Mãi còn ám ảnh trải nghiệm đau thương và những trập trùng ký ức tuổi thơ

Bài gốc Em có bị Trời phạt không? đã được một tờ báo mạng nổi tiếng hơn hẳn giật tiêu đề ra thành “Ký ức dày vò của người vợ đã ngoại tình với đồng nghiệp có vợ”.

Xin chị cho em lời khuyên: Em là con gái 28 tuổi. Em đã kết  hôn được 9 tháng rồi. Cuộc sống vợ chồng em tốt, chồng em thương em và em cũng chung thủy với chồng. Nhưng em hay bị ám ảnh chuyện hồi xưa. Lúc em 7 tuổi thì em bị xâm hại tình dục, cả nhà em không ai biết, chỉ khi em đi học thì mới tự hiểu. Đến lúc em tốt nghiệp ĐH vừa đi làm thì bị vướng vào mấy chuyện tình ái tào lao. Có lúc em vào khách sạn với thầy giáo rất già, nhưng lúc đó thầy đó chỉ hôn và sờ soạng chứ không có làm gì hết. Lần thứ hai cũng tương tự như vậy với anh cùng cơ quan, đã có vợ. Sau đó em nhận ra mình không đàng hoàng. Em đã tự dứt bỏ và không có gặp gỡ với những người đó. Mấy năm sau thì em chững chạc hơn và có gia đình. Em rất yêu chồng em, không có ý nghĩ gì không đàng hoàng. Nhưng trong thâm tâm em luôn đau khổ và xấu hổ vì chuyện xấu em đã làm. Em luôn nghĩ mình bị bệnh vì trời phạt rồi. Em là người học rất giỏi, công việc cũng rất thành công. Xin chị hãy cho giúp em lời khuyên. Em biết quá khứ của em không ra gì, nhưng trời có cho con người ta một con đường sống không hả chị? Có lúc em buồn đến mức muốn chết, muốn buông xuôi hết chị à. Em ân hận vì tuổi trẻ bồng bột quá.

Cách trả lời của người giữ mục Tư vấn cơ chừng phản ánh thói quen khuyên nhủ đơn thuần và lối tiếp cận từ khía cạnh đạo đức truyền thống đi kèm kiểu tư duy dân dã đời thường. Vậy liệu ở đây, dước góc độ người làm tham vấn/ trị liệu tâm lý, đâu là các điểm mấu chốt chúng ta muốn nhấn mạnh và tập trung phân tích?

Dĩ nhiên, một cuộc hôn nhân khởi sự mới 9 tháng thì còn đầy tràn hy vọng cho tương lai rộng dài mở ra phía trước. Ngay cả nếu như xảy đến vấn đề chi sau 9 tháng ấy, điều gì đó khác vẫn đang tiếp diễn. Nhiều cuộc hôn nhân cùng tháng năm chất chồng thường cũng chứa đựng cả tập hợp nào ít ký ức buồn bã, những trải nghiệm tồi tệ, các cuộc tranh cãi bất tận, bao lần quyết đoán sáng suốt, và vô vàn ngọt ngào đã qua. Trong khi các sự kiện này khó bị lãng quên hoàn toàn, những trải nghiệm thường tự nhiên nối nhau lặn xuống và hiếm hoi trồi lên bề mặt trừ lúc sự cố khơi bày…

Thùng rác cũ càng dữ liệu nọ kia của quá khứ như cách người phụ nữ mới làm vợ tâm sự e chừng dễ nổi lại trong một số tình huống. Lối cách hay gặp nhất cho kiểu dĩ vãng sống dậy như này là khi chúng ta mắc trầm cảm; lúc ấy, bộ não kiếm tìm các ký ức chỉ cho mỗi sự kiện ấy mà thôi: một sự tổn thương xa xưa, một trải nghiệm sang chấn, hoặc công việc gì đấy chưa hoàn tất. Đó là một trong lắm phương thức bộ não dày vò người đang kinh qua u uất, nó chơi một băng hình tâm trí về thời cũ rồi nhặt lấy hết các sự kiện lẫn trải nghiệm tồi tệ. Nếu cô ấy trầm uất, cô ấy sẽ được đề nghị cho biết lý do tại sao cô lại có những hành xử nọ kia hoặc những chuyện chi đích thị từng xảy đến với năm tháng thơ bé đó, kỷ niệm về “mấy chuyện tình ái tào lao”, hoặc tai sao cô còn vào đâu đó với người này kẻ nọ? Nên lối xử lý cho tình huống này là xử lý với trạng thái trầm uất và ám ảnh, chứ không phải với ký ức, kỷ niệm.

Một lối nghĩ khác cho tình huống này thuộc về cái gọi là ký ức cảm xúc. Thời trung học đã thành dĩ vãng mịt mù, song nếu mình nhận được lời mời hội trường thì lập tức tâm trí ngập tràn bao kỷ niệm. Chúng ta bắt đầu tua lại sổ lưu bút, nghe bài hát từng nghêu ngao, nhớ mặt bạn ngồi cùng bàn, v.v… Nếu bạn bè hoặc ai đó gần gũi, thân quen thúc đẩy trí nhớ của người phụ nữ mới lập gia đình  ‘đào sâu’ một vài sự kiện nào đó, cô ấy sẽ sống trong cả mớ dữ liệu ngập tràn của một thời khủng khiếp. Các ký ức xưa cũ hơn 20 năm có lẻ chợt trỗi dậy bởi vô vàn cò lẩy khác nhau như âm nhạc, phim ảnh, các hoàn cảnh tương tự, bình luận của ai đó, và dĩ nhiên, không loại trừ ngay cả chính vì cảm xúc sung sướng, lâng lâng của người phụ nữ đang thụ hưởng tháng ngày lứa đôi hạnh phúc; nghĩa là bởi bất kỳ điều gì… Và như mô tả, nhớ lại các trải nghiệm đã qua tạo nên nhiều cảm xúc tương tự của một thời: tội lỗi, bối rối, tủi nhục,  hoang mang, v.v…

Thật vui mừng vì người phụ nữ này đã lưu ý đến sự kiện bị xâm hại tình dục lúc lên 7. Những câu chuyện như thế vốn ít khi bày tỏ, tự bộc lộ và thường tác động mạnh mẽ hơn là ta có thể tưởng tượng; có quá nhiều lý do khiến người trong cuộc hay chọn thái độ im lặng lờ đi… Và dù cô ấy có thể nghĩ mình vượt qua được tình huống rồi, khả năng là một số cảm xúc còn giấu kín, khuất che cứ hiện diện rồi dễ khiến cô ấy phản ứng kém cỏi với stress. Thậm chí ngay cả trường hợp đúng là cô đã vượt qua ám ảnh, việc thiết lập các phiên tham vấn với một nhà trị liệu từng trải có thể hữu ích vì một số hành vi cô nêu lên trong thư đòi hỏi cần được thấu tỏ để rồi không còn quấy nhiễu tâm trí cô nữa.

Các ký ức tồi tệ nhất cũng có thể được mang lên bề mặt lần nữa theo thời gian do trầm cảm. Khi chúng ta trầm cảm, bộ não lục soát trong mớ ký ứ các trải nghiệm tồi tệ nhất nhằm hành hạ và gây đau đớn về mặt tinh thần. Người phụ nữ này có thể từng trầm uất nhiều năm tháng, nguyên nhân khiến não bộ của cô mang trải nghiệm xa xưa lên bề mặt. Vì những nỗi ám ảnh cũng hay thấy trong trầm cảm, bởi nó khả năng cao chứng tỏ trạng thái trầm cảm được duy trì ở mức độ chừng mực tại thời điểm này. Khi chú mục vào các ký ức chứa đựng các cảm xúc khốn khổ, chúng ta duy trì sự khốn khổ về mặt cảm xúc, như chính người phụ nữ đang sống đời hôn nhân thú nhận: “Em luôn nghĩ mình bị bệnh vì trời phạt rồi… Có lúc em buồn đến mức muốn chết, muốn buông xuôi hết… Em ân hận vì tuổi trẻ bồng bột quá”.

Những trải nghiệm của người phụ nữ khá thường gặp, và cuộc dằn vặt nội tâm của cô ấy nhấn mạnh các điểm khác biệt quan trọng giữa ký ức tuổi thơ và hiểu biết lúc đã trưởng thành rồi về chúng. Khi nhìn lại các ký ức hồi thơ bé mà bây giờ chúng ta biết rằng không thích đáng và phù hợp, chúng ta thấy những trải nghiệm sống động ấy như một tập hợp các khái niệm, đánh giá và cảm nhận mà chúng ta đã không hiện diện đúng đắn vì hồi ấy mình còn bé tí. Đích thị, “bị xâm hại tình dục” chuyên chở nặng nề sự đánh giá, hình ảnh hiển thị và cảm xúc, và trạng thái “nạn nhân” của việc bị lạm dụng đó tự thân đã chứa đầy vấn đề kèm theo.

