Dấu nhắc dở dang

Bất đối xứng

Đôi khi, tất cả những gì ta có thể là viết. Gõ xuống cái laptop bạn cho mượn, và ngồi yên trong bộ quần áo của một người khác thoải mái thải ra.

Đọc vội những dòng chữ thời sự về Bob Kerrey qua cái nhìn của người thân nạn nhân cũng như lãnh đạo chương trình liên quan vụ thảm sát, dễ thấy ngay còn thiếu hẳn một sợi dây buộc ràng, xâu chuỗi và kết nối bền chặt. Chẳng phải quan điểm phía Hoa Kỳ, chẳng phải tâm tư bên cựu quân nhân Việt Nam Cộng sản, ngay cả với chút thầm thĩ sẻ chia kèm theo nhu cầu liên hệ bản thân sâu kín rất người của nhà văn Nguyên Ngọc vừa mới đẩy lên vài ba tiếng đồng hồ (trên Văn Việt) đâu.

Vốn lẽ nhăng nhít ở đời thì động cơ, cái tại sao của hành vi í, lắm lúc khó tìm biết rạch ròi. Con chữ lạc phận nghịch duyên này giờ đây hóa thành thứ khỉ gió nỏ ma quỷ hay thánh thần nào dung chứa toàn bộ. Là dấu chỉ hùng hồn còn lê la mãi đến hôm nay của một thời sợ vãi cả linh hồn, đái són ra ướt hết đến nỗi con dân Việt thượng vàng hạ cám, trọng khinh nghèo giàu chi thảy đều ám ảnh theo kiểu lờ tịt đi và cố gắng xua bỏ, gạt phắt kinh khiếp hơn cả đuổi tà. Hiện rõ lên bức màn sinh tử quyết liệt đằng sau ấy chính là quyền lực thống trị khủng khiếp tập thể vô hình của chế độ nghiễm nhiên tồn tại mấy chục năm rồi.

Dựa trên thuật ngữ dùng kèm mô hình 6 mức độ của nhà tâm lý trị liệu Marsha Linehan (cách tiếp cận DBT), một chiến lược đơn giản như đang giỡn để cải thiện các quan hệ liên nhân là hiểu biết về độ hiệu lực, chuẩn thuận (validation): cách làm sao để chấp nhận. Bởi chuẩn thuận là cách truyền thông chứng tỏ chấp nhận bản thân mình và (những) người khác; không có nghĩa nó là tán dương hoặc đồng ý. Một kiểu thể hiện trợ giúp và củng cố quan hệ trong khi vẫn duy trì quan điểm khác biệt. Thái độ đúng đắn vậy thì chơi với nhau mới bền lâu, thiết thực xác quyết rằng quan hệ là quan trọng.

Chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các cảm quan, tình cảm, suy tư và hành vi của tha nhân là có thể thấu hiểu được. Tự chuẩn thuận là thấy ra và chấp nhận các suy tư, cảm xúc, cảm quan và hành vi của chính bản thân mình là có thể thấu hiểu được,

Còn có thể viết, còn có thể ngồi xuống, còn có thể nhìn thấy nhau, còn có thể phát ngôn nghĩa là còn có cơ hội. Nghĩa là rốt ráo may quá, còn sống sót, còn phát triển, thay đổi và chuyển hóa trên hành trình phụ thuộc lẫn nhau. Dù dấu nhắc dở dang và đớn đau đến mấy; từ khía cạnh cá nhân đơn lẻ hay dọc dài lịch sử một dân tộc…

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

‘Tại sao kẻ kia không thấy ra vấn đề họ đang làm gì thế nhỉ?’

Quá nhiều nạn nhân trong vô vàn mối quan hệ bị lạm dụng, nhất là những ai giao kết thân thiết với các tính cách lươn lẹo chiêu trò, thường dành quá nhiều thời gian và công sức để khiến đối tác ‘nhìn ra’ các khía cạnh giời ơi, sai trái trong lối sống. Cố gắng ghê gớm trong nỗ lực buộc kẻ kia hiểu ra vấn đề, bi kịch thay, đưa nạn nhân đến trạng thái tức giận, cảm thấy hụt hẫng, và rồi sau rốt trầm uất, thất bại, tiêu tan mọi hy vọng. Họ luôn tự dằn vặt bản thân: ‘Tại sao kẻ kia không thấy ra vấn đề họ đang làm gì thế nhỉ?’

Thực tế, câu trả lời rất đắng đót: họ đã biết nhưng họ khó chịu. Ý là, hầu như các tính cách quấy nhiễu trong đời bạn từng nghe những điều tương tự liên quan đến hành vi có vấn đề của họ lần này tới lần khác từ nhiều nguồn nọ kia. Họ thường hiểu đúng ngay lập tức và chính xác những gì mình muốn họ thay đổi, các chuẩn mực và nguyên tắc chúng ta thích họ chấp nhận.

Vấn đề thực chất do đó, không phải chẳng nhìn ra mà đích thị họ không có quyết định thừa nhận, chấp thuận tiêu chuẩn. Họ bào chữa về cách họ thích tiến hành mọi chuyện hơn, đổ tội cho những người khác khiến họ làm thế, hoặc dùng đủ chiêu mẹo để tránh né việc chấp nhận nhu cầu cần thay đổi. trong khi vào cuộc rất nhanh và lập tức gắng hết sức mình khả dĩ để trông chừng ấn tượng của những người khác về họ.

Điều này lý giải tại sao các nhân cách quấy nhiễu và gây rắc rối cho cảm giác có vẻ họ không học hỏi hoặc hưởng lợi được chi từ trải nghiệm. Kỳ thực, họ tom góp, tích lũy nhiều lắm. Song họ không chịu học hỏi những gì chúng ta muốn họ tiếp thu. Chúng ta muốn họ nhận ra rằng đấy không phải là lợi lạc dài hạn tốt nhất cho họ và mối quan tâm của người khác muốn họ bỏ đi các niềm tin căn cốt cũng như mẫu hình ứng xử để rồi định dạng hoặc thay thế bằng những lối suy tư, hành động mà nhiều người cho là đáng được thích ứng nhất.

Chấp thuận một nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn ứng xử, thành thật nhận lấy, rồi nội tâm hóa nó là hành động sâu xa của sự phục tùng và lòng hy sinh bản thân. Các kiểu tính cách xung hấn, như dạng buông thả (chống đối xã hội), trấn lột và lợi dụng (bệnh lý) thường có một sự thay đổi nội tại đột ngột bằng hành vi bất kỳ thậm chí nhìn bề ngoài như động tác phục tùng, phản ánh đơn giản là họ không thể ‘đào sâu’ vào vấn đề, bất luận ngay cả khi trải nghiệm dạy cho họ rằng sẽ tốt hơn về lâu về dài nếu họ làm thế. Còn các dạng tính cách ái kỷ quá mức lại nuôi dưỡng các cảm xúc tự cao tự đại và cho mình cái quyền không buộc phải hạn chế các quy tắc ứng xử, tự tung tự tác. Các tính cách gây rối này chối bỏ tiếng gọi lương tâm và tâm trí lành mạnh với các kỳ vọng mà đa phần chúng ta đều thoải mái chấp nhận.

