Chết cười

Chọn xong tiêu đề thì sực nghĩ sao không thử tra từ điển tiếng Việt xem họ giải thích thế nào. Mục từ liên quan tới ‘chết’ chiếm gần hai trang, tùm lum thứ, tỷ như ‘chết đuối vớ phải bọt’ hoặc ‘chết chẹt’… (Hoàng Phê, Trung tâm Từ điển học, In lần thứ bảy, 2015). Mỗi tội chẳng nói chi về ‘chết cười’ cả.

Nỏ đáng buồn. Cóc thành vấn đề.

Phải tư duy một cách triết học nghĩa là, (a) xác định các thuật ngữ trao đổi; (b) cắt rời lập luận; (c) diễn giải ý kẻ khác hết sức rộng lượng song lại đặt nghi vấn về chính mình.

Đóa súng hồng mất dấu môi hôn

Chúng ta đi qua quá nhiều điều thách thức và đổi thay trong các niềm tin mờ tỏ.

Khi trẻ, mình tin vào huyền thuật, huyễn tưởng và lắm thứ đâu cần lập luận. Tôi nhớ con bọ ngựa giơ những thanh kiếm khẳng khái giữa chớp giật của cơn giông trưa hè tái mét. Như cậu nhóc tì lí lắc, hầu hết chúng mình học hỏi về tín lý, rất sẵn lòng tin vào điều bất tri. Ấy nỏ phải vì khờ dại, chỉ do là có nhiều thứ mình chưa thấu tỏ về tính diệu kỳ của điều thứ cơ chừng hết sức tự nhiên. Dĩ nhiên, với số đông, hiện hữu nơi đó Thượng Đế; thật dễ dàng để tin y sì rứa tuyệt không suy suyển.

Rồi vào cái đận ngất ngưởng đầy đụng độ của lý trí và suy tư, chúng ta mất mát đức tin quá mức. Thay vì tới để thấy, mình bảo tắp lự với giọng điều gây hấn: chỉ tôi xem. Nếu không thể chứng thực, nó không phải là sự thật. Một phó sản của hệ thống giáo dục. Truy cầu câu trả lời đúng đắn. Thượng Đế không toi, ngài chỉ sống dở chết dở hạ hồi phân giải thôi. Nhiều kẻ lớn bé lần lượt rời bỏ đức tin.

Nhiều rốt lại chẳng còn cóc nhái khỉ khô chi. Không quà tặng, khuyến mãi, không cờ phướn bay trong gió sớm, không cầu nguyện hay chắp tay ngưỡng vọng bốn phương tám hướng xô bồ. Dàn quân đồng phục xông lên phía trước, bần cùng hóa và cô độc tột độ. Mất mát những ngày ấy không hề giống chút nào với tai ương từng xảy đến…

Câu chuyện của tình yêu, đức tin và cái bể nước ngầm rò rỉ khó hình dung viễn cảnh hồi đáp tương xứng. Sự vay mượn thêm thắt là thời điểm của chuẩn bị, dự liệu trước và hy sinh. Như đứa trẻ to xác, chúng ta bị răn đe để quyết chí từ bỏ kẹo ngọt.

Vướng bận ta bà đỉnh núi Everest

Xem Everest (2015) vào chiều cuối tuần sấm giật báo hiệu cơn giông mùa hè bên ngoài cửa sổ giữa lòng phố thị, có lẽ sự dự đoán ấy quá mức êm đềm so với thực tế khí hậu khủng khiếp khó ngờ trên đỉnh núi kia.

E bộ phim không dựng lên đặng ca ngợi sức mạnh tinh thần của con người; hơn thế , nó nghiêng sang phản ánh sự nguy hiểm cùng cực khi các cái tôi không được kìm hãm. Leo núi, tại sao không; cơ mà tại sao vẫn cứ muốn chạm đỉnh với bao nguy cơ chết người rõ ràng rồi làm tàn phế chính mình cùng cuộc đời kẻ khác?

Everest còn đó vùng tử thần với độ cao trên 8.000 mét, nơi người ta không thể thích nghi khí hậu lâu dài và tiến trình chết chóc luôn chực sẵn. Các chức năng thể lý hỏng hóc dần, thậm chí gây hoang tưởng lẫn ảo giác nữa; thiếu dưỡng khí phụ trợ, sự sống chỉ lưu giữ trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Các cơn bão tai quái, sườn dốc trơn tuột, băng quất tê cóng, … đủ khiến sự tồn còn trở thành điều gì đó thật huyền diệu. Với bối cảnh phim, 8 kẻ leo núi đã tử vong, và danh sách người leo núi chết tiếp tục được cập nhật cho đến 22.5.2016 này dù lịch sử đâu nhất thiết cần được lặp lại.

Tại sao (leo)? Câu trả lời (đậm hơi hướng vinh danh) là ‘bởi vì nó ở đó’. Song đích thị gì là ‘nó’ đây. Tự thân ngọn núi tên là Everest lừng danh, hay ngọn núi nội tại của bản ngã cứ ước ao khẳng định chính mình, để được lượng giá đối kháng với ngọn núi- ai- đó- khác. Bởi vì nó có thể gợi cảm hứng cho bản thân lẫn tha nhân? Song đáng giá chăng nếu nó ở đó đủ để ta trả giá đắt hoặc tiêu đời luôn? Đặt câu hỏi ‘đáng giá?’ bằng cách nào thì hợp lý thuận tình, đúng đắn và toàn vẹn? Nhiều vị leo núi cốt cạnh tranh với ngọn núi và những kẻ leo núi khác. Chẳng thấy bao nhiêu bản ngã tham gia vào ư, thế sao khả năng chết chóc lại lớn thế? Liệu có kỳ cục đỉnh núi là vô ngã, Everest quả là thế. Khôn ngoan hơn chăng khi không chinh phục bản ngã?