Điều thiết yếu, phải tách biệt các sự kiện như người phụ nữ từng trải nghiệm chúng khi còn là cô bé thoát khỏi những ý nghĩa và liên kết giờ đây trong vai một người phụ nữ đã yên bề gia thất nhìn lại thông qua hiểu biết trưởng thành. Sự tách biệt đó điều chỉnh những bất đồng, chênh vênh liên quan đến cảm nhận thể lý, vui sướng ít nhiều cô ấy từng trải qua cùng nỗi niềm chán ghét, kinh tởm hiện tại cô cảm thấy như cô nhận ra bối cảnh, các động cơ và sự lạm dụng quyền lực của một người phụ nữ trưởng thành. Phân biệt viễn tượng đứa trẻ và vễn tượng người lớn cho phép người phụ nữ ý thức được rằng, chỉ bởi vì cô đã không cảm thấy thật tồi tệ và đủ sức vứt bỏ lúc đó, cô đã không tha thứ cho việc lạm dụng quyền lực của người trưởng thành hoặc phản ứng theo một cách thức bất thường. Không có điều gì sai trái với cô ấy bởi cách phản ứng như từng thể hiện trước đây. Thông qua hiểu biết tuổi thơ và dĩ vãng dần xa, không hề có lý do nào để ngờ vực rằng trải nghiệm một thời là tủi hổ hoặc bệnh hoạn.

Trong thư còn có thể đọc thấy ước muốn định dạng, xác lập rõ ràng mọi thứ từng xảy ra. Thay vì cố gắng gọi tên, hay hơn là xử lý trải nghiệm như đã mô tả: nhận ra rằng các viễn tượng cô ấy cầm nắm bấy lâu rồi so sánh chúng với hiện tại đang gánh lấy trách nhiệm là hoàn toàn khác biệt, và điều đó là bình thường. Bởi vì một định nghĩa về “lạm dụng/ xâm hại” là chấn thương thể lý, chúng ta có thể đôi khi giả định lạm dụng/ xâm hại tình dục phải là trải nghiệm như sự khó chịu, bất ưng về mặt thể lý ở đứa trẻ. Tuy thế, “xâm hại” trong lạm dụng tình dục thường nghiêng về sự kiện là người lớn dùng quyền lực và hiểu biết trưởng thành cho sự thỏa mãn khoái lạc tình dục của bản thân (lợi dụng sự ngây thơ của trẻ nhỏ). Gán nhãn cho trải nghiệm cách nào đi nữa không thay đổi được con người cô ấy đã từng và hiện là, và chỉ đến khi “đi học thì mới tự hiểu” cho thấy, các trải nghiệm ấy dường như không mang nhiều ý nghĩa cho chính bản thân cô.

Xử lý về mặt tinh thần và cảm xúc những vấn đề thuộc về dĩ vãng trước khi lập gia đình như vậy đúng là dạng công việc mà các nhà tham vấn tâm lý được đào tạo để đảm nhận, và không khó thấy rằng giải quyết những trải nghiệm tình dục thời thơ ấu cũng như các vấn đề rắc rối nảy sinh khi hẹn hò, bắt cặp sau này là điều gì đó mà các nhà trị liệu từng trải thừa sức trợ giúp. Mỗi cá nhân với những trải nghiệm là duy nhất và chỉ nên được hiểu đúng trong bối cảnh; không có cách thức phải, trái cần đạt tới, trước đây hoặc ngay bây giờ.

Một vài khuyến cáo cuối cùng.

  • Nếu người phụ nữ đã kết hôn rồi này quyết định không có hành động gì thêm về các sự kiện đã xảy đến thì cô ấy cũng phải quyết định phóng thích quá khứ để khỏi canh cánh bên lòng nữa. Chúng ta chẳng nhất thiết giả vờ như không có chuyện gì xảy ra song chúng ta nhận thấy rằng các ý nghĩ ám ảnh về tình huống nêu trong thư là gây hại cho chính mình. Cần dùng các chiến lược liên quan đến vấn đề ký ức cảm xúc để xử lý các căng thẳng, bực bộ về mặt cảm xúc còn lưu giữ trong trí nhớ.
  • Người vợ trong câu chuyện đang bàn không lẻ loi với một bí mật khủng khiếp. Các thành viên thân thiết, ruột thịt hoặc chí ít bố mẹ sẽ không cảm thấy thoải mái, ổn thỏa với những sự kiện xảy đến trong gia đình, tuổi thơ và quá khứ của ta khi họ không biết cách thức mình hiểu về thông tin cũng như những gì mình đã thực hiện, tiến hành… Thử cân nhắc, nếu quyết định tiến tới hướng về phía trước cùng với cuộc hôn nhân ưng ý, người phụ nữ có thể tâm tình với mẹ hoặc chị em gái và dùng dạng thức trao đổi kiểu “thông cáo báo chí”…
  • Lựa chọn tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể sẽ rất hữu ích vô cùng. Cô ấy có thể bị trầm cảm, nhất là nếu ám ảnh này gây than khóc dầm dề, đau đớn, khiến mất ngủ kéo dài. v.v…
  • Như chính động cơ thúc đẩy người phụ nữ giờ đã có nơi có chốn khởi thảo lá thư, thời gian có vẻ chỉ đang dần làm lành lặn các vết cắt, sẹo nhức buốt trong thân xác song nó khó chữa trị rốt ráo các tổn thương cảm xúc sâu thẳm. Thực tế, việc nghĩ lại và sắp xếp thái độ của bản thân lần nữa thật đúng đắn sẽ giữ vai trò chữa lành ký ức đớn đau. Người sống sót sau những trải nghiệm kinh hoàng đã hồi phục hoàn toàn được bởi vì họ tái xác lập tư duy về trải nghiệm rồi tiếp tục sống với một cuộc đời khác trước. Không ngừng ghi nhớ dĩ vãng mà cứ nghĩ như cũ về nó dễ là nguyên nhân khiến chúng ta sống lại sự kiện đau thương mỗi ngày, lôi kéo chúng ta quay về quá khứ muốn hòa giải thứ tha, và dần làm tuột rơi những gì đáng giá đang diễn ra trong khoảnh khắc hiện tại.

Hấp dẫn và kháng cự cùng những điều ngộ nhận khó ngờ

Những thời khắc, ngày giờ giời đất mưa gió bão lũ não nề như thế này đi kèm tin tức đăng tải tai nạn chết người, sự đời đổi dời bất nhất nên e chừng quá dễ gây cảm giác khiến thiên hạ cầu mong, nghĩ thế này mơ thế nọ, tâm trí cứ mê trôi vu vơ và không khỏi bám vào đẩy ra theo thói quen tưởng nghĩ bấy lâu.

Tỷ dụ nổi bật liên quan đến cái gọi là quy luật hấp dẫn. Hãy thử nhìn vào những gì đối lập với nó, tạm gọi là quy luật kháng cự chẳng hạn. Tin xấu là mình bị ‘hút vào’ những gì làm mình kinh hãi, dưới dạng cách này hay cách khác, lặp đi trở lại cùng thời gian cho đến lúc mình tập hợp đủ lòng từ bi (cho chính mình và/ hoặc cho người) cũng như trí tuệ để đương đầu điều đó.

Những gì mình kháng cự vẫn cứ còn đó thật tự nhiên. Những điều gây kinh hãi, lo sợ không bao giờ đích thị tự nó biến mất bởi vì nỗi niềm kinh hãi, lo sợ nằm trong lòng mình, cho dù mình có mặt ở nơi đâu. Một số người nhìn điều này như phương thức vũ trụ kích thích tăng trưởng, trong khi  mình nên nghĩ đúng đắn rằng đó chỉ là nghiệp và tri nhận của bản thân đang thao tác thôi: trình bày với mình về những gì đang hiện diện trong lòng. Các trải nghiệm dẫn dắt ta hướng tới giác ngộ hoặc thoát khỏi nó hoàn toàn tùy thuộc vào ta.

