Thái độ bảo thủ chính trị duy trì như một dạng điên nhẹ?

Đội ngũ những người quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội ở Việt Nam tỏ ra chê bai trình độ dân trí nước nhà ngày càng đông đảo; nhiều tuyên bố lạ lùng và lắm phát ngôn trên nghị trường gây sốc khủng khiếp đối với công luận, không ít tuổi tên chính trị gia bị gắn với tục danh mang tính dè bỉu lẫn khinh bỉ; vô số hành động xử lý, ra quyết định chẳng hề giống ai, xa lạ quá chừng thế giới văn minh, v.v…

Chủ đề chính trị và bệnh tâm thần có thể được minh họa lịch sử từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, bởi vì nó làm cho tinh thần quốc gia thêm cường tráng, song với nhiều người tham gia thì niềm vui trở thành cơn mê sảng (delirium).

Theo nghiên cứu, chủ nghĩa bảo thủ là một dạng điên khùng (insanity) nhẹ. Một phân tích gộp chọn từ 88 mẫu ở 12 quốc gia với 22.818 đối tượng đã vén lộ “nhiều biến số tâm lý dự báo chủ nghĩa bảo thủ về chính trị”. Các biến gồm: sợ chết, hệ thống bất ổn, giáo điều về sự nhập nhằng, tâm trí nhỏ hẹp, thiếu khoan dung về trạng thái không chắc chắn, nhu cầu cao về tính thứ bậc (bộc lộ nhận thức), cấu trúc, phức hợp thống nhất thấp, lo hãi bị đe dọa và mất mát, và kém tự tin. Nhóm tác giả kết luận khá chua chát rằng “ý thức hệ căn cốt của chủ nghĩa bảo thủ nhấn mạnh việc kháng cự với thay đổi và biện hộ cho sự bất bình đẳng”.

Không những chẳng hay ho gì lắm, người ta đang nói tới ai đó đầy sợ hãi, với cảm quan cái tôi nghèo nàn, và vắng thiếu tinh thần linh hoạt. Khoan dung với mơ hồ, nhập nhằng là điểm tâm lý đặc biệt sáng giá ở người trưởng thành vì thế giới nào chỉ có hai màu đen, trắng. Theo nghiên cứu trên, người bảo thủ sở hữu cơ bản phẩm tính ngược lại: không khoan dung với mơ hồ và không có khả năng giải quyết điều phức tạp.

Các nghiên cứu khác còn khẳng định, khi vắng bóng nỗ lực suy tư đầy cân nhắc thì ý thức hệ bảo thủ càng tăng lên; năng lực nhận thức và chủ nghĩa bảo thủ tương quan nghịch. Nghĩa là, nỗ lực tinh thần sút giảm thì làm tăng các niềm tin bảo thủ; tức các thuộc tính trách nhiệm cá nhân (đối lập việc nhận ra ảnh hưởng của các yếu tố tình huống), chấp nhận thang bậc và khung tham chiếu giữ nguyên trạng có thể được xem là dấu ấn của niềm tin bảo thủ.

Các phát hiện của chúng tôi khẳng định những lối tư duy bảo thủ là căn bản, bình thường và khá tự nhiên, nhóm nghiên cứu khẳng định. Các yếu tố động cơ thúc đẩy là những xác quyết chủ yếu của ý thức hệ, trợ giúp hoặc chỉnh sửa các đáp ứng ban đầu phụ thuộc vao mục tiêu, niềm tin, và giá trị của người ta…

Dù tiếp cận từ các góc độ xã hội học, phương pháp luận, thành phần cấu trúc và triết lý thì bảo thủ chính trị vẫn còn đáng xem xét thấu đáo, chẳng hạn cụ thể về khía cạnh chủ động tạo áp lực xã hội, toàn trị, v.v…

Chối bỏ như một cơ chế phòng vệ

Với người nhiễu tâm (neurotics), chối bỏ (denial) là cơ chế phòng vệ vô thức bảo bọc họ chống lại trải nghiệm đớn đau không chịu đựng nổi. Với kẻ bị loạn tâm (disorderded), những gì chúng ta quen ghi nhận như các cơ chế phòng vệ vô thức (chối bỏ chẳng hạn) thường là các sách lược có tính toán nhằm khôn khéo tạo ấn tượng, diễn trò, và lảnh tránh trách nhiệm.

Dạng nhiễu tâm dùng nhiều thứ cơ chế nội tâm đặng chống giữ, che chắn trước trải nghiệm nỗi đau cảm xúc và làm khuây khỏa lo âu. Hầu hết mọi người nghe nói về các ‘cơ chế phòng vệ’ cơ bản này. Đấy là các công cụ *vô thức*, dù quyền năng song tỏ ra không thích đáng hoặc không luôn luôn cực kỳ lành mạnh tựa các cách thức giảm bớt nỗi đau cảm xúc. Các ‘triệu chứng” mà cá nhân kẻ loạn tâm khiến nhà trị liệu chú ý là kết quả lo âu sót lại hoặc nỗi đau cảm xúc vẫn còn đó sau việc dùng chẳng mấy hiệu quả một hoặc nhiều các ‘cơ chế phòng vệ’ đặc thù. Vào những dịp khác, một người dễ nhờ cậy trợ giúp bởi vì ‘các phòng vệ’ dần tăng thêm sự thiếu thích ứng hoặc bắt đầu bẻ gãy, để mặc nỗi đau cảm xúc ẩn bên dưới chúng nổi lên bề mặt.

Các tính cách loạn tâm dấn thân vào một số hành vi quá ‘tự động’ đến độ gợi ý nghĩ thực hiện chúng hoàn toàn vô thức. Thoạt nhìn, các hành vi này giống với các cơ chế phòng vệ và dễ diễn giải thành như thế, nhất là bởi các cá nhân bị ngâm quá mức trong các hệ hình truyền thống. Tuy vậy, xem xét kỹ càng hơn, các hành vi này chính xác ra phải được gọi tên là những sách lược diễn trò, mánh lới gây ấn tượng và chống kháng trách nhiệm.

