Nỗi niềm âu lo khôn ngoan

Lo lắng, ngại sợ bị phiền nhiễu có thể được hiểu trong bối cảnh thật hết sức tự nhiên. Tất thảy thông qua làn da, chúng ta thấm thía từ thông điệp chuyển gửi của hệ thống thần kinh báo cho biết điều gì đó không ổn.

Nếu bất kỳ phần nào trong cơ thể chúng ta quá nóng, quá lạnh, bị va chạm mạnh hoặc châm chích ghê gớm thì chúng ta sẽ tri nhận như sự đau đớn. Cơn đau không thuần túy là thông tin trừu tượng; phụ thuộc vào độ căng thẳng, nó túm bắt sự chú ý của chúng ta. Không thích thú cơn đau, hầu hết thời gian chúng ta làm bất cứ điều gì khả thể đặng giải thoát khỏi cơn đau càng nhanh càng tốt và điều ấy hầu luôn luôn là câu trả lời đúng đắn, chí ít nhằm tránh bị gây hại.

Song có những trạng thái mà cơn đau không thể hiện chức năng như dự tính, nó kéo dài lâu hơn lúc vết thương đã lành, hoặc khi khó làm thuyên giảm, êm dịu đi được. Các trạng thái đau đớn trường diễn kiểu thế đòi hỏi một đáp ứng cách khác, vì giờ đây tín hiệu gây hại là lầm lạc rồi.

Quan ngại và âu lo có thể rất giống với con đau thể lý. Ở tầm mức nhất định, con người ta có thể cảm nhận không chỉ những gì đang xảy ra trong hiện tại mà còn có thể cảm nhận cả cơn đau tương lai, nhờ khả năng tưởng tượng, dự đoán và cân nhắc hậu quả…

Lo lắng giúp chúng ta bớt nhẹ nguy cơ tương lai, tựa cơn đau khiến mình tránh bị thương thêm nữa. Và, giống cơn đau thể lý, lo lắng cũng gây ác cảm. Chúng ta không thích điều kinh hãi của sự bất hạnh cơ chừng sắp đổ ụp xuống; chúng ta muốn rời xa không chỉ tương lai kinh hoàng mà cả khoảnh khắc hiện tại gây nỗi niềm u ám. Lo lắng còn bỏ lơ mục đích, và quấy rầy chúng ta về các sự kiện sắp đến là bất khả hoặc không thể thuyên giảm được, giống như cách cơn đau mãn tính khiến chúng ta nghĩ rằng chẳng lợi lạc gì.

… Đôi khi, mọi chuyện chỉ cần một từ, một ý nghĩ, hoặc một cảm giác là đủ bao vây tâm trí và nhúng chúng ta vào một trải nghiệm, như thể mình đang xem bộ phim kinh dị bằng công nghệ 3D sắc nét, sống động vậy. Thưc tế, nếu lượng giá các âu lo cùng các tiêu chuẩn như đánh giá phim ảnh, chúng ta sẽ dần nhận ra chúng là thứ phim khủng khiếp chẳng đáng xem. Nếu các nỗi lo âu của chúng ta là các bộ phim, mình sẽ rời khỏi chúng trước khi cảnh đầu tiên kết thúc, bởi vì chúng đầy vẻ mờ ám và lặp đi lặp lại kinh hoàng, vô vàn bất hạnh đâu đâu, các vai chính vớ vẩn, và kịch bản nhiều lỗ thủng.

Trong những cơn đau dữ dội của nỗi âu lo, cần dành nỗ lực đích thực để tách biệt huyễn tưởng với thực tế. Tin tốt là chẳng mấy chốc, mình nhận ra ngay rằng nỗi niềm âu lo là phim tồi tệ, và mình lựa chọn ‘bước ra’; thậm chí hay hơn, mình hiểu bản thân không chỉ là khán giả ngồi xem các thứ phẩm mà mình cũng là tác giả kịch bản và đạo diễn. Điện ảnh hiện đại, như ở phương Tây, tạo cho khán giả cảm nhận rằng các anh hùng trong phim có thể chịu đựng khốn khổ xong rồi sẽ được minh oan, giải thoát vào đoạn kết; kỳ lạ nhất, phim ảnh trong đầu chúng ta thường chạy theo hướng các câu chuyện cổ tích Grimm nguyên bản mà chỉ tồn tại tí xíu hoặc chẳng hề có chút tẹo hy vọng nào trong đó. Trầm cảm và lo âu làm mên một đội ngũ khủng khiếp, khi trầm cảm gắng bảo ta kém cỏi hoặc không có khả năng đối phó trong khi lo âu gieo ném mình vào toàn các hoàn cảnh tưởng tượng thảm khốc; chúng cướp đoạt hy vọng của ta về tương lai.

Tại sao mình không cập nhật các kịch bản tinh thần theo các tiêu chí hiện đại? Khi lo âu chỉ là một bộ phim do mình đang tạo tác, tại sao không để bản thân tự đóng vai người hùng đang gặp thời cơ thuận lợi. Thực tế, khi xu hướng mình thường xuyên hạ thấp năng lực bản thân, tại sao không làm cho mình cao hơn và mạnh mẽ hơn so với thực tế? Cứ để mặc sự vụ thế đi, thay vì khiến chúng lớn lao hơn thì chỉ cần để chúng như thực tế là… Biết mình có các tiếp điểm tốt và xấu trong đời, và cho phép chúng tô vẽ trí tưởng tượng. Cuối cùng, để bản thân có cái kết tốt đẹp, và khi mình tái chế lại các bộ phim tinh thần theo cách ấy, nhận ra rằng lo âu chuyển sang đúng vai trò của nó là hệ thống khuyến cáo và lập kế hoạch giúp mình thoát khỏi rắc rối trước khi nó bộc lộ ra.

Thay hình chuyển dạng, biến hóa nỗi niềm lo âu vớ vẩn thành kế hoạch hữu ích là cách hiệu quả giúp vượt qua lo lắng. Cách khác là sống nhiều hơn với thế giới ngoài kia chứ không phải bận tâm cái trong đầu, cho phép phần còn lại trong ngày giành lấy nhiều mối quan hệ khác, sau khi chỉ định một khoảng thời gian nào đó là ‘thời gian lo âu.

Lựa chọn việc tập trụng, chú ý vào hiện tại là nơi chốn mình có thể gây tác động tích cực, khiến lo âu giảm đi tác dụng trong thế giới nội tâm. Đừng nên để nỗi lo âu vật chất hóa, và nếu mình bận rộn trong lúc đợi chờ vì đoán biết trước xui rủi, bất hạnh sẽ ập đến thì mình cũng không buộc phải, nhất thiết cần trải qua đớn đau, khổ sở ở đời.

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Sự bộc lộ trong tham vấn tâm lý

Việc bộc lộ (disclosure) là vấn đề gây tranh cãi khi xem xét các ranh giới của nhà tham vấn tâm lý.

Ranh giới (boundaries) là khía cạnh thiết yếu của bất kỳ quan hệ hiệu quả nào giữa thân chủ (client) và nhà tham vấn (counselor). Chúng đặt để cấu trúc mối quan hệ và cung cấp một khung làm việc nhất quán trong tiến trình tham vấn. Một số đường kẻ, lối bậc của ranh giới là rõ ràng. Hầu hết các nhà tham vấn tất rồi sẽ biết rằng điều ấy thuộc vấn đề đạo đức hành nghề, tỷ dụ, khi tham vấn cho nguồi yêu cũ vì mối quan hệ từng quen biết dễ làm hạn chế tính khách quan và khó phục vụ đủ đầy cho yêu cầu của mối quan hệ nghề nghiệp. Nếu các tình huống tương tự vừa nêu đích thị có vấn đề thì vượt ra ngoài các giới hạn cơ bản như thế lại hiện diện vô số tình huống chẳng rõ ràng ngay liền khi phác thảo các rannh giới. Các tình huống ấy rơi ngoài mặc định quy chuẩn của đạo đức song lại nằm đâu đó ở vùng xám mù mờ. Những gì thiết lập nên ranh giới, tại sao chúng ta cần đến chúng; các nguyên tắc của ranh giới mang tính đạo đức hành nghề (Từ tâm, không ác ý, tự trị, công bằng và trung thực); tôn trọng thân chủ; trách nhiệm của nhà tham vấn, v.v… tuy quan trọng, đáng tìm hiểu song không bàn ở đây.

Có hai vấn đề khi xem xét sự bộc lộ. Thứ nhất, sự bộc lộ của nhà tham vấn và mức độ tin cậy. Thứ hai, sự bộc lộ của nhà tham vấn (chẳng hạn, một nhà tham vấn bộc lộ đến đâu cuộc sống riêng với thân chủ của mình?). Một số nhà tham vấn tán đồng tắp lự bất kể thích hợp hay không (dù khá mơ hồ), một số khác thì nhìn nhận chuyện ấy theo kiểu không nên bộc lộ gì cả; tuy thế, thực tế có một sự cân bằng.

Trước hết cần biết, khi thân chủ nhất trí bước vào tiến trình tham vấn, họ thường cầm chắc, yên trí rằng những gì riêng tư đời mình (bên trong các giới hạn) sẽ được bảo mật với sự tôn trọng. Điều này khuyến khích sự thành thật từ thân chủ và cung cấp hiểu biết về tính an toàn rằng các thông tin hết sức riêng tư của họ sẽ không được tiết lộ cho những cá nhân chẳng dính dáng và thích hợp.

Thân chủ cũng phải được biết rõ là nhà tham vấn của mình có thể bị buộc ra hầu tòa để cung cấp bằng chứng cho việc xét xử, và nếu nhà tham vấn lựa chọn việc giữ kín thông tin nghe được, hậu quả có thể là nhà tham vấn bị đánh giá là miệt thị luật pháp tại tòa.

Với những ai đang hy vọng tìm thấy một số hướng dẫn cho mức độ bộc lộ của bản thân mình, giới học giả nghiên cứu chuyên sâu khuyên rằng kỹ năng là thấu biết gì nên bộc lộ, khi nào thì thích hợp và bộc lộ đến như nào. Các nhà tham vấn chưa từng trải, thiếu kinh nghiệm hay ước ao phải làm điều đúng hướng về thân chủ và vì vậy, hành xử rất cứng nhắc theo quy định hành nghề, thường đánh mất kiểu thể hiện bản thân trong nỗ lực nhằm gìn giữ tính chuyên nghiệp. Ở đây, Corey giải thích rằng các các nhà tham vấn còn chưa già dặn do ước muốn đạt hiệu quả đã thường trở nên thụ động, lắng nghe và phản hồi không khớp sát với hiểu biết và trực giác của chính họ; từ đấy, các nhà tham vấn này cũng bỏ lỡ, đánh mất nhiều cơ hội xây dựng mối quan hệ hòa hợp, tốt đẹp rồi thậm chí, dễ gây cho thân chủ cảm nhận rằng mình không thể thấu cảm với thân chủ được.

Giải thích cho thái cực kia của phổ bộc lộ, nhiều nhà tham vấn có thể quá háo hức chứng tỏ tinh thần nhân văn của họ đối với thân chủ, họ kể quá nhiều với thân chủ về chính mình, thay vì để trị liệu nhắm vào thân chủ thì lại chuyển sang nói về bản thân. Điểm căn cốt cần ghi nhớ là việc bộc lộ nên làm sao khuyến khích thân chủ đào sâu hơn mức độ họ tự khám phá bản thân hoặc củng cố thêm mối quan hệ trị liệu.