Tin tốt lành là dù sức mạnh của sự kháng cự sẽ là thành phần tạo nỗi đau đớn khi đương đầu, điều ấy hàm nghĩa các bài học ta tiếp thu được sẽ lớn lao. Việc thiết yếu chẳng những không buộc phải đương đầu quá mức mà còn cần tỉnh thức với những gì kinh hãi, lo sợ. Khi sự kinh hãi, lo sợ được trải nghiệm như nó vốn thế, điều gì đó thú vị xảy đến: sự hãi sợ, kinh hoàng tan rã, tiêu trừ. Khả năng là khi mình học hỏi để nhìn thấy sự kinh hoàng, lo sợ như nó là, mình sẽ nhận ra điều ấy khác biệt với tự thân sự kinh khủng, sợ hãi vốn rồi tất tiêu biến đi. Nỗi đau đớn do sợ hãi, kinh hoảng khá nhẹ nhàng ban đầu, song nó có thể trở nên mãnh liệt khi mình chống kháng nó. Đây không là nỗi đau của chính sự sợ hãi, kinh hoàng mà đến từ sự kháng cự. Với một số người, có mặt ở trong phòng chờ thì e dễ càng đau đớn hơn cả lúc đang gặp gỡ bác sĩ nha khoa.

Khi chúng còn chưa được nhận ra, các sự thật vũ trụ sẽ ‘thao diễn’ trong đời mình dưới các hình tướng bất định bởi vì các sự thật luôn luôn loanh quanh đâu đó. Khác hơn là các lý do thuộc nghiệp, “mọi thứ xảy đến vì một lý do”- (những) thứ mình chọn- vì vậy hãy lựa chọn hết sức cẩn thận. Không có dạng thức sinh thể siêu thông minh đang chơi khăm minh, chỉ là một dạng hoang tưởng ngẫu nhiên người ta rơi vào vì các cái bẫy tự mình tạo nên mà không hề nhận ra. Bất kể mình trải nghiệm đang bị trừng phạt chỉ vì bỏ quên giá trị đạo đức của nó và được tưởng thưởng khi mình học hỏi đích thị. Người ta sẽ không ngừng nắm bắt cơ hội để vượt qua các rào cản tâm linh cho đến khi mình làm sạch chúng toàn bộ: khi mình tự do thoát khỏi mọi niềm đau nỗi khổ.

@Cập nhật, 20.7.2014.

Nghiệp xấu không phải luôn là lực lượng không thể phát hiện, theo dõi được, ví dụ, sức khỏe kém lúc này có thể là do bởi các thói quen sinh hoạt không tốt được tạo ra và duy trì nghiệp xấu là sức khỏe kém; ngoài sự tụng kinh, cầu nguyện thì điều tốt không kém nữa là xem xét nhu cầu thay đổi các thói quen xấu. Người ta cũng có thể làm một số hành động tốt để tạo nghiệp tốt và giảm bớt tác hai của nghiệp xấu như làm từ thiện, phóng sinh, ăn chay,…

Về việc tin rằng các suy nghĩ tích cực thu hút nguồn năng lượng tích cực từ vũ trụ và mình nên giữ trong tâm trí ý nghĩ rằng sức khỏe bản thân sẽ tốt lên thêm mãi nhờ quy luật hấp dẫn. Thực tế, có nhiều phiên bản cho cái gọi là quy luật hấp dẫn và nhiều chỉ trích chuyện nó vận hành hay không. Phiên bản thông dụng nhất rằng mình nghĩ gì sẽ nhận được thế là không đích thị sự thật. Bởi vì suy nghĩ về điều gì đó theo quan điểm dự tính, ý định thì mới chỉ là một hạt giống. Có nhiều điều kiện cần thiết cho hạt giống lớn lên, đơm hoa kết trái. Ví dụ, hàng triệu người nghĩ và thậm chí mơ mình trúng số suốt một đời, song họ không bao giờ trúng số vì họ thiếu các điều kiện nghiệp của sự rộng lượng đã thực hiện trong quá khứ đặng nuôi dưỡng hạt giống giàu có được triển nở và biểu hiện theo cách này. Tương tự, với người đau ốm khao khát sống rốt ráo không hạn định cho đến khi chết khi mà thời gian của nghiệp đã đến hồi kết thúc.

Khi ai đó e ngại rằng anh ta được nhiều diều tốt lành hơn nhờ quy luật hấp dẫn mà anh ta không xứng đáng và các điều tồi tệ sẽ theo sau thì thực tế, bất kể thứ gì người đó trải nghiệm trong lúc này thì họ luôn xứng đáng trong lúc này, bởi vì quy luật nghiệp luôn luôn vận hành hết sức hoàn hảo. Điều ấy không có nghĩa người ta đang đau ốm thì không cần điều trị mà là ở giữa chuyện đang tìm kiếm sự chữa lành, bất kể thứ gì người ta đang trải nghiệm ngay lúc này là mang bản chất nghiệp, chứ không phụ thuộc việc xui rủi, may mắn bất chợt. Không có chuyện cùng lúc phục hồi và không xứng đáng về mặt nghiệp; như thế, nỗi lo lắng của anh ta về trạng thái nghiệp xía vào và tuyên bố “trả thù’ sẽ không bao giờ xảy ra.

Vậy đó, ý tưởng quy luật hấp dẫn đang vận hàng đích thị nhờ bởi không ngừng suy nghĩ về một điều gì đó là một lầm lạc lớn. Nguyên nhân cộng với các điều kiện mới thành tác động, ảnh hưởng. Các điều kiện là chính yếu và điều ấy bao gồm các nỗ lực siêng năng, cần mẫn trong nhiều dạng thức thích hợp khác nhau.

Về nhà dễ đổ lệ quá độ

… Cách đây khoảng 1 năm cháu cũng đã gửi lá thư đến chú với bao nỗi lo lắng về tương lai về nghề nghiệp về tình yêu… Cứ ngỡ rằng nỗi phiền muộn ấy sẽ dần sẽ ổn nhưng càng thời gian gần đây cháu lại càng thêm lo sợ. Cháu biết rằng Thất nghiệp luôn là nỗi ám ảnh với tất cả các bạn sinh viên mới ra trường nhưng với cháu thì đúng là cháu cảm thấy hết sức nặng nề. Bốn năm dưới giảng đường đại học cháu cảm thấy bản thân mình quá thụ động quá vô nghĩa và khi nhận ra được điều đó hình như đã muộn màng ạ. Cháu vừa tốt nghiệp 31/5 vừa rồi nhưng cháu chưa thể xác định được cho mình 1cv muốn làm, và bây giờ cháu rơi vào tình trạng làm công việc gì cũng đc miễn là nuôi nổi bản thân và dĩ nhiên là không được phép vi phạm pháp luật. Thế nhưng những công việc như vậy cũng thật khó tìm ạ. Cháu rơi vào trạng thái căng thẳng vô cùng, cháu rất sợ ra trường rồi mà vẫn không có việc làm để nuôi nổi mình, cháu cứ sống ngày ngày dưới cái mảnh đất Thủ đô bon chen này để tìm việc càng tìm càng khó về nhà thì cháu không muốn mà nói đúng ra là cháu không dám ạ. Bố mẹ cháu cũng có khuyên về nhưng cháu sợ hàng xóm nói đi học Đại học mà lại không có việc (vì miền quê nghèo nhà cháu ít bạn đi học a). Cháu thực sự cảm thấy vừa mệt mỏi vừa sợ vừa lo lắng. Còn về chuyện tình cảm yêu đương thì càng thê thảm ạ. Trước cũng có vài bạn con trai có ý nhưng hình như bản thân cháu cũng k biết là mình nghĩ gì và cũng k biết cái tình yêu là gì nữa, bằng tuổi cháu có bạn đã lấy chồng, có bạn sắp lấy, và đa phần là đã có người yêu nhưng cháu thì chưa có gì nhiều người nghĩ rằng có thể do cháu nói dối hoặc có vấn đề gì đó. Nhưng cháu cảm thấy bản thân mình k sao. Chú ơi liệu con người có duyên số không hả chú? Hay mình phải đấu tranh giành cái số đó ạ? Cháu thực sự rất hoang mang về cái số của cháu ạ… Từ rất sớm ngay từ khi năm 2 khi các bạn của cháu vẫn vô tư hồn nhiên không nghĩ tới, tuy nhiên hơn nửa cuộc đời sinh viên của mình cháu lại sống quá thu mình, cháu chỉ biết đến giảng đường nghe thầy cô giảng, gần như cháu không tiếp xúc va chạm với bên ngoài mấy, cũng không theo học thêm bất kỳ một thứ gì khác, chỉ đến cuối năm 3 cháu mới nhận ra điều này cháu cố gắng để hòa mình nhiều hơn (mặc dù nỗi lo tương lai sẽ đi đâu về đâu vẫn tăng). Cháu cảm nhận được niềm vui nhiều hơn, có nhiều kỉ niệm hơn với bạn bè với thầy cô thì thời gian lại không còn nhiều. Cháu dần thấy nuối tiếc nhiều hơn… Nhất là trong những ngày cuối cùng của cuộc đời sinh viên, hôm nay chính thức chia tay cháu thấy rất buồn và hẫng hụt nhiều quá chú ạ. Cháu biết là chắc chắn phải chia tay bạn bè, thầy cô giáo nhưng mà cháu vẫn cứ muốn được có thêm nhiều thời gian hơn nữa, mấy ngày gần đây cứ những lúc một mình nước mắt cháu lại rơi ra. Cháu cứ muốn sống trong hoài niệm xưa. Có đôi lúc cháu có ý nghĩ thật điên rồ là thi lại đại học nhưng mà nghĩ lại thi lại bạn bè mình cũng có còn đó đâu. Cháu không biết làm sao và cảm xúc đó có dần biến mất không và rồi cháu sẽ phải đối diện với cuộc sống mới với những con người xa lạ như thế nào ạ. Chú cho cháu lời chia sẻ với ạ.