Để xử lý thật hiệu quả người thể hiện thiếu hụt tính cách ấy, cần đầu tư thời gian và năng lượng vào nơi mình tạo được quyền lực. Chúng ta không thể kiểm soát kẻ khác, nơi chốn, sự vụ… Và chúng ta không nên dùng quyền lực để bắt ai đó phải ‘nhìn ra’. Những gì chúng ta có thể thực hiện là đặt để các ‘cam kết’ với bất kỳ sự vụ mình muốn giải quyết với những người khác, bao gồm cả những kẻ chà đạp và giẫm lên các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của chúng ta. Chúng ta có quyền lực để sắp xếp các giới hạn, củng cố các ranh giới, tạo ra rõ ràng các mong đợi, và trên hết thảy quyết định bối cảnh nào mình sẽ giải quyết sự vụ với các kẻ khác.

Những hành động kiên quyết và thể hiện nguyên tắc thế chuyển gửi thông điệp mạnh mẽ vượt trên mọi lời nói năng. Theo thời gian, chúng có thể bẻ gãy vòng tròn phá hoại của những kẻ tạo tác hành vi gây tổn thương và bộc lộ thái độ không tôn trọng chúng ta. Khi điều ấy xảy đến đủ nhất quán thông qua các tình huống và kiểu người khác nhau, ngay cả với những kẻ mang tính cách gây rối vốn đã thấy song cứ không chịu tán đồng, có thể tìm được một vài giá trị thực tiễn trong nỗ lực làm các thứ theo cách thức mới mẻ khác hẳn trước đây.

… Dường như trải qua thời gian dài của chủ nghĩa đại khái về mặt đạo đức kèm trạng thái chấp nhận rỗng không các hệ hình liên quan đến bản chất con người đã không còn đúng đắn, nhiều người đơn giản đánh mất năng lực lượng giá thật chính xác và công bằng tính cách của các kẻ khác. Đấy là lý do tại sao nhiều người lãnh nhận hậu quả đau thương khi thiết lập các mối quan hệ trục trặc, bị lợi dụng, hoặc nguy hiểm cả thời gian dài rồi mới phát hiện sự thật.

Vẫn luôn nảy nòi ở đâu đó còn chưa bị/ được báo chí, mạng xã hội khai thác, phát hiện về hành vi vô đạo đức, lăng nhục, không còn liêm sỉ. Liên quan đến ứng xử vô trách nhiệm, có cả trường dài rộng, mênh mông và sâu thẳm các tính cách bất chính, hiểm ác đang nhiễu nhương ngoài kia. Và vì số lượng ấy không hề ít ỏi, quả thật gây bối rối cho bản thân khi đưa ra các đánh giá đơn giản về tính cách một con người. Tôi không hề nghĩ ngợi nhiều lắm về các tên tuổi đình đám xuất hiện gây bàn cãi trên các mạng mà chính các phương tiện truyền thông cũng dính dáng trách nhiệm xiển dương ít nhiều.

Không phải là quan tòa để tha thứ hay luận tội. Đây là cách tôi thử nhìn nhận: nếu chúng ta không nhận ra vấn đề đích thực hiện diện và mức độ trở thành nghiêm trọng thì làm thế nào thế giới sẽ nhìn ra rõ ràng cách chúng ta đang cứu chữa nó? Bước đầu tiên là minh bạch, sáng tỏ tâm trí các khái niệm lầm lạc đang phủ mờ đánh giá của chúng ta về tính cách. Và có một số nguyên tắc khá thẳng thắn mà hầu hết mọi người có thể đánh giá công bằng và đúng đắn về ai đó. Không ai hoàn hảo. Song khi một người có chí ít mức độ dối lừa tối thiểu trong lòng, và họ làm gì đó thực sự sai trái, họ chịu trách nhiệm vì điều đó, chấp nhận các hậu quả do hành động gây ra, và thiện ý cam kết làm tốt hơn lần tới. Xã hội có thể đặt để các ranh giới và giới hạn nó muốn. Song ước ao tôn trọng các ranh giới và giới hạn này lại là câu chuyện nỗ lực, gắng sức thuộc về mỗi một cá nhân.

Lần nữa, khi nghe nói về các vụ việc và nhân vật ì xèo, tôi nghĩ, tính cách đích thực là vấn đề. Và xã hội chắc chắn suy tàn, tồi tệ khi chúng ta lãng quên điều đó.

Con số tính cách quấy nhiễu, thiếu hụt và đáp ứng không đúng đắn đang tăng lên trong cộng đồng chúng ta; và có nhiều yếu tố văn hóa theo thời gian chịu trách nhiệm thực trạng này. Chúng ta đã cảm thấy mệt mỏi với các tính cách và vụ việc gây tai tiếng như cơm bữa chưa? Và đã đến lúc đủ để làm điều gì đó về nó?

Cài đặt đồng bộ và nâng cấp hệ thống: hiểu biết tốt hơn đời sống tâm lý con người

Nhân loại lại bay trên  cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng...
Nhân loại lại vội bay lên trên cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng…

Khi cái laptop nồi đồng cối đá T42 IBM bị bánh xe ô tô cán lên làm vỡ màn hình do đặt để bất cẩn, chủ nhân của nó tiếc tiền gắn liền kỷ niệm nên nhanh nhảu nối dây cài cắm với màn hình máy tính bàn vốn tạm thời hỏng hóc ổ cứng… Thói khôn lỏi, sửa chữa vặt vãnh khó đảm bảo ổn thỏa lâu dài, chưa nói sẽ không khỏi mặc cảm tự ti khi so sánh với các dòng đời mới và vô vàn kiểu loại smartphone, Iphone, Ipad truy cập mạng lưới điểm toàn cầu cũng như tích lũy thông tin hết sức hiệu dụng.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Liệu ưu tiên khẩn thiết tìm hiểu có phải là chủ đề nóng hừng hực: tâm trí con người cần được nhận diện và rồi kiểm soát nếu em í bất chợt lêu bêu? Bởi ở mức độ nhất định, khoảng cách làm sáng tỏ cái nhìn nên đừng chú mục sát sườn: tại sao tâm trí người lớn tuổi hơn thường ít có xu hướng lang thang?

Tỷ dụ dễ hiểu rất đời là câu chuyện phân tách tính dục (sexuality) với tư tưởng dâm dục (eroticism) khá tương tự như khác biệt giữa con vật và loài người:

Động vật có sex và điều đó tự nhiên, nó là thôi thúc căn bản, thuộc bản năng, mang yếu tố sinh đẻ. Con người có đời sống dâm dục. Chúng ta thay hình biến dạng tính dục. Chúng ta xã hội hóa tính dục thông qua trí tưởng tượng. Và tác nhân cốt lõi của hành động dâm dục là sự sáng tạo, trí tưởng tượng, hoặc khả năng làm mới lại, khả năng hưởng thụ và đoán biết trước… Chúng ta có thể mường tượng hành động mà cóc nhất thiết đích thị tiến hành nó. Và đấy là sự vun bồi tự thân nỗi niềm khoái lạc.