Nhà tham vấn bộc lộ quá mức dễ tạo cảm nhận đang thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, chứ không phải nhu cầu của thân chủ. Tác động của việc bộc lộ thái quá của nhà tham vấn có thể gây hại thân chủ. Những thân chủ có thể cảm thấy thấu cảm với nhà tham vấn, khốn khổ vì hứng chịu sự chuyển di hoặc đơn giản bị sốc bởi điều ấy lại có thể xảy đến với nhà tham vấn của mình. Mặt khác, thân chủ có thể cảm thấy rằng những mối quan tâm ủa họ đang bị tầm thường hóa nếu các trải nghiệm của nhà tham vấn cũng tương tự, và thậm chí còn dung tục hơn họ nữa.

Mãi còn ám ảnh trải nghiệm đau thương và những trập trùng ký ức tuổi thơ

Bài gốc Em có bị Trời phạt không? đã được một tờ báo mạng nổi tiếng hơn hẳn giật tiêu đề ra thành “Ký ức dày vò của người vợ đã ngoại tình với đồng nghiệp có vợ”.

Xin chị cho em lời khuyên: Em là con gái 28 tuổi. Em đã kết  hôn được 9 tháng rồi. Cuộc sống vợ chồng em tốt, chồng em thương em và em cũng chung thủy với chồng. Nhưng em hay bị ám ảnh chuyện hồi xưa. Lúc em 7 tuổi thì em bị xâm hại tình dục, cả nhà em không ai biết, chỉ khi em đi học thì mới tự hiểu. Đến lúc em tốt nghiệp ĐH vừa đi làm thì bị vướng vào mấy chuyện tình ái tào lao. Có lúc em vào khách sạn với thầy giáo rất già, nhưng lúc đó thầy đó chỉ hôn và sờ soạng chứ không có làm gì hết. Lần thứ hai cũng tương tự như vậy với anh cùng cơ quan, đã có vợ. Sau đó em nhận ra mình không đàng hoàng. Em đã tự dứt bỏ và không có gặp gỡ với những người đó. Mấy năm sau thì em chững chạc hơn và có gia đình. Em rất yêu chồng em, không có ý nghĩ gì không đàng hoàng. Nhưng trong thâm tâm em luôn đau khổ và xấu hổ vì chuyện xấu em đã làm. Em luôn nghĩ mình bị bệnh vì trời phạt rồi. Em là người học rất giỏi, công việc cũng rất thành công. Xin chị hãy cho giúp em lời khuyên. Em biết quá khứ của em không ra gì, nhưng trời có cho con người ta một con đường sống không hả chị? Có lúc em buồn đến mức muốn chết, muốn buông xuôi hết chị à. Em ân hận vì tuổi trẻ bồng bột quá.

Cách trả lời của người giữ mục Tư vấn cơ chừng phản ánh thói quen khuyên nhủ đơn thuần và lối tiếp cận từ khía cạnh đạo đức truyền thống đi kèm kiểu tư duy dân dã đời thường. Vậy liệu ở đây, dước góc độ người làm tham vấn/ trị liệu tâm lý, đâu là các điểm mấu chốt chúng ta muốn nhấn mạnh và tập trung phân tích?

Dĩ nhiên, một cuộc hôn nhân khởi sự mới 9 tháng thì còn đầy tràn hy vọng cho tương lai rộng dài mở ra phía trước. Ngay cả nếu như xảy đến vấn đề chi sau 9 tháng ấy, điều gì đó khác vẫn đang tiếp diễn. Nhiều cuộc hôn nhân cùng tháng năm chất chồng thường cũng chứa đựng cả tập hợp nào ít ký ức buồn bã, những trải nghiệm tồi tệ, các cuộc tranh cãi bất tận, bao lần quyết đoán sáng suốt, và vô vàn ngọt ngào đã qua. Trong khi các sự kiện này khó bị lãng quên hoàn toàn, những trải nghiệm thường tự nhiên nối nhau lặn xuống và hiếm hoi trồi lên bề mặt trừ lúc sự cố khơi bày…

Thùng rác cũ càng dữ liệu nọ kia của quá khứ như cách người phụ nữ mới làm vợ tâm sự e chừng dễ nổi lại trong một số tình huống. Lối cách hay gặp nhất cho kiểu dĩ vãng sống dậy như này là khi chúng ta mắc trầm cảm; lúc ấy, bộ não kiếm tìm các ký ức chỉ cho mỗi sự kiện ấy mà thôi: một sự tổn thương xa xưa, một trải nghiệm sang chấn, hoặc công việc gì đấy chưa hoàn tất. Đó là một trong lắm phương thức bộ não dày vò người đang kinh qua u uất, nó chơi một băng hình tâm trí về thời cũ rồi nhặt lấy hết các sự kiện lẫn trải nghiệm tồi tệ. Nếu cô ấy trầm uất, cô ấy sẽ được đề nghị cho biết lý do tại sao cô lại có những hành xử nọ kia hoặc những chuyện chi đích thị từng xảy đến với năm tháng thơ bé đó, kỷ niệm về “mấy chuyện tình ái tào lao”, hoặc tai sao cô còn vào đâu đó với người này kẻ nọ? Nên lối xử lý cho tình huống này là xử lý với trạng thái trầm uất và ám ảnh, chứ không phải với ký ức, kỷ niệm.

Một lối nghĩ khác cho tình huống này thuộc về cái gọi là ký ức cảm xúc. Thời trung học đã thành dĩ vãng mịt mù, song nếu mình nhận được lời mời hội trường thì lập tức tâm trí ngập tràn bao kỷ niệm. Chúng ta bắt đầu tua lại sổ lưu bút, nghe bài hát từng nghêu ngao, nhớ mặt bạn ngồi cùng bàn, v.v… Nếu bạn bè hoặc ai đó gần gũi, thân quen thúc đẩy trí nhớ của người phụ nữ mới lập gia đình  ‘đào sâu’ một vài sự kiện nào đó, cô ấy sẽ sống trong cả mớ dữ liệu ngập tràn của một thời khủng khiếp. Các ký ức xưa cũ hơn 20 năm có lẻ chợt trỗi dậy bởi vô vàn cò lẩy khác nhau như âm nhạc, phim ảnh, các hoàn cảnh tương tự, bình luận của ai đó, và dĩ nhiên, không loại trừ ngay cả chính vì cảm xúc sung sướng, lâng lâng của người phụ nữ đang thụ hưởng tháng ngày lứa đôi hạnh phúc; nghĩa là bởi bất kỳ điều gì… Và như mô tả, nhớ lại các trải nghiệm đã qua tạo nên nhiều cảm xúc tương tự của một thời: tội lỗi, bối rối, tủi nhục,  hoang mang, v.v…

Thật vui mừng vì người phụ nữ này đã lưu ý đến sự kiện bị xâm hại tình dục lúc lên 7. Những câu chuyện như thế vốn ít khi bày tỏ, tự bộc lộ và thường tác động mạnh mẽ hơn là ta có thể tưởng tượng; có quá nhiều lý do khiến người trong cuộc hay chọn thái độ im lặng lờ đi… Và dù cô ấy có thể nghĩ mình vượt qua được tình huống rồi, khả năng là một số cảm xúc còn giấu kín, khuất che cứ hiện diện rồi dễ khiến cô ấy phản ứng kém cỏi với stress. Thậm chí ngay cả trường hợp đúng là cô đã vượt qua ám ảnh, việc thiết lập các phiên tham vấn với một nhà trị liệu từng trải có thể hữu ích vì một số hành vi cô nêu lên trong thư đòi hỏi cần được thấu tỏ để rồi không còn quấy nhiễu tâm trí cô nữa.

Các ký ức tồi tệ nhất cũng có thể được mang lên bề mặt lần nữa theo thời gian do trầm cảm. Khi chúng ta trầm cảm, bộ não lục soát trong mớ ký ứ các trải nghiệm tồi tệ nhất nhằm hành hạ và gây đau đớn về mặt tinh thần. Người phụ nữ này có thể từng trầm uất nhiều năm tháng, nguyên nhân khiến não bộ của cô mang trải nghiệm xa xưa lên bề mặt. Vì những nỗi ám ảnh cũng hay thấy trong trầm cảm, bởi nó khả năng cao chứng tỏ trạng thái trầm cảm được duy trì ở mức độ chừng mực tại thời điểm này. Khi chú mục vào các ký ức chứa đựng các cảm xúc khốn khổ, chúng ta duy trì sự khốn khổ về mặt cảm xúc, như chính người phụ nữ đang sống đời hôn nhân thú nhận: “Em luôn nghĩ mình bị bệnh vì trời phạt rồi… Có lúc em buồn đến mức muốn chết, muốn buông xuôi hết… Em ân hận vì tuổi trẻ bồng bột quá”.

Những trải nghiệm của người phụ nữ khá thường gặp, và cuộc dằn vặt nội tâm của cô ấy nhấn mạnh các điểm khác biệt quan trọng giữa ký ức tuổi thơ và hiểu biết lúc đã trưởng thành rồi về chúng. Khi nhìn lại các ký ức hồi thơ bé mà bây giờ chúng ta biết rằng không thích đáng và phù hợp, chúng ta thấy những trải nghiệm sống động ấy như một tập hợp các khái niệm, đánh giá và cảm nhận mà chúng ta đã không hiện diện đúng đắn vì hồi ấy mình còn bé tí. Đích thị, “bị xâm hại tình dục” chuyên chở nặng nề sự đánh giá, hình ảnh hiển thị và cảm xúc, và trạng thái “nạn nhân” của việc bị lạm dụng đó tự thân đã chứa đầy vấn đề kèm theo.

Điều thiết yếu, phải tách biệt các sự kiện như người phụ nữ từng trải nghiệm chúng khi còn là cô bé thoát khỏi những ý nghĩa và liên kết giờ đây trong vai một người phụ nữ đã yên bề gia thất nhìn lại thông qua hiểu biết trưởng thành. Sự tách biệt đó điều chỉnh những bất đồng, chênh vênh liên quan đến cảm nhận thể lý, vui sướng ít nhiều cô ấy từng trải qua cùng nỗi niềm chán ghét, kinh tởm hiện tại cô cảm thấy như cô nhận ra bối cảnh, các động cơ và sự lạm dụng quyền lực của một người phụ nữ trưởng thành. Phân biệt viễn tượng đứa trẻ và vễn tượng người lớn cho phép người phụ nữ ý thức được rằng, chỉ bởi vì cô đã không cảm thấy thật tồi tệ và đủ sức vứt bỏ lúc đó, cô đã không tha thứ cho việc lạm dụng quyền lực của người trưởng thành hoặc phản ứng theo một cách thức bất thường. Không có điều gì sai trái với cô ấy bởi cách phản ứng như từng thể hiện trước đây. Thông qua hiểu biết tuổi thơ và dĩ vãng dần xa, không hề có lý do nào để ngờ vực rằng trải nghiệm một thời là tủi hổ hoặc bệnh hoạn.

Trong thư còn có thể đọc thấy ước muốn định dạng, xác lập rõ ràng mọi thứ từng xảy ra. Thay vì cố gắng gọi tên, hay hơn là xử lý trải nghiệm như đã mô tả: nhận ra rằng các viễn tượng cô ấy cầm nắm bấy lâu rồi so sánh chúng với hiện tại đang gánh lấy trách nhiệm là hoàn toàn khác biệt, và điều đó là bình thường. Bởi vì một định nghĩa về “lạm dụng/ xâm hại” là chấn thương thể lý, chúng ta có thể đôi khi giả định lạm dụng/ xâm hại tình dục phải là trải nghiệm như sự khó chịu, bất ưng về mặt thể lý ở đứa trẻ. Tuy thế, “xâm hại” trong lạm dụng tình dục thường nghiêng về sự kiện là người lớn dùng quyền lực và hiểu biết trưởng thành cho sự thỏa mãn khoái lạc tình dục của bản thân (lợi dụng sự ngây thơ của trẻ nhỏ). Gán nhãn cho trải nghiệm cách nào đi nữa không thay đổi được con người cô ấy đã từng và hiện là, và chỉ đến khi “đi học thì mới tự hiểu” cho thấy, các trải nghiệm ấy dường như không mang nhiều ý nghĩa cho chính bản thân cô.