Lần nữa, khốn khổ để chinh phục Everest đã là sự khiêm cung. Cho những ai lên được đỉnh, thế là đủ cho bản ngã? Liệu họ sẽ đặt để mục tiêu khác ‘cao hơn’. Khi bản ngã ghê gớm không được kìm nén, nó liệu còn khiêm cung? Tại sao không nhạy cảm nhận ra các giới hạn trước khi quá muộn màng. Trong cuộc đấu dài hạn, ngay dù vô ngã, thiên nhiên luôn luôn chiến thắng với tuổi già, bệnh tật và cái chết. Với những ai khổ đau khi leo núi, cầu cho những thử thách đích thực chuyển hóa đời họ, không ngừng nhắc nhở họ trân quý cuộc sống nhiều hơn; nếu không thế, các đớn đau kỳ cùng ấy chẳng giá trị gì, và sự thất bại khi leo núi chỉ đơn giản là sự thất vọng của các hành trình bất tận của bản ngã.

Một sự thượng sơn thành công chỉ là nửa hành trình, hạ sơn an toàn và nhanh chóng cũng thiết yếu chẳng kém. Trong khi tất cả các cuộc huấn luyện đảm bảo ổn thỏa, Everest há chẳng phải là sự khắc kỷ cực doan cho một độ cao phù du cần chiếm lĩnh?Có vẻ, chỉ lý do duy nhất leo Everest sẽ là được giải cứu cho những ai bị bỏ rơi. Thẳng thắn, chỉ có các kẻ khùng và Bồ tát mới dám lao vào luân hồi bể lửa; cái sau mới cứu nổi cái trước.

Tại sao không ngưỡng mộ Everest từ khoảng cách nhất định. Tại sao buộc mình phải dính bám vào đỉnh chóp của nó? Và tại sao không leo các ngọn núi chẳng có vùng tử thần, trong khoảng thời gian ngắn ngủi còn lêu bêu giữa cõi ta bà?

Nhích lần lữa làm sao cho vừa người thích hoàn hảo

Làm gì khi mình thích hoàn hảo và đang rơi vào thói quen xấu của sự lần lữa?

Tự nhận mình thuộc dạng người tôn thờ trạng thái hoàn hảo kỳ cục, vì thực sự mình có nhiều thói xấu như ăn nhiều ghê gớm và hay lột da khơi khơi, rồi bỏ bê chăm sóc bản thân do thiếu ngủ, ít tập thể dục/ tắm táp và cũng không dùng thuốc bổ (khiến tóc xam xám sớm). Cách người này xử lý: thi thoảng thức khuya để lên danh sách việc cần làm nhằm thay đổi bản thân, quan sát cách điều chỉnh vấn đề, và đưa ra hàng triệu lời hứa chẳng giữ được. Hôm sau rối tung phờ phạc thì từ bỏ dự tính ngay và quay về các thói quen xấu.  Có nhiều kiểu suy nghĩ ám ảnh song lại không theo đuổi tới cùng, rốt cục cảm thấy chính mình tồi tệ: một số suy nghĩ ấy đã nảy sinh hồi mới học lớp 8 hoặc sớm hơn. Giờ đang là sinh viên đại học năm thứ hai và thấy chán ốm bản thân; mất tự tin và ngại quan hệ với bạn bè…

Thực tế, trong nỗ lực làm người hoàn hảo thì lần lữa, trì hoãn là công cụ chúng ta dùng để ngăn ngừa nỗi lo lắng cứ chực ăn tươi nuốt sống mình ngay và luôn. Ham muốn thành người hoàn hảo có thể tăng thêm stress và lo âu vào bất kỳ việc bản thân đang muốn áp dụng. Tính hoàn hảo đẩy ta làm nhiều việc dễ tạo cảm giác ngập lụt, to lớn vô cùng và tiêu tốn thời gian khủng khiếp. Thực hiện điều hoàn hảo đặt buộc ta bổ sung nỗ lực ngoài sức tưởng tượng nhằm đảm bảo nó ngon lành cành đào và không mắc sai sót nào; làm đi thử lại cho đến ổn thỏa mới thôi. Chưa nói, các tiêu chuẩn đặt ra cho bản thân phù hợp với trạng thái hoàn hảo khiến các mục tiêu khó bề chạm thấu. Càng cứng nhắc về mức độ hoàn hảo, càng không chấp nhận do chẳng đạt được các tiêu chuẩn cao đến thế. Và câu chuyện dần chuyển sang phần tồi tệ: lo lắng và sợ hãi thất bại tạo cho người mang tính hoàn hảo đôi lúc thấy khá bị hăm dọa. Chính khi đó, sự lần lữa bước vào. Là cách tránh né và phòng thủ kín đáo, lần lữa minh họa cho việc chúng ta gỡ bỏ xuống gánh nặng, khỏi đương đầu với kỳ vọng cùng tiêu chuẩn cao vời, khiến mình không phải đối diện rồi cần thiết giải quyết chi hết.

Hầu hết người thích hoàn hảo cũng có thói tật mê chỉ trích bản thân. Nên khi chẳng đáp ứng với các mục tiêu và tiêu chuẩn đến thế, họ thường đổ tội cho bản thân, căm ghét chính mình, và sợ kẻ khác thất vọng. Nghĩ về sự trì hoãn như tấm chắn che đậy khuất mắt mọi sự sa lầy về mặt cảm xúc này. Tuy nhiên, trừ khi mình có kỹ năng hiếm hoi để đợi tới phút cuối trông thấy rõ ràng mọi việc hoàn thành tốt nên rốt cục lần lữa thành thứ đáng nguyền rủa, đồ của nợ tởm ghét. Mọi gắng sức né thoát các cảm xúc thông qua sự lần lữa chỉ tổ làm họ bắt gặp lại chúng về sau khi họ không thỏa mãn hoặc quá hạn cuối cùng đặt ra. Mục tiêu của sự lần lữa là né tránh các cảm xúc mà rốt cục lại gặp đúng các cảm xúc muốn tránh né ấy.