Tư tưởng dâm dục thế, theo nữ tâm lý gia lừng danh Esther Perel, hàm ý xem sex như một trải nghiệm rung động mãnh liệt và siêu việt. Perel gọi đó là “nơi mình đi vào trong chính lòng mình cùng với kẻ khác”. Nhiên liệu cho cuộc du hành siêu việt này là sự sáng tạo riêng có của cá nhân. Và xuyên qua sự thăm dò trí dâm dục khiến các huyễn tưởng dậy lên. Các ranh giới mở rộng ra và nhiều thực tế mới mẻ được rèn giũa. Do vậy, tiêu điểm của tư tưởng dâm dục và trí thông minh gợi tình không phải ‘quan hệ” mà mang “ý nghĩa của sex”. Siêu việt là bởi thế. Perel cũng chỉ ra tính cách tân như điểm quan trọng khác giữa sex/ erotics: không phải là các vị trí hoang dại mà hơn thế là điều mình như người tham gia đem theo vào trải nghiệm: cảm xúc, sức quyến rũ, độ đam mê, tinh thần. Sự nối kết giữa sự mới mẻ và tính sáng tạo là điều bắt buộc để duy trì một mối quan hệ lành mạnh…

Dẫn chứng cách nhìn trên càng dễ chứng nhận sự thật rằng ngày nay, làm việc hoặc nói chuyện với người trong lĩnh vực kinh doanh, giáo dục, chính trị, văn hóa, xã hội… gì gì thảy đều hay được đề nghị đưa ra một mô hình hoặc tập hợp các công thức khoa học có thể ‘giải quyết’ các vấn đề hành vi giúp họ. Dẫu hiện có nhiều mô hình về cách con người ứng xử, sự tạo thành thói quen, và nhận thức khả dĩ giúp chúng ta thấy hiểu bản chất chính mình thì bất kỳ mô hình nào, theo định nghĩa, đều là việc đơn giản hóa thế giới đích thị đang là. Các mô hình tâm trí cũng cụ thể hóa hiểu biết của chúng ta ở một thời điểm nhất định. Hàng ngày, nảy nở nghiên cứu thêm và cập nhật hiểu biết về phương thức tâm trí hoạt động. Trong khi các phát hiện này phản hồi với các mô hình đang tồn tại, chúng thường đứng ngoài rìa của những khám phá kinh điển được dạy trong sách giáo khoa và các cuốn khoa học phổ thông trong một thời gian dài.

Và quả đúng là chúng ta mê những giải thích thật giản dị và chặt chẽ về các hiện tượng phức tạp. Chúng ta thích biết bao nhiêu việc trải nghiệm đời thường có thể được làm rõ ràng, minh bạch nhờ các khung lý thuyết đơn giản. Lợi lạc lớn lao việc bình dân hóa khoa học và nhờ hiểu biết các tiến trình tâm thần từng khiến chúng ta khốn khổ. Song khá nực cười để nhìn nhận bất kỳ mô hình đơn lẻ nào như nền tảng cơ bản cho hoạt động kinh doanh, marketing, hoặc quyết định sự vụ ở đời. Một mô hình có thể là khung tham chiếu có tính khai sáng đi nữa thì nó không thể hồi quang rộng khắp sự phức tạp của tâm trí.

Đó là lý do tại sao nếu mình nghiêm túc muốn làm ăn tốt đẹp và tạo lập những quyết định sống đúng đắn thì mình nên ưu tiên nghiên cứu các khoa học hành vi liên tục và suốt đời. Mình cần cập nhật thật nhất quán và tái xác lập yếu tố các viễn tượng chúng đưa ra nhằm tự bảo vệ bản thân chống lại các mô hình lỗi thời vốn gây lầm lạc hơn là làm rành mạch.

Nói khác, khởi từ bây giờ, mình nên tháo gỡ các mô hình không chính xác đã mang theo suốt từ bấy đến nay. Mỗi chúng ta có cả lố tâm lý cổ truyền chuyển giao bởi nền văn hóa, thông qua bố mẹ, và cách giáo dục thừa hưởng. Có thể nhiều ý tưởng trong đó hãy còn nhất quán với nghiên cứu đương đại, song đa phần thì không.

Chẳng hạn, hầu hết mọi người nghĩ rằng chúng ta hành động dựa trên ‘niềm tin”. Tuy thế, các nghiên cứu chứng thực, chúng ta tạo các quyết định phụ thuộc nhiều yếu tố lắm, như sự dễ chịu và việc sắp đặt (ở tiệm tạp hóa chẳng hạn), rồi đi tới tìm ra những hợp lý hóa hậu thuẫn cho những lựa chọn ấy. Nghĩa là, chúng ta không luôn luôn mua thứ gì vì thích, chúng ta thích thứ gì vì mình mua nó. Chúng ta vốn siêu trong vụ kể chuyện theo dạng biện hộ thế.

Nhiều người chúng ta đầy ứ các quan niệm sai lầm kiểu vậy. Song chúng ta khó tránh được. Nghệ thuật sử dụng khoa học hành vi không phải là điều trọng tâm trong nền giáo dục của chúng ta.  Chúng ta nên bắt đầu làm quen với việc tạo lập và tái xây dựng lại hiểu biết của chúng ta về hành vi và nhận thức con người nhờ kiểm tra, xem xét nghiên cứu mới nhất khi nó được công bố. Vẻ đẹp của cách tiếp cận gộp lãi thêm lên này là nó sẽ làm thay đổi lối chúng ta nghĩ về các vấn đề, bạn bè, và đời sống chúng ta khi chúng tiến triển, biến hóa. Tựa như chuyện nâng cấp hệ điều hành để ngày càng sát hợp hơn với thực tế. Đó là một trong những điều quan trọng chúng ta có thể tiến hành, và là cách chắn chắn đảm bảo áp dụng hết sức chính xác tâm lý học vào đời sống của mỗi chúng ta.

Cũng nên biết, mặc dù chán ngán do đánh giá quá cao động cơ song nghiên cứu của các nhà tâm lý học cũng vẫn đang đuổi theo hạnh phúc. Và bản chất con người đang tiến triển trong đáp ứng với những cách tân của công nghệ, chẳng hạn tác động của công nghệ điện thoại di động đến động năng trò chuyện hàng ngày.

Chắc chắn, vẫn còn để ngỏ gợi hứng về cách thức tâm trí hoạt động. Cần tìm biết bộ não đã tạo ra thế giới tâm thần chúng ta như thế nào, chúng sẽ chỉ ta hay cách từ vựng cơ bản của tâm lý học hiện đại về trí thông minh, hành vi, thái độ, động cơ, v.v… không phải cứ thuộc kiểu dạng bản chất mãi mãi như thế mà được cấu trúc, phân loại dựa vào mục tiêu đặc thù ở các thời điểm trong lịch sử; nhiều mục tiêu cũ mèm giờ không phục vụ được cho nhu cầu hiện tại nữa và dần gây trở ngại cho tiến bộ tương lai…

Ngược dòng thời gian đặng trầm ngâm cùng tác phẩm hiếm thấy và ít khi được thông tỏ của B.F. Skinner. Đối lập với một số diễn dịch sai trái về vị trí của ông, Skinner không những chưa từng bao giờ ngờ vực rằng chúng ta có thể mô tả các trạng thái nội tâm như suy tư hoặc cảm xúc mà còn tự hỏi cách thức chúng ta làm thế nào để tiến hành chuyện đó; câu trả lời của ông gây ngạc nhiên, tương thích với thực hành tâm lý trị liệu, và là một thách thức đối với những ai giả định chúng ta có thể biết các cảm xúc bản thân chỉ nhờ tiến trình đơn giản của việc tự nội quan.