Lấy ví dụ về một người phụ nữ kết hôn và sống cùng chồng 40 năm nay, và bà vừa đưa ông vào bệnh viện vì trong khi họ làm việc ngoài vườn thì ông ấy chợt nói năng khó khăn rồi trông có vẻ kiệt quệ. Các bác sĩ chẩn đoán chồng bà bị đột quỵ, giờ não đã chết và sẽ không hồi phục được. Dẫu thế, mỗi ngày bà vẫn vào bên cạnh giường ông, nắm tay và trò chuyện. Các điều dưỡng bảo ông không thể nghe thấy song bà vẫn nói với ông hàng ngày. Các bác sĩ bảo ông không hồi phục được song bà thì tự nhủ với bản thân rằng ‘tôi biết ông ấy sẽ qua khỏi, ông ấy là một người đàn ông mạnh mẽ’. Người phụ nữ này đang ở trong một trạng thái tâm lý lạ lùng: trạng thái chối bỏ. Bà rất khó khăn để tin những gì diễn ra. Mới đây thôi, bà còn ở ngoài vườn cùng ông, thích thú bên nhau làm công việc ưa thích. Trước hôm xảy đến sự cố một ngày, họ cùng nhau đến thăm gia đình một người bạn. Ông ấy cơ chừng toát lên nét vẻ thật hạnh phúc và khỏe mạnh. Ông ấy không đau ốm gì lắm khi bà đưa vào bệnh viện. Thế mà, trong chớp mắt thôi, họ đang nói rằng ông sắp chết. Nỗi đớn đau thấm đẫm cảm xúc này bà chưa từng phải chịu đựng. Bà không sẵn sàng chấp nhận việc người đàn ông đầu ấp tay gối suốt 40 năm qua sẽ không về cùng nhà với bà nữa. Bà không chuẩn bị tinh thần cho việc sống cuộc đời vắng bóng hình ông. Vì vậy, tâm trí vô thức cung cấp một phòng vệ hiệu quả (hầu như tạm thời) để bà chống lại nỗi đớn đau. Rồi dần mai một, khi bà đủ khả năng chấp nhận thực tế phiền não, sự chối bỏ của bà bị bẻ gãy, lúc ấy, nỗi đau bấy lâu tích chứa phun trào và bà sẽ xót buốt cõi lòng ghê gớm.

Một ví dụ khác về cái gọi là ‘chối bỏ’. Nam (tên giả), quen bắt nạt trên lớp, đi dạo với một trong các bạn học không nghi ngờ gì rồi tiến hành giật tung cặp sách bạn đang cầm, đá tung tóe sách vở khắp nơi dưới sàn nhà. Đúng lúc đó, giám thị hành lang bắt gặp nên nghiêm nghị hét lên “Nam!”. Cậu bé mở rộng vòng tay, làm cử chỉ ngạc nhiên và biểu tỏ vẻ mặt ngây thơ vô tội “Cô gọi gì em ạ?”. Liệu Nam đang sống một tâm trạng khác? Trạng thái thay thế này có thể giúp cậu chịu đựng nỗi đau cảm xúc? Nam không thực sự hiểu chuyện gì vừa diễn ra hay cậu ta nghĩ rằng mình nào có làm điều gì đâu cơ chứ? Cậu ta quá héo hon vì tội lỗi và/ hoặc tủi hổ vì điều mình gây ra đến độ cậu đơn giản không thể tin nổi mình thực sự đã làm chuyện khủng khiếp? Khả năng câu trả lời là Không. Nam chắc chắn quan tâm nhiều tới chuyện cậu ta có thể bị trừng phạt, kèm với lời thông báo tới bố mẹ, và thậm chí có thể bị đình chỉ học tập. Nên cậu chuẩn bị thử một chiến lược dài hơi. Cậu sẽ làm hết sức để vị nữ giám thị tin rằng không thực sự thấy những gì đôi mắt mình đã ghi nhận. Sảnh đường đông nghẹt. Có thể là ai đó khác chăng. Có thể hành động ấy chỉ là ‘tình cờ’. Nếu cậu ta thể hiện vừa đủ vẻ ngạc nhiên, ngây thơ, và sự phẫn nộ chính đáng thì biết đâu chừng, đúng là biết đâu đấy, cô giáo sẽ bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Cậu bé hy vọng, không giống mình, cô giáo có thể là dạng nhiễu tâm (chẳng hạn, mang lương tâm thái quá và cảm giác cực đoan về tội lỗi hoặc tủi hổ) để nghĩ rằng cô giáo có thể đánh giá nhầm tình huống, có thể cô giáo thậm chí tự mắng mỏ bản thân vì vội vàng quy kết hoặc dễ góp phần gây nên một nỗi đau cảm xúc. Sách lược này từng được việc rồi, có thể nó sẽ lại tiếp tục được việc lần nữa.

Ví dụ vừa nêu dựa vào một trường hợp có thật. Đáng lưu ý, khi ‘Nam’ nhận ra cậu ta không thể diễn trò với giám thị hành lang, cậu bất đắc dĩ ngừng việc chối bỏ và nói rằng, ‘Vâng, có thể em làm thế thật song cô giáo giám thị đã tin chắc vậy vì cô ấy luôn nói xấu về em’. Nam đang dùng một số chiêu thức khác để diễn tiếp trò sắp đặt, dẫn dắt và tạo mánh khóe gây ấn tượng; điều quan trọng nhất cần nhận ra là không giống với những gì xảy ra trong trường hợp chối bỏ tâm lý đích thực như một cơ chế phòng vệ, vụ của Nam không cho thấy nỗi thống khổ được biểu lộ và thể hiện buồn thương khi sự chối bỏ kết thúc. Lý do đơn giản là tự bản thân Nam chưa bao giờ ‘chối bỏ’ (trạng thái tâm lý). Cậu ta chỉ đang nói dối thôi, và dần cậu ta ngừng việc nói dối vì chuyện đó chẳng dẫn cậu ta đến đâu cả. Cậu ta chuyển từ việc nói dối sang xin lỗi và hành hạ nạn nhân cũng là các chiêu trò dẫn dắt và mánh khóe gây ấn tượng hiệu quả.

Không thể nhấn mạnh đủ rằng ‘chối bỏ’ của người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh thì không giống với sự ‘chối bỏ’ của cậu bé bắt nạt bạn học tên Nam. Một là cơ chế phòng vệ, một thuộc chiêu trò dẫn dắt và lảng tránh trách nhiệm; một là cơ chế vô thức bảo bọc người ta khỏi nỗi đau khổ cảm xúc sâu thẳm, một là lời nói dối được tính toán và cân nhắc rõ ràng.

Tuy thế, thực tế nhiều vị dùng cùng thuật ngữ để mô tả các hành vi rất khác hẳn nhau này. Ít nhiều cảm thấy khó chịu khi ngay cả người hành nghề chăm sóc sức khỏe còn xem là chỉ có mỗi một dạng chối bỏ và họ thường giả định rằng hễ cứ nhắc tới chối bỏ thì bó nó vào mớ cơ chế phòng vệ phức tạp. Nghe họ nói về thân chủ cứ ngoan cố ‘phòng vệ’ thuộc hành vi có vấn đề này khác khi thực chất, họ đang mô tả thân chủ còn tiếp tục ‘nói dối và trình diễn’ như phần của trò chơi bày đặt gây ấn tượng và lảng tránh trách nhiệm. Lần nữa, ‘chối bỏ’ e là một trong các thuật ngữ sức khỏe tâm thần dễ bị dùng sai.