Xử lý về mặt tinh thần và cảm xúc những vấn đề thuộc về dĩ vãng trước khi lập gia đình như vậy đúng là dạng công việc mà các nhà tham vấn tâm lý được đào tạo để đảm nhận, và không khó thấy rằng giải quyết những trải nghiệm tình dục thời thơ ấu cũng như các vấn đề rắc rối nảy sinh khi hẹn hò, bắt cặp sau này là điều gì đó mà các nhà trị liệu từng trải thừa sức trợ giúp. Mỗi cá nhân với những trải nghiệm là duy nhất và chỉ nên được hiểu đúng trong bối cảnh; không có cách thức phải, trái cần đạt tới, trước đây hoặc ngay bây giờ.

Một vài khuyến cáo cuối cùng.

  • Nếu người phụ nữ đã kết hôn rồi này quyết định không có hành động gì thêm về các sự kiện đã xảy đến thì cô ấy cũng phải quyết định phóng thích quá khứ để khỏi canh cánh bên lòng nữa. Chúng ta chẳng nhất thiết giả vờ như không có chuyện gì xảy ra song chúng ta nhận thấy rằng các ý nghĩ ám ảnh về tình huống nêu trong thư là gây hại cho chính mình. Cần dùng các chiến lược liên quan đến vấn đề ký ức cảm xúc để xử lý các căng thẳng, bực bộ về mặt cảm xúc còn lưu giữ trong trí nhớ.
  • Người vợ trong câu chuyện đang bàn không lẻ loi với một bí mật khủng khiếp. Các thành viên thân thiết, ruột thịt hoặc chí ít bố mẹ sẽ không cảm thấy thoải mái, ổn thỏa với những sự kiện xảy đến trong gia đình, tuổi thơ và quá khứ của ta khi họ không biết cách thức mình hiểu về thông tin cũng như những gì mình đã thực hiện, tiến hành… Thử cân nhắc, nếu quyết định tiến tới hướng về phía trước cùng với cuộc hôn nhân ưng ý, người phụ nữ có thể tâm tình với mẹ hoặc chị em gái và dùng dạng thức trao đổi kiểu “thông cáo báo chí”…
  • Lựa chọn tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể sẽ rất hữu ích vô cùng. Cô ấy có thể bị trầm cảm, nhất là nếu ám ảnh này gây than khóc dầm dề, đau đớn, khiến mất ngủ kéo dài. v.v…
  • Như chính động cơ thúc đẩy người phụ nữ giờ đã có nơi có chốn khởi thảo lá thư, thời gian có vẻ chỉ đang dần làm lành lặn các vết cắt, sẹo nhức buốt trong thân xác song nó khó chữa trị rốt ráo các tổn thương cảm xúc sâu thẳm. Thực tế, việc nghĩ lại và sắp xếp thái độ của bản thân lần nữa thật đúng đắn sẽ giữ vai trò chữa lành ký ức đớn đau. Người sống sót sau những trải nghiệm kinh hoàng đã hồi phục hoàn toàn được bởi vì họ tái xác lập tư duy về trải nghiệm rồi tiếp tục sống với một cuộc đời khác trước. Không ngừng ghi nhớ dĩ vãng mà cứ nghĩ như cũ về nó dễ là nguyên nhân khiến chúng ta sống lại sự kiện đau thương mỗi ngày, lôi kéo chúng ta quay về quá khứ muốn hòa giải thứ tha, và dần làm tuột rơi những gì đáng giá đang diễn ra trong khoảnh khắc hiện tại.

Luyện từng chuyện vặt nhỏ nhặt để không dính chặt với bất kỳ điều gì

Tôi không rành thế giới văn nghệ sĩ qua những nhìn ngó bất chợt trước vô vàn hoạt động tươi tắn sắc màu của họ; đoán chừng, ấy chắc phải là một cái gì mạnh khỏe, trường vốn, náo nhiệt và lung linh lắm lắm.

Chúng ta hưởng lợi trạng thái yên an vào thời điểm eo sèo và chắt bóp nhờ cơ hội tái xác nhận thái độ tích cực và cách đo lường niềm tin. Khám phá đầy tinh tế và từ bi những địa hạt nào khiến mình tắc tị, bức bối và khổ sở nhất có thể vén lộ, phơi tỏ lô lốc thứ mình đang ôm nắm, giữ chặt đang rất cần thiết phóng thích: các cảm xúc còn dây dưa, những quá độ chưa giải quyết, hoặc cách thức tiêu cực trong lối mình nhìn vào mình hoặc nhìn vào thực tế đời sống. Nhờ bắt chụp trách nhiệm trước những gì có thể thay đổi, mình càng dễ quy thuận trước điều bất khả do thừa khôn ngoan luôn ghi nhớ rằng sẽ có một giai đoạn khác phù hợp hơn.

Tựa như điều hành sự vụ kinh doanh vậy, chúng ta có thể vận trù đời mình theo kiểu ủy nhiệm một số thứ… Chân thực từ ngữ trong các mối quan hệ là điều phải xác quyết. Có lẽ bởi vì mức độ cam kết với ai đó khác quá mạnh mẽ nên mình có thể cảm thấy cần hiện diện với trạng thái cởi mở và trung thực. Thay vì lươn lẹo hoặc vòng vèo, mình có thể tái khẳng định ước muốn kiên định và chân thành với tha nhân. Mình có thể phát hiện, nhờ trông chừng những gì phát ngôn và cách nói năng mà chúng ta có khả năng để chạm tới, thậm chí đạt được các cấp độ tin tưởng sâu sắc hơn của những người mà mình quan tâm, săn sóc.

Thực tập nói năng đúng đắn giúp ta tương tác với tha nhân thiệt thật thà. Dần trở nên ý thức về tác động của từ ngữ mình sử dụng với người khác, chúng ta sẽ nhận ra rằng một khi dự tính mình tốt lành thì cách thức biểu đạt bản thân cũng quan trọng không kém hành động thể hiện. Từ ngữ do có ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến ta nên điều quyền năng này còn giúp mình tẩy đi bất kỳ ngờ vực hoặc sợ hãi nào bất chợt trỗi lên trong các mối quan hệ. Lưu ý từ ngữ phát ngôn, mình sẽ củng cố thêm cam kết với mọi người trong đời và lát đặt con lộ đời sống ngày một chân tình thêm lên.

Khi tôi bất chợt được giới thiệu một chương trình trên truyền hình vừa diễn ra hồi hôm, quả thật tôi không thể không nghĩ tới độ căng giữa lòng từ bi và sự không dính mắc.

Liệu từ bi, vốn làm yên dịu niềm đau nỗi khổ của những người khác, có mâu thuẫn với khái niệm không dính mắc, tách biệt (tương phản với trạng thái gắn bó) vốn nó ngăn ngừa niềm đau nỗi khổ rất riêng?

Bởi vì lòng từ bi đích thực là sự trợ giúp vô điều kiện; nó là vô điều kiện và một dạng thức của sự tách biệt, không dính mắc từ bất kỳ điều kiện nào khi trợ giúp kẻ khác, ở trạng thái trợ giúp hết sức chân thành. Sự không dính mắc đậm Phật tính ở đây biện luận khởi lên từ năng lực khôn ngoan của trạng thái không dính mắc với các hiện tượng, gồm cả con người, vốn không ngừng thay đổi và biến chuyển. Sự khôn ngoan này cũng đi kèm với lòng từ bi, bởi vì nó nhận ra sự thay đổi không ngừng nghỉ của hiện tượng; nhiều người không nhận ra được sự thật vô thường này và đeo bám, dính chặt với ảo ảnh những cái tôi của họ và trải nghiệm về sự không hề chút đổi thay nào để rồi dẫn đết kết cục hứng chịu đau khổ.

Đấy là lý do tại sao một sự bừng tỉnh toàn triệt ở người thức nhận sự khôn ngoan của bản chất vô ngã thì cũng có một lòng từ bi tuyệt diệu luôn, đặng trợ giúp những ai thiếu vắng khôn ngoan và lòng từ bi đặng thức nhận về sự bừng tỉnh trong chính bản thân họ và ở những người khác. Điều ấy chính xác bởi vì sự bừng tỉnh, giác ngộ hoàn toàn thì không hề có bất kỳ ảo tưởng nào về cái tôi nữa, rằng chúng là vị kỷ (đối lập với ích kỷ) trong nỗ lực trợ giúp người khác của họ. Do đó, khôn ngoan đích thực là từ bi đích thực, từ bi đích thực là khôn ngoan đích thực.

Vậy nên, không nhất thiết cảm thấy vì những người khác (nhờ có lòng từ bi) và không cảm thấy vì họ (nhờ trạng thái tách biệt) cùng một lúc luôn. Chúng ta chỉ cần nhận ra cách niềm đau nỗi khổ về những người khác là đối với họ và tiến tới muốn trợ giúp họ. Chẳng hạn, khi một đứa bé khổ sở khóc thét do nửa đêm gặp ác mộng thì chúng ta thật tự nhiên cố gắng vỗ về thật dịu dàng để bé thoát khỏi ảo tưởng phi thực tế. Nếu rốt ráo không chăm sóc cháu, mặc kệ các cơn ác mộng hành hạ bé thì chúng ta đã hành xử sai trái, như thể chúng ta vốn không có Phật tính luôn đầy ắp lòng từ bi. Do đó, chúng ta cần tiến hành và nên thực sự chăm sóc bé. Đơn giản là làm tốt nhất điều mình có thể mà không dính mắc với các kết quả. Đây là cách vun bồi sự không dính mắc đúng đắn, vốn đối lập với các tình huống trong đó hiện diện nỗi sợ hãi của việc trở nên quá gắn bó với những ai mình quan tâm, săn sóc. Nỗi sợ hãi này thậm chí còn có thể kiến tạo một sự chần chừ dấn thân vào bất kỳ dạng thức của mối quan hệ với bất cứ ai, ở một chừng mực nhất định là không thuộc trạng thái từ bi rồi.

Chúng ta cần nhớ rằng không ở trong bất kỳ quan hệ nào không tất yếu dẫn tới việc tách biệt một cách tự động được. Lấy ông Phật làm ví dụ hoàn hảo. Khi một đệ tử qua đời trước mặt mình, Ngài không hề đớn đau sầu khổ vì gắn bó, yêu thương. Ngài chỉ đoan chắc rằng mình đã làm mọi điều tốt nhất có thể khi các đệ tử còn sống. Thực tế, dài lâu biết bao việc sự bừng tỉnh đã không hề được nhận diện, lảng tránh các mối quan hệ có thể là dạng dồn nén, đàn áp của sự gắn bó, yêu thương tức là, không muốn yêu thương, gắn bó.

Bất kỳ dạng thức gắn bó nào thì thảy đều rồi sẽ chỉ khiến ai đó không được giải phóng. Đó là bản chất với sự gắn bó ngay bây giờ, lúc này trong khi chúng ta có thể làm tốt nhất sức lực mình nhờ tỉnh thức trước thực tế vô thường, nhằm dần giảm thiểu đúng lúc sự gắn bó; điều này hết sức xác thực bởi vì người ta rồi sẽ băng qua, mất đi đến độ mình nên trân quý họ và trợ giúp họ ngay bây giờ, với lòng từ bi, thay vì tránh né họ- điều không thực sự đem lại lợi lạc cho bất kỳ ai, dĩ nhiên, ngay cả cho chính chúng ta.

Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD): cập nhật thông tin mới nhất, thực trạng siêu phức tạp, và vài ba cách thức hỗ trợ hiệu quả

Kể từ những bài xa xưa từng giới thiệu khá chi tiết quen lệ rồi, đến nay rối loạn phổ Tự kỷ (ASD) vẫn tiếp tục được blog Tâm Ngã chọn là chủ đề ưu tiên lên trang.

Ba hôm trước, đại học Carnegie Mellon công bố đã làm rõ vai trò của tính di truyền, đột biến, và các yếu tố môi trường; theo đó, nguy cơ di truyền của ASD chủ yếu khởi phát từ các genes thông thường hơn là các biến thể hiếm gặp hoặc đột biến tự phát.

Từ nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy rằng di truyền đóng vai trò chính trong sự phát triển rối loạn tự kỷ so với các yếu tố môi trường, góp phần quyết định gây nên tự kỷ hơn chúng ta tưởng; mỗi một trong nhiều yếu tố nguy cơ nhỏ khác thêm vào đẩy người mắc vươn ra rìa của phổ tự kỷ…  Không có các công cụ thống kê mới, không phát hiện được kết quả, và bây giờ chúng ta phải dựa trên những gì học hỏi được kèm sử dụng các cách tiếp cận thống kê để sắp đặt các nguồn lực tương lai, và quyết định hướng nghiên cứu nào hữu ích nhất đáng tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân gây ra tự kỷ.

Như thế chứng tỏ, tự thân yếu tố môi trường không quyết định hết thảy nguyên nhân gây ra ASD; và con số 55% có thể di truyền cho thấy genes chịu trách nhiệm hơn một nửa việc một đứa trẻ có khả năng mắc tự kỷ (80% di truyền liên quan đến chiều cao).

Lần nữa, qua thượng dẫn sơ bộ, điều ngạc nhiên ở nghiên cứu là các nguy cơ di truyền gây tự kỷ đa phần nằm ở các biến thể genes thông thường chứ không phải các đột biến dị biệt. Một đột biến nhỏ trong một gene đơn lẻ có thể gây một căn bệnh chẳng hạn như Huntington, và đột biến gene BRCA1 làm tăng lên khả năng phụ nữ phát triển ung thư vú. Các đột biến như thế chỉ chiếm 2,6% nguy cơ gây tự kỷ, so với 52% biến thể genes thông thường; với phần lớn trường hợp gây mắc tự kỷ, không có một gene sai lạc nào mã hóa rối loạn này mà chính sự kết hợp các biến thể thông thường với nhau mới dự đoán nguy cơ tự kỷ. Và dù chỉ ra các yếu tố môi trường không phải là nguyên nhân chính, song nhóm tác giả không chắc cụ thể những yếu tố môi trường nào quy cho việc mắc tự kỷ.

Liên quan đến thực trạng phức tạp gây tranh cãi, bất chấp mấy thập niên nghiên cứu khẳng định điều ngược lại thì niềm tin tự kỷ có thể là do nguyên nhân trục trặc trong quan hệ gắn bó mẹ- con vẫn thịnh hành. Trước thông tin nghiên cứu rằng có mối liên quan giữa độ tuổi cao của bố mẹ với việc mắc tự kỷ khiến một số bố mẹ còn chưa thôi lo lắng quyết định có nên sinh con sau độ tuổi 30 thì công việc của nhóm nghiên cứu quốc tế do nữ khoa học gia thuộc đại học Carnegie Mellon đứng đầu giải thích chủ yếu do genes.

Sự trộn lẫn các yếu tố nguy cơ không dễ cảm nhận thấu đáo và việc chẳng rõ ràng nguyên nhân gây ASD có thể khiến một số bố mẹ lựa chọn các giải pháp liều lĩnh và cảm tính. Một ví dụ sống động kéo dài là chuyện bố mẹ quy cho hóa chất thimerosal (đã bị gỡ bỏ hơn 10 năm nay) vốn có mặt trong vacine trẻ em gây tự kỷ, tạo điều kiện cho phong trào chống tiêm phòng thành công và gây ra nguy cơ cho con cái họ mắc một số bệnh mà chúng ta đã biết cách tránh…

Với tỷ lệ 1/ 68 trẻ em Hoa Kỳ mắc ASD, trong độ tuổi 6-17 thì chẩn đoán mắc tự kỷ tăng khoảng 1% từ 2007 đến 2012. Các triệu chứng tự kỷ đa phần không hợp trội, nổi bật cho đến khi trẻ lên 2 hoặc 3 tuổi, và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán. Nguyên nhân hiện chưa sáng tỏ hoàn toàn, sau nhiều năm nghiên cứu có thể nghĩ tới chừng mực: các biến chứng khi sinh, thuốc trừ sâu, không phải do thiếu thốn tình yêu thương, không phải vì nhiều giun sán.

Nhân tiện, xin nêu một vài nghiên cứu liên quan: trẻ có bố mẹ làm các nghề kỹ thuật mang tỷ lệ tự kỷ cao hơn; thiếu hụt kỹ năng vận động càng làm mức độ tự kỷ nghiêm trọng; suy yếu khả năng chú ý không phải là thành phần tự thân của tự kỷ; cảm giác thứ phát hay thường thấy ở người mắc tự kỷ; chết đuối là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ ASD; chụp quét não bộ có thể hỗ trợ công tác chẩn đoán; có việc làm giúp cải thiện các triệu chứng tự kỷ ở người trưởng thành; nghiên cứu DSM-5 chỉ ra tác động của việc chẩn đoán và sự phổ biến ASD, v.v…

Chẳng nhất thiết phải nghi ngờ một điều rằng, tự kỷ thực sự khó hiểu đối với những ai không trải nghiệm trực tiếp. Với hầu hết mọi người, tự kỷ cơ chừng là ai đó lạ kỳ, cách biệt và khuyết tật tinh thần; các tường rào ngăn cách trong đời sống người mắc tự kỷ có vẻ là khó hiểu thấu; những trở ngại và thách thức họ phải đương đầu là thực tế lạnh lùng, một thực tế của ai đó khác. Con số 1/68 trẻ em mắc ASD cho thấy hầu hết mọi người dễ bắt gặp, nghe thấy hoặc tiếp xúc khá gần gũi với ai đó mắc tự kỷ; tiếc thay, phải chờ cho đến khi tự mình trải nghiệm cá nhân trực tiếp những con người ấy độc đáo và đặc biệt như thế nào thì mới phần nào nắm bắt câu chuyện.

So với ASD, ngu dốt mới đích thị là căn bệnh lớn nhất trong xã hội. Bố mẹ các trẻ mắc tự kỷ chắc chắn trải nghiệm sống động khía cạnh với người xung quanh họ; một khía cạnh tồn tại ở nhiều người song nó chỉ bộc lộ ra khi bị thách thức bởi điều gì đó khác thường, như kiểu giao tiếp với người mắc tự kỷ. Đó không phải là tội ác, chỉ là ngu dốt mà thôi.

Có rất nhiều vấn đề xoay quanh ASD. Một đứa trẻ mắc tự kỷ ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong gia đình theo các cách thức khác nhau. Bố mẹ/ người chăm sóc giờ đây phải đặt để ưu tiên chú tâm trong việc trợ giúp con em họ, xử lý stress nảy sinh ngày càng mãnh liệt trong đời sống hôn nhân, ở các đứa con khác, công việc, tài chính, và các trách nhiệm lẫn quan hệ liên nhân cách khác nữa. Bố mẹ có con mắc tự kỷ phải chuyển khá nhiều nguồn lực thời gian và tiền bạc cho việc cung cấp phương thức điều trị và can thiệp cho đứa trẻ, hạ thấp các ưu tiên cấp bách khác.

Bố mẹ trẻ thường quen đối mặt với các thái độ và dịch vụ bất công trong xã hội. Họ bị thúc ép đương đầu và giải quyết với sự ngu dốt. Vượt trên việc xử lý các vấn đề sự vụ đời thường, hàng ngày liên quan đến tình trạng rối loạn của con em mình, họ cũng buộc phải trở thành người biện hộ và đấu tranh, các chuyên gia y tế cung cấp thông tin chính xác cho cộng đồng họ thường tiếp xúc, bởi vì định hình các chương trình can thiệp sớm thích đáng, độ an toàn và phù hợp trong chẩn đoán cũng như tự thân việc trị liệu và chăm chữa y tế tương xứng dĩ nhiên không phải là điều dễ dàng chút nào ở một đất nước đang phát triển bộn bề như Việt Nam.

Các cơn thịnh nộ, đập phá từ nhẹ tới nặng, khó khăn trong ăn uống, đủ thứ rắc rối với việc ngủ nghỉ, nhiều giới hạn bó buộc của tiến trình xã hội hóa và tương tác với những người khác, đi kèm lắm thiếu hụt xử lý cảm giác và lượng giá môi trường… chỉ là một vài vấn đề mà trẻ em cũng như người lớn mắc ASD phải đối phó thường xuyên.

Điều quan trọng hiểu tự kỷ là trạng thái rối loạn phổ rộng, nghĩa là các cá nhân sẽ thể hiện nhiều triệu chứng khác biệt nhau, một số thì nhẹ và một số thì nặng, số khác vừa vừa… Tương tự, cơ bản là bóc trần huyền thoại người mắc tự kỷ không có khả năng biểu đạt các cảm xúc bản thân hoặc cảm nhận về tình yêu thương, nỗi niềm hạnh phúc, buồn rầu, đau đớn như mọi người khác. Đơn giản vì họ không thể biểu đạt các cảm xúc bản thân theo cách của đa phần mọi người, không có nghĩa họ không có cảm xúc. Đây là sự ngu dốt và thiếu giáo dục chu đáo khiến thiên hạ tiếp tục mang vác huyền thoại vừa nêu.

Nếu nói với bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ, mình sẽ thường nghe thấy các câu chuyện dũng cảm không thể ngờ nổi, sự kiên nhẫn vô bờ bến, những nỗ lực khủng khiếp và nỗi buồn bã, tuyệt vọng trong những ngày đen tối luôn ít nhiều phảng phất trên khuôn mặt. Mình cũng có thể nghe thấy các câu chuyện về tình yêu thương vô điều kiện, sự trân trọng đời sống, hành trình khám phá bản ngã mà họ không hề nuối tiếc dấn thân cũng như không lãng quên ước mơ, hy vọng về một tương lai tươi sáng cho con cái.

Người mắc ASD cũng là nhân loại chúng mình. Mỗi người thì khác nhau và ai cũng độc đáo. Điều họ cần chí ít là đừng ai đánh giá, xa lánh, đối xử bất công và thể hiện sự ngu dốt hướng về họ. Những gì họ cần là tình yêu, xử sự công bằng, tôn trọng, thấu hiểu và đủ đầy ý thức để xã hội nâng cao hơn nữa khả năng trợ giúp, nâng đỡ họ cùng với gia đình họ nhiều hơn nữa. Họ cần nhiều phương thức trị liệu đúng đắn và hiệu quả, tiếp cận được, chẩn đoán và can thiệp sớm, và nhiều nghiên cứu cũng như ủng hộ quỹ, vận động chính sách, tài trợ nhiều hơn nữa.

Bố mẹ cũng cần giúp đỡ với nhiều chi phí phải trả, các chương trình phù hợp giúp con em họ có việc làm, nơi học tập, được hỗ trợ cảm xúc và tâm lý, hội thảo và giáo dục đặc biệt đặng giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh với trẻ mắc tự kỷ. Chúng ta cần mở rộng các mạng lưới, cộng đồng khuyết tật phủ khắp và tạo điều kiện để các gia đình có cơ hội tương tác với nhau, trao đổi thông tin, ý kiến, tiếp cận được ngày càng nhiều dịch vụ và nhiều hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như xã hội.

Dưới đây là vài bước khuyến cáo cụ thể từ giới chuyên môn mong có thể trợ giúp cho người mắc ASD.