… Tác giả Gay Watson (2008) khuyến cáo chúng ta tích hợp các cách tiếp cận thân thể và tâm trí với nhau , vẽ ra những tiếp cận dự liệu trước từ phương Đông; và như cuốn sách trình bày, các lý thuyết và mô hình tâm lý, tâm lý trị liệu có thể tìm được vết ở nhiều biến thể của tâm lý học Phật giáo 2500 năm rồi.

Điều này gợi nhắc tới tác phẩm kinh điển thể hiện các nguyên tắc của tâm lý học đồng thời nó cũng minh họa đặc sắc cho lối viết, khả năng dự báo và tuệ giác của William James từ 1890.

Như cái chết của tâm trí, các công ty internet ngày nay đang sử dụng các dữ liệu cực lớn tích lũy từ từng hành vi nhỏ nhặt của người dùng mạng để gây ảnh hưởng tới lựa chọn của khách hàng. Các lý thuyết và tư tưởng tâm lý học về cách thức tâm trí hoạt động đóng vai trò rất nhỏ bé nếu không nói là nó vắng bóng trong các mô hình được đề cập trong bài báo vốn dựa hoàn toàn vào các mô hình từ toán học.

Phê bình khá công bằng, so sánh với ngành sinh học không ngừng tiến hành các nghiên cứu nhằm chỉ cố gắng mô tả các giống loài mới, tự thân tâm lý học có vẻ cũng đang thu hẹp tâm trí của chính nó, vì sự mù quáng do sở thích dùng các phương pháp thực nghiệm trong khi hạ thấp tầm quan trọng của việc nắm bắt các hiện tượng mới mẻ và thú vị của đời sống con người.

Một sự mời gọi trong lòng

Mình có thể cảm thấy thu mình và hụt hẫng trước những hoàn cảnh hôm nay. Kỷ niệm Ngày Độc Lập của Việt Nam trùng với lễ vinh danh người lao động ở Mỹ quốc. Trời mưa tầm tã càng dễ khiến bồi hồi lại nhớ về thân phận của ông Nguyễn Hữu Đang, vị chỉ huy dựng lễ đài Ba Đình. Thống kê cho hay, mấy ngày nghỉ đã có 259 vụ thương vong vì tai nạn giao thông, trong đó 112 người đã chết.

Mình cũng có thể đang phải chật vật chống chọi với các trở ngại cản ngăn, hoặc cảm thấy bị mắc kẹt và không thấy khả năng đặng tạo tác nổi các thay đổi tích cực. Mình dễ phát hiện thấy hữu ích với việc đặt để thời gian dành ở một mình và làm việc với các cảm xúc trên với ước ao tìm thấy ý tưởng tốt hơn về nguồn gốc hình thành của chúng.

Đơn giản tìm ra một nơi chốn riêng tư không bị quấy rầy, và nhắm vào phóng thích trạng thái căng thẳng rồi làm trống rỗng tâm trí mọi sự suy tư tràn lấp. Chỉ trong vài khoảnh khắc, mình sẽ dễ khởi lên sự yên ả và tập trung hơn hẳn. Tiếp theo đấy bắt đầu khám phá các cảm xúc, quyết định tại sao cơ chừng mình nên đương đầu hôm nay. Giai đoạn phản ánh này khuyến khích mình đào sâu hơn cho trạng thái sáng rõ, nhằm làm nảy nở các giải pháp sáng tạo cho rắc rối hiện đối đầu và chấp nhận một não trạng lạc quan.

Dành thời gian suy tư hoàn cảnh bản thân có thể cho chúng ta sự thấu hiểu nhằm tạo nên các trải nghiệm đầy ý nghĩa và toàn mãn với những gì kinh qua hàng ngày. Cảm thấy hụt hẫng hoặc mắc kẹt thường là dấu hiệu từ các bản ngã nội tại đủ đem lại lợi lạc nhờ giai đoạn lặng lẽ suy ngẫm về các hoàn cảnh xảy đến trong đời.

Làm tâm trí mình thư thái và tĩnh lặng rồi đưa sự chú ý nhắm vào nội tại trong lòng, chúng ta thừa khả năng phóng thích ảo ảnh bị mắc kẹt cũng như phát triển một cảm nhận sáng rõ và thấu hiểu về đời mình.

Nhờ lựa chọn nhìn nhận nỗi niềm hụt hẫng như lời mời gọi để kết nối sâu thẳm hơn với bản ngã cao hơn, mình có thể làm triển nở sự thấu hiểu để rồi tạo nên cuộc đời mình nhiều ý nghĩa vượt trội.

J. Soi (39): Tình đời gây cảm hứng thường xuyên

Câu chuyện tác quyền biểu diễn nhạc Trịnh liên quan đến ca sĩ Khánh Ly e sẽ khiến thiên hạ nhận ra sự vụ ảnh hưởng chẳng hề đơn giản, và mức độ hâm mộ lần nữa, dẫu biểu hiện như nào thì thảy đều có điểm chung ít nhiều là đánh thức, gây cảm hứng cho chính bản thân người trong cuộc.

Hôm nay, kỷ niệm ngày vang lên tuyên ngôn sấm truyền “I have a dream“.

Với những ai say mê phấn khích và cảm hứng, tôi đoán đó là kiểu người của đam mê. và đa phần trong đời, người ta không chỉ kiếm tìm mà còn trở thành đối tượng gây được cảm hứng. Thử nghĩ về rất nhiều khoảnh khắc “huyền thoại” mà sản phẩm tạo cảm hứng của ai đó dựng lên một ấn tượng thật sâu xa và miên man trong lòng ta, khiến bản thân cảm thấy nối kết điều gì đích thực quyền lực dù khó gọi tên rõ ràng hay định nghĩa thật chuẩn xác, rạch ròi. Và chắc chắn cũng có những lúc, với nỗ lực riêng có tạo cảm hứng với tha nhân, người ta cảm nhận mối kết nối tương tự.

Cảm hứng là gì, tuy chẳng dễ dàng biểu tỏ song chúng mình có thể chấp nhận vài ba cái nhìn phổ quát:

  • Tâm trí lâng lâng đối với hoạt động hoặc sự sáng tạo đặc biệt, bất thường
  • Hoàn thành sản phẩm hoặc kết quả của nỗ lực và suy tư mang tính sáng tạo
  • Một sự bùng nổ đột ngột của thấu hiểu xảy ra như thành phần cốt yếu cho tiến trình giải quyết vấn đề
  • Ảnh hưởng của một nguồn huyền thoại đặc biệt hoặc trạng thái hiện diện thần thánh trong tâm trí con người (kiểu ‘mặc khải’ trong các bản văn tôn giáo)
  • Trạng thái ngây ngất hoặc khiến người khác ngất ngay với một hành động hoặc cảm xúc đặc thù
  • Hành động hít vào; giát kéo lây lan trong không khí (đối lập với việc thở hắt hoặc hơi bốc ra)

Tất cả những cố gắng xác lập này chạm vào được một số khía cạnh của nỗi niềm cảm hứng, dù kỳ tình thì rất khó nắm bắt thấu đáo. Cơ chừng, một trong những điểm tương tự nhất của các định nghĩa là sự kiện nó bao hàm trong khái niệm của việc “nắm lấy, dụ vào’ điều gì đó. Và để gây được cảm hứng, chúng ta phải luôn luôn cởi mở và dễ tiếp thu (sẵn sàng để ‘nắm lấy, dụ vào’) các nguồn lực sáng tạo có thể truyền dẫn và tạo ảnh hưởng với chúng ta.