Cách xử lý tốt hơn các cảm xúc này là hiểu thấu mục tiêu mình muốn gì khi nảy sinh ra trò lần lữa: điều khiển nỗi lo niềm sợ. Khởi sự biết rằng lần lữa không phải là cách tốt nhất đặng kiểm soát lo lắng. Bắt đầu hiểu rõ nó rồi đây sẽ chỉ mang mình chộ mặt lần nữa các cảm xúc bản thân từng cố hết sức tránh mà thôi. Một khi tin rằng lần lữa cóc được việc như mình thiết tưởng, ta có thể cởi mở kiếm tìm cách khác xử lý nỗi niềm âu lo. Ăn, ngủ, chơi đùa. Bẻ nhỏ một nhiệm vụ lớn thành các mẩu nhỏ hơn. Nghỉ ngơi, vâng, nghỉ ngơi. Đúng thế, đề nghị mình dừng những gì đang tiến hành và chầm chậm lại… Đây là sự trì hoãn tốt lành. Cho phép mình dành thời gian hồi phục sức khỏe và tránh kiệt quệ do cố thúc đẩy bản thân dấn bước.

Tiếp theo, bắt đầu khám phá các động cơ ẩn giấu bên dưới tính hoàn hảo; thói tật cầu toàn cứ dần trở nên gây hại vì mình sợ tạo ra sai lầm, sợ thất bại, gắng buộc sống theo kỳ vọng của những kẻ khác, hoặc do tự dằn vặt bản thân kéo dài quá lâu. Dĩ nhiên, cũng cần biết rằng cầu toàn không phải là cách hữu hiệu gì để xử lý các trục trặc dây dưa vừa nêu. Thách thức thói lần lữa sẽ đi kèm với việc kiểm tra xem xem các tiêu chuẩn đề ra có đạt được không và nhìn nhận chúng đúng là không thể chạm tới thật. Chúng ta cũng cần cảm thấy dần thoải mái bộc lộ các điểm yếu kém, học cách đón chào vui vẻ những lỗi lầm lộ diện, và thay đổi lối suy nghĩ đen trắng rạch ròi quá mức vốn hay cặp đôi với tính cầu toàn và thói tật thích hoàn hảo.

Vấn đề liên quan đến hình ảnh bản thân con người ta

Tất thảy chúng ta thường đều nghĩ chúng mình ổn và những người khác cũng xoắn khít. Tiếc rằng sự thật lại nằm ở đâu đó khoảng giữa. Thiên hạ có khiếm khuyết của thiên hạ, chúng ta có vấn đề của chúng ta.

Hình ảnh bản thân (self-image) là cách thức khái niệm hóa chúng ta thiết lập trong tâm trí về kiểu dạng mình là người như nào. Chúng ta đều vẽ bức tranh tâm thần về bản thân mình, và nó là bức tranh mang hơi hướng duy trì khá ổn định theo thời gian, trừ khi chúng ta cân nhắc các bước để thay đổi nó. Một số nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ ‘sơ cấu bản ngã’ (self-schema), (với thuật ngữ ‘schema’ nhắm trỏ một khung, mẫu hoặc sự trình diễn một lý thuyết) khi nghiên cứu về hình ảnh bản thân và cách thức làm sao tạo lập nó.

Có bằng chứng hình ảnh chính mình chúng ta phát triển là dựa trên phần lớn sự đo lường của những gì chúng ta học hỏi được từ môi trường, như điều người khác bảo về bản thân ta và cách họ có vẻ đáp ứng lại với ta. Song, dĩ nhiên, hình ảnh bản thân cũng khởi lên do chính cách mình phản ứng, những diễn giải đặc thù của chúng ta về các sự kiện, và nhất là phương thức chúng ta đánh giá cả bản thân lẫn bản chất các tương tác với người khác. Rất nhiều bằng chứng khẳng định, cách chúng ta nhìn nhận bản thân mình mới đích thị là vấn đề. Hình ảnh bản thân quan trọng do đủ lý do song cơ bản, vì ở tầm mức nào đó nó tác động hết sức chính xác và nghiêm trọng tới tổng thể an lạc tâm lý và đặc trưng trong các quan hệ của chúng ta.

Hình ảnh bản thân của người ta có thể bị bóp méo, mất cân bằng hoặc chẳng hề lành mạnh với cả loạt lý do. Khi còn bé, chúng ta đặc biệt nhạy cảm với những đánh giá bởi bố mẹ mình, các nhân vật quyền thế, những ai có ảnh hướng tới chúng ta, và nhất là bạn bè cùng trang lứa. Nếu những đánh giá đó quá thường xuyên và/ hoặc rất tiêu cực, gây căng thẳng thì chúng ta dễ nội tâm hóa thành quan niệm về bản thân càng thêm phần tiêu cực. Song các tính cách nguyên sơ của chúng ta cũng giữ vai trò thiết yếu trong sự phát triển hình ảnh bản thân mình nữa. Một số người cực kỳ nhạy với sự phê bình và đẩy lên thái quá khi diễn giải về sự việc hoặc hành động gây tiêu cực cho họ. Một số khác lại có xu hướng đặt áp lực khủng khiếp lên bản thân để thành người ‘hoàn hảo’ khiến các sự việc bé tí và nhỏ nhặt mấy cũng minh chứng cho sự vô dụng và thất bại của chính họ. Thiết lập hình ảnh bản thân tiêu cực không chỉ là dạng vấn đề thuộc tự hiểu biết bản thân mà nó còn trở nên bị bóp méo thường xuyên gây trục trặc trong chiều hướng nhìn nhận. Trẻ em quen việc đón nhận được khen ngợi và chú ý quá lố đến tài năng, ngoại hình hoặc năng lực xã hội của chúng có thể đề cao cực đoan việc đánh giá tích cực và lòng tự trọng của chính bản thân chúng.

Căn cốt đối với một hình ảnh bản thân thật lành mạnh bao gồm cả việc cảm nhận, ý thức và sự cân nhắc, cân bằng đúng đắn.

Thường thì, vấn đề trong quan hệ không chỉ do đối tác mà còn phụ thuộc chính bản thân họ nữa. Mỗi người sẽ chỉ điểm người kia như tính cách gây phiền phức ghê gớm trong quan hệ trong khi mình đang tự biểu lộ bản thân như dạng khá ‘rối nhiễu’, đa phần phụ thuộc và rủi ro thành nạn nhân; mỗi người dường như gây rắc rối cho người khác đồng thời cũng gây rắc rối với chính bản thân mình.