Thấy gì qua huyền thoại ‘nhà tâm lý có thể đọc vị tâm trí kẻ khác’?

Chưa cần tốt nghiệp rồi vừa không ngừng bổ túc kiến thức lẫn kỹ năng vừa mò mẫm hành nghề, chỉ mới gặp mặt hoặc nghe nói mình học Tâm lý thôi là có vẻ dễ khiến thiên hạ hay bạn bè quen biết nghĩ ta thừa sức xem tướng, coi bói, rành chuyện này chuyện nọ hay giỏi đến mức đọc vị được tâm trí họ.

Các bình phẩm suýt xoa thường kiểu ‘Nè, nói chuyện cẩn thận nghe, vì nhà tâm lý học ở đây có thể đoán biết những gì bọn mình suy nghĩ đó’. Khởi sự ấy có thể là tấm lòng thán phục chân thành hoặc lời đùa tếu vô tư; rằng nhiều người nghĩ làm một nhà tâm lý học thì sở hữu quyền năng ghê gớm: dễ dàng khám phá những gì kẻ khác che giấu. Tin tắp lự (đáng ngờ vực vô cùng) là người này có khả năng mở cái đầu ta và nhìn thấy những gì nằm trong đó.

Điều ấy không chỉ là niềm tin sai lầm duy nhất từng nghe về công việc tâm lý học. Còn nhiều nhiều vô kể. Chúng gây phấn khích đến độ đủ khiến ta một ngày muốn nhặt nhạnh rồi đặt cái tên: những trò mèo tâm lý; dù lắm lúc dùng giải lao, buồn cười vui vẻ phết song đôi khi trở thành vấn đề quan ngại thực sự.

Chẳng hạn, nghĩ tới cách một thân chủ cảm nhận khi anh ta tiếp cận tham vấn tâm lý và nghĩ về nhà trị liệu như thể vị này đã biết tuốt các suy tư của mình đến độ không cần thiết dành nhiều thời gian kể lể, mô tả cảm xúc bản thân: ‘Quái lạ, nhà tâm lý này cứ hỏi đi rồi hỏi lại mãi. Tại sao? Chẳng phải ông này biết mọi thứ chỉ đơn giản nhìn vào mình thôi mà? Có lẽ tay nghề ông này không giỏi lắm, hoặc có thể đây chưa là dạng trị liệu xịn, hoặc tự thân cái môn tâm lý học e có vấn đề chăng! Đúng thế, tâm lý học đích thực đồ đểu giả; chỉ tổ làm tốn thời gian và tiền bạc!’

Nghiêm túc mà nói, rất quan trọng việc cần có ý tưởng thực tế những gì người ta có thể và không thể mong đợi khi làm việc với một nhà tâm lý, và đôi khi có thể bảo vệ họ khỏi cảm giác bị lừa dối. Vì vậy, phải nói to lên và rõ ràng (nếu ai đó cảm thấy quá thẳng thừng thì mong được cảm thông) rằng nếu nghĩ một nhà tâm lý biết mỗi một suy nghĩ của mình chỉ nhờ quan sát thì ta đã sai.

Làm thế nào những trò mèo tâm lý này lại có thể khởi lên rồi lớn nhanh dễ dàng đến thế? Chúng không thể sinh ra từ sự rỗng không. Hãy thử gắng tưởng tượng xem chúng từ đâu tới. Khi trò mèo về ‘nhà tâm lý thấu thị’, khả năng cao giữ vai trò lý giải ở đây là khái niệm “vô thức” (unconscious). Nhờ Freud nghiên cứu, hầu hết người làm tâm lý biết ý nghĩa của từ đó; bất chấp vài khác biệt giữa các trường phái phân tâm học, tất cả đều tán đồng rằng nó là điều trong tâm trí mà chúng ta không nhận ra được. Freud làm việc dựa trên khái niệm này; ông nghĩ một bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm lý nhờ dần nhận biết nền tảng vô thức trong các cảm xúc của bản thân. Vậy nên ông đặt để điều ấy như là mục tiêu trị liệu và gắng giúp các bệnh nhân của mình nhìn thấy những gì nằm bên dưới bề mặt đời sống ý thức. Đấy là điều nhà phân tâm học vẫn còn làm việc cho tới ngày nay.

Chẳng nghi ngờ chuyện một người không làm tâm lý phát hiện bao điều huyền bí ở đây. Được giúp đỡ để nhìn ra điều nằm sẵn trong tâm trí mình dù nó vốn chẳng hề rành mạch gì thì nghe ra như sự bói toán vậy. Và người ta dễ nghĩ những ai có thể giải mã cảm xúc của họ giỏi đến thế khác chi thầy phù thủy có phép lạ. Kỳ thực, không bí hiểm gì cho cam; nó đơn giản là vấn đề của kỹ năng.

Các kiểu dạng công việc thảy đều cần những kỹ năng chuyên biệt. Một thợ may áo quần giỏi việc ướm đo, chọn vải, cắt và ráp vá.  Anh ta sẽ cho điều ấy là tự nhiên và không hề nghĩ rằng việc may vá là chuyện gì to tát lắm, dù với không ít cánh đàn ông ấy thật bất khả vì họ không hề có kỹ năng.

Nhà tâm lý cũng cần các kỹ năng chuyên biệt. Công việc là trợ giúp và để trợ giúp, nhà tâm lý phải giỏi giang trong việc lắng nghe và thấu hiểu mọi người tốt hơn… thường dân. Do vậy sự thật kém lãng mạn hẳn đi: các nhà tâm lý học đơn giản tập trung chú ý vào những gì nghe được và nhìn thấy, và biết các lý thuyết có thể lý giải mọi chuyện liên quan. Lý thuyết và trải nghiệm giúp nhà tâm lý học lưu ý tới các chi tiết nhỏ nhặt mà hầu hết mọi người không hay nhìn ra và thậm chí còn thấy chúng thú vị, và nhà tâm lý giúp người ta nghĩ về những ý nghĩa bị giấu kín.

Song khoan, đợi chút nhé: nếu dừng tại đây, người ta chắc đúng khi tin rằng một người được đào tạo bài bản có thể đọc vị tâm trí họ. Người ta dễ phát biểu dạng: “Ồ, chỉ là do học hành chăm chỉ và nghiên cứu thấu đáo thôi ư? Nên kẻ không nhiều trải nghiệm thật khó, còn chuyên gia được đào tạo ngọn ngành thông tỏ có thể thực sự đọc được suy tư của mình chứ nhỉ.’