Bất kể đang đọc sách, xem phim, nghe nhạc hoặc lướt qua một phòng triển lãm tranh, người ta luôn tìm kiếm cảm hứng mới. Và khi họ viết lách, sáng tác, hát hò, hoặc dấn thân vào bất kỳ lĩnh vực sáng tạo khác thì luôn luôn họ không ngừng kiếm tìm cách để gây tạo cảm hứng với những kẻ khác.

Chắc chắn với một số người, cảm hứng là điều gì sâu rộng hơn là chỉ mỗi khía cạnh ‘vào’ của việc hít thở vậy; đích thị, nó như là tự thân hơi thở, vốn tuyệt đối căn cốt để đảm bảo sống còn.

E là sống một cuộc đời không cảm hứng tựa như không đích thị sống gì cả.

Luyện từng chuyện vặt nhỏ nhặt để không dính chặt với bất kỳ điều gì

Tôi không rành thế giới văn nghệ sĩ qua những nhìn ngó bất chợt trước vô vàn hoạt động tươi tắn sắc màu của họ; đoán chừng, ấy chắc phải là một cái gì mạnh khỏe, trường vốn, náo nhiệt và lung linh lắm lắm.

Chúng ta hưởng lợi trạng thái yên an vào thời điểm eo sèo và chắt bóp nhờ cơ hội tái xác nhận thái độ tích cực và cách đo lường niềm tin. Khám phá đầy tinh tế và từ bi những địa hạt nào khiến mình tắc tị, bức bối và khổ sở nhất có thể vén lộ, phơi tỏ lô lốc thứ mình đang ôm nắm, giữ chặt đang rất cần thiết phóng thích: các cảm xúc còn dây dưa, những quá độ chưa giải quyết, hoặc cách thức tiêu cực trong lối mình nhìn vào mình hoặc nhìn vào thực tế đời sống. Nhờ bắt chụp trách nhiệm trước những gì có thể thay đổi, mình càng dễ quy thuận trước điều bất khả do thừa khôn ngoan luôn ghi nhớ rằng sẽ có một giai đoạn khác phù hợp hơn.

Tựa như điều hành sự vụ kinh doanh vậy, chúng ta có thể vận trù đời mình theo kiểu ủy nhiệm một số thứ… Chân thực từ ngữ trong các mối quan hệ là điều phải xác quyết. Có lẽ bởi vì mức độ cam kết với ai đó khác quá mạnh mẽ nên mình có thể cảm thấy cần hiện diện với trạng thái cởi mở và trung thực. Thay vì lươn lẹo hoặc vòng vèo, mình có thể tái khẳng định ước muốn kiên định và chân thành với tha nhân. Mình có thể phát hiện, nhờ trông chừng những gì phát ngôn và cách nói năng mà chúng ta có khả năng để chạm tới, thậm chí đạt được các cấp độ tin tưởng sâu sắc hơn của những người mà mình quan tâm, săn sóc.

Thực tập nói năng đúng đắn giúp ta tương tác với tha nhân thiệt thật thà. Dần trở nên ý thức về tác động của từ ngữ mình sử dụng với người khác, chúng ta sẽ nhận ra rằng một khi dự tính mình tốt lành thì cách thức biểu đạt bản thân cũng quan trọng không kém hành động thể hiện. Từ ngữ do có ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến ta nên điều quyền năng này còn giúp mình tẩy đi bất kỳ ngờ vực hoặc sợ hãi nào bất chợt trỗi lên trong các mối quan hệ. Lưu ý từ ngữ phát ngôn, mình sẽ củng cố thêm cam kết với mọi người trong đời và lát đặt con lộ đời sống ngày một chân tình thêm lên.

Khi tôi bất chợt được giới thiệu một chương trình trên truyền hình vừa diễn ra hồi hôm, quả thật tôi không thể không nghĩ tới độ căng giữa lòng từ bi và sự không dính mắc.

Liệu từ bi, vốn làm yên dịu niềm đau nỗi khổ của những người khác, có mâu thuẫn với khái niệm không dính mắc, tách biệt (tương phản với trạng thái gắn bó) vốn nó ngăn ngừa niềm đau nỗi khổ rất riêng?

Bởi vì lòng từ bi đích thực là sự trợ giúp vô điều kiện; nó là vô điều kiện và một dạng thức của sự tách biệt, không dính mắc từ bất kỳ điều kiện nào khi trợ giúp kẻ khác, ở trạng thái trợ giúp hết sức chân thành. Sự không dính mắc đậm Phật tính ở đây biện luận khởi lên từ năng lực khôn ngoan của trạng thái không dính mắc với các hiện tượng, gồm cả con người, vốn không ngừng thay đổi và biến chuyển. Sự khôn ngoan này cũng đi kèm với lòng từ bi, bởi vì nó nhận ra sự thay đổi không ngừng nghỉ của hiện tượng; nhiều người không nhận ra được sự thật vô thường này và đeo bám, dính chặt với ảo ảnh những cái tôi của họ và trải nghiệm về sự không hề chút đổi thay nào để rồi dẫn đết kết cục hứng chịu đau khổ.

Đấy là lý do tại sao một sự bừng tỉnh toàn triệt ở người thức nhận sự khôn ngoan của bản chất vô ngã thì cũng có một lòng từ bi tuyệt diệu luôn, đặng trợ giúp những ai thiếu vắng khôn ngoan và lòng từ bi đặng thức nhận về sự bừng tỉnh trong chính bản thân họ và ở những người khác. Điều ấy chính xác bởi vì sự bừng tỉnh, giác ngộ hoàn toàn thì không hề có bất kỳ ảo tưởng nào về cái tôi nữa, rằng chúng là vị kỷ (đối lập với ích kỷ) trong nỗ lực trợ giúp người khác của họ. Do đó, khôn ngoan đích thực là từ bi đích thực, từ bi đích thực là khôn ngoan đích thực.

Vậy nên, không nhất thiết cảm thấy vì những người khác (nhờ có lòng từ bi) và không cảm thấy vì họ (nhờ trạng thái tách biệt) cùng một lúc luôn. Chúng ta chỉ cần nhận ra cách niềm đau nỗi khổ về những người khác là đối với họ và tiến tới muốn trợ giúp họ. Chẳng hạn, khi một đứa bé khổ sở khóc thét do nửa đêm gặp ác mộng thì chúng ta thật tự nhiên cố gắng vỗ về thật dịu dàng để bé thoát khỏi ảo tưởng phi thực tế. Nếu rốt ráo không chăm sóc cháu, mặc kệ các cơn ác mộng hành hạ bé thì chúng ta đã hành xử sai trái, như thể chúng ta vốn không có Phật tính luôn đầy ắp lòng từ bi. Do đó, chúng ta cần tiến hành và nên thực sự chăm sóc bé. Đơn giản là làm tốt nhất điều mình có thể mà không dính mắc với các kết quả. Đây là cách vun bồi sự không dính mắc đúng đắn, vốn đối lập với các tình huống trong đó hiện diện nỗi sợ hãi của việc trở nên quá gắn bó với những ai mình quan tâm, săn sóc. Nỗi sợ hãi này thậm chí còn có thể kiến tạo một sự chần chừ dấn thân vào bất kỳ dạng thức của mối quan hệ với bất cứ ai, ở một chừng mực nhất định là không thuộc trạng thái từ bi rồi.