Khoảnh khắc chia tay thầy cô, bạn bè, trường lớp dẫu thật ngậm ngùi song sẽ không kéo dài lâu, cả nỗi sợ hãi tương lai cùng với niềm tiếc nuối dĩ vãng êm đềm quá dễ khiến mình rơi lệ, lo âu bâng quơ rồi cũng đi qua…

Trước tiên, tôi muốn chỉ ra rằng ngay việc cô gửi lá thư này đã là minh chứng cho một dạng thức của tính quyết đoán: nhận ra mình cần cải thiện điều gì đó và tiến hành bước đi đúng để sửa chữa, điều chỉnh nó. Nếu cô rà soát lại cả ngày, chắc chắn cô đã tỏ ra quyết đoán không ít lần… song đó không phải là kiểu quyết đoán đang gây cho cô phiền muộn.

Hầu hết các tình huống xã hội đòi hỏi tính quyết đoán thường trực. “Đây là bài kiểm tra tiếng Anh của tôi” hoặc “Tôi sẽ không la cà phố xá với đám bạn vào tối thứ Sáu”. Người ta gặp khó khăn ghê gớm với các tình huống quyết đoán mang chứa theo kèm các cảm xúc mãnh liệt. Như cô đã mô tả rất chính xác, khi một tình huống cảm xúc khởi lên, cơ thể mình phóng thích adrenaline và các hóa chất khác tạo nên một cảm nhận đầy cảm xúc “chiến hay biến”. Phóng thích các hóa chất này thường chuyển một tình huống quyết đoán vào một tình huống xung hấn như cô trải nghiệm. Nó cũng có thể gây cảm giác ngập tràn và tạo nên một hàm lượng cảm xúc quá tải, làm mình bật khóc, ứa nước mắt, bàn tay run nhẹ, lạnh cóng, căng cơ, và chân rung…

Khi chúng ta tê mỏi về mặt cảm xúc, bị bao vây bởi các tác nhân gây căng thẳng tinh thần (bố mẹ, công việc, tiền bạc, yêu đương, v.v…) và cơ chừng không thể chạm tới được mục tiêu ao ước (sự độc lập) thì trạng thái bi ai đó thường chứng tỏ một hạn mức stress cao độ.

Các mức độ cao về stress gây khó khăn trong việc ra quyết định những gì cần làm đầu tiên, tiếp theo, và những gì ngay lúc này đây không nên lo lắng. Điều đầu tiên cô sẽ cần tiến hành là giảm thiểu stress và nỗi niềm bi ai trong đời. Xác định các điều nào tạo nên stress và nhắm vào nhẹ bớt đi mức độ gây căng thẳng tinh thần. Nếu chúng ta có một người bạn hoặc thành viên trong gia đình hết sức căng thẳng, tỷ dụ thế, hãy đưa họ ra một khoảng cách an toàn hơn về mặt cảm xúc. Nói với họ sẽ gỡ khỏi sự dính mắc của mình trong nỗi niềm bi ai của chính họ chẳng hạn. Kiểm tra tình huống riêng của bản thân ta. Mình có đang làm việc chi hoặc mang thái độ khiến sự vụ tồi tệ đi? Nếu chúng ta đang có các quyết định không tốt, có thể chia sẻ với bố mẹ nếu điều ấy không gây cảm giác ngột ngạt.

Hạnh phúc, vui sướng thường là mức độ thể hiện cho việc các hành vi đưa chúng ta tiến tới với mục tiêu mong đợi. Nếu cô muốn độc lập, liệu cô có đang thực hiện hướng về chiều đó, hay hơi tệ chút, mình đang ứng xử hoặc suy tư theo cách khiến mọi người nghĩ mình khó mà trở thành người độc lập được? Cũng thử cố gắng tiến hành các kỹ thuật cá nhân quen thuộc làm giảm thiểu stress. Nếu thuận tiện, một nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu có thể giúp cô sắp xếp, phân loại các tác nhân gây stress cũng như xem xét ưu tiên cho các nỗ lực của bản thân cô.

Nguyên nhân lớn nhất cho các vấn đề nêu trên có thể lý giải như sau.

  • Thiếu hụt kinh nghiệm xã hội. Điều này thường gặp ở người mới lớn, chưa va chạm bao nhiêu với đời. Tuổi này có các phản ứng cảm xúc mạnh mẽ, kéo dài những rắc rối của giai đoạn thay đổi cuộc sống và biến chuyển nội tiết tố. Các bạn trong độ tuổi này cũng có thể ít kinh nghiệm xử lý các tình huống phức tạp đòi hỏi một số tính quyết đoán rất lớn song cảm xúc lại được kiểm soát. Qua nhiều năm, người trưởng thành phát triển các kỹ năng xã hội tạo nên tính quyết đoán, thậm chí trong các tình huống đầy cảm xúc thì họ vẫn đủ sức kiểm soát. Nói cho công bằng, thực tế, không phải người trưởng thành nào cũng thiện xảo, điệu nghệ trong việc quyết đoán kiểm soát cảm xúc, và các cơn thịnh nộ cũng không hiếm thấy trong những nơi chốn công cộng, địa điểm giao dịch, làm ăn. Trong tình huống mới tốt nghiệp này, cô có thể từ từ thực tập nâng cao hơn tính quyết đoán mỗi ngày. Định rõ dạng ý kiến, quan điểm quyết đoán mà cô có thể luyện tập.
  • Ký ức chan chứa cảm xúc thường tạo nên tình huống như cô đang trải nghiệm. Bộ não chúng ta ghi nhớ các tình huống cảm xúc và lưu lại cả tình huống và các cảm xúc mình cảm nhận lúc đó. Nếu chúng ta bị một con chó cắn, lần sau nhìn thấy một con chó chúng ta cảm thấy ghê sợ, kinh hãi (cảm xúc) và nhớ lại lần bị cắn trước đây (tình huống). Nếu bố mẹ hoặc những người khác có thái độ xung hấn khi cô biểu đạt ý kiến trong quá khứ thì cô có thể tạo thương đau hóa với những gì chính mình đang trải nghiệm. Việc cô khóc và cảm thấy phiền muộn về mặt cảm xúc đích thị là sự lưu giữ nỗi sợ hãi về những hậu quả cô từng nghĩ tới và gặp phải trước đây… Tôi từng có cơ hội làm việc với một cô gái trẻ mang bộ mặt nhăn nhó khi cô í biểu đạt bản thân rất cảm xúc. Chúng tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng mẹ cô gái trẻ này từng có thói quen tát vào mặt cô gái mỗi khi bà ta không hài lòng với lời giải thích của con gái. Những cái nhăn nhó ấy là “ký ức cảm xúc” của việc bị tát không ít lần và não bộ của cô gái trẻ sẵn sàng cho một cái tát khác mỗi khi cô í biểu đạt bản thân, thậm chí với người khác không phải mẹ mình.
  • Sự tự tin thấp cũng có thể tạo nên phản ứng như của cô. Có thể cảm thấy ý kiến của mình không đáng giá hoặc chẳng thích hợp. Nếu cô từng bị chỉ trích vì quan điểm, ý kiến hoặc phát biểu trong quá khứ (nhắc lại ‘ký ức cảm xúc’), cô có thể rất ngần ngại biểu đạt bản thân. Cô có thể tìm kiếm trên mạng hoặc mua, mượn sách đọc viết về sự tự tin và lòng tôn trọng chính con người mình. Cô cũng có thể bắt đầu bằng việc biểu đạt bản thân trong những tình huống không mang tính đe dọa gì lắm, tuần tự tăng dần lên độ căng cảm xúc của các biểu đạt. Tỷ dụ như kiểu đi từ ý “Tôi không quan tâm khoa học về nền điện ảnh tài liệu” tiến tới việc nói với người lớn “Cháu nghĩ chú đã không đối xử công bằng với cháu” hoặc với một cậu bạn trai nào đó “Mình không đáng bị đối xử với sự thiếu tôn trọng như vậy! Nếu nó xảy đến lần nữa, quan hệ giữa bọn mình sẽ chấm hết!” Ở tuổi của cô, có nhiều thời gian dành cho việc cải thiện các kỹ năng nêu trên.
  • Một mức độ stress cao độ trong đời cô có thể cũng dễ làm cho việc biểu đạt cảm xúc khó khăn. Thử tìm đọc sách báo về stress. Nếu các mức độ stress cao quá, tìm cách giảm thiểu nó và cùng lúc tăng cường sự tự tin. Nếu có điều kiện, nên cân nhắc việc tìm tới một nhà tham vấn tâm lý.