Tại sao cách thức chúng ta nhìn nhận bản thân tạo thành vấn đề? Chủ yếu vì chúng ta thường biến làm sao tất thảy đem lại thoải mái cho chính mình. Hầu hết các kiểu dạng tính cách là “ego-syntonic” (hành vi, giá trị, cảm xúc hài hòa hoặc chấp nhận với các nhu cầu và mục tiêu của bản ngã, hoặc nhất quán với hình ảnh lý tưởng của bản thân); ví dụ, người ta tìm ra cách để nhìn nhận mọi thứ và mọi việc mình làm đều đáng tán thành và ưa thích. Tất cả chúng ta hay nghĩ rằng chúng ta ngon lành, người khác mới rắc rối, và điều này là sự thật với các tính cách quấy động… và, nếu chúng ta sắp nhấn mạnh thật đúng đắn và chính xác lỗi lầm ở người khác, như người khôn ngoan từng nói, chúng ta phải trước tiên gỡ bỏ, cất khỏi những bóp méo trong tri nhận của bản thân đang như đám mây mù che mờ đánh giá của chính mình đã…

Dưới đây là vài ba câu hỏi có thể giúp người ta phản ánh cách họ nhìn nhận về chính bản thân mình:

  • Mình thấy gì khi soi mình trước gương?
  • Mình có thấy điều người khác thấy?
  • Mình có bị khống chế bởi điều đó?
  • Mình có thể chấp nhận sự phê bình mà không đưa ra lời phát biểu (ví dụ, ‘hết sức xây dựng’ đối lập ‘rất phá hoại’)?
  • Mình có thể sống với ý tưởng luôn có cơ hội cải thiện bản thân để thành loại người mình mong muốn trở thành?
  • Mình ít khi nghĩ ngợi cho chính bản thân đến độ mình nên cảm thấy may mắn là bất kỳ ai rồi cũng sẽ thích mình?
  • Mình nghĩ mình là người hoàn hảo và người khác nên học tập?
  • Mình biết tỏng tòng tong rằng mình chẳng là gì song thích bóp méo để gây ấn tượng với người khác thay vì tự mình lo cải thiện hình ảnh bản thân?

Cách thức chúng ta nhìn bản thân mình không chỉ nói rất nhiều về sự thích ứng tâm lý mà còn phản ánh sâu rộng về các mối quan hệ mình có. Và dĩ nhiên, khi đề cập hình ảnh bản thân, nhiệm vụ suốt một đời là làm cho nó trở nên thật đúng đắn.

Tập trung vào con người mình muốn trở thành, hay nhắm tới con người mình không thích?

Một giải pháp chỉ có thể đạt được bởi người đã khuất thì chắc chắn chẳng hề khiến đớn đau hoặc nảy sinh hiều cảm xúc khủng khiếp; thoạt tiên, dường như một vài thành tựu thật dễ thương, song kỳ thực chúng không đem lại lợi lạc gì mấy.

Cách thường để cảm thấy dễ dàng hơn là lưu ý những điều mình không muốn thay vì tiến tới với chuyện mình thích làm. Khá bi hài, chúng ta quen tiêu quá nhiều thời gian nghĩ đủ thứ điều mình không muốn (ví dụ, tôi không muốn làm người xấu) mà rốt ráo. tôi không tin nó trợ giúp gì mình lắm đâu.

Lý do nêu thế vì chúng ta không thể luôn luôn thay đổi điều mình không muốn (ví dụ, trường hợp mắc các khuyết tật mãn tính) dù chúng ta có khả năng, và dần ít nhiều trở thành con người mình muốn là.

Khi tiếp chạm với điều mình thú vị, chúng ta cũng dễ thích đạt được nó. Tưởng tượng đang tiến sát gần hơn con người mình mong đợi trong quãng đời còn lại, tỷ dụ giảm thiểu nhất khoảng cách giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng.

Nếu thấy khó khăn định dạng những gì mình muốn, thử tưởng tượng tình huống sau vốn hay được gọi là câu hỏi huyền nhiệm:

“Giả tưởng điều huyền diệu xảy ra trong khi mình đi ngủ, và tất cả các vấn đề biến mất sạch, đại khái thế. Song mình không biết nó đã xảy ra, do mình đang ngủ. Khi thức dậy sáng hôm sau và sống trọn ngày, làm thế nào mình nhận biết rằng điều kỳ diệu từng xảy ra rồi? Đâu là điểm khác biệt về mình hoặc về kẻ khác? Liệu người khác khi trông thấy điều huyền diệu ấy thì sẽ mô tả những gì về chúng?” (Westbrook và cs., p.236)

Nếu định dạng được mình muốn thành con người như thế nào, hãy viết nó xuống. Giờ đây, bạn bước xa hơn trên tiến trình phát triển con người. Bạn có thể bắt đầu thay đổi cách mình nghĩ về bản thân. Nhằm tạo các kế hoạch cụ thể về cách trở thành con người mình muốn, bạn cần biết con người đó cụ thể ra sao.

Nghiên cứu chứng tỏ, người ta có xu hướng tin rằng họ rời xa khỏi các cái tôi lý tưởng của chính mình hơn, so với những kẻ khác (William & Gilovic, 2008). Dĩ nhiên, cần nỗ lực để trở thành cái tôi lý tưởng, song bạn không rời xa hơn mục tiêu so với tha nhân, ngay cả khi bạn có thể nghĩ thế thật.

Thông điệp ở đây đơn giản: chúng ta nên dành nhiều thời gian để suy tư cách thức mình có thể trở thành con người mong muốn, thay vì nghĩ về con người mình không thích. Thiển nghĩ, điều ấy cơ chừng càng giúp bản thân thêm “năng sản”.

Bạn cảm nhận chuyện này như thế nào?