Chúng ta cần nhớ rằng không ở trong bất kỳ quan hệ nào không tất yếu dẫn tới việc tách biệt một cách tự động được. Lấy ông Phật làm ví dụ hoàn hảo. Khi một đệ tử qua đời trước mặt mình, Ngài không hề đớn đau sầu khổ vì gắn bó, yêu thương. Ngài chỉ đoan chắc rằng mình đã làm mọi điều tốt nhất có thể khi các đệ tử còn sống. Thực tế, dài lâu biết bao việc sự bừng tỉnh đã không hề được nhận diện, lảng tránh các mối quan hệ có thể là dạng dồn nén, đàn áp của sự gắn bó, yêu thương tức là, không muốn yêu thương, gắn bó.

Bất kỳ dạng thức gắn bó nào thì thảy đều rồi sẽ chỉ khiến ai đó không được giải phóng. Đó là bản chất với sự gắn bó ngay bây giờ, lúc này trong khi chúng ta có thể làm tốt nhất sức lực mình nhờ tỉnh thức trước thực tế vô thường, nhằm dần giảm thiểu đúng lúc sự gắn bó; điều này hết sức xác thực bởi vì người ta rồi sẽ băng qua, mất đi đến độ mình nên trân quý họ và trợ giúp họ ngay bây giờ, với lòng từ bi, thay vì tránh né họ- điều không thực sự đem lại lợi lạc cho bất kỳ ai, dĩ nhiên, ngay cả cho chính chúng ta.

Lệ Rơi, lên thuyền ra khơi, hay quẩn quanh ven bờ: buông lơi bàn chơi về tính chuyên nghiệp đua chen cùng đặc thù truyền thông hiện đại

Có vẻ câu chuyện chàng nông dân Hưng Yên mang biệt danh Lệ Rơi sắp đến hồi kết.

Ở một góc độ nhất định, tất thảy chúng ta dù muốn hay không và/ hoặc vô tình hay hữu lý, đều hướng tới phục vụ cộng đồng xã hội theo tâm nguyện ‘mua vui cũng được một vài trống canh’. Vượt trên những đau đớn trái ngang của thân phận, chính tính mục đích trong biểu lộ mối quan tâm, chú mục hành động và cơ sở tạo thành những nhận xét, đánh giá nọ kia về một hiện tượng hoặc nhân vật nào đó chắc chắn chi phối giá trị bản thân chúng ta: rốt ráo, động cơ và dự định là gì, nhằm ý đồ chi?

Dự tính và hậu quả

Từng nghe ví von rằng ‘thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội đồ ra sao vẫn còn tương lai’ (chỉnh sửa tí cho nó vần êm dịu đặng tranh thủ hít thở thoải mái), soi chiếu vào tiêu chí căn bản vừa nêu lên ấy, sự khoe giọng phơi mặt của một con người trước bàn dân thiên hạ quả là một minh họa nghịch hợp quá chừng thương xót: ‘đã mang lấy nghiệp vào thân…”, chịu đựng và hứng khởi cùng phát tán đến độ gây cảm tưởng khó kiểm soát nổi, nổi tiếng và mỏi mệt, chi phối và phác thảo cái khung sườn phản ánh của diễn biến tâm tư lẫn tới lui chứng kiến đồng thời.

Chừng nào cứ quen nhìn ngó, xét soi nhân vật đình đám tựa ‘nạn nhân’ u mê bị dắt mũi hay kẻ quấy rối, chơi trội dị hợm nỏ hiểu gì về đời thì bất quá cũng không thể thoát khỏi tiền định sai lầm: tư duy nhị nguyên hướng tới phán đoán đúng sai, tốt xấu, người quan sát và đối tượng được quan sát, v.v…

Nên chi, đáng thành vấn đề nhất không chỉ là sự tinh tuyền của động cơ mà cũng cần để ý cả các hậu quả xảy đến nữa; thu hoạch mong muốn cũng quan trọng chẳng kém việc thiếu vắng nó. Liệu những ý định tốt lành có xứng biện hộ cho kết cục xấu tệ? Nảy sinh vấn đề phiền muộn vì đa phần chúng ta khởi sinh các dự tính ô hợp, thậm chí hơn một thứ duy nhất.

Không ai trong chúng ta hoàn hảo, song nơi chốn này đây nên luôn cần được làm tăng thêm tính thiện xảo (skillfulness) thay vì khiến giảm sút đi trạng thái tỉnh thức (mindfulness), về lý do rất chính xác tại sao chúng ta tiến hành những gì muốn làm, và các kết quả tiềm năng được thành tựu tác động, ảnh hưởng đến chính bản thân mình cũng như những người khác.

Lần nữa nhắc lại, khi tâm trí khởi sinh mọi sự, việc hiện diện hoặc mất bóng từ bi và khôn ngoan quyết định một biểu đạt hành động dẫn dắt tới Hạnh phúc xác thực hay không. Thực tế, nếu ai đó đích thị từ bi thì kẻ ấy sẽ nghĩ ngợi hết sức khôn ngoan gấp đôi trước khi đẩy đi món thứ có thể sẽ gây xáo trộn, mập mờ hoặc tàn hại tha nhân.Từ bi chỉ đích thị khi được dẫn dắt thực sự bởi khôn ngoan, vì chúng là hai điều hỗ tương qua lại.

Bật nhanh lên trong hiểu biết về dự tính, ý định của bản thân là tốt hay xấu, và chầm chầm lại việc xác quyết, tuyên bố về trải nghiệm mình kinh qua là tốt hay xấu.

Thiển nghĩ, sự thả xuống, rời xa, quên đi đích thực không gì khác hơn là xả bỏ dính mắc, ác cảm và hoang tưởng. Mức độ một người thả bỏ phụ thuộc vào tâm tính và tình huống riêng tư của chính anh/ chị ta. Song cái nên gìn giữ lại như nguyên tắc điều hướng là điều này thôi: việc đạt được tuyên bố đòi hỏi sự nhổ rễ, trừ tiệt toàn bộ sự thèm khát, và tiến bộ theo cùng trên hành trình là nỗi niềm thôi thúc ở tầm mức nhất định nào đó vượt qua sự thèm khát. Bẻ gãy tính chủ đạo, át vía của ham muốn chắc không hề dễ dàng song khó khăn không nào hề thủ tiêu sự cần thiết thực hiện. Khi khát thèm là cội nguồn của dukkha (vô vàn bất toại nguyện), tận diện nỗi khổ niềm đau ấy phụ thuộc việc tiết giảm thèm khát, và liên quan trực tiếp tới tâm trí muốn thả bỏ, rời xa…

Lúc này, khi ai đó nỗ lực cởi bỏ dính mắc, người ta bất chợt gặp phải một sự kháng cự ghê gớm ở bên trong. Tâm trí không hề muốn từ nhiệm chuyện nắm giữ các đối tượng mà nó cứ dần gắn bó thêm lên mãi. Cả quãng thời gian đằng đẵng nó quen thói tích góp, ôm ấp, và nắm chặt nên cơ chừng bất khả việc tháo gỡ các thói quen này nếu chỉ dựa vào mỗi hành động của ý chí. Người ta có thể dễ tán đồng nhu cầu cần phải từ bỏ, có thể rất muốn rời xa khỏi việc dính mắc ẩn sâu bên dưới, song khi tiếng gọi vang lên thì nghe chừng tâm trí dội ngược ngay liền và tiếp tục tiến bước trong nỗi khát khao thít chặt, ôm nắm những ham muốn, khát thèm sẵn có.