1. Giải thích từng giai đoạn một những gì mình định làm, những gì sẽ xảy đến tiếp theo và tại sao.

2. Cho người mắc ASD đủ thời gian để hiểu thông tin mình đang chia sẻ và đợi đáp ứng chứ đừng vội vàng, mong ngóng.

3. Các câu hỏi nên được đặt ra thật dễ hiểu theo cách sử dụng ngôn ngữ trực tiếp, dùng tranh ảnh khi cần thiết; đừng phụ thuộc vào việc trẻ làm quen, nắm bắt được tình cờ nghĩa của các câu hỏi nêu ra hoặc ngôn ngữ cơ thể.

4. Người mắc tự kỷ dễ nghiêng theo hướng nắm lấy lời mình nói theo nghĩa đen nên cần tránh dùng từ ngữ mang nghĩa nước đôi và thể hiện tính hài hước rất dễ bị hiểu nhầm.

5. Duy trì công việc và thói quen hàng ngày; tương tự là điều quan trọng đối với người mắc tự kỷ.

6. Các khó khăn trong giao tiếp xã hội có thể bao gồm việc tiếp xúc mắt, các ngôn ngữ cơ thể bất thường, nói chuyện vào những lúc bất tiện hoặc nói về các chủ đề không thích hợp lắm.

7. Các hành vi lặp đi lặp lại có thể là cơ chế đối phó, và đo đó nên được tôn trọng.

8. Mội trường rất quan trọng. Một số người mắc tự kỷ đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng, chuyển động, tiếng ồn và sự sờ chạm. Cố gắng thiết lập môi trường yên an, tĩnh lặng để giúp bình hòa nỗi lo lắng, sợ hãi.

9. Luôn luôn thử đặt mình ứng xử, hành động như người mắc tự kỷ dù đó quả là thách thức ghê gớm.

10. Hỏi người mắc tự kỷ, bố mẹ, người chăm sóc hoặc vị giám hộ họ những gì họ cần.

@ Cập nhật, 15h42′ cùng ngày

Phương thức dạy nhận thức về Tự kỷ giúp giáo viên đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều hiểu được rối loạn và giúp đỡ trực tiếp bạn mắc ASD; nâng cao nhận thức về những nhu cầu và khó khăn mà người mắc Tự kỷ gặp phải, giải thích ASD là gì, và tại sao nó ảnh hưởng các kỹ năng truyền thông, xã hội và tư duy.

Hướng dẫn nhấn mạnh không những nhu cầu của cách tiếp cận cá nhân khi làm việc với học sinh mắc ASD mà còn bao gồm một số chiến lược “nắm trọn” như cách bắt đầu bài học với các hoạt động ngắn, vui và thực tế nhằm giúp có được cấu trúc ngay lập tức rồi đề cao các điểm tưởng thưởng để chào đón trẻ. Khẳng định những thay đổi trong môi trường lớp học là giảm tiếng ồn xung quanh, sử dụng ánh sáng tự nhiên và tránh các tranh, ảnh gây ‘bắt mắt’.

Ý tưởng cho ngân hàng chiến lược làm việc với trẻ mắc ASD là đi theo các quy định rất rõ ràng ở lớp học, hỗ trợ việc trình bày miệng với bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh, xác lập nhiệm vụ với các mục tiêu rõ ràng, và hướng dẫn ngắn, đơn giản.

Một vài mẹo thực hành cho giáo viên như khung làm việc SPELL: nhắm vào cấu trúc (structure), hành vi tích cực (positive behavioir), thấu cảm (empathy), ít gây kích thích (low arousal), và liên kết (link) với nhiệm vụ ở nhà. Mục tiêu là giảm bất kỳ trải nghiệm lo lắng nào ở trẻ, để chúng làm việc hiệu quả hơn trong một môi trường khiến chúng cảm thấy an toàn.

Nhằm giúp giáo viên giảm thiểu nguy cơ trẻ bị bắt nạt, hướng dẫn nhắm vào “tính đa dạng thần kinh” giúp học sinh hiểu những khác biệt trong cách người ta suy nghĩ hoặc tri nhận thế giới; được thiết kế để khuyến khích nhận thức nhóm bạn cùng trang lứa, chấp nhận về mặt xã hội, thấu cảm và hòa đồng ở mọi học sinh cho dù một số bạn có thể biểu lộ hành vi khó thấu hiểu hết được…

Hấp dẫn và kháng cự cùng những điều ngộ nhận khó ngờ

Những thời khắc, ngày giờ giời đất mưa gió bão lũ não nề như thế này đi kèm tin tức đăng tải tai nạn chết người, sự đời đổi dời bất nhất nên e chừng quá dễ gây cảm giác khiến thiên hạ cầu mong, nghĩ thế này mơ thế nọ, tâm trí cứ mê trôi vu vơ và không khỏi bám vào đẩy ra theo thói quen tưởng nghĩ bấy lâu.

Tỷ dụ nổi bật liên quan đến cái gọi là quy luật hấp dẫn. Hãy thử nhìn vào những gì đối lập với nó, tạm gọi là quy luật kháng cự chẳng hạn. Tin xấu là mình bị ‘hút vào’ những gì làm mình kinh hãi, dưới dạng cách này hay cách khác, lặp đi trở lại cùng thời gian cho đến lúc mình tập hợp đủ lòng từ bi (cho chính mình và/ hoặc cho người) cũng như trí tuệ để đương đầu điều đó.

Những gì mình kháng cự vẫn cứ còn đó thật tự nhiên. Những điều gây kinh hãi, lo sợ không bao giờ đích thị tự nó biến mất bởi vì nỗi niềm kinh hãi, lo sợ nằm trong lòng mình, cho dù mình có mặt ở nơi đâu. Một số người nhìn điều này như phương thức vũ trụ kích thích tăng trưởng, trong khi  mình nên nghĩ đúng đắn rằng đó chỉ là nghiệp và tri nhận của bản thân đang thao tác thôi: trình bày với mình về những gì đang hiện diện trong lòng. Các trải nghiệm dẫn dắt ta hướng tới giác ngộ hoặc thoát khỏi nó hoàn toàn tùy thuộc vào ta.

Tin tốt lành là dù sức mạnh của sự kháng cự sẽ là thành phần tạo nỗi đau đớn khi đương đầu, điều ấy hàm nghĩa các bài học ta tiếp thu được sẽ lớn lao. Việc thiết yếu chẳng những không buộc phải đương đầu quá mức mà còn cần tỉnh thức với những gì kinh hãi, lo sợ. Khi sự kinh hãi, lo sợ được trải nghiệm như nó vốn thế, điều gì đó thú vị xảy đến: sự hãi sợ, kinh hoàng tan rã, tiêu trừ. Khả năng là khi mình học hỏi để nhìn thấy sự kinh hoàng, lo sợ như nó là, mình sẽ nhận ra điều ấy khác biệt với tự thân sự kinh khủng, sợ hãi vốn rồi tất tiêu biến đi. Nỗi đau đớn do sợ hãi, kinh hoảng khá nhẹ nhàng ban đầu, song nó có thể trở nên mãnh liệt khi mình chống kháng nó. Đây không là nỗi đau của chính sự sợ hãi, kinh hoàng mà đến từ sự kháng cự. Với một số người, có mặt ở trong phòng chờ thì e dễ càng đau đớn hơn cả lúc đang gặp gỡ bác sĩ nha khoa.

Khi chúng còn chưa được nhận ra, các sự thật vũ trụ sẽ ‘thao diễn’ trong đời mình dưới các hình tướng bất định bởi vì các sự thật luôn luôn loanh quanh đâu đó. Khác hơn là các lý do thuộc nghiệp, “mọi thứ xảy đến vì một lý do”- (những) thứ mình chọn- vì vậy hãy lựa chọn hết sức cẩn thận. Không có dạng thức sinh thể siêu thông minh đang chơi khăm minh, chỉ là một dạng hoang tưởng ngẫu nhiên người ta rơi vào vì các cái bẫy tự mình tạo nên mà không hề nhận ra. Bất kể mình trải nghiệm đang bị trừng phạt chỉ vì bỏ quên giá trị đạo đức của nó và được tưởng thưởng khi mình học hỏi đích thị. Người ta sẽ không ngừng nắm bắt cơ hội để vượt qua các rào cản tâm linh cho đến khi mình làm sạch chúng toàn bộ: khi mình tự do thoát khỏi mọi niềm đau nỗi khổ.

@Cập nhật, 20.7.2014.

Nghiệp xấu không phải luôn là lực lượng không thể phát hiện, theo dõi được, ví dụ, sức khỏe kém lúc này có thể là do bởi các thói quen sinh hoạt không tốt được tạo ra và duy trì nghiệp xấu là sức khỏe kém; ngoài sự tụng kinh, cầu nguyện thì điều tốt không kém nữa là xem xét nhu cầu thay đổi các thói quen xấu. Người ta cũng có thể làm một số hành động tốt để tạo nghiệp tốt và giảm bớt tác hai của nghiệp xấu như làm từ thiện, phóng sinh, ăn chay,…

Về việc tin rằng các suy nghĩ tích cực thu hút nguồn năng lượng tích cực từ vũ trụ và mình nên giữ trong tâm trí ý nghĩ rằng sức khỏe bản thân sẽ tốt lên thêm mãi nhờ quy luật hấp dẫn. Thực tế, có nhiều phiên bản cho cái gọi là quy luật hấp dẫn và nhiều chỉ trích chuyện nó vận hành hay không. Phiên bản thông dụng nhất rằng mình nghĩ gì sẽ nhận được thế là không đích thị sự thật. Bởi vì suy nghĩ về điều gì đó theo quan điểm dự tính, ý định thì mới chỉ là một hạt giống. Có nhiều điều kiện cần thiết cho hạt giống lớn lên, đơm hoa kết trái. Ví dụ, hàng triệu người nghĩ và thậm chí mơ mình trúng số suốt một đời, song họ không bao giờ trúng số vì họ thiếu các điều kiện nghiệp của sự rộng lượng đã thực hiện trong quá khứ đặng nuôi dưỡng hạt giống giàu có được triển nở và biểu hiện theo cách này. Tương tự, với người đau ốm khao khát sống rốt ráo không hạn định cho đến khi chết khi mà thời gian của nghiệp đã đến hồi kết thúc.

Khi ai đó e ngại rằng anh ta được nhiều diều tốt lành hơn nhờ quy luật hấp dẫn mà anh ta không xứng đáng và các điều tồi tệ sẽ theo sau thì thực tế, bất kể thứ gì người đó trải nghiệm trong lúc này thì họ luôn xứng đáng trong lúc này, bởi vì quy luật nghiệp luôn luôn vận hành hết sức hoàn hảo. Điều ấy không có nghĩa người ta đang đau ốm thì không cần điều trị mà là ở giữa chuyện đang tìm kiếm sự chữa lành, bất kể thứ gì người ta đang trải nghiệm ngay lúc này là mang bản chất nghiệp, chứ không phụ thuộc việc xui rủi, may mắn bất chợt. Không có chuyện cùng lúc phục hồi và không xứng đáng về mặt nghiệp; như thế, nỗi lo lắng của anh ta về trạng thái nghiệp xía vào và tuyên bố “trả thù’ sẽ không bao giờ xảy ra.

Vậy đó, ý tưởng quy luật hấp dẫn đang vận hàng đích thị nhờ bởi không ngừng suy nghĩ về một điều gì đó là một lầm lạc lớn. Nguyên nhân cộng với các điều kiện mới thành tác động, ảnh hưởng. Các điều kiện là chính yếu và điều ấy bao gồm các nỗ lực siêng năng, cần mẫn trong nhiều dạng thức thích hợp khác nhau.