Lựa chọn để thấy những vị Bồ tát vô hình trong đời sống hàng ngày

Tên phim dựa trên câu chuyện có thật 50/50 chứng tỏ tùy thuộc mỗi người trong lựa chọn cái nhìn về cách tha nhân lẫn cuộc đời đối xử với bản thân ta, và dĩ nhiên, làm sao không tính đến thái độ của chính mình với sự sống nội tại hòa cùng ngoại giới đeo mang bấy lâu.

Tôi đã ứa lệ thầm khi xem bộ phim này vào một mùa hè mới đây thôi ngay lúc nửa đêm về sáng; rồi tôi tiếp tục nghĩ rằng không nên chuyển ngữ thành Hên Xui bởi bản chất đích thực của câu chuyện chính là việc quyết định trước cái gì hoặc thế này hoặc thế khác và may mắn thay, chúng mình còn có thể nhìn vượt lên trên và thoát ra ngoài mớ vướng mắc nhị nguyên ấy nữa.

Chí ít, tự nội dung bộ phim đã chứng tỏ xác đáng rằng chúng ta nên tri ân tha nhân nhiều bao nhiêu cũng chưa đủ, bởi vì làm sao mình biết được những gì họ đã làm cho chúng ta nhiều bao nhiêu cũng chưa đủ.

Nhìn sâu vào dự tính, ý định tạo tác hành động đời thường đố mà khỏi khởi lên cảm xúc đau đớn đi kèm yêu thương, vì sự thật rằng không có người khác chúng ta chẳng thể tự mình sống sót được.

Nàng họa sĩ nghèo ấy đã cố gắng biểu tỏ tình cảm gắn bó bằng bức tranh dành tặng riêng chàng; việc cô vẫn chung giường hằng đêm với nhân vật chính kèm theo nhu cầu quan hệ ngoài luồng, là điều gì đó quá dễ phán xét và khá khó để cảm thông chấp nhận được; vì cô vẫn còn muốn tiếp tục làm mới lại mối quan hệ và thật lòng muốn bên cạnh để chăm sóc, vì ai thấu tỏ mọi nỗi niềm cô phải chịu đựng và gắng gỏi vượt qua chừng ấy thời gian trước khi Adam phát hiện ung thư, và vì thi thoảng phút chốc hoảng sợ đầy tràn cô độc thì chàng trai trẻ thầm nhận ra mình chưa thôi nhớ nhung một không gian ấm áp quen thuộc…

Cả cậu Kyle thích chơi bời (nội cái tên đã ít nhiều gây hoảng sợ vì mơ hồ căn tính) cứ mở miệng là nói chuyện làm tình và chưa từng bỏ dở bất kỳ cơ hội tán tỉnh, ngủ nghê với các em (tận dụng Adam làm bàn đạp) thì xem ra, đó không nhất thiết tạo ấn tượng mặc định chân dung một con người. Vì trong dịp tình cờ ghé qua căn hộ cậu bạn, Adam nhìn thấy tại phòng tắm, cuốn sách “Cùng nhau đương đầu với ung thư” chi chiết dấu gạch dưới… Khi Adam liếc mắt nhìn Kyle ngủ thiếp đi vì say xỉn, chàng trai trẻ thấm thía với những bày vẽ ngô nghê nhằm làm sáng lên tâm trạng u buồn đồng thời cũng bàng hoàng ghi nhận nỗ lực kín đáo trợ giúp mình tốt nhất của cậu bạn.

Và cô gái hấp dẫn từng đổ vỡ đang giữ vai trò nhà trị liệu của Adam (ai dám chắc mối quan hệ rất đỗi lung linh giữa họ sau này ra sao), và bà mẹ suốt ngày bận rộn hay gọi điện thoại hỏi han và để ý đủ thứ nhỏ nhặt vì con trai, và ông bố mắc bệnh mất trí nhớ chợt thể hiện nỗi niềm thấu cảm trước lúc Adam bước vào phẫu thuật với mỗi từ “OK” cụt lủn, và các bệnh nhân có mặt trong phòng hóa trị liệu, v.v…; tất thảy, đã góp phần cho Adam nhận ra thế giới này không thể chỉ là chuyện hên xui, may rủi.

Dẫu các cảm xúc nhộn nhạo chút xíu (bởi vì một số gây tổn thương trong quá khứ đột ngột tái hiện) thì sự thật, khi chúng ta tưởng chừng không thể chịu đựng nổi cách thức mà họ biểu tỏ với mình thì mối quan tâm của họ là đích thị và chân thành. Thường bố mẹ và bạn bè thân thiết dễ bị hiểu nhầm nhất. Có lẽ, chẳng gì buồn hơn các quan hệ đang hồi chơm chớm thì lại mất hẳn đi cơ hội đơm hoa trổ quả đủ đầy chỉ vì những sự nhầm nhọt không đâu.

Bộ phim mang tên khá kỳ cục thế vì các nhân vật xoay quanh việc cứu sống Adam. Trên con đường đi đến giác ngộ, không có gì đáng giá hơn tình bạn tâm linh; ngay cả khi chưa đích thực thỏa mãn bản chất hai chiều thì nó đòi hỏi tâm thế tích cực và phụ thuộc chủ yếu vào phần chúng ta đóng góp thật thiện xảo và có thể khá tinh tế, đặng đánh thức tính tâm linh trong những ai chúng ta quan tâm, chăm sóc.

Thực tế, trong khi dĩ vãng chúng ta cơ chừng không thích bị tổn thương, điều thực sự khó khăn là tưởng tượng con người mình tốt lành hơn ở hiện tại bây giờ cho dẫu quá khứ khổ não, ngay cả phải băng qua lò luyện đan sinh tử.

Vì thế rốt ráo, bộ phim gợi nhắc về những vị Bồ tát vô hình đang hiện diện trong gia đình và giữa cuộc sống xô bồ hàng ngày không ngừng thể hiện tốt nhất khả năng của họ, dưới nhiều hình tướng khác nhau thuận theo ái lực nghiệp dĩ, để trợ giúp chúng ta tiến bộ trên con lộ tâm linh dằng dặc. Và họ, được mình nguyện lòng tiếp nối thêm lên, sẽ còn thực hiện điều ấy cho đến khi mỗi một chúng sinh được dẫn dắt đúng đắn đến với tự do trong ràng buộc.