Biện pháp không nằm ở cách thế dồn nén; nỗ lực dẫn dắt ham muốn thoát ra với một tâm trí ắp đầy sợ hãi và kinh tởm. Cách tiếp cận này không những chẳng giải quyết được vấn đề mà còn đẩy nó chìm sâu, khuất lấp khỏi bề mặt trông thấy và vẫn phát triển âm thầm. Công cụ phóng thích tâm trí khỏi ham muốn là trạng thái hiểu biết. Sự xả bỏ, buông xuống đích thị không phải là vấn đề tự thuyết phục chính mình để từ bỏ các thứ hãy còn được ấp ủ, hoài nhớ trong lòng, mà là đổi thay viễn tượng về chúng (nhận ra chúng vô thường và không thật) đến độ chúng không còn ràng buộc ta được nữa. Khi hiểu biết bản chất của các ham muốn và thèm khát, khi điều nghiên thật sát gần nó với sự chú tâm nghiêm túc thì các ham muốn và khát thèm sẽ tự thân rơi rụng, biến mất mà không nhất thiết đòi hỏi phải đấu tranh, gạt bỏ.

… Câu chuyện của Lệ Rơi tựa các dự tính, ý định thu hút sự chú ý khác như vụ chụp ảnh khoe thân là câu chuyện của chính chúng ta, bởi vì hoàn cảnh đang chẳng ngừng chung đụng mọi thứ.

Cơn cớ chi chúng ta thù ghét nhau?

(sẽ viết tiếp các phần khác khi tiện dịp)

Nền tảng vững vàng, ổn thỏa

Cái ngày vinh danh vào Chủ nhật tuần thứ ba trong tháng Sáu theo điệu của Tây thường niên này chắc chắn ba tôi không hề biết tới đâu.

Một biểu tượng nông dân thứ thiệt; dù đã rời xa ruộng vườn, làng quê và từng lái tàu dọc ngang sông nước đủ miền đất lạ… Người đàn ông ấy sửa chữa gì cũng xong, biết lắm món nghề xoay sở trong đòi sống hàng ngày với bàn tay khéo léo, vai lưng dẻo dai và đôi chân bước qua bao dặm đường sỏi đá, lầy lội nắng mưa mà vẫn cứ điềm nhiên, vững chãi như thường.

Giống như mọi thứ trên thế giới, ta hiếm khi để ý đến chúng. Những cái sân phơi, đất nền và đặc biệt ván gỗ ghép chân tường xác định ranh giới với các gian khác nhau trong ngôi nhà bằng bậu cửa đa phần luôn đầy sẹo lồi lõm và trông thô nhám, cũ khô. Trừ khi đánh rơi vật gì hay muốn quét dọn sạch sẽ, hiếm khi mình liếc nhìn hoặc bận tâm chút xíu ngó xuống. Ở vị trí thấp tè làm nhiệm vụ nâng đỡ, tiếp chạm với các hàng cột vươn cao, thẳng thớm đầy bắt mắt; cái chức trách giản đơn vậy chỉ đóng giữ vai trò chịu đựng đặng tránh cho tường, mui rè, mái ngói khỏi va đập, văng sầm ra khỏi biên đáy bên dưới. Theo truyền thống lịch sử cổ xưa, chúng được đẽo cắt từ cốt lõi chắc đặc của cái cây không thể bị mối mọt; và đích thị mãi là phần thẩm mỹ của ngôi nhà. Chúng hiếm hoi gây phấn khích, cứ lặng lẽ như thế cùng tháng năm.

Quay về thời xưa, khi đất đai sạch sẽ và được nâng niu, chăm bẵm thì chúng ta thảy đều tự hào về bản thân lẫn thế giới; ngay cả những điều giản dị nhất cũng được vinh danh. Đó không phải là tiền bạc; là vẻ đẹp và sự trường thọ. Cho hầu hết, chúng ta cũng học hỏi về các giá trị căn bản, niềm tin và viễn tượng cuộc đời. Vững vàng và bền chắc, chúng là nền tảng của tính cách chúng ta.

Dẫu nhanh nhẩu phát ngôn về các niềm tin cơ bản về tình yêu, sự công chính và gia đình thì các hành động không luôn khít khớp với câu chữ. Chúng ta nhìn hướng khác hoặc cố vô hình chẳng nhìn thấy khi mọi thứ không thoải mái. Dĩ nhiên, chúng ta tất thảy cần thiết các nền tảng, nếu không làm sao từ tính cách chuyển thành hành động. Niềm tin có thể ban sơ, song khả năng chúng ta đã không sống trong một thế giới rối rắm, nhiễu nhương. Các suy tư thiếu hành động chẳng khác chi bóng mờ múa may trên tường nhà.

Nhiều việc cơ chừng khó khăn song chuyện ấy giữ nền tảng của mình vững bền. Dành đôi chút thời gian để học hỏi nhìn sâu vào nền tảng của bản thân. Xét từ căn cơ, nền tảng thì chúng ta tương tự nhau hết; và sứ mệnh của chúng ta là thành nhân vật sống phục vụ cho những người khác.

… Nhiều nghi thức thuở ấu thơ giúp chúng ta phát triển các giá trị và tính cách bản thân. Mỗi cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên, tình cờ với thế giới dạy cho ta không chỉ những cảnh vật diệu kỳ mà cả cách thức mình nên khắng khít với nó. Các vai trò mẫu mực khởi sự từ bố mẹ mình; nhờ tranh đua họ mà mình thành người hôm nay. Ba mẹ dạy chúng ta sai đúng, và cách đối xử với nhau thủy chung, tình nghĩa. Các cô gái nhìn vào mẹ, các chàng trai trông theo bố để học cách làm người. Những hình ảnh đầu tiên có thể gắn liền với việc họ là ai, về sau có thể họ không phải là ai; song gì gì, chúng ta luôn nhìn thấy bản thân mình trong những phản ánh của họ. Với đa số, các giá trị và bài học rút ra từ hồi con trẻ là quặng vỉa thương phẩm tốt lành, đúng đắn.

Mỗi người cha là anh hùng với con cái họ; ngay khi không ở cùng, sự hiện diện của người ấy luôn được cảm thấy trong ngôi nhà mỗi ngày. Trưởng thành, đôi khi chúng ta dằn vặt và đấu tranh với chuyện đúng sai, tốt xấu; trải qua căng thẳng triền miên với ai, cái gì và khi nào. Thường, nếu nìn vào tâm can mình, chúng ta tìm thấy câu trả lời đích thực. Là anh hùng của đàn con nhỏ, với gia đình và bè bạn nên nếu đích thực muốn để lại một món thừa kế thì nơi đúng đắn nhất mình có thể chính là ông bố bà mẹ tốt nhất chúng ta biểu tỏ.

Dịp vinh danh các anh hùng trong đời. Quá khứ, hiện tại hay tương lai, luôn nhớ rằng với bố mẹ mình, chúng ta không phải sẽ là mà chỉ duy luôn là mỗi ta thôi. Cám ơn ba đã giúp cho con sở hữu vỉa quặng thành phẩm tốt lành, đúng đắn; ba đã, đang và sẽ mãi là anh hùng thầm lặng thâm sâu như mảnh đất nền tảng vững vàng, ổn thỏa để con đặt chân xuống dò dẫm, chập chững rồi cất bước đi xa…

Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thủy dã; lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiền phụ mẫu, hiếu chi chung dã.” (Hiếu Kinh).

“Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử?”

Thiệt là mắt làm hại não, vì do cái nhìn xớn xác thiếu tập trung nên tôi liếc thấy tiêu đề bài báo quả dễ gây tò mò.

Và trong phần tranh luận với đại diện VKS, trong phần đối đáp cũng kéo dài chừng 120 phút, bị cáo Nguyễn Đức Kiên lại đặt thêm một câu hỏi khác: Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử không? Minh chứng cho câu hỏi này, ông Kiên nói mình đã tuân thủ pháp luật Việt Nam và thực hiện mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Sở dĩ ông Kiên đặt ra câu hỏi đó bởi vì có hàng ngàn người đang kinh doanh cổ phần, cổ phiếu giống như ông Kiên, họ cũng góp vốn và đầu tư giống như ông Kiên, họ cũng ký hợp đồng ủy thác giống công ty mà ông Kiên đại diện pháp luật nhưng chỉ một mình ông Kiên bị khởi tố vì tội kinh doanh trái phép, trốn thuế và cố ý làm trái quy định của Nhà nước.

Bị cáo Kiên lý luận rằng trong cùng một điều luật, một nền tư pháp nhưng chỉ một mình ông bị phân biệt đối xử, trong khi mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật.

Bị cáo này cũng cho rằng nếu không phải VKS đang phân biệt đối xử với ông thì hàng ngàn cá nhân, doanh nghiệp khác đang đứng trước nguy cơ bị khởi tố, còn các cá nhân đảm nhiệm các chức vụ trong các cơ quan chức năng sẽ phải đứng trước nguy cơ bị cáo buộc về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng bởi đã không ban hành kịp thời các văn bản luật để hướng dẫn các doanh nghiệp.

Không ngó ngàng các vụ án hình sự đã lâu, đặc biệt lại chẳng quan tâm hành tung chi chi của vị đầu bạc này nên hầu như u ơ tình tiết đúng sai, phải tội. Điều duy nhất tôi biết chắc dù chưa nghe đài, đọc hoăc đoán về bản kết luận vụ án là kẻ nào trở thành đối tượng bị phân biệt đối xử tất sẽ gánh chịu hậu quả bất công, và nếu anh ta lại còn la làng phản đối thì càng bị vít đầu gấp đôi oan ức.

Hiện tượng này chẳng quá hiếm thấy trong xã hội. Nhiều nghiên cứu không chỉ nhắm vào khía cạnh sắc tộc mà đề cập cả tình dục như những đối tượng bị bêu riếu và phải lên tiếng khi trải nghiệm cảm giác bị đối xử không mấy thiện chí.

Ví dụ liên quan đến một trong các thực nghiệm; người tham gia đọc tin một người Mỹ Phi châu bị điểm kém trong một bài test. Một số học hỏi rằng không có khả năng nào bị đánh điểm vì nan phân biệt đối xử với người da den cả; một số khác được bảo là có khả năng 50%; và số còn lại thì nghe nói rằng sự phân biệt đối xử là chắc chắn 100%. Một vài người trong từng nhóm  được kể rằng kẻ làm test nói anh ta bị đánh rớt vì sự phân biệt đối xử; một số khác thì được bảo anh ta quy điểm số của mình do các yếu tố khác như mức độ khó của bài test hoặc chất lượng câu trả lời của bản thân.

Người đọc thấy rằng kẻ làm test quy điểm số do bị phân biệt đối xử thảy đều coi anh ta như rơm rác. So sánh với những ai đọc thấy anh ta quy điểm số vì các yếu tố khác, người đọc về sự phân biệt đối xử có xu hướng nói người đàn ông ấy là kẻ gây rối hoặc hạng người hay kêu ca, phàn nàn; họ cũng tỏ ra ít thích anh ta hoặc không hề nghĩ anh ta sẽ là một người bạn tốt.

Phát hiện kế tiếp còn gây ngạc nhiên hơn hẳn. Không thành vấn đề xác suất khách quan rằng người đàn ông ấy đích thực bị phân biệt đối xử. Ngay cả khi hoàn toàn chắc chắn rằng anh ta bị điểm kém vì người chấm thể hiện thái độ phân biệt đối xử chống lại người Mỹ gốc Phi thì mọi người vẫn cứ đánh giá anh ta càng thêm tiêu cực khi anh ta tuyên bố mình bị phân biệt đối xử chứ không im lặng.

Có lẽ, người ta muốn những kẻ khác chịu trách nhiệm hơn là đổ lỗi kết quả của bản thân sang các yếu tố ngoài mình. Song chỉ ra các yếu tố ngoại giới khác hơn là sự phân biệt đối xử (ví dụ, độ khó của test) không làm hạ thấp được mức độ tiêu cực và việc chửi rủa do sự phân biệt đối xử tạo nên.

… Khi một người là đối tượng nhắm tới của sự phân biệt đối xử thì đấy là điều tốt lành và cao quý để tỏ thái độ bảo vệ cho người đó. Tuy nhiên, một nghiên cứu lại chỉ ra rằng có một cái giá đắt cho cả người quan sát khi họ trỏ rằng kẻ khác là đối tượng bị phân biệt đối xử. Lần nữa, người quan sát kẻ khác bị phân biệt đối xử nhìn nhận quá gắt gao, khó chịu nếu họ biết rõ đối tượng bị đối xử bất công và bị phân biệt hơn là khi họ không hay biết gì về điều đó. Họ, cũng nhìn đối tượng bị phân biệt đối xử như những kẻ gây rối và hay ca cẩm, những kẻ đa sự và nhạy cảm quá.

Lúc một người quan sát đang chỉ ra sự phân biệt đối xử, điều ấy không thể nói rằng người quan sát nên chịu trách nhiệm cá nhân cho kết cục xấu tệ. Người quan sát không phải là kẻ trải nghiệm kết  cục xấu tệ. Các tác giả nghiên cứu tin rằng những gì đang thực sự diễn ra là nhiều người muốn tin tưởng hệ thống công bằng, bình ổn. Nếu ai đó đạt được một điểm số tốt hơn hoặc nhận công việc ngon lành thì điều ấy là do họ giành được và xứng đáng hưởng. Một tuyên bố phân biệt đối xử đe dọa niềm tin về một hệ thống chính trực và thế giới công bằng.

Quay lại về vụ ‘bầu Kiên”; những lời phát biểu sau cùng  của bị cáo này trước hội đồng xử án vẫn tỏ rõ khí phách và không hề nhận tội. Tôi còn nghĩ đến tâm cảnh của bạn phóng viên viết mục Sổ tay trên báo Tuổi trẻ đã thượng dẫn. Dường như có một tâm lý ngấm ngầm không hề báo trước ở đây, khi dư luận cơ chừng bức xúc trước sự bó vỉa khủng khiếp của sự phân biệt đối xử rờ rỡ, tựa như đang thể hiện kiểu lối đồng vọng sâu xa thông qua việc chính bản thân trải nghiệm ít nhiều cảm giác bị đối xử bất công và oan trái vậy. Và dĩ nhiên, lực lượng đối lập và có quan điểm trái ngược cũng không hề im hơi lặng tiếng…