Anh ta không thể đâu. Điều giảng dạy cốt lõi trong đào tạo tâm lý là không có nhà tâm lý được đào tạo hoàn hảo nhất cũng như lý thuyết tốt nhất trên thế giới thì không thể chứng thực sai sót. Sự thật, kết quả tốt nhất một nhà tâm lý giỏi có thể thành tựu là chọn lựa nhiều đầu mối rồi tìm ra một cách lý giải cung cấp vài ý nghĩa liên quan nhất.  Song sẽ luôn luôn có điều gì đó không khít khớp, phù hợp.

Con người ta vốn phức tạp, phức tạp hơn lý thuyết nhiều, và mình phải luôn sẵn sàng thay đổi các giả thuyết của bản thân. Thử làm một bước tiến xa hơn: mình không thể đưa ra bất kỳ diễn giải nào có sẵn vì chẳng những con người phức tạp mà họ còn luôn tiến hóa, thay đổi rồi phát triển theo nhiều cách thức mới mẻ nữa. Ví von khi nghĩ về điều này là đừng ‘phải lòng’ bất kỳ chẩn đoán nào, ngay các chẩn đoán sát hợp và làm ta say mê ghê gớm. Một nhà tâm lý giỏi nhất thiết phải luôn giữ một không gian tự do trong lòng để anh ta có thể khai sinh các giả thuyết mới.

Lý do khác để mọi người có những niềm tin sai lầm về nhà tâm lý: các nguồn không luôn luôn đáng tin cậy. Nghĩ về cách các nhà tâm lý được mô tả trên phim ảnh và truyền hình nhiều tập thì tất rõ. Các nhà tâm lý là sự nhào trộn từ sự kiện và hư cấu; ngay cả khi lấy cảm hứng bởi công việc của một nhà tâm lý thực thì nhiều điều trong đó vẫn thừa yếu tố bịa đặt, dựng chuyện. Và mình thường quên mất một bộ phim là một bộ phim, và một bộ phim có thể không bao giờ mô tả thực tế đúng như nó là, chưa nói nhiều lúc gây phản cảm và buồn chán…

Hy vọng những câu từ trên thuyết phục ai còn mơ hồ, hoài nghi  và mong sẽ ngày càng ít đi người sẽ cảm thấy bị lột trần trước một nhà tâm lý.

Lời cuối. Chỉ nghĩ thôi sẽ buồn cười ngay chuyện có thể đoán biết trúng phóc tất cả các câu trả lời trong chương trình truyền hình Ai Là Triệu Phú nhỉ mà không phải đầu tư học hỏi, tích lũy kiến thức lẫn cóc cần ai trợ giúp téo tẹo gì cả.

Hạnh phúc lang thang như mây và tâm trí lêu bêu vô nghĩa lý…

Ca từ thoáng nhớ ra khá phù hợp với tin đưa về bảng xếp loại các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới thường niên năm 2015. Các tiêu chí đánh giá là thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ, quan hệ gia đình (có ai đó trông mong), tự do lựa chọn, tình trạng tham nhũng, và sự rộng lượng.

Nhóm tác giả của báo cáo cho biết, khát vọng chung được nuôi dưỡng bởi các thành viên; không chỉ tiền bạc mà còn nằm ở sự công bằng, chân thành, tin tưởng và sức khỏe tốt. Rằng người ta hạnh phúc hơn khi họ có thể dựa cậy vào gia đình, bạn bè và các thiết chế xã hội; cần khuyến khích các chính quyền khắp thế giới lắng nghe và đáp ứng bằng các chính sách ưu tiên cho trạng thái thân- tâm an lạc (well-being), đồng thời người ta cũng thấy quốc gia nào có tiềm lực xã hội và thiết chế vững vàng thì không chỉ trợ giúp tốt hơn trạng thái thân- tâm an lạc mà còn chóng thích nghi trước các khủng hoảng kinh tế- xã hội.

Lần nữa, rõ ràng chỉ số dính dáng hạnh phúc (happiness) thuộc phong cách Mỹ; theo tinh thần đã được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, việc theo đuổi và mưu cầu hạnh phúc là động lực phát triển niền kinh tế, cả phía khách hàng tiêu thụ lẫn nhà đầu tư. Và thực tế, nhiều người chúng ta nghĩ theo đuổi hạnh phúc là ý nghĩa sống ở đời dẫu cho nghiên cứu ngờ vực sự khôn ngoan đó.

Ý nghĩa thường được hiểu là điều gì vượt trên bản thân và hạnh phúc cá nhân của chúng ta; nó cột buộc vào điều rộng lớn so với chính mình: gia đình, quốc gia, nhân loại, sức khỏe hành tinh, kiến thức, trường trận hiểu biết con người, các tiêu chí nghệ thuật. Hạnh phúc là thuộc cảm giác tốt trong khi ý nghĩa khởi đi từ việc cống hiến cho tha nhân hoặc xã hội trong cách thức to lớn hơn. Nói chung, ý nghĩa ngang bằng với đức hạnh, trong khi hạnh phúc là những thứ người ta đạt được cái họ muốn có; nó là câu chuyện cho hơn là nhận.

Tuy vậy, tất cả mọi người muốn được sống thật hạnh phúc. Nghịch lý xoay quanh hạnh phúc, như xoay quanh Tỉnh thức, là nó quá dễ đánh lừa. Tâm lý gia Viktor Frankl, tác giả Logotherapy, từng viết rằng ‘hạnh phúc không thể theo đuổi được; nó phải sinh ra’; ông cũng ghi rõ là ‘mỗi một theo đuổi hạnh phúc sẽ gây cản trở hạnh phúc’.

Vấn đề được phát hiện là mọi người ‘đặt tầm quan trọng nhất’ để được hạnh phúc thì ít thưởng thức ‘các cảm xúc tích cực’ 50%, có 35% kém ‘thỏa mãn’ và khốn khổ bởi 75% do trầm cảm và 17% thiếu hụt ‘thân – tâm an lạc về mặt tâm lý’, so với người đặt các ưu tiên vượt trên hạnh phúc bản thân.

Nghiên cứu tìm thấy các nguy cơ sức khỏe khi thiếu vắng ý nghĩa ở người hạnh phúc thể hiện ở đáp ứng hệ thống miễn dịch tương tự những người đang phải vật lộn với các khắc nghiệt kéo dài như đau buồn vì mất mát người thân; kiểu như cơ thể họ chuẩn bị đối kháng với sự nhiễm khuẩn vậy. Một hệ thống miễn dịch trong trạng thái này do kéo dài giai đoạn dễ làm tăng lên nguy cơ mắc bệnh ung thư và tim mạch, vì cơ thể sẽ ở trong trạng thái không ngừng bị viêm nhiễm.