Điều đích thực là vấn đề

Kể cũng ngộ, mình có thể cảm thấy cần làm việc chuyên cần hơn đặng hoàn thành mục tiêu; các cảm nhận về tính quả quyết cơ chừng dễ là kết cục nảy sinh do trạng thái mất an toàn, và mình phát hiện bản thân bù trừ quá mức với bất kỳ thiếu hụt nội tâm nào.

Đây sẽ là thời điểm tốt để kiểm tra các mục tiêu cuộc đời nhờ nhìn vào bên trong. Tưởng tượng chính mình trong tương lai, vào giai đoạn cuối. Thử gắng nghĩ xem đâu sẽ đích thực là vấn đề, những gì mình muốn thành tựu. Và thú vị, mình nhận thấy những thứ như tính cách, từ bi, và rộng lượng sẽ ngày càng mang nhiều ý nghĩa với bản thân hơn hẳn, so với những thành tựu trong công việc.

Nghĩ về những điều ấy nhờ hiển thị hóa mình vốn sở hữu và cách thức khiến mình trở thành một con người toàn diện và đủ đầy đúng như mình vốn thế! Tự hỏi chính mình đích thực cần những gì để việc thực hiện hoàn mãn, tự dưng sẽ nhận ra mình đã sẵn có mọi thứ rồi.

Nhắm vào những gì thực sự quan trọng là phương thức tốt để ý thức một đời sống hoàn mãn đích thị ra sao, cũng dễ dàng để bắt chụp thành công trong công việc hàng ngày. Chúng ta sẽ cảm thấy một sự thăng tiến hoặc niềm tự hào to lớn khiến mình cảm thấy hoàn hảo.

Dù sự thỏa mãn sâu xa đến từ bên trong, khi chúng ta nghĩ về chuyện mình là ai và làm thế nào mình làm phong nhiêu hơn đời sống những người xung quanh, sự bất định của chúng ta chợt bị buông xả, rời xa và biến mất tăm dạng. Làm việc nghiêm túc, bài bản và chăm chỉ với điều đích thực là vấn đề, mình sẽ nhận ra một cảm nhận tự tin vững chắc hơn về chính bản thân mình.

“Tôi không thể cho lời khuyên”

Báo chí Việt Nam luôn tạo cơ hội để tôi cảm thấy mình cần giữ tâm trạng phấn khích và ngạc nhiên mãi hoài chưa thôi. Với lối đặt tên “Kết thúc có hậu của người đàn ông ruồng rẫy vợ con để theo bồ nhí” tựa cách khai thác tin bài vô tiền khoáng hậu vậy, thiên hạ không bức xúc đến độ chỉ chực muốn nhảy chồm chồm rồi mắng mỏ nhau lia chia qua lại mới là chuyện lạ.

Và cập nhật đây nữa: Tan nát gia đình vì chuyên gia tâm lý.

Chuyên gia khuyên em hãy đi tìm người đàn ông khác để tìm hiểu vì có thể sẽ có cảm hứng, ham muốn. Vị chuyên gia kia không quan tâm chuyện gia đình bị ảnh hưởng thế nào, chỉ lo giải quyết cái vụ “chán tùm lum” của vợ tôi, kết cục gia đình tôi tan vỡ.

Nhân vật ‘chuyên gia’ này là ‘một vị cực kỳ uy tín trong ngành tâm lý’ (!?).

Mào đầu lấy cớ, chứ ở đây không nhàn rỗi thừa hơi thêm đặng dành lời bình luận say sưa cho hơi hướng cải một mớ thế.

Giờ mời đọc đoạn phát ngôn sau.

Tôi sẽ giúp chị tìm ra câu trả lời đúng đắn song tôi không thể cho lời khuyên hoặc thông tin (trừ lúc thích hợp). Tôi không thể làm cho chị lớn lên. Chị phải tìm ra câu trả lời cho riêng mình suốt các phiên và bên ngoài tiến trình trị liệu. Tôi sẽ chấp nhận chị và các hành vi của chị trong mỗi một bước đi trên hành trình. Tôi chấp nhận các giá trị của chị sẽ thường khác biệt so với giá trị của bản thân. Tôi tôn trọng mọi nền văn hóa và các định hướng phát triển, và sẽ đương đầu với bất kỳ định kiến nào nảy nở trong lòng mình.

Nói ngay, cách nhìn này đích thực thể hiện hiểu biết căn cốt về trị liệu và phản ánh tương thích với hầu hết mối quan tâm của thân chủ. Trong khi không nghi ngờ gì vô vàn khác biệt xuyên văn hóa, đa phần mọi người tìm đến trị liệu tâm lý với kỳ vọng muốn được nhà tham vấn bảo họ nên làm gì. Đấy là nguồn cơn họ cân nhắc đặng tính chuyện trả phí: lời khuyên và kiến thức tâm lý chuyên sâu của nhà tham vấn. Nếu trị liệu khởi đi từ việc đặt thân chủ vào thỏa ước chắc chắn rằng tôi sẽ không cho lời khuyên chi cả và thân chủ phải tự tìm ra các câu trả lời thì họ sẽ chủ yếu nghe ra rằng nhà tham vấn không thể trợ giúp họ và khả năng cao là họ chẳng thèm quay trở lại trong phiên kế tiếp.

Thực tế, điều này minh họa một sự trái ngược khả thể: nhà tham vấn giữ vị trí quá chừng lý tưởng, rằng thân chủ buộc phải tìm tìm thấy câu trả lời cho bản thân, đồng thời nói rằng anh ta sẽ ‘tôn trọng mọi nền văn hóa’ và chấp nhận các giá trị khác biệt. Dĩ nhiên, thật hoàn hảo để nhận ra nhu cầu của thân chủ muốn được khuyên nhủ mà vẫn không đưa cho họ, song điều này đòi hỏi lối trình bày thiện xảo và quyết không chỉ là lời đầu môi chót lưỡi đi kèm với tuyên bố: “Tôi tôn trọng nhu cầu cần có thông tin của chị song tôi sẽ không cung cấp cho chị và đây là lý do tại sao”.