Ghi nhớ trong tâm trí mình rằng có một phản ứng cảm xúc khi mình biểu đạt bản thân là điều bình thường. Khi nhận diện, kiểm soát và sử dụng đúng đắn, nó tạo nên ‘chất lửa’ trong phát ngôn, tính kịch của hành động thể hiện, ‘độ mãnh liệt’ trong sự biểu tỏ đậm tính nghệ thuật, và sự chắc thật trong một lời hứa.

Hãy đơm hoa kết trái cho tương lai đầy hứa hẹn vẫn không ngừng mời gọi còn mở rộng trước mặt.

Bí mật không gian trong lòng

Thế là không còn giống trước nữa rồi, khi mắt nhắm nghiền đã mở ra một cõi bờ rộng khắp khác hẳn.

Trở về từ một đợt đồng tu hành thiền kéo dài gần 12 ngày, tôi thấy mình ngồi xe bus ít ngó nghiêng đến cảnh vật, con người xung quanh; các cảm xúc trở nên dịu dàng, ý nghĩa thuần khiết, từ dùng êm ái, và sự lặng im sâu thẳm hơn lên. Đấy không chắc là dấu chỉ trỏ duy mỗi trạng thái tiến bộ trên con lộ tâm linh; cơ bản đáng nhấn mạnh đúng tầm về chứng nghiệm thêm chút cụ thể, rõ ràng liên quan đến gì là khổ đau, gì là vô thường, và gì là vô ngã.

Vả, khi lời hồi đáp chân thành khiến người đàn ông tự thổ lộ mình từng đi ăn xin ấy rơi lệ (vào buổi cuối cùng mà sự im lặng thánh thiện được cất đi rồi mọi người quay lại thói quen nói năng, mở miệng) thì tôi hoàn toàn tin tưởng vững vàng về những hiệu ứng dài lâu của thiền định (meditation).

Bài viết này cần thu hút chú ý bập vào ngay nhờ mấy dòng bắt mắt trên âu cũng chỉ cốt nhằm trình bày vài ba nghiên cứu cho thấy cơn đau nhức (pain) chẳng thành vấn đề gì với một tâm trí đang hành thiền cả.

Cái ý nghĩ vốn quen thuộc ở cả Đông lẫn Tây rằng ‘tâm trí ta quyết định tất thảy’ (mind over matter) giờ đây đã được kiểm tra nghiêm ngặt qua phương tiện danh xưng là ‘thiền định tỉnh thức’ (mindfulness meditation); việc ấy thành tựu nhờ hiệu ứng tạo ra bởi vun bồi một cảm giác bình thản thông qua quan sát khách quan các tiến trình nội tại của cơ thể. Vượt qua mấy thập kỷ liền, khoa học thiền định tỉnh thức phơi tỏ một dãy các lợi lạc cảm xúc và ý thức cho những ai tu tập, thực hành bao gồm nâng cao sự chú ý, làm giảm thiểu độ nhạy cảm với cơn đau nhức, rút xuống tính phản ứng mang đậm cảm xúc. Bằng chứng cho các lợi lạc như thế cũng được hỗ trợ bởi nhiều nghiên cứu về chụp cắt hình ảnh não bộ ở những người hành thiền duy trì thời gian dài và chỉ ra thay đổi ở mức độ thể lý.

Nghiên cứu bên dưới khám phá tác dụng của thiền định tỉnh thức lên cơn đau nhức chỉ sau vài ngày tham gia thực hành.

Một nhóm 15 người khỏe mạnh tự nguyện tham gia các phiên luyện tập tỉnh thức 20 phút/ lần; họ được hướng dẫn để duy trì ý thức vào hơi thở khi nhận biết và cởi bỏ sự quấy nhiễu của tâm trí.

Nghiên cứu lượng giá hiệu quả của thiền định tỉnh thức ở hai chiều kích: 1) cách người tham gia tỏ lộ về mức độ đau nhức và sự khó chịu; và 2) cách các mẫu hình não bộ kích hoạt thay đổi được đo bởi kỹ thuật chụp ảnh cộng hưởng từ chức năng fMRI. Để đánh giá đáp ứng với cơn đau của người tham gia, một thiết bị sưởi nhiệt nhỏ được cài ở 120 độ F (#48,9 độ C) đặt gần bắp chân.

So sánh các đáp ứng với bộ tản nhiệt trước và sau khi tập luyện thiền định tỉnh thức, những người tham gia thực nghiệm cho biết một sự giảm độ đau nhức 40% và một sự giảm 57% với trạng thái khó chịu do kích thích của nhiệt lượng. Hình ảnh chụp fMRI chỉ ra một sự kích hoạt giảm thiểu ở các vùng liên quan đáp ứng cảm xúc với tri giác cơn đau.

Thú vị nhất, quan sát được một sự tách gỡ ra của hai khu vực não bộ, vỏ trước thùy trán lưng bên và vỏ bó liên hợp khứu- hải mã. Vỏ trước thùy trán được xem là kiểm soát sự chú ý và các chức năng chấp hành khác, trong khi vỏ bó liên hợp khứu- hải mã thì dính với độ rõ nét cảm xúc của một kích thích. Các tác giả khẳng định, các tác động hữu ích của thiền định có thể được nhìn nhận ở chỗ là tạo ra một sự phân ly của ý thức về cơn đau nhức với lượng giá cảm xúc về cơn đau kèm theo nó. Nghĩa là, người hành thiền cảm biết được cơn đau song lại không đánh giá hay chú mục vào sự quấy nhiễu thông thường liên quan với cơn đau.

Nghiên cứu này cho thấy trải nghiệm lợi lạc cho sức khỏe. Khả thể rằng hành thiền tập trung, sâu sắc dễ tạo nên các phần thưởng phụ trội, tuy nghiên cứu bên trên chỉ ra ngay cả luyện tập thiền định một khoảng thời gian ngắn cũng làm giảm ý nghĩa các sự khốn khổ hay liên quan với cơn đau nhức hàng ngày, thông thường.

Mượn lời của Dalai Lama, rằng cơn đau nhức thì hiển nhiên song đau khổ là một sự tùy chọn.

“Bà Tưng”, nữ Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và cô Nhã Thuyên: khi nhà quản lý chưa khởi sự chịu trách nhiệm…

Tội nợ là chợ đời thôi, mai này xóa trắng cuối trời mây bay...
Tội nợ là thị phi đời, mai này xóa trắng cuối trời mây bay…

‘Sự sinh, sinh sự’ nên chi chuyện nọ xọ chuyện kia và những cái gì vốn nóng bỏng rất hay được sử dụng làm đồ ăn nhanh, tạo nên chủ đề đàm tiếu và/ hoặc khiến thiên hạ cảm giác như thể mọi thứ cứ quẩn quanh mỗi chừng đó, hàm ý thôi thúc người ta có mới nới cũ, lần lượt thay thế khẩu vị chú mục và chẳng thèm nghĩ mình vô can luôn– cả khi bình phẩm trên mặt báo lẫn trong đời thường.

Lần nữa, “bà Tưng” trở thành tâm điểm, song đợt này lọt vào tầm ngắm giám sát tận Hà Nội; hành vi công vụ ấy sao quá sốt sắng, và phải, khá lạ lùng.

Ở địa hạt sách vở, trạng thái thuần túy cũng khó bảo vệ vẹn toàn. “Luận văn Nhã Thuyên” do một cô giáo trẻ thế hệ Y chấp bút rồi được thông qua ba năm trước với điểm số tuyệt đối tại Hội đồng bảo vệ Cao học Ngữ văn ở trường Sư phạm Hà Nội giờ đây đang phải đối mặt với một Hội đồng đầy tên tuổi tót vời khác nhằm riết róng thẩm định lại giá trị.