Thôi thúc ngắn hạn để đạt hạnh phúc sẽ tạo ngay kết quả: các đối tượng cố ý nhắm tới thông qua một bài tập thể dục tức thời để đạt giá trị vui sướng trong môi trường thực nghiệm, rồi lập tức hướng về một sự kiện tích cực như xem một bộ phim hài thường thưởng thức sự kiện tích cực kém hơn những ai hướng tới các giá trị khác.

Ý nghĩa, về phần nó, tương quan với khả năng cải tiến sự phục hồi là khả năng chịu va đập vượt qua các tai ương nghịch cảnh. Nghiên cứu gần đây chỉ ra tương quan bản ngã và sự siêu việt tâm linh xét từ khả năng phục hồi.

Sự khác biệt giữa việc theo đuổi hạnh phúc và theo đuổi ý nghĩa mang lại nhiều cuộc tranh luận triết học nảy lửa, góp phần định hình trạng thái văn minh hóa của Tây phương trải qua 2000 năm, về bản chất của đời sống tốt lành.

Nguồn gốc của khổ đau là do khát khao thèm muốn. Lưu ý, với Đức Phật, hạnh phúc không phải là vấn đề; thực tế, hạnh phúc (sukha) đối lập với khổ đau (dukkha), với tiền tố ‘su’ và ‘du’ mang nghĩa ‘tốt’ và ‘xấu’. Khao khát hạnh phúc là vấn đề, lý do tại sao hạnh phúc hầu như bất khả theo đuổi thành công, ngoại trừ khoảnh khắc phù du ngắn ngủi khi, như kết quả của hành hạ dằn vặt do đói khát, một nhu cầu được thỏa mãn tạm thời.

Một cách tuyệt đối, chúng ta bước vào con đường hướng tới Tỉnh Thức, cho chúng ta một ý nghĩa siêu việt mang tính chất sử thi anh hùng ca và dẫn đến sự hoàn hảo trong tính cách con người như vị tha đầy lý tưởng, từ bi, thanh thản và khôn ngoan.

Ngoài ra, trong khi suy nghĩ thông thường hay nhìn nhận đức hạnh và việc theo đuổi hạnh phúc cá nhân như cách thế đối lập thì quy luật nhân quả đối xử ngang bằng trạng thái thân- tâm an lạc cá nhân với sự diễn bày đức hạnh và siêu việt bản ngã. Bài học từ các nghiên cứu tâm lý không chỉ là hạnh phúc chẳng thể kiếm tìm, truy cầu một cách hiệu quả mà còn rằng việc sinh ra từ chuyện mưu cầu những gì ý nghĩa nhất vượt trên cái tôi. Đuổi theo ham muốn bản thân, bị dẫn dắt bởi tham lam, thù hận và vô minh là nghiệp xấu.

Qua kết quả nghiên cứu của đại học Harvard dựa trên ứng dụng Track Your Happiness với 2500 người trên toàn cầu nhằm hỏi những gì người ta nghĩ và làm vào khoảng rảnh dừng ngẫu nhiên, cho thấy tâm trí lêu bêu hầu như là trạng thái mặc định quen thuộc, chiếm khoảng 46,9% thời gian; không đáng ngạc nhiên chi khi người vui nhất là người làm tình, song nghiên cứu này nhấn mạnh một trong các lý do tại sao sex giá trị thế vì rằng tâm trí chúng ta đỡ lang thang hẳn khi làm chuyện ấy.

Một tâm trí lêu bêu là một tâm trí bất hạnh; hạnh phúc của một người ít phụ thuộc vào hoạt động mà nằm nhiều hơn ở mức độ tỉnh thức xuyên suốt hoạt động. Nói theo ý tác giả nghiên cứu Dan Gilbert, tâm trí lêu bêu dự báo vượt trội về hạnh phúc của người ta; tâm trí dễ dàng rời bỏ hiện tại biết bao và nơi chúng đến là chỉ báo khá tốt về hạnh phúc so với các hoạt động ta dấn mình vào.

Bất luận hão huyền và viễn vông ra sao, hạnh phúc cứ khởi sinh. Và vì thế, gợi ý của tâm lý gia Viktor Frankl thật đáng ghi nhớ trên hành trình kiếm tìm ý nghĩa đời sống: tạo ra một công việc hoặc tiến hành một hành động; trải nghiệm chuyện gì đó hoặc tình cờ gặp gỡ người khác; chọn lựa thái độ trước nỗi khổ niềm đau (suffering) không thể né tránh.

Làm sao trợ giúp bạn mình đang mắc Trầm cảm?

Thật khó khăn khi phải trông chừng ai đó mình quan tâm đang trải qua giai đoạn nặng nề vì mắc trầm cảm, thậm chí nảy sinh dự tính tự sát, trong khi mình có thể là người duy nhất được tin tưởng.

Có thể nảy sinh cảm giác dính dáng sâu xa như thể mình là người còn lại bên đời, hoặc mình phải có trách nhiệm với bạn. Dẫu khá hay ho là bạn còn tiếp tục muốn trò chuyện, song mình lại càng cảm thấy bất lực với cơn trầm cảm đặc hiệu và ước muốn chết đi.

Dễ căng thẳng ghê gớm để giữ vai trò chăm nom cho ai đó đang trải qua các trục trặc về thể xác hoặc tinh thần. Nhằm ngăn ngừa sự kiệt sức hoặc tâm trạng phẫn uất, mình nên tìm thấy các cơ hội nghỉ dưỡng, tạo niềm vui vẻ và giao lưu cùng nhiều người đỡ đần phần nào cho mình.

Trầm cảm có thể là dạng rối loạn gây tác động không chỉ cho người đang kinh qua mà cả những ai chăm sóc họ nữa. Thường khi người yêu, bạn thân hoặc thành viên gia đình chống chọi với trầm cảm thì dễ khiến chúng ta cảm thấy trách nhiệm cần giúp họ bất kỳ cách nào khả dĩ. Một trong những điều mình có thể quên là tự chăm sóc chính bản thân mình; tuy thế, quan trọng là nhớ mình không thể chăm sóc tốt cho ai nếu trước hết mình chẳng biết lo cho mình đã… Tốt lành, thực tế, tự chăm sóc là thành phần sinh động của việc trợ giúp người khác; theo cách xa lạ, mình dễ tạo nên nhiều cố chấp, gay go nếu mình thuộc dạng khá ích kỷ.

Dưới đây là vài nguyên tắc cơ bản trong việc trợ giúp:

Chia sẻ điều lành mạnh

Nghĩa là đừng dừng các việc mình đang tiến hành cần thiết vốn đảm bảo vui vẻ và sức khỏe. Duy trì sinh hoạt thường ngày, ăn uống ngủ nghỉ, tập thể dục và tuân thủ thời khóa biểu. Một cách giúp bạn là rủ đi cùng mình lúc thích hợp, với vài vận động ngoài trời. Điều gì tốt cho mình có thể cũng tốt cho bạn: ngồi ăn cùng nhau, tập thể hình một chỗ, làm điều bản thân thích thú.