Trải nghiệm tác nghiệp hành nghề giúp ta phát hiện thấy vị thế của nhà tham vấn đã thay đổi theo thời gian, rằng tôi nhất thiết phải xem xét thấu đáo định kiến căn bản của mình với tư cách là một nhà tham vấn, rằng người khác “nên là” trong dòng chảy không ngừng của trải nghiệm và tôi phải rất tinh tuyền trong việc làm thuận lợi, dễ dàng sự trưởng thành, triển nở của thân chủ. Rất thường gặp trạng thái người ta không hề chạm tới được trải nghiệm đang là của bản thân khiến họ tìm đến nhà tham vấn nhờ trợ giúp, và cũng rất thường tình việc ít nhiều chân thành khi nhà tham vấn nắm giữ thông tin tích lũy có thể trợ giúp bằng chuyện xử lý những lối trình bày riêng biệt liên quan tới nỗi niềm bất mãn đó trong đời sống của thân chủ.

Tôi cho rằng, quan trọng cần nhớ, nhà tham vấn đang không truyền đạt kiến thức chuyên sâu từ trên cao. Lĩnh vực của chuyên gia ngành hẹp chẳng hề có nghĩa anh ta tổ chức việc tìm kiếm các giải pháp hoặc thực hiện mọi điều đặng giúp đỡ cho chính thân chủ, mà đó là việc tạo lập trạng thái sống cùng với thân chủ, theo nhu cầu của thân chủ đã được hai bên vạch ra trên tấm bản đồ đường đi nước bước cụ thể, và cả ước ao của thân chủ nhằm cởi bỏ áp lực tồi tệ của việc đang buộc phải làm mọi điều cho chính bản thân. Khi áp lực này bị làm dịu bớt cũng như đã bẻ gãy được sự cô độc hay tách biệt thì chính thân chủ, tự họ, dần tiến tới giải pháp ngay lập tức,

Song điều này là phương thức đòi hỏi kiên trì lâu dài, và thực tế thì khá bất khả vào giai đoạn khởi sự tham vấn ban đầu.

Nàng Bạch Tuyết: đẹp, xấu, và quãng đời sống thực ở giữa

Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?
Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?

Câu chuyện cổ tích Grim về nàng Bạch Tuyết từ thời thơ ấu xa lơ xa lắc giờ lại sống dậy bàng hoàng, với một chiều kích và ánh sáng khác, khi dịp cuối tuần gần một tháng trước ghé sang Viện Goethe xem phim.

Nghĩ về một trường hợp muốn ly hôn song cũng chưa thôi mong đợi làm sao có thể níu kéo và nữ thân chủ hy vọng, với việc kiếm ra tiền nhiều hơn thì dễ khiến ông chồng thôi còn lăng nhăng mà sẽ ghi nhận nỗ lực phấn đấu của vợ để rồi thủy chung quay lại.

Gợi khái niệm ‘hệ thống sống còn’ mà việc hiểu biết đầy kịch tính về nó có thể sử dụng câu chuyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết (Snow White), không phải với phiên bản Disney mà câu chuyện tìm thấy trong Truyện Cổ Grim sau lần xuất bản lần đầu tiên vào 1812.

Trước hết ý tưởng cơ bản liên quan khái niệm này là trẻ em cần người lớn để đảm bảo sống còn và trong một số trường hợp trẻ em đặt qua bên nhu cầu riêng tư và thích nghi với nhu cầu bất thường, thiếu ổn định, mang tính mệnh lệnh của bố mẹ hoặc một thành viên gia đình khác. Những sự thích ứng này, như các hệ thống sống còn, trình bày các mẫu hình đầy quyền năng về hành vi, thái độ và niềm tin chức năng nguyên ủy vốn nhằm duy trì cảm giác an toàn cũng như tiếp tục gắn bó với người lớn trong thế giới của trẻ nhỏ. Hình thành từ thời thơ ấu và nền tảng dựa trên suy tư cụ thể và phàm tục của một đứa trẻ, dần về sau chúng cho ra các hành vi thất sách của kẻ vị thành niên và người trưởng thành.

Giờ quay lại phiên bản đầu tiên của truyện cổ tích Grim. Phiên bản Tiểu Bạch Tuyết ấy tuân thủ truyền thống mà động năng và cốt truyện của loại văn chương truyền khẩu vốn chú trọng mô tả ‘con người bình thường’. Theo đó, cô bé mới 7 tuổi khi thấy dung nhan mình trong chiếc gương thần như là ‘người đẹp nhất giữa thế gian’. Mẹ Bạch Tuyết không chết khi sinh ra cô, bà sống thọ và là chủ nhân thực sự của chiếc gương thần. Việc bà mẹ ruột bị chuyển thành bà mẹ kế độc ác bắt đầu từ bản in 1819 trở về sau; sự chuyển dịch thế được tìm thấy trong các chuyện cổ tích khác, biểu tỏ nhu cầu của anh em nhà Grim muốn lý tưởng hóa Bà Mẹ như biểu tượng quan trọng của các giá trị Đức quốc.

Cụ thể hơn, theo truyện, sau khi dung nhan Bạch Tuyết xuất hiện trong chiếc gương thần, cô bé trải qua các cuộc tấn công của bà mẹ sôi máu điên cuồng vì ganh tỵ: bảo người tiều phu đưa cô vào rừng thủ tiêu, và ba lần hãm hại khác do chính bà mẹ hóa thân thành bà lão tiến hành ở nơi mà gương thần mách bảo chỗ trú ngụ của Bạch Tuyết (dải lụa thắt chặt đủ để mất ý thức, cái lược tẩm độc cũng làm nạn nhân mê man, và cuối cùng là quả táo thêm độc dược); tiếp đó, phần còn lại là Bạch Tuyết nằm mãi trong quan tài cho đến ngày được chàng hoàng tử giải cứu, rồi họ sống ‘hạnh phúc bên nhau mãi mãi’.