Và trong so sánh chưa đến nỗi khập khiễng lắm, bản thân ứng xử của chính nhà quản lý hiện còn tiếp tục thu hút công luận dè bỉu ghê gớm, thậm chí, bức xúc đến độ đòi buộc đối tượng từ chức vào lúc đời sống dân chúng đầy rẫy tệ nạn, nguy cơ nhãn tiền chết dần chết mòn.

… Dù khác biệt trong biểu hiện song những hành vi trợ giúp cuộc đấu tranh khốn khó để người gặp nạn giành lấy quyền sống cuộc đời mình luôn sở hữu ý tưởng tương tự và rất căn bản: chỉ bày cho họ từ việc nhìn nhận bản thân như nạn nhân của các hoàn cảnh sống chuyển sang làm kẻ khởi sự, đề xuất các diễn biến xảy đến ở đời.  Nói khác, trợ giúp thân chủ phát hiện năng lực, chạm sâu thẳm sức mạnh nội tâm riêng có đặng chuyển biến thân phận.

Như đã trình bày, có hai kiểu tâm điểm kiểm soát: bên trong và bên ngoài. Tâm điểm kiểm soát nội tại là niềm tin “mình đang nắm lấy, đảm trách các sự kiện xảy đến trong đời”, trong khi niềm tin của tâm điểm kiểm soát ngoại giới thì “cơ hội, định mệnh, hoặc các lực lượng ngoài kia quyết định các sự kiện cuộc đời”.

Các cá nhân dùng tâm điểm kiểm soát nội tại tin rằng các hành vi, ứng xử của họ được dẫn dắt bởi các nỗ lực và quyết định cá nhân mình đưa ra cũng như họ quản lý những gì họ có thể thay đổi. Kiểu tâm điểm kiểm soát nội tại gắn với lòng tự tôn (self-esteem) là niềm tin mình có khả năng làm điều gì đó hết sức thành công.

Người có tâm điểm kiểm soát ngoại giới nhìn nhận cuộc đời và các ứng xử của họ như đang bị điều khiển bởi vận mệnh, may rủi. Các cá nhân này xem chính bản thân mình (đời sống, hoàn cảnh bản thân) như nạn nhân của cuộc đời và sự tai bay vạ gió, do số đen đủi.

Dưới góc độ lãnh đạo và quản lý, khái niệm tâm điểm kiểm soát cũng được áp dụng không khác bao nhiêu.

Bất luận chức vụ đỉnh cao đến đâu hay thuộc bộ phận cấp thấp thế nào thì ý tưởng chính yếu vẫn là: dừng ngay việc đổ lỗi, buộc tội con người, sự kiện hay điều việc khác (ví dụ, tâm điểm kiểm soát ngoại giới) và thay vào đó khởi sự nắm lấy trách nhiệm (tỷ như, tâm điểm kiểm soát nội tại) vì chính vai vế, bản thân họ.

Nếu đích thực lắng nghe, mình sẽ hay nghe thấy mọi người mô tả cuộc đời hoặc công việc của họ như guồng xe nằm ngoài người điều khiển mà họ cảm thấy bản thân rất ít khả năng hoặc thậm chí, không kiểm soát được đời mình nữa. Tuy thế, khi mọi chuyện được cải thiện, mình sẽ nghe thấy họ nói rằng họ bắt đầu cảm thấy nhiều kiểm soát hơn hoặc giành lại quyền kiểm soát đời mình. “Khi tâm điểm kiểm soát chuyển dịch khung từ ngoại giới sang nội tại, các thân chủ phát hiện thấy mình nhiều năng lượng, động lực, và tự tin hơn để thay đổi rất nhiều”.

Nghiên cứu chỉ ra, trong kinh doanh và lãnh đạo, lợi lạc của việc sở hữu tâm điểm kiểm soát nội tại tỏ ra thích hợp với mọi cá nhân thuộc mọi cấp độ tổ chức:

  1. Tâm điểm kiểm soát nội tâm là một trong các nét tính cách căn bản của người lãnh đạo hiệu quả.
  2. Tâm điểm kiểm soát nội tâm là tiêu chí tách biệt những nhà quản lý tốt với người quản lý tồi.
  3. Kiểu tâm điểm kiểm soát của nhân viên ảnh hưởng tới hành vi ra quyết định của lãnh đạo.

Giờ quay lại trường hợp đang bàn mà ai cũng biết là ý nói tới ai đấy. Có ý kiến phân tích chi tiết, đặt vấn đề là nữ bộ trưởng bộ Y tế bỏ lỡ cơ hội trở thành chính khách.

Quan điểm chính trị là nghề nghiệp vốn được nhà xã hội học Đức lừng danh Max Weber nêu lên từ hồi 1919.  Đại ý ông Weber cho rằng làm chính trị không phải là chỗ dành cho những ai trong trắng, thanh cảnh; một chính khách nên biết khéo gắn kết giữa cứu cánh đạo đức tuyệt đối với tinh thần trách nhiệm công vụ.

Nhìn nhận thế, bỗng dưng cảm thấy con đường học hỏi để tự quản lý đời mình của người dân nước Việt chắc chắn sẽ phải lãnh ấn tiên phong ngõ hầu tạo điều kiện cho ứng xử của giới lãnh đạo, chính khách nước nhà theo đó trở nên chuyên nghiệp và hiệu quả hơn, góp phần đắc lực cho sự nghiệp chấn hưng dân tộc.

J. Soi (18): Chẳng có chuyện gì rắc rối xảy ra cả…

Sau một ngày dài tưởng chừng kiệt sức, mọi thứ được đưa lên cao theo kiểu cuộc đời đâu đến nỗi quá tồi tệ, nếu không muốn nói cho thật chính xác là thậm chí nó còn quá bảnh bao.

Hai cây cảnh vẫn xanh, lá chúng mướt mịn như thể thế giới này tuyệt không vương chút buồn sầu hay đau khổ; cái dáng hiện hình khó tả ấy, vô hình trung, cho ta biểu tượng của sự uyển chuyển đến và đi hết sức tự nhiên của danh- sắc vô tình mà cố ý nhấn mạnh khía cạnh kỳ diệu trong tương quan sinh- tử.

Dẫu hôm nay tôi chưa trông thấy quả bí đỏ hoặc lá màu tím của tía tô, song cứ phảng phất quanh đây chầm chậm rồi loang dần mùi thương nhớ thiện lành của cơm gạo lứt trộn lẫn đậu đỏ và hạt sen; thật hoàn hảo, đưa tôi qua hết một ngày.

Đôi khi có những ngày thật dài và khó nhọc, ngay cả khi chúng không được cho là thế. Chúng ta cố gắng nhìn vào phần nào và lưu giữ, song các cảm xúc bản thân thì cứ len lỏi tòi ra theo cách muốn thể hiện. Và vất vả hết sức, chúng ta cũng chẳng thể cuốn chúng mà không tạo nên một hiện trạng khá nhốn nháo. Và càng cuốn bao nhiêu, càng dễ bị bó chặt và lộn xộn bấy nhiêu.

Thảng hoặc, mình có thể phủ chụp lên những túm mớ nhỏ nhặt dường ấy và soi mói da diết vào bên trong chúng, nhưng thường cùng lắm chỉ gấp được mép, viền xung quanh bề ngoài thôi chứ đố ai xếp gọn lỏn tất cả. Ít nhiều cay cú, hầu hết chúng ta cơ chừng muốn phủ thêm lần nữa toàn bộ món thứ ấy đặng ngày cũng sẽ  nhờ vậy mà chóng trôi qua theo…

Theo nhiều nhà nghiên cứu, âm nhạc và phim ảnh tạo tâm trạng cảm ứng hiệu quả nhất. Trong một cách tiếp cận khác, những người tham gia được hướng dẫn viết một tiểu luận ngắn về một sự kiện họ từng trải nghiệm đã đánh thức các cảm xúc riêng biệt, đặc thù như sự tức giận hoặc buồn bã.

Dù thanh tẩy (catharsis) là điều tốt, thảng hoặc các cảm xúc thường ổn thỏa hơn nhiều nếu để mặc mà không biểu tỏ chúng ra. Bản ngã ngờ vực, sợ hãi và tức giận mang một phương thức phức tạp ghê gớm lúc buộc phải diễn bày. Thiết yếu ở đây là các ranh giới phù hợp. Biết lúc nào phủ trùm chúng và uyển chuyển vận động thông qua việc sống nặng nhọc đích thị quan trọng như cái vỗ chạm thực tế mang mục đích tự biểu đạt.

