Kỷ niệm 10 năm Ngày Thế giới Phòng chống Tự sát là 10 năm nghiên cứu, ngăn ngừa, giáo dục và phổ biến thông tin liên quan.

Cứ mỗi 40 giây thì có ai đó chết vì tự sát. Cứ mỗi 41 giây ai đó ra đi để lại ý nghĩa về sự vụ. Hơn 1 triệu người chết vì tự sát mỗi năm. Và hàng triệu người nhiều hơn đau thương, tang tóc vì sự mất mát người thương quý, yêu dấu của họ.

Tự sát là dạng chết có thể dễ ngăn ngừa được nhất. Giáo dục, các nguồn lực, can thiệp và nhiều phương thức vươn xa hơn có thể trợ giúp trẻ em cũng như người lớn đương đầu với những khủng hoảng, điên đảo do buồn phiền, chán chường và tuyệt vọng.