Biết giới hạn của chính mình

Giúp đỡ và hàn gắn là hai chuyện khác nhau lắm. Biết rằng mình không thể hàn gắn cô ấy; hiểu là cô ấy, và chỉ cô ấy thôi, đích thị mới kiển soát thành tựu liên quan đến tình huống cô ấy đang trải qua. Mình không thể ngăn cô ấy không cảm thấy trầm uất, cũng không thể dừng việc cô ấy tự gây hại cho bản thân. Nếu cô ấy dần ước muốn chết hoặc làm thân thể đau đớn thì mình có thể giúp bằng cách tiếp xúc với những ai cần nắm biết chuyện này: bố mẹ, thầy cô giáo, cảnh sát, hoặc người có thể tìm ra phương thức điều trị cô ấy cần; điều đó cũng hàm ý, biết khi nào vượt quá khả năng của mình.

Trợ giúp và nâng đỡ là điều tốt nhất chúng ta có thể làm. Thường mình dễ khởi sinh cảm giác tội lỗi và muốn bản thân chịu trách nhiệm cho các hành động của người khác. Cẩn thận đừng để bị rơi vào cái bẫy của những niềm tin phi lý.

San bớt gánh nặng

Bất cứ ai ở vị trí đang trợ giúp một người bạn cần đặt để thật rõ ràng các giới hạn với bạn bè (và thậm chí với bản thân) về những gì mình có thể và không thể làm… Thường hữu ích cho người mắc trầm cảm khi mình tìm ra các nguồn lực cần thiết khác: các nhóm trợ giúp, nhà trị liệu tâm lý, bác sĩ tâm thần, tu sĩ, nói chuyện với gia đình bạn và bằng hữu về việc chia sẻ gánh nặng. Người mắc trầm cảm cần nhiều hơn một hoặc hai người có thể cung cấp. Đó không phải là sự thất bại trong chăm sóc về phần mình, chỉ là tình huống đòi hỏi thế.

Nhớ rằng khi chăm sóc người khác thì tạo nên sự thư giãn, chậm rãi, biết mình không làm được gì, và đừng cho phép tội lỗi dẫn dắt trong điều mình làm vì bạn; bởi tội lỗi dễ gây kiệt sức để rồi mình chẳng còn thể giúp ai được, ngay cả bản thân.

Cuối cùng, tiếp tục là bạn tốt: cho bạn thấy hiệu lực của bản thân, thấu cảm và nâng đỡ, lắng nghe, khuyến kích tham gia tích cực và tiến bộ trong trị liệu, và không ngừng động viên họ dấn thân vào các hoạt động. Sẽ chẳng hữu ích gì để cố gắng nói với bạn về các cảm giác của cô ấy hoặc bảo cô ấy ‘bợ đỡ’ hay ‘khắc phục’ các triệu chứng trầm cảm. Cảm giác tốt hơn khi mắc trầm cảm không hề đơn giản vậy; trầm cảm chẳng phải là điều đơn giản là ‘dừng ngay’ hay ‘vượt qua’ được liền…

Với sự trợ giúp từ giới chuyên môn và mối quan tâm, chăm sóc từ những ai nâng đỡ giống như mình, người mắc trầm cảm có thể vượt qua nỗi niềm khốn khổ, đớn đau để rồi khôi phục lại đời sống trước đây.

Cô ấy yêu người có những ý nghĩ phản xã hội

Trước hết, hãy thử mở đầu bằng việc nghe lời thoại từ nhân vật The Joker trong bộ phim Kỵ sĩ Bóng Đêm (The Dark Knight, 2008):

Mày biết tại sao tao dùng dao không? Dùng súng thì nhanh quá. Mày không kịp nhấm nháp các nỗi niềm nhỏ nhặt được. Mày hiểu chứ, trong những khoảnh khắc cuối cùng, bọn chúng sẽ cho mày thấy đích thị chúng là người ra sao. Nên theo cách nào đó, tao thấu biết đám bạn mày hơn mày rất nhiều. Mày muốn biết những đứa nào trong số đó là thằng hèn hay không?

Có thời điểm nào đó ở đời, mình dễ cảm thấy thân thiện thực sự với nhiều người và lưu giữ tất cả nét tính cách của họ trong tâm trí theo cách thức được cấu trúc và tổ chức đủ để rồi ra áp dụng phân tích mỗi một thứ về mấy người ấy. Mình đo lường các mối quan hệ xã hội dựa trên giá trị mình có thể nhận lấy, và các nguồn lực mình phải trao đưa đặng quyết định xem liệu mình nên đáng dành thời gian cùng công sức cho các mối quan hệ ấy. Mình đối xử với người như các thứ đồ và công cụ bỏ đi vì mục đích che chắn an toàn cho các ước muốn lẫn mục tiêu, thông qua những lời nói dối toàn bộ và thủ đoạn hoàn hảo.

Sự quyến rũ giả tạo

Trước khi khởi động trò chuyện với một người, mình đã quyết định chính xác hơn nửa cổ mẫu nhân cách của vị này. Từ việc phối màu trong phục sức cho tới các phụ kiện trang trí đi kèm thì tất thảy đã đóng vai trò cực quan trọng để phân tích rồi.

Bởi vì hầu hết mọi người chẳng hiểu giá trị của mình nếu không đặt để ấn tượng cho họ biết mình là ai thông qua cách ta ăn mặc. Vậy nên, tủ quần áo có thể kiểm soát việc gây ấn tượng với vô vàn cơ hội xảy đến… Đó là cách quyến rũ giả tạo vì suy tư khởi đi từ ý tưởng rằng một tương tác bắt đầu bởi vấn đề bắt mắt lọt tai.

Ngôn ngữ cơ thể

Lưng thẳng, vai mở rộng thoải mái và bàn tay xuôi theo thân mình e hẳn là dấu chỉ mạnh mẽ về một người điềm tĩnh; trạng thái này phản ánh mức độ cortisol thấp và cảm giác thoải mái với xung quanh mà đến lượt nó, minh họa khả năng chiến lược hóa bất chấp áp lực khủng khiếp do các nguồn lực ngoại giới. Hơn thế, ngôn ngữ cơ thể quyền lực mang tính báo hiệu thông thường rằng quyền lực sinh ra từ dòng dõi của con người riêng có này.

Trong các loài giả nhân, con đực alpha sẽ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn các con đực khác trong nhóm. Mỗi lần một con đực alpha mới hiện diện, con đực alpha mới từng là beta của nhóm giờ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn so với phong thái trước đây. Điều này hàm ý, bất kỳ ai đều có thể biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể dễ dàng và nhanh chóng nhờ thay đổi đơn giản suy tư cũng như tư thế cơ thể ngay lập tức.