Nếu mình trú ngụ, túc trực quen thói vào cảm xúc tiêu cực thì nó sẽ trở thành thực tế thường hằng của bản thân; xứng đáng tốt lành khác hẳn để kết cấu lại khung tham chiếu, xếp gấp lần nữa và chuyển dịch hướng tới thành công, nó giúp mình vượt thoát phiền não và nhận ra chẳng có chuyện gì rắc rối đang xảy ra cả…

Liệu có điểm buồn nản nào mà không tồn tại luôn giải pháp?

Mình đã đóng cửa sổ chưa?

Bước chân ra khỏi nhà một đoạn, tôi tự hỏi không chắc mình đã đóng cửa sổ cứ mở ngỏ hầu như suốt bốn mùa chưa nhỉ.

Khi cảm thấy không an toàn, tôi quay về kiểm tra. Và wow, đã đóng.

Khi rời nó lần nữa, tôi lại băn khoăn vì tôi cơ chừng chẳng nhớ nổi… Tôi buộc phải đóng nó, rằng tôi tuyệt đối đảm bảo rằng ở đó không có điều gì khác xảy đến, và nó cứ mở ngỏ thế lâu nay.

Tại sao tôi không chắc chắn khi cửa sổ đã đóng rồi?

Tôi ắt hẳn mơ ngủ lúc đi đóng cửa sổ, tự thân mình đóng nó song lại đóng nó thiếu tỉnh thức, đóng cửa sổ bằng sự vận chuyển tự động theo thói quen.

Không, tôi không trỏ thẳng ý là mình mộng du song ở đây yếu tính cơ chừng mang cái gì tương tự.

Khi chúng ta vượt băng qua các “nghi thức” của đời sống trong một thể cách cơ chế máy móc mà thiếu vắng sự hiện diện của tâm trí, thật là tốt lành như lúc đang mộng du vậy. Nhiều ví dụ quá chừng rõ ràng hơn chuyện kiểm tra cửa ngỏ và bình gas!

Hết sức hiển nhiên, tôi đã ở đó để đóng cửa sổ, hoặc có thể tôi chưa đóng nó, dẫu khi đang đóng cửa sổ thì sự tỉnh thức (mindfulness) của tôi không hiện diện trong khoảnh khắc ấy– đó là lý do giải thích tại sao khoảnh khắc đang đóng cửa sổ đã không được đăng ký vào ký ức ở trạng thái nhận thức muộn màng.

Quay lại kiểm tra cửa số đích thị là vòng tròn vi tế không đáng của sự tái sinh. Chúng ta tái sinh, từ đời này sang đời khác trong Luân hồi (Samsara) cực kỳ rõ ràng, bởi vì chúng ta thiếu vắng tỉnh thức trong việc ý thức và xác nhận các bài học sống, chết ở đời. Nhiều cơ hội đã bị bỏ lỡ, lãng quên. Bởi vậy, chúng ta bị thôi thúc quay trở lại nhằm học lần nữa cách thức để bẻ gãy hoàn toàn khỏi Luân hồi.

Bất kể chúng ta có bị chẩn đoán mắc OCD (Rối loạn Ám ảnh Cưỡng bức: Obsessive Compulsive Disorder) hay không, tái sinh đã là OCD của chúng ta! Tỉnh thức đích thị là sự chữa lành, điều trị cho căn bệnh của thói quen đủ thứ lực lượng thôi thúc lặp lại vô nghĩa.

Chúng ta cần huấn luyện tâm trí mình để nó sắc bén, tinh nhạy hơn, với sự tỉnh thức và trực giác lớn lao hơn– không chỉ bởi để lão luyện Pháp (Dharma) mà còn tinh thông các vấn đề thông thường hàng ngày nữa.

Thực tế, tuyệt nào có sự chia tách hay phân biệt gì, vì Pháp là sự áp dụng hết sức chính xác trong đời sống hàng ngày.

Điều này bao gồm các đồ, mớ vặt vãnh như đóng cửa sổ và khóa cửa phòng!

Tỉnh thức có thể được huấn luyện mang tính hệ thống thông qua các thực hành thiền định (meditation). Thậm chí thực hiện cầu kinh đúng đắn là một dạng thiền định. Lần nữa, ngay tập trung cao độ tâm trí mình ngõ hầu nhìn thấy sâu xa và cảm nhận một cái tay nắm cửa sổ có thể mang tính thiền định.

Không có sự chia tách hoàn toàn giữa Pháp và Luân hồi. Tất cả Pháp chúng ta nhất thiết lão luyện thì nằm trong sự hỗn độn, rối rắm của Luân hồi.

Mình đã đóng cửa sổ chưa?

Tiền ư? Gì gì, xin đừng phát điên vì nó nhé!

Tôi không cho rằng buổi cơm trưa văn phòng ngồi trong quán café máy lạnh giữa thủ đô đang hồi nực nội là chỗ phù hợp để nói về tiền, nhất là bàn luận cả mối liên quan của nó với hạnh phúc nữa.

Tuy nhiên, gõ những dòng này vì thắc mắc của một độc giả về bản chất tâm linh của tiền bạc; cụ thể, cô ấy trích đoạn cuốn sách nêu trong trắc nghiệm liên quan rồi kèm theo câu hỏi tiếng Việt.

Accepting abundance

If we believe adequate money exists to meet everyone’s spiritual needs, there’s no reason why we can’t have the amount of money we need. We won’ t be depriving anyone else of money since there’s enough for everyone. (p. 177).

Nếu tiền có đủ cho tất cả mọi người thì tại sao lại có người chết vì đói?

Vậy đó, e không hay ho lắm bởi cơ chừng ngày nay quá nhiều thứ phụ thuộc vào tiền bạc; thậm chí, đến độ dường như chúng ta không thể sống nếu thiếu nó và các giá trị vật chất trở nên vô cùng quan trọng. Tự thân đời sống làm chúng ta phụ thuộc vào tiền.

Kỳ cục thật. Hiểu biết tâm lý tiết kiệm vẫn không khiến chúng ta hạnh phúc.

Cần nhớ là mọi người nghĩ tiền bạc ảnh hưởng tới niềm hạnh phúc nhiều hơn so với thực tế. Dường như thông điệp muốn chuyển tải: nỗ lực làm giàu và thất bại sẽ khiến mình cảm thấy khốn khổ; trong khi đó, thành đạt về mặt tài chính dễ tạo cho mình cảm thấy hạnh phúc hơn— bất luận mình có mơ mộng về nó hay không.

Việc xem băng hình các cảnh cắt và đốt tiền nhắc nhở những người tham gia thực nghiệm chú mục vào chức năng thông dụng của tiền là một công cụ thể hiện giá trị của các loại thực phẩm và dịch vụ.

Gợi lên vô vàn cảm xúc khác biệt, có thể nhìn nhận rằng tiền bạc như là nghi thức toàn cầu mọi người đều tham gia vào chăng? Wow… đó là sự thật, nó có giá trị vì người ta cho là nó có giá trị để đánh đổi những thứ khác.

Vậy, rốt cục tiền là gì? Việc định nghĩa nó rất gần gũi với mô tả về không gian mạng như một “ảo giác liên ứng cực đại”, bởi vì tiền bạc phụ thuộc vào chuyện chúng ta tin nó có tác dụng hay không. Nói khác, nó đa phần là một khái niệm xã hội mà tất cả chúng ta ký giao kèo với; dĩ nhiên, càng đặc biệt ít nhiều ý nghĩa khi nhắc đến tiền trong thời kỳ khủng hoảng tài chính hiện nay.

… Thường thì người trẻ chỉ để ý tới những khoảnh khắc và thời gian hiện tại, còn lớp già hơn lại quan tâm tới tương lai nhiều hơn. Nghiên cứu cho thấy, 13- 16 là giai đoạn của những đổi thay, chuyển biến ấn tượng trong thái độ đối với thời gian.

Liệu có phải chính thái độ đang thay đổi của chúng ta về thời gian làm cho câu chuyện tiền bạc thêm phần ám ảnh, bức bối?

Động cơ– mong còn mãi ở bên người (2)

Các khối ngăn chặn động cơ

Động cơ thuộc ngoại giới thường héo úa, tàn tạ đi khi vắng bóng nguồn lực.

Hầu hết trẻ con nổi loạn chống cãi dự tính của bố mẹ nếu họ thôi thúc chúng giữ gìn phòng ở sạch sẽ. Lớn lên và sống cuộc đời theo ý mình, đa phần chúng ta đủ khả năng giữ gìn không gian sống của mình tương đối tinh tươm.