Đổi đoạn kết của chuyện cổ tích vào việc người ta giải quyết thực tế và anh thư có thể là một phụ nữ trẻ trung bị tàn hoại khủng khiếp bởi các trải nghiệm trong đời. Cô có thể đau đớn bởi rối loạn stress sau sang chấn, ám sợ dây ren, dải buộc, lược, táo, và các quý bà rồi đau đớn do mắc rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng cũng như dạng phản ứng lo âu lan tỏa. Đây rõ ràng không phải là cá nhân sống ‘hạnh phúc mãi mãi về sau’.

Khi hỏi một đứa trẻ rằng nàng Bạch Tuyết cần làm gì, với tư duy cụ thể, nó trả lời rằng: ‘Chị í cần rời khỏi cái gương’. Vậy rồi sau đó cô í cần làm thế nào nữa?  ‘Chị í cần phải xấu xí’; càng xấu xí thì cô í càng không phải bị bà mẹ ái kỷ quá độ hành hạ. Chuyển thể Nàng Bạch Tuyết nhằm tránh rơi vào vòng cạnh tranh, đối đầu thảm khốc đầy tai ương với bà mẹ, dạng thức cốt lõi của hệ thống sống còn của nàng, là ‘phải nhất thiết xấu xí’. ‘Nhu cầu’ ấy có thể tự thân biểu hiện trên nhiều cách thức, tỷ dụ, trở nên thừa cân và béo phì. Cô gái trẻ, người sống sót và thoát khỏi nỗi ghen ghét, tị nạnh của bà mẹ nhờ mập ú, là một sự đánh mất để hiểu ra tại sao khi lớn lên cô không thể giảm cân, bất luận dù có cố gắng đến thế nào. Cô không hiểu rằng các hệ thống sống còn nảy sinh từ thời thơ ấu vẫn không dễ dàng thả bỏ quyền năng tác oai tác quái của chúng.

Các hệ thống sống còn này có thể diễn biến dưới nhiều dạng kiểu. Nếu bà mẹ hỏi: “Ai là người thông minh nhất trong chúng ta?”, nàng Bạch Tuyết e sẽ là kẻ đần độn. Nếu một người cha ướm lời: “Ai là người cần thiết nhất trong chúng ta?”, cậu con trai e sẽ là đứa phụ thuộc kém cỏi. Nếu anh cả được ưu ái nói: “Ai là người thành công nhất trong nhà mình?”, cậu út ít e sẽ đóng vai kẻ thất bại. Nếu đứa trẻ tin thật nguy hiểm khi vén lộ các bí mật gia đình, nó sẽ trở thành “đứa trẻ lặng câm”. Trong khi tất cả các chiến lược thành công giúp một đứa trẻ giải quyết với môi trường rối rắm và tiềm tàng hiểm nguy thì chúng lại không có được các đáp ứng lành mạnh hoặc đúng đắn khi trở thành người lớn trưởng thành.

Khi tuổi thơ của chúng ta trải qua cảm giác bị tước đoạt, mất mát về mặt cảm xúc thì dạng thức thiếu vắng không nghĩ mình là người quan trọng hoặc đáng yêu đủ kéo dài trong khi trưởng thành như một kiểu ‘não trạng mất mát”. Chúng ta có thể ước gì mình có thể có đủ đầy những thứ mình cần; cảm giác bất an này dễ làm băng hoại, tàn phá các quan hệ thân mật. Chúng ta thậm chí mong đợi những người yêu thương mình bỏ rơi, hắt hủi mình, không bao giờ biểu tỏ các nhu cầu bản thân một cách trực tiếp hoặc lựa chọn tình nhân cặp đôi là những người lảng tránh, ngại cam kết gắn bó, không thích thân mật, gần gũi. Cảm xúc thiếu vắng, mất mát các nguồn lực quan trọng như tình yêu, thực phẩm, tiền bạc, hoặc thời gian có thể dẫn ta tới nỗi sợ hãi hoặc tức giận. Chúng ta có thể ám ảnh bởi những thứ mình thiếu thốn, hoặc có thể cảm thấy nhu cầu thao tác, vận hành trong mô thức khẩn cấp: bủn xỉn, hà tiện hoặc lên gấp gáp kế hoạch từng giây phút một trong đời.

Ngoài lầm lạc liên quan đến việc quản lý và nhận biết về thời gian, não trạng mất mát và thiếu vắng trên còn dễ khiến ta đưa ra các quyết định vội vàng, ngắn hạn để rồi sẽ làm tăng thêm khó khăn, rắc rối cho những khoảng thời gian dài hơi hơn; chưa hết, não trạng ấy còn quấy nhiễu ta về mặt động cơ, làm mình dấn vào những sự quyến rũ, cám dỗ và thử thách mà khả năng cao là bị tổn thương… Điều nên làm để thay đổi là hình thành thái độ biết ơn; không so sánh bản thân với người khác; ngừng hẳn ám ảnh; sử  dụng các công cụ đo lường ưu tiên (lên danh sách những việc cần làm, lập kế hoạch, v.v…); đừng tham lam, thèm khát quá…

Thực tế, hầu hết bố mẹ không giống với bà mẹ độc ác trong truyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết. Nhiều người có thể trải qua môi trường hồi tuổi thơ đầy rối rắm, trục trặc hoặc khốn khó và có khả năng đã phát triển các hệ thống sống còn phù hợp với thân phận của riêng họ. Điều quan trọng là người cha có thể nhìn vào nền tảng gia đình sinh học đặng thấy ra mình có mắc mứu với một môi trường cạnh tranh cực độ thế không; khả năng khác là ông hãy còn vướng vào nhu cầu sống còn xưa cũ để cảm thấy mình nhất thiết tồn tại, hay ông muốn làm ‘người cha hoàn hảo’ bởi vì mình dính dáng với một hệ thống sống còn đòi hỏi phải làm người hoàn hảo.

Càng thấu hiểu lịch sử chính mình và đạt được một khoảng cách tốt nhất với quyền lực của các hệ thống sống còn đặc thù, chúng ta càng tìm thấy nhiều khả năng để cống hiến, đưa lại và tạo lập cho con cái mình một môi trường cho phép chúng phát triển nhân cách, tài năng và những tiềm tàng riêng có.