Thói cầu kỳ và quy ước mặc nhận

Khi chúng ta bắt tay, mình tiếp xúc mắt thẳng thắn để xem những người khác có muốn khởi sự quan hệ. Nếu anh ta đủ năng lực duy trì tiếp xúc mà không chớp mắt thì dễ mô tả là người quá tự tin vì anh ta buộc phải đánh giá để chống kháng với cơ xương và giọng rất mạnh mẽ của đối tác.

Chỉ tầm 5-10 phút trò chuyện, với lượng từ vựng cho tới cách phát âm, mình có thể kể rất hiều về cách tri nhận thế giới. Cơ chừng cực kỳ quyền lực ở số đàn ông sử dụng phạm vi từ vựng rộng vì anh ta đọc nhiều và thông minh; họ sẽ dùng nhiều từ nghe chừng xa lạ hoặc khó nắm biết đối với quảng đại quần chúng. Cùng lúc, họ sẽ thể hiện thông minh về mặt xã hội để cho mình quyền lực và giá trị qua một buổi trao đổi ngắn ngủi; điều này sẽ móc chặt các cảm xúc tích cực về cuộc đối thoại và làm người ta thêm ước ao đầu tư vào mối quan hệ.

Chắc bạn từng nghe nhiều lần chuyện thắc mắc tại sao phụ nữ yêu mấy gã xấu xa… Các hành vi phản xã hội như thiếu thấu cảm, vắng lòng xót thương, quyến rũ giả tạo, và mang chất mánh khóe dẫn dắt thì dễ tìm thấy trong con người đàn ông mà phụ nữ yêu.

Tiến hóa

Nếu tìm hiểu về tâm lý học tiến hóa, nhiều trong số các hành vi tích cực được xem là hấp dẫn thực sự giới nữ có thể dõi theo về chiến lược chọn lựa tính dục bên trong loài chúng ta. Tiến hóa sẽ phục vụ cho nghiên cứu hơn nữa nét tính cách duy trì sống còn trong quá khứ khiến một số đàn ông tích lũy được các nguồn tốt đảm bảo cơ hội cho sự bảo bọc con cái họ. Các nét tính cách này tiếp tục tỏ lộ ở thời hiện đại và dễ tìm thấy nơi nhiều đàn ông quyền lực, nhất là các CEOs cao cấp và trùm Mafia.

Mánh khóe dẫn dắt

Đa phần nghĩ về sự mánh khóe như thể là điều gì khả năng nhìn thấy ở những ai cố kiếm lợi lạc từ chúng ta. Tiếc thay, hầu như mình bị dẫn dắt bởi người quá thông minh đến độ chúng ta tin rằng dự tính và hành động của họ thật chân thành và đứng đắn. Tình thế gay go ở chỗ, người này thông minh thừa khả năng thuyết phục, dụ dỗ chúng ta để làm cho họ thêm nhiều quyền lực hơn lên.

Thiếu sự thấu cảm

Lần nữa, thiếu sự thấu cảm không nhất thiết nghĩa là kẻ mánh khóe sẽ không thể hiện mối quan tâm tới cảnh ngộ của bạn. Thực tế, nếu mình đem lại nhiều lợi lạc phục vụ cho sự truy cầu của kẻ phản xã hội này, anh ta sẽ có khả năng biểu đạt sự thấu cảm với bạn một cách giả tạo nhằm chiếm được lòng tin; nhờ sự thay đổi thế, bạn sẽ cởi mở với các ý kiến rồi dần dễ dàng rung cảm với những mời mọc, mệnh lệnh của anh ta. Hầu như bạn sẽ còn chẳng đủ khả năng để kể ra những kết nối thiếu vắng cảm xúc của anh ta.

Cực kỳ quyến rũ

Nếu từng gặp một gã quyến rũ thôi rồi và mồm mép khỏi nói trong thói cầu kỳ lẫn quy ước mặc nhận của anh ta thì khả năng anh ta sẽ là một kẻ có vấn đề; các nét tính cách độc đáo đến nỗi họ thật xuất chúng và bật sáng về mặt trí năng xã hội.

Chẳng hạn, nếu anh ta có thể duy trì đối thoại rất tốt với các nhóm lớn, giữ tiếp xúc mắt với nhiều khu vực khác nhau trong đám đông, thoải mái với mọi người, nói bằng thứ ngôn ngữ hoa lá cành dù không cóc cần tuân thủ quy tắc ngữ pháp song vẫn đảm bảo sáng rõ để hiểu thì đấy là một vài dấu hiệu đáng dè dặt. Kỳ cùng, hầu hết mấy kẻ ấy vô cùng thành đạt trong bậc thang thăng tiến lãnh đạo công ty hoặc kết thúc trong nhà tù, vì không kiểm soát nổi các hành vi nguy cơ của bản thân.

Họ không bao giờ nói về chính mình

Một trong những nét tính cách tồi tệ chúng ta tin tưởng làm kẻ khác nghe theo là nói năng và thuyết phục. Thực tế, đấy đích thị cách tồi tệ để thuyết phục hoặc khiến ai đó tin tưởng. Hay nhất là cho phép người khác bộc lộ ra ngoài các ý kiến, quan điểm và cảm xúc dạt dào sẻ chia. Càng nhiều câu chuyện đậm màu cảm xúc được chia sẻ, cô ấy càng thêm phần gắn bó với sự hiện diện của anh ta. Ban thưởng tinh tế như gật đầu nhẹ hay sờ chạm nhằm củng cố các hành vi này đến mức tạo nên vòng xoáy trôn ốc đi lên của việc đầu tư thêm cảm xúc. Tuy nhiên, khi họ cất lời, nói chung nghĩa là sự chiếm đoạt ngắn gọn, sắc bén, chính xác và gây chú ý ghê gớm.

Sau rốt, dù không phải cốt thể hiện chẩn đoán hoặc phân tích chính thống về các hành vi thái nhân cách (sociopath), dường như hầu hết di truyền của mình hóa trang nhất quán bộ ba nét tính cách đen tối này. Thực sự đối xử với hầu khắp con người ta như dạng thức thực nghiệm xã hội thì tự thân nó đã tố cáo dấu chỉ của hành vi mang tính thái nhân cách rồi, dẫu khá là thành thật rằng mối quan hệ của chúng ta sẽ luôn hưởng lợi lại qua, xét từ quan điểm logic và rất hữu lý.

Thiền tập như một hệ thống

Cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với việc tập thiền (meditation) chắc chắn đem lại nhiều lợi lạc hơn hẳn so với các kiểu tiến hành ít quy củ, thiếu tổ chức chặt chẽ.