Thiền tập Tỉnh thức và thân – tâm an lạc giữa đời thường

Cơ chừng theo thông lệ lâu nay, tâm trí chúng ta dễ quen với trạng thái đầy ắp, tràn lấp mọi sự thay vì lưu ý và tập trung trước những gì đang xảy đến. Dĩ nhiên, vẫn còn may mắn là thành tựu tiến hóa nhân loại có thể giúp chúng ta nâng cao ý thức nhắm vào hiện tại rồi dần trở nên tỉnh thức hơn.

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng các ý nghĩ, suy tư chỉ là sản phẩm của tâm trí; tuy thuộc về mình thật song chúng không định hình ta; quả đúng các suy tư ảnh hưởng tới hành vi song lại chẳng kiểm soát nó nổi. Đây là ý tưởng chủ chốt đối với việc tỉnh thức (mindfulness).

Mặt khác, chúng ta cũng hay tin các suy tư này thể hiện đích thị thực tế trong khi sự thật thì các ý nghĩ của chúng ta vốn hay sai lỗi, lầm lạc: các định kiến nhận thức (cognitive bias) làm cho chúng ta không tư duy một cách lý tính như mong đợi. Khi giả định các ý nghĩ là sự kiện, mình để chúng ảnh hưởng tới bản thân cả theo hai hướng tích cực và tiêu cực; cơ bản đừng quên điểm mấu chốt ở đây là chúng ta để mặc cho các suy tư tác động ghê gớm, ảnh hưởng khủng khiếp tới chính mình.

Do không tập trung có ý thức vào khoảnh khắc hiện tại, các suy tư cứ thoải mái dẫn ta lùi về quá khứ hoặc phóng tới tương lai; chúng ta nghĩ về những gì đã xuất hiện và có thể từng xảy đến; thậm chí, ước đoán cho thấy chúng ta có thể dành đến tận 50% thời gian tỉnh táo hàng ngày để chìm đắm, chạy theo dòng chảy khi tâm trí lêu bêu…

Và cùng tâm trí lêu bêu, chúng ta vắng mặt về khía cạnh tinh thần trong khoảnh khắc hiện tại; não chúng ta ưa thích tạo ra đủ kiểu loại suy tư đến độ nếu không điều hướng lại một cách chủ động sự lưu ý của chúng ta vào khoảnh khắc đang là, chúng ta dễ biến mình thành vắng mặt. Vấn đề: khoảnh khắc hiện tại là tất cả những gì chúng ta có. Với các suy tư diễn biến hết sức hồn nhiên và vô thức thế, chúng ta thuận theo tâm trí lêu bêu bằng mô thức lái xe tự động; để mặc tâm trí lang thang nên bất khả chuyện để mình sống “ở đây và ngay bây giò”, chính bản thân không nhìn thấy hoặc trải nghiệm cuộc sống một cách hoàn toàn, bỏ lỡ nhiều cơ hội trong đời. Chúng ta cần kiểm soát sự chú tâm một cách chủ động và có ý thức nhằm làm tăng thêm trạng thái ý thức nhắm vào hiện tại.

Chúng ta nào muốn sống một cuộc đời vô vàn lo âu. Hầu hết mọi người hưởng lợi từ việc dùng thời gian vào việc ‘ở đây và ngay bây giờ’. Chúng ta ước tính quá mức tác động của cảm xúc tới các kiện tương lai, chẳng hạn, chúng ta lo lắng hơn hẳn về tương lai. Và thực tế, việc luyện tập tỉnh thức chú tâm vào khoảnh khắc hiện tại đem lại nhiều lợi lạc cho chính chúng ta.

Tỉnh thức là phương thức hướng bản ngã chúng ta vào khoảnh khắc hiện tại; nó duy trì thái độ ‘không đánh giá’, giữ ý thức vào các trải nghiệm ngay lập tức lúc này, thay vì bị quấy nhiễu bởi các suy tư quay về dĩ vãng hoặc phóng tới vị lai hoặc tránh né trải nghiệm.

Tạo sao chú ý vào hiện tại lại cải thiện trạng thái thân- tâm an lạc của mỗi người? Nghiên cứu cho thấy thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation) mang lại lợi lạc trước vô vàn triệu chứng tâm thần, thực thể và stress; thậm chí còn có thể tạo nên những thay đổi thường trực trong các vùng não bộ; khẳng định chí ít tác động tới bốn thành phần cơ bản, từng cái xoắn bện, tổng hợp và hỗ trợ qua lại làm tăng thêm công dụng chung của thiền tập tỉnh thức.

1. Kiểm soát sự chú ý

Đây là năng lực căn cốt nhằm lựa chọn những gì mình muốn chú ý và cái chi thích lờ đi; nó là năng lực duy trì mối quan tâm vào một đối tượng đã được lựa chọn. Bất kể mình bị quấy nhiễu thế nào, chúng ta có khả năng đưa sự chú ý quay về với đối tượng đã lựa chọn ấy.

Kiểm soát sự chú ý rất cần cho thiền tập. Khi mình hoàn toàn hoặc kiểm soát một phần sự chú ý, mình tự bộc lộ các cảm xúc thay cho chuyện bị dẫn dắt bởi tâm trí lêu bêu. Nhờ luyện tập đều đặn, năng lực tập trung chú ý sẽ được cải thiện và không ngừng tăng lên đáng kể. Ví dụ khá cổ điển như này: “Tập trung hoàn toàn sự chú ý của bạn vào hơi thở đang đi vào và đang đi ra. Cố gắng duy trì sự chú ý ở đó, khi nhận thấy bị xao nhãng thì từ tốn đưa sự chú ý quay về với hơi thở và bắt đầu lại”.

2. Kiểm soát cảm xúc

Đây là cách đối xử với các phản ứng đậm màu sắc cảm xúc không ngừng diễn tiến theo một lối tiếp cận mới mẻ, nhiều tỉnh thức hơn hẳn; nghĩa là, mình tiếp cận các cảm xúc bản thân bằng thái độ chấp nhận mà không hề đánh giá. Thay vì để mặc cho bản thân bị tác động bởi các cảm xúc, mình dừng phản ứng với chúng từ bên trong nội tâm mình. Nếu kiểm soát cảm xúc ở mức độ cao, mình có khả năng điều chỉnh và làm bản thân thư thái, bình hòa trở lại ngay khi đang cảm thấy stress hoặc buồn bã, v.v…

3. Ý thức về cơ thể

Thiền tập tỉnh thức giúp mình chú tâm vào các trải nghiệm bên trong và càng ý thức hơn đối với các trải nghiệm tinh tế, vốn khó nắm bắt rõ ràng. Các trải nghiệm nội tại gồm các trải nghiệm cảm quan thuộc hơi thở, cảm xúc và tri nhận cơ thể mình.

Khi mình ngày càng ý thức hơn về các cảm quan cơ thể, mình khởi sự hiểu biết bằng cách nào mà các tình huống hoặc suy tư nọ kia lại đánh thức trong mình nhiều trải nghiệm cảm xúc khác biệt đến thế. Ý thức về cảm quan cơ thể, kết hợp với việc nhận diện một viễn tượng mới về bản ngã, dễ giúp mình giải quyết các cảm quan ngày càng hiệu quả và đúng đắn hơn hẳn.

4. Nhận diện viễn tượng mới về bản ngã

Thiền tập tỉnh thức làm giảm cảm nhận về một cái tôi tĩnh tại, cố định; nó giúp mình ‘tách khỏi, không còn dính mắc’ với ý tưởng thâm căn cố đố mình có về chính con người mình, do các tiến trình tâm trí vốn quen dẫn dắt chúng ta tin rằng bản ngã là một thực thể thường hằng, bất biến.

Thiền tập tỉnh thức còn củng cố thêm lên trạng thái cận ý thức (meta- awareness), đem lại cho người thực hành nó hạnh phúc nhờ giúp người ta ít để ý vào trải nghiệm đau buồn và khổ sở, thoát khỏi việc cứ trải nghiệm mãi về một cái tôi không thật, và tự do hướng tới trải nghiệm một lối sống chân thực.

Nhân tiện, ai quan tâm thì mời tham khảo vài nghiên cứu cập nhật về tác dụng của thiền tập tỉnh thức đối với trạng thái thân- tâm an lạc giữa đời thường (1, 2, 3).

J. Soi (37): Quen bạn trai nào cũng đòi hỏi ‘chuyện ấy’: vấn đề lần đầu tiên gần gũi thể lý và tiếp cận sex

Những vụ việc, tình tiết và tâm trạng như này khá quen thuộc với không ít bạn trẻ mới bước vào ngưỡng cửa yêu đương, hoặc cả những ai khuyết thiếu trải nghiệm tình dục trong quan hệ lứa đôi, thân mật.

Điều đáng học hỏi chẳng kém cạnh ở đây lại thuộc về cách trả lời, bởi nó vô hình trung, chỉ ra giá trị của nền tảng bài bản, chuyên nghiệp, và hiệu quả trợ giúp khi thân chủ cố vượt thoát nỗi niềm bất an liên quan đến chuyện trai gái làm quen và hẹn hò, bắt cặp.

Em chưa nói cụ thể mức độ đòi hỏi của bạn trai là gì nên tôi chưa thể đưa ra câu trả lời cụ thể. Nếu sự gần gũi ở mức độ như quan hệ tình dục vào thời gian mới quen nhau là rất mạo hiểm. Nhưng nếu đã quen biết nhau một thời gian và đi đến quan hệ yêu đương thì cũng cần một cái nắm tay, một nụ hôn, sự ôm ấp, vuốt ve nhau cũng sẽ giúp cho tình cảm thêm gắn bó.

Qua những gì em chia sẻ, tôi nhận thấy em là một cô gái khả ái, chuẩn mực, biết giữ mình nên chắc hẳn là giành được nhiều tình cảm của người khác phái. Em đang muốn tìm kiếm một người yêu nghiêm túc, nhưng chưa nói rõ nghiêm túc theo tiêu chuẩn nào.

Đọc thư, cảm thấy các diễn biến lo lắng, xáo trộn ấy là bình thường, có thể hiểu được; cũng không quá khó lý giải cơn cớ cô gái đang cảm thấy hụt hẫng và bối rối về những nguyên nhân khả thể cho chuyện tình cảm tan hợp, lâu chóng; tuy thế, những điều cô gái nhấn mạnh khẳng định rõ ràng rằng đấy không chỉ là trường hợp lần đầu tiên tiếp cận sex mà còn bộc lộ các giả định về niềm tin, quan điểm khởi đi từ truyền thống văn hóa, gia đình, giáo dục, và trải nghiệm bản thân.

Cho dù chuyện giữ gìn trinh tiết có liên quan đến nỗi hoang mang “quen bạn trai nào cũng đòi hỏi” song đó dễ chừng là hai điều khác hẳn nhau. Đa phần, không thành vấn đề bất kể nguyên do thuần túy tâm lý hay thể lý; bởi trong hầu hết các trường hợp, những băn khoăn đều có thể thuộc về cả hai yếu tố thể lý và tâm lý. Do vậy, khá thiết thực nếu lượng giá từ người có chuyên môn để có một bức tranh chính xác.

Một vòng lặp của thất vọng, e sợ, và lảng tránh thường dễ cùng nhau dẫn tới việc đổ vỡ hết sức đau đớn; để bẻ gãy được nó, cô gái phải đoan chắc không tiếp tục dấn sâu vào các suy tư tiêu cực và kiên trì theo đuổi việc cải thiện các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách. Điều cũng quan trọng không kém là đừng vội nản lòng bởi việc thiếu vắng các câu trả lời ngay lập tức và lối thoát ra khỏi vấn đề vướng mắc; đôi khi cần dành thời gian lẫn sự kiên nhẫn đặng lắng nghe, học hỏi cho thiệt thấu đáo.