Nghĩa là, động cơ nội tại rốt cục xảy ra ở nhà cửa của bố mẹ. Chúng ta tìm thấy các lý do quan trọng để giữ phòng mình sạch sẽ.

Động cơ nội tại có những thách thức của riêng nó. Nhiều người khởi sự với động cơ cao, song cùng với thời gian lại nhận ra nó mờ nhạt dần.  Đây có thể là do việc lập kế hoạch kém và các phần thưởng mang tính hết sức ngắn hạn; cũng có thể vì lòng tự tin tệ hại hoặc thiếu vắng các nguồn lực đảm bảo thành công. Hoặc chúng ta có thể dự đoán trước những phần thưởng không hề ghê gớm như những thách thức chúng ta gặp và vô vàn hy sinh chúng ta tạo ra dọc theo lộ trình.

Một số khối ngăn chặn động cơ có thể kể:

  • Nỗi sợ thất bại
  • Nỗi sợ thành công (thành công đưa đến những kỳ vọng lớn lao hơn từ những người khác cũng như làm tăng thêm sự độc lập và trách nhiệm có thể thành quá mức áp đảo)
  • Tâm điểm kiểm soát (locus of control) thuộc ngoại giới– chủ yếu dựa trên sự may mắn thay cho tinh thần trách nhiệm, cảm nhận người khác sẽ vào hùa với phương thức của mình

Tăng cường động cơ

Khi động cơ nội tại ngày càng bền chặt và chúng ta chuyên cần vì những giải thưởng sáng giá, nó tạo nên ý nghĩa rằng những lý do tích cực và bên trong cho việc thực hiện những gì cần triển khai chính là yếu tính cho việc duy trì trạng thái động cơ.

Hãy tự hỏi mình tại sao đang làm những điều đó– rồi hỏi hơn 5 lần nữa để xem xét liệu có tìm ra một động cơ nội tại và tích cực. Ví dụ, mình muốn trở thành người sống có ngăn nắp, trật tự.

  1. Tại sao mình muốn thành người ngăn nắp hơn? Để nhà cửa sẽ tinh tươm, sạch sẽ hẳn hoi
  2. Tại sao mình muốn nhà cửa gọn gàng? Để tìm kiếm mọi thứ dễ dàng hơn
  3. Tại sao mình muốn tìm thấy nhiều thứ thật dễ dàng? Để mình càng thêm là người có năng lực
  4. Tại sao mình muốn hiệu suất cao hơn? Để tiết kiệm thời gian
  5. Tại sao muốn tiết kiệm thời gian? Để dành nhiều thời gian cho việc thư giãn và vui thú cùng với gia đình

Từ công thức động cơ đã trình bày ở bài trước, dễ thấy là sự tự tin cũng đóng một vai trò quan trọng trong động cơ.

Tin tưởng bản thân làm tăng thêm tri nhận khả năng thành công và thúc đẩy sự tự tin rằng mình có thể quản lý thành công khi mình đạt tới đó. Biết những ưu khuyết, mạnh yếu và tư bản hóa những mối quan tâm, sở thích và năng khiếu thiên bẩm sẽ nâng cao hơn những cơ hội thành công. Chọn một nguồn cảm hứng và vây bọc quanh bản thân cùng người thành công sẽ nhắc nhở là mình có thể đạt được và những gì cần chống chọi để giành lấy thành công.

Xây dựng những phần thưởng ngắn hạn, nho nhỏ dọc theo con đường hành động. Càng rời xa mục tiêu tối thượng bao nhiêu thì mình càng dễ mất đánh mất nghị lực theo với diễn trình thời gian. Chẻ nhỏ, phân nhiệm vụ ra thành các phần có thể kiểm soát được– mỗi cái có phần thưởng riêng– sẽ giúp mình duy trì công việc đồng thời nhắc nhở không ngừng về những gì ta đang nỗ lực hết sức.

Những phần thưởng cộng dồn lớn thêm lên càng giúp mình thoát khỏi cảm thấy chán nản, ngã lòng ghê gớm khi chợt xảy đến những đình đốn, thoái lùi.

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc xác định và kích họat động cơ, một người hành nghề chăm sóc sức khỏe tâm thần như nhà tâm lý học có thể trợ giúp bạn xem xét các mối quan tâm và tạo tác ra các lựa chọn.

Làm sao ly dị mà vẫn giữ được lòng tự trọng, chân giá trị và không hiềm tị?

Dù các nam thanh nữ tú khi quyết định đi đến hôn nhân với nhau đều mang theo lời thề nguyền, cam kết chắc chắn như đinh đóng cột rằng ‘chỉ có cái chết mới chia lìa đôi ta’ song, đáng buồn thay, thống kê cho thấy nhiều cặp vợ chồng lần đầu đã kết thúc quan hệ bằng thủ tục ly dị.

Một cách tiêu biểu, ly dị (divorce) là tiến trình rất lằng nhằng, hay xảy ra kiện tụng lôi thôi, nhất là khi còn có cả con cái.

Nếu cặp đôi không thể tiến triển rồi giải quyết các vấn đề nảy sinh trong suốt đời sống hôn nhân, ly dị sẽ càng trở nên vô cùng khó khăn để họ vượt qua và hợp tác suốt giai đoạn làm thủ tục.

Điều này là sự thật đích thực khi cuộc ly dị gồm cả luật sư và thân chủ tham gia đấu tranh vì “tất cả những gì họ có thể thu được”. Trong kiểu dạng ly dị như thế, không ai chiến thắng cả.

Bố mẹ và con trẻ nói chung kết thúc trong nỗi giận dữ, đau đớn và tê tái về mặt cảm xúc. Nghiên cứu cho thấy, ly dị thậm chí dễ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe thể lý nữa.

Là người hành nghề tâm lý, tôi chứng kiến sự tàn phá xảy ra khi ly dị trở thành một bãi chiến trường khủng khiếp.

May mắn thay, có một sự lựa chọn khác hẳn: ly dị mang tính hợp tác, được thiết kế để trợ giúp các gia đình ly dị trong cảm nhận về chân giá trị, phẩm giá và lòng tự trọng. Luật sư, khi tham gia giải quyết cuộc ly dị theo tinh thần hợp tác sẽ được huấn luyện tập trung vào trạng thái an lạc thân-tâm (well-being) của toàn thể gia đình.

Cụ thể, tiến trình trải qua một lọat cuộc gặp thân mật với sự tham gia của luật sư, thân chủ, chuyên gia hành nghề sức khỏe tâm thần (chẳng hạn, một nhà tâm lý học), và nếu cần thì thêm một chuyên gia tài chính. Lịch làm việc ưu tiên ở mỗi cuộc gặp nhắm tới hạn chế sự nổi lên của điều ‘bất ngờ’ nào đó. Các thân chủ trao đổi kỹ càng với luật sư trước khi hội họp đủ để họ biết rõ các vấn đề sẽ được thảo luận, cũng như có hiểu biết về luật pháp. Tất cả các bên tham gia đều được duyệt xét cách trình bày trước buổi gặp và mọi thương lượng đều tiến hành công khai với sự chứng kiến của thân chủ.

Cách tiếp cận hợp tác như thế tạo ra một bầu không khí truyền thông cởi mở và cộng tác ngõ hầu trợ giúp cho cặp vợ chồng định hình thỏa thuận ly dị phù hợp với các nhu cầu của gia đình. Một nhà tâm lý học hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần– thành phần căn cốt của nhóm– sẽ cung cấp thông tin về sự phát triển của đứa trẻ và các vấn đề tồn tại trong gia đình đủ cho bố mẹ có quyết định lựa chọn tốt cho chính họ cũng như cho con cái mình. Nhóm làm việc luôn chú ý tập trung duy trì mục tiêu cả hai bên cùng thắng.

Thực tế, không phải cặp vợ chồng nào cũng sử dụng tiến trình này. Trong nhiều tình huống xuất hiện chuyện lạm dụng hoặc bạo lực gia đình, cặp vợ chồng khả năng cao là khó làm việc cùng nhau.

Tuy vậy, với những cặp vợ chồng yêu thương con cái họ thực sự và rất muốn định hình một kế hoạch do thật lòng quan tâm đến điều tốt đẹp nhất cho con cái mình thì tôi nghĩ, một sự hợp tác nêu trên là cách thức nên được thực hiện.

Sẽ không thừa khi nhắc nhở thêm rằng, ly dị thực tế có thể găm lại ít nhiều sang chấn mà không phải mọi đối tượng trong cuộc đều nhận thấy đủ đầy, sâu sắc.