Lần nữa, làm ơn biết cho ràng những gì cô gái đang trải qua là rất bình thường và tự nhiên. Nghĩ đến việc sex lần đầu tiên có thể mang lại quá chừng các cảm xúc nặng nề, trái ngược; trải từ phấn khích, bối rối cho tới sợ hãi (thường thì tất thảy trong cùng khoảnh khắc). Với sự vụ vi tế này, lứa tuổi mới lớn còn tri nhận nhiều thông điệp xung đột không ngừng về sex từ nền văn hóa đại chúng, internet, bạn bè, bố mẹ, thầy cô giáo, các vị dẫn đạo và chỉ bày tâm linh, cũng như các yếu nhân khác trong đời người trẻ. Với vô vàn giọng điệu tranh giành đó, và với mỗi một ham muốn hòa cùng xung năng tự nhiên ấy, có thể thật khó khăn để quyết định thời điểm nào là ‘thích hợp’ để khởi sự sex.

Ham muốn tình dục không phải là chuyện bẻ lái, bật công tắc có thể chuyển đổi dễ dàng sau khi vị trí ‘khóa, tắt’ nhiều năm tháng dài vị thành niên. Thuận theo lời dạy bảo của bố mẹ và các yếu nhân khác không nên quan hệ có thể gây khó khăn cho việc tiếp cận sex khi chúng ta (và người yêu của mình) cảm thấy rằng chúng mình đã sẵn sàng. Dẫu thế, mặt khác thì đôi khi sự miễn cưỡng của cơ thể khi có sex dễ là một chỉ dấu cho thấy nên lùi lại và đặt các câu hỏi thiết yếu, quan trọng cho mình và người yêu cho đến lúc cần trao đổi, thảo luận đàng hoàng.

  • Các giá trị cá nhân của mình khít khớp ra sao với chuyện sex vào lúc này (các niềm tin tôn giáo, quan điểm của gia đình, các ý tưởng về lần đầu tiên)?
  • Những nguy cơ thể lý nào mình sẽ phải gánh chịu (sử dụng biện pháp tránh thai, mang bầu ngoài ý muốn, xử lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục)?
  • Mình muốn gì từ mối quan hệ tình cảm với người yêu đây (chuyện sex sẽ làm thay đổi như nào quan hệ hiện tại, nó mang nghĩa ra sao với mối quan hệ của hai đứa)?
  • Áp lực mình cảm thấy (nếu có) từ nhóm bạn bè thân thiết (mình quan hệ vì là đứa duy nhất chưa bao giờ, muốn làm thế để gắn bó với nhau hơn, v.v…)?

Nếu cô gái và bạn trai chưa từng thảo luận các câu hỏi nêu trên, có thể hữu ích khi họ dành chút thời gian để thử nói về chúng. Còn đã trao đổi các câu hỏi liên quan với sự thoải mái của cô/ cậu rồi lại quyết định thích đưa quan hệ hai đứa lên tầm cao mới nữa thì e khả năng cao là tâm trí đôi lứa sẽ trở ngại, quấy nhiễu với áp lực có sex; nếu sự vụ xảy ra đúng thế thì khuyến cáo không nên quan hệ với nhau. Thay vào đó, dấn thân vào các hoạt động nào tạo cảm giác tốt lành cho cả hai song không vì mục tiêu là quan hệ tình dục. Cũng thế, xin hãy tự cho phép bản thân mình quyền thay đổi tâm trí; nếu khởi sự muốn tiến tới quan hệ tình dục và nó không tạo cảm giác ổn, có dấu hiệu hay câu chữ nào đó để biết rằng ‘lúc này nên dừng’…

Dành thời gian để chính mình nói nhiều hơn về ý nghĩa của sex với bạn và cách nó khít khớp với các giá trị cũng như ao ước cá nhân, riêng tư. Dành thời gian thưởng thức cùng nhau, chuẩn bị sẵn sàng cho những gì có thể xảy đến song đừng tạo áp lực bản thân để bắt buộc nó diễn ra.

Như thế, vấn đề ham muốn thật quan trọng, nhất là khi người ta yêu đương. Thực tế, có một cộng đồng tự thổ lộ là họ hiếm hoi, hoặc không bao giờ cảm giác hoặc bị thôi thúc về tình dục (vô tính ?);  thường những người này này không cảm thấy họ đánh mất điều gì vì họ luôn cảm thấy theo lối đó, vấn đề chỉ khởi lên khi người yêu của họ bất mãn do sự thiếu vắng trạng thái thân mật tình dục.

Có vẻ cô gái viết thư không phải thuộc trường hợp vắng bóng ham muốn mà cơ chừng thiếu hụt trải nghiệm hoặc độ tự tin. Dĩ nhiên, chưa từng kinh qua gì trước đây bao giờ thì sẽ dễ cảm thấy bất định và nảy sinh cảm giác lo lắng ít nhiều. Đáp ứng an toàn với một tình huống bất định hoặc lo lắng là không tiến hành làm gì cả. Không ai thích rơi vào trường hợp bị từ chối, hoặc là nguồn cơn của sự khó xử, lúng túng hoặc gây hiểu nhầm về mặt xã hội. Vì thế, dính dáng với chuyện khởi sự các dạng thức nọ kia của sự gần gũi thân xác thì lựa chọn ‘an toàn nhất’ đơn giản là không khởi sự. Rồi theo thời gian trôi qua, các cách thức liên hệ không gần gũi thân xác, thể lý có thể trở thành chuẩn tắc, hoặc mặc định hành vi; nguy cơ là bị mắc kẹt trong một mối quan hệ kiểu chỉ- là- bạn- bè- thôi.

Cách thức để xây dựng sự tự tin về mặt hành vi là thông qua trải nghiệm, học hỏi trực tiếp rằng việc khởi xướng trạng thái thân mật thể lý ban đầu rồi cho phép người yêu mình nhìn thấy cơ thể thì không giống với chuyện bị từ chối hoặc gây khó xử quá tồi tệ như mình có thể hình dung chúng trong tâm trí, khi hai người đã thiết lập quan hệ với nhau rồi. Ở một mức độ nhất định, sự tự tin này theo sau trong các mối quan hệ yêu đương, bồ bịch. Nhiều người bắt đầu tiến trình xây dựng dạng thức tự tin này xuyên suốt thời vị thành niên nên lúc lớn rồi, dường như chuyện ấy với họ trở nên dễ dàng hoặc tự nhiên hơn hẳn.

Vậy, làm thế nào để khởi sự đây? Thường khá ngạc nhiên về chuyện chúng ta hiếm hoi nghĩ về việc tạo nên một cuộc trao đổi chân tình như là giải pháp cốt lõi khi mối quan hệ gặp trục trặc. Ở trường hợp cô gái, dường như logic là nên giải thích với (các) bạn trai khi nào và ra sao mình thấy bất định để khởi sự sự gần gũi thể lý, rằng đơn giản mình chưa từng có trải nghiệm quan hệ kiểu thế… Một cuộc trao đổi chân thành nhất có thể tái đảm bảo người yêu mình rằng cái dấu hiệu dường như vô cảm của mình í không phải là do sự thiếu hụt ham muốn hoặc độ quyến rũ, hấp dẫn đâu.

Cần hiểu thấu đáo rằng những bức tường rào ngăn cách ghê gớm nhất chính là việc tiến hành trò chuyện, và khởi sự sự gần gũi thân thể hơn cho vài lần đầu tiên. Khi người yêu càng cởi mở đủ lâu để trợ giúp và các khởi sự được lĩnh hội, nắm bắt đúng đắn thì mình sẽ ngạc nhiên ngay về cách thức quá chừng nhanh chóng cho việc đạt được sự thoải mái và tự tin. Đấy sẽ là điều làm khuây khỏa, giảm nhẹ nhờ đơn giản biểu đạt tình cảm bằng cơ thể và độ quyến rũ tính dục khi nó khởi lên, hơn là mắc kẹt mãi với vô vàn phân tích trong đầu rằng nên hay không nên nhặng xị..

Trạng thái thân mật lứa đôi luyến ái thường tự chăm lo cho chính nó ổn thỏa, và khi mình chạm tới giai đoạn đó trong quan hệ thì thường các vấn đề gay cấn nhất cũng sẽ được gỡ rối, giải quyết. Khuyến cáo cô gái tập trung vào việc thiết lập quan hệ, cải thiện giao tiếp, và nâng cao các kỹ năng xã hội mình sẽ sử dụng trong một mối quan hệ yêu đương. Nếu gặp các sự cố, vấn đề quá chừng chuyên biệt, tham vấn tâm lý có thể thiết thực trợ giúp hiệu quả với các chiến lược xử lý nhắm đến các vấn đề này. Nếu cô gái đã từng tìm hiểu, hẹn hò trước đây, giờ cô cứ tiếp tục hẹn hò, tìm hiểu…

“Bạn trai hay khóc mỗi khi cãi nhau”: chịu đựng, chia tay rời xa, hoặc như thế nào mới phải đây?

Quả là ở đời, như các cụ bảo, ‘sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật’.

“Anh ấy hay khóc lúc cãi nhau” tức là người có tính cách hờn dỗi, dễ phẫn uất và đang trong thế yếu. Có lẽ bạn có nhiều điểm lợi thế hơn nên anh ấy chỉ còn biết dùng “vũ khí khóc” vốn có trong tính cách. Khi bạn im lặng tức là không giúp anh ấy giải phóng ức chế, từ đó ức chế gia tăng mà để trong đầu nó không chịu nổi nên “đập đồ”, nếu không đập đồ, họ có thể đánh người đối diện, nhưng do “sợ” không dám đánh người đối diện thì tự đánh mình nhằm thuyết phục người kia. Tính cách này có thể thay đổi khi anh ta “chuyển sang thế mạnh”  khi bạn là vợ anh ta.

Bạn phân tích không có kết quả gì đâu vì tính cách là sự tích lũy từ gene đến quá trình sinh ra đến nay với nhiều sự tác động. Nếu bạn đủ sức thay đổi tính cách anh ta thì bạn cũng đáng bậc thiên tài. Bạn chỉ có thể nương tựa vào tính cách anh ta rồi từ từ can thiệp tế nhị như “dạy em bé”, lúc đó mới hy vọng biến đổi tính cách.

Bạn muốn giúp anh không hành động như vậy thì trước hết phải “sống chung với lũ” rồi qua đó tìm ra dòng chảy của lũ để tránh lũ, đắp đê, đắp bờ… ngăn lũ từng phần thôi, chứ mong “hết lũ” là không tưởng.

Bạn lưu ý khi bình thường chưa bị ức chế mạnh thì người ta dễ ngụy trang tính cách nên khó phát hiện, hoặc lúc bình thường thì người ta thỏa mãn nên không bộc lộ tính gia trưởng.

Chúc sự sáng suốt.

Người ta khóc vì nhiều lý do khác nhau; vả, khóc có thể biểu hiện cảm xúc, phụ thuộc thói quen hoặc/ và lắm khi chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh tác động, chứ nó đâu hoàn toàn chỉ phản ánh thuần tính cách.

Không khó thấy động cơ cô gái viết thư muốn biết tại sao bạn trai mình lại thường biểu hiện thế và những gì có thể làm để người yêu thay đổi.

Cũng chẳng cần thiết cãi nhau mà làm gì, há chẳng phải cả thực tế lẫn lý thuyết đều đang tiếp tục chứng thực vai trò của các chương trình giáo dục và phát triển tính cách đó thôi; để trở thành một người tốt hơn, trẻ con được dạy các giá trị luân lý đạo đức cơ bản và các tiêu chuẩn của hành vi ứng xử.

Cơ chừng sự thật về bản chất con người nằm đâu đó giữa các tán thành hết sức khác biệt của nhà tâm lý học, khoa học gia hành vi, triết gia và các nhà tư tưởng tôn giáo.

Mình có thể tóm tắt nhiều giả định ẩn sâu của các trường phái truyền thống tư duy theo tâm lý học về phương thức người ta trở nên nhiễu loạn và làm thế nào trợ giúp họ lành hiền lại theo cách này: Con người vốn là tốt đẹp và cơ cấu hướng tới lành mạnh. Họ trở nên trục trặc, ốm yếu, bệnh hoạn bởi vì những điều tồi tệ hoặc ‘sang chấn, gây thương đau’ xảy đến… Họ phát triển những nỗi sợ hãi và bất an như kết quả của sang chấn, đau thương trải nghiệm rồi học hỏi đương đầu theo các cách ít nhiều tối ưu nhất có thể. Với thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện và hỗ trợ, nâng đỡ, họ có thể chữa lành các vết thương chỗ đau nhức, vượt qua nỗi niềm sợ hãi, và dần nghiêng tự nhiên lần nữa tới đời sống lành mạnh, thương yêu và từ bi.

Một số trường phái triết học và tôn giáo chấp nhận quan điểm đối lập: Con người cơ bản là tạo vật tội lỗi hoặc ‘sa ngã’, mang nhiều khuyết thiếu rõ ràng. Không có sự dẫn dắt thích hợp từ một quyền năng cao hơn, và cứ để mặc cho anh ta thế, con người sẽ dần tụt dốc, rơi xuống vào các kiểu dạng của suy đồi, khiếm nhã và trụy lạc. Nhu cầu lớn lao nhất của anh ta là được ‘cứu vớt’, đặc biệt tự do khỏi chính bản thân anh ta.

Cũng có tranh luận về nan đề quen thuộc ‘tự nhiên đối lập với nuôi dưỡng’ (nature vs. nurture). Cả thời gian dài, các khoa học gia hành vi khẳng định tất cả chúng ta thảy đều giống nhau ở sự kiện rằng chúng ta bị xử lý, trở thành đối tượng của những tác động môi trường và chuyện ngẫu nhiên rất khác biệt. Song đã có đầy bằng chứng rằng một số khuynh hướng hành vi nào đó chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các yếu tố di truyền và các yếu tố cấu hợp khác.

Và như thế, cơ chừng sự thật về bản chất con người nằm đâu đó giữa các biểu tỏ cực đoan bên trên. Con người hoặc là tính bản thiện hoặc vốn ác độc. Và anh ta hoặc phó mặc cho các genes cùng các chất hóa sinh trong người hoặc chỉ là một robot được đặt định thân phận chỉ có hành xử như môi trường lập trình để anh ta hành động thế. Anh ta cũng không hiển nhiên khuyết thiếu. Và dù được phú cho một nền tảng động vật với một số bản năng nguyên thủy, anh ta có năng lực đáng giá đặng ý thức về chuyện học hỏi và triển nở, điều khả thể giúp anh ta trở thành một cái gì lớn lao hơn thứ chỉ là động vật. Đó thuộc về các tiến trình xã hội hóa (socialization) và phát triển tính cách; và nó là một tiến trình đau đớn, khổ sở, phức tạp và kéo dài suốt đời người ta.

Việc xây dựng tính cách là tiến trình suốt đời chúng ta thấm nhuần dần nguyên tắc kỷ luật bản thân và nảy sinh các năng lực để sống có trách nhiệm với những người khác, để làm việc năng sản, và trên hết, để yêu thương… Liệu yêu thương đích thị là hành vi, hay nó là một cảm xúc, một nghệ thuật, hoặc một trạng thái tâm trí?

Thậm chí, dù cho một người có thể khởi sự cuộc đời mình như một tù nhân của những gì tự nhiên cho sẵn và lớn lên từ những hoàn cảnh nọ kia, anh ta không thể mãi mãi duy trì là ‘nạn nhân’ của môi trường sống. Rốt cuộc gì gì, mỗi người đều buộc phải tiến tới sát hợp với con người của chính anh ta/ chị ta. Để hiểu biết bản thân, để đánh giá đúng đắn và công bằng các điểm mạnh yếu, ưu khuyết, để đạt được sự khôn ngoan đích thực vượt qua các bản năng và dốc nghiêng cơ bản chắc chắn là những thách thức ghê gớm nhất trong đời. Mà không thể khác được, việc bất kỳ ai vươn tới một đời sống liêm chính, tích hợp và xứng đáng chỉ có thể là kết quả của một sự tự bừng dậy, đánh thức toàn diện, đủ đầy. Một con người rồi ra phải hiểu biết bản thân cũng như hiểu biết người khác mà không lừa lọc, dối trá hoặc chối bỏ, phủ nhận. Anh ta phải chân thành đương đầu và ước định tất cả các khía cạnh của tính cách chính mình. Chỉ khi đó rồi anh ta mới cảm thấy thoải mái gánh lấy trách nhiệm nặng nề tự lực rèn luyện vì bản thân và vì người khác. Cái đó gọi là tình yêu khi tự do lựa chọn chịu đựng gánh nặng hoặc ‘thập tự giá’ này. Và đó là ước ao cùng cam kết của một người để mang vác ‘thập tự giá’ ấy cho đến chết ngõ hầu mở ra các cánh cửa dẫn đến một nơi chốn tồn tại cao cả hoặc tái sinh dưới hình tướng sáng lạng hơn nhiều.

… Giờ với quan điểm chúng ta đang sống đời thường trong một thế giới rất liên quan và tương thuộc nhau, thử quay lại bàn thêm về vụ “bạn trai hay khóc mỗi khi cãi nhau”.

Bạn trai của cô gái  có vẻ thể hiện nhiều đặc tính thuộc nhân cách hơn là biểu hiện sự vụ tâm thần; các vấn đề xung hấn, uy quyền và độ ổn định xã hội như thế thường dễ liên quan với các rối loạn nhân cách (personality disorders). Cơ chừng cô gái đang hẹn hò với một người thuộc dạng thấy mình kém cỏi, thích kiểm soát và lạm dụng cảm xúc.

Từ cái nhìn thực tiễn, cho dù vị thế đích thực của cậu chàng như nào thì tình hình đang tiếp tục gây hại cho cô gái. Các cá nhân mắc rối loạn nhân cách như thế luôn định hướng xoay quanh bản thân mình. Họ thao tác các mối quan tâm theo chương trình riêng. Như cô gái có lưu ý, anh ta không lưu tâm chuyện cô gái đang khó chịu, tự gây hại chính mình, hoặc ngay cả nhen nhóm dự tính chia tay, chần chừ kết hôn vì mỏi mệt, lo sợ cho tương lai bị bạo hành. Anh chàng bộ đội hoàn toàn thừa khả năng làm cô người yêu kiệt sức về mặt cảm xúc thông qua chuyện cậu ta khóc lóc, mè nheo, thể hiện tội lỗi, và vâng, thậm chí hàm ý đe dọa. Khi cô gái bị tràn lấp bởi những thao túng, điều khiển của cậu ta và quay trở lại chịu đựng tiếp tục (“Bình thường thì anh tỏ ra rất tình cảm và yêu thương mình”) thì anh lính lại quay về thói cũ, lề xưa.

Theo mô tả, thái độ kiểm soát của anh lính là điều cần được nhấn mạnh trong mối quan hệ này, và nghe như thể chàng tin vào một tiêu chuẩn kép (kiểu mình được phép còn nàng thì bị hạn chế); mẫu hình như thế là không lành mạnh và dễ trở nên tồi tệ hơn cùng thời gian, nhất là sau khi đã thành chồng vợ của nhau. Hành vi kiểm soát của chàng có thể tăng lên thêm nữa khi nàng tìm ra các biện pháp ứng phó hữu hiệu. Với tuổi trẻ đang là, cô gái cần khám phá sự độc lập mà không để bị bó buộc không chính đáng. Nếu cô gái dần thấu hiểu đúng đắn mọi sự, anh lính kia dễ thấy quá chừng bất an và thiếu chín chắn trưởng thành cho kiểu dạng quan hệ mà cô gái mong đợi trong đời.

Thật tiếc khi nghe thấy cô gái cảm thấy lo lắng và bị xáo trộn với những xúc cảm cùng hành vi như thế, dễ khiến cô gái khó kiểm soát nổi tình hình. Nhất là khi cô nhiều xúc cảm đổ tràn ra, mức độ stress tăng lên bởi vì cô đang cảm thấy giận dữ với chính bản thân, để rồi đổ dầu thêm vào ngọn lửa bất mãn trong quan hệ.

Hãy để cô gái vào vai rằng mình bắt đầu khóc lóc và cảm thấy khó kiểm soát, tôi tự hỏi những gì cô ấy lưu ý nơi mình trước khi cô ấy khóc; có lẽ ấy là cảm giác mạch đập dồn dập, các cơ căng ra, hơi thở thay đổi… Nếu lưu ý những biến chuyển này trước khi rơi lệ cho cô cơ hội thay đổi chiều hướng trò chuyện với người yêu, nói bằng phong thái nhẹ nhàng và xác quyết, hoặc muốn tạm rút lui thật nhũn nhặn khỏi buổi trao đổi cho đến khi bản thân cảm thấy bình tĩnh, thoải mái hơn. Cô gái cũng có thể cân nhắc để xem xem chức năng khóc như một sự “lưu hành bôi trơn” cho quan hệ của họ, bất kể cô có xu hướng đổ lệ nhiều hơn trong các tương tác căng thẳng với ai đó khác (ví dụ, thủ trưởng, bố mẹ, người thân thiết…) so với số còn lại (ví dụ, bạn bè bình thường, đồng đội, người lạ tình cờ gặp gỡ). Cơ chừng việc khóc của cô gái nhằm hướng tới việc khuếch tán sự giận dữ của họ và kết thúc sự xung đột; nó được việc kết thúc thảo luận, trao đổi trong chốc lát song không giải quyết nổi vấn đề ẩn sâu bên dưới đang gây phiền muộn cho người khác (nghĩa là nó sẽ trở đi trở lại thêm mãi).

Kiểu dạng người cảm thấy mình thất bại, thua cuộc và kém cỏi tạo ra nhiều thiệt hại về mặt xã hội, cảm xúc và tâm lý trong một mối quan hệ. Người ấy thường trực các tính cách làm nên sự thiệt hại này. Có những nét tính cách họ chấp nhận đơn giản như nó thể hiện vậy mà không hề nghĩ trở thành một vấn đề hoặc trục trặc về mặt tâm lý. Ở góc độ nào đó, họ luôn sống với nét tính cách và hành vi này, thường thì là điều gì đó họ học hỏi được từ người thân trong gia đình. Các nhà tâm lý hay trị liệu nạn nhân của kiểu dạng người vừa nói trên (cả phụ nữ lẫn đàn ông) là các thân chủ tìm tới với trạng thái trầm uất khủng khiếp liên quan với trạng thái tin tưởng vào giá trị bản thân và lòng tự tôn đã bị phá hủy hoàn toàn.

Trong khi cô gái mang chứa ít nhiều mẫu hình quan hệ dựa theo ký ức cảm xúc, chàng trai lại đang thể hiện các dấu hiệu của trạng thái kiểm soát và sở hữu của một người loay hoay học cách chấp nhận mình. Liệu cô ấy cần phải sớm có quyết định dứt khoát và tách biệt, thoát ra khỏi vị hôn phu trước khi bị mắc bẫy trong một mối quan hệ mà bản thân cảm thấy “mệt mỏi”? Chí ít, cô gái cần giữ trong tâm trí ý nghĩ rằng chàng ta không hề quan tâm nếu cô không muốn nó, chỉ những gì anh ta quan tâm mới thành vấn đề? Chúc cô gái may mắn trên cuộc phiêu lưu tình ái rồi tiến tới dự tính kết hôn này.