Thử hình dung một danh sách ngắn để lý giải tại sao.

Một hệ thống thiền tập (phát triển) thì…

  • 1. Có khả năng lặp lại.
  • 2. Được cấu trúc/ xác định rất rõ ràng.
  • 3. Học viên và người hướng dẫn, giảng dạy có thể so sánh tiến bộ và kết quả.
  • 4. Các thuật ngữ và khái niệm dùng nhất quán, đủ để giải thích, thấu hiểu và so sánh tiến bộ/ kết quả.
  • 5. Tính độc lập của vị thầy/ sư phụ; cho dẫu bậc thầy có mất đi sau đó thì hệ thống vẫn vận hành được. Nói khác, nó ít phụ thuộc vào ‘con người’ mà nghiêng về sự vận dụng của hệ thống.
  • 6. Tự thân hệ thống có thể được nhìn nhận như vị thầy (tựa Đức Phật tôn kính Pháp là vị thầy của Ngài vậy).
  • 7. Một hệ thống có thể được giảng dạy và phân xếp thật dễ dàng; chí ít xử lý ổn hơn so với việc kế thừa đặc thù từ nhân cách của vị thầy.
  • 8. Một hệ thống cần có yếu tố khoa học: giống như một thục nghiệm ai đó có thể thử lại hết sức thành công.
  • 9. Một hệ thống lôi cuốn người học: con đường được sắp đặt rõ ràng, nhiều học viên khóa trước có thể trợ giúp và xác lập con đường. Tiến bộ tạo nên từng bước và có thể so sánh với người khác.
  • 10. Các vị thầy của hệ thống thế có khả năng đánh giá tốt tiến bộ của mỗi học viên dựa trên kinh nghiệm của họ với cùng bộ hướng dẫn tương tự cho những người trước… Điều này làm giáo viên giỏi hơn và hệ thống càng thêm tinh tế.
  • 11. Hệ thống tốt lên, càng tường tận tỉ mỉ và vị hướng dẫn càng dễ dự liệu, đoán biết cũng như đánh giá tiến bộ của người học.

Cần lưu ý, điều diễn giải trên không hề biện hộ cho bất kỳ hệ thống thiền tập Phật giáo riêng biệt nào. Xem các kinh có thể nhìn ra cách (các) hệ thống được đặt để suốt thời Đức Phật. Và ngay cả một phương pháp luận nào đó cần thiết cho phép các biến thể dựa vào tính cách của hành giả thì chuyện ấy cũng có thể được tiếp cận một cách hệ thống.

Dĩ nhiên, khi dạng hệ thống ấy dần chỉ còn được ghi nhận qua giấy tờ và chết héo (không có sự truyền thừa, tiếp nối) thì thật khó khăn để phục hồi nó đúng như những ‘câu chữ’ vốn dùng ghi lại. Và người ta có lý do biết ơn một số hệ thống thiền tập xác thực trong vài thập niên trở lại đây như phương pháp Goenka, Mahasi, v.v…

Năng lực cải tiến của các hệ thống thiền tập này sẽ trở nên sành sỏi với các hướng dẫn (sau khi lão luyện về chúng) và nhờ cập nhật dựa trên trải nghiệm của người học các hệ thống này, và mối quan hệ của chúng với các lời chỉ dạy rõ ràng Đức Phật tất càng thêm ý nghĩa cho những ai theo đuổi…

‘Cái tôi’: sự lừa dối trên tiến trình nhận thức

Rằm tháng Giêng rồi, nhân Ngày Thơ quốc gia, lượn lờ tình cờ mà đọc được đôi câu treo trong khuôn viên Văn Miếu- Quốc Tử Giám của một cậu trai 8X khiếm thị: “Ngoài trời còn có trời cao, trong tôi biết có tôi nào tôi hơn” (Nguyễn Việt Anh, 1982, Hà Nội).

Ai thích Toán hoặc quan tâm thống kê chắc biết luật Benford. Phần phấn khích trong câu chuyện nhỏ này là cách thức nó sát gần cũng như giải pháp nêu ra lại dính kết tới ý tưởng về ‘cái tôi’ (self) mà theo đạo Phật thì chẳng khác chi trò ảo thuật lừa mị: được tạo ra như phó sản của ‘tiến trình xử lý ký hiệu tinh thần’. Đây có vẻ giải thích luật Benford thấu tỏ nhất. Theo tiến sĩ Steven Smith, hơn 70 năm qua luật Benford đã đạt đỉnh điểm của sự sùng bái; nó mạnh mẽ tuyên bố chứng thực một số bí mật hoặc thuộc tính khá bất thường của vũ trụ.

So sánh điều ấy với cuộc đấu tranh triền miên của con người nhằm định vị ‘cái tôi bên trong hoặc ở ngoài bản thân mình, trong khi con người không ngừng nhìn/ xử lý sáu giác quan. Rõ ràng, phải có một cái tôi, self, ego, một ta phỏng ạ? Tôi có thể thấy nó. Song nó đến từ đâu rứa? Và nó là cái chi chi? Câu trả lời của Phật đối với ‘vấn đề’ mà ngài tóm tắt thành ‘avijja‘ hoặc ‘sự ngu dốt/ thiếu khôn ngoan/ vô minh’, một ảo tưởng, liệu tương tự với trả lời chúng ta có thể tìm thấy với bài toán ‘bí hiểm’ này (tức thuộc vấn đề tinh thần/ logic)?

Lần nữa, theo tác giả Steven Smith, đừng phí thời gian đặng cố thấu hiểu các ý tưởng ấy; chúng hoàn toàn đi theo vết sai lạc hẳn rồi. Không có ‘thuộc tính vũ trụ’ nào và hiện tượng này chẳng liên quan gì với các ‘đơn vị’ (units) cả. Chung cuộc, chúng ta sẽ nhận ra rằng luật Benford trông giống với một cuộc biểu diễn ảo thuật thật ngoạn mục hon là như một thuộc tính bị giấu kín của vũ trụ. Nói gọn, mẫu hình logarithm của việc dẫn dắt các con số đến từ chiêu trò thể hiện của dữ liệu (data), và không có liên quan với các mẫu hình trong các con số được xem xét…Rằng việc này làm thay đổi theo một mẫu hình dựa vào các khả năng của số 10, ví dụ thế, là phản logarithm. Không hề nhận ra rằng bộ não mình đã bí mật biểu diễn dữ liệu, mình quy mẫu hình logarithm này cho một số dấu hiệu ẩn kín nào đó của các con số độc đáo.

Từ quan điểm Phật giáo hoặc thiền định thấu tỏ, điều gì đó tương tự cũng xảy đến với tâm trí. Việc xử lý ký hiệu hoặc trải nghiệm nhận thức của tâm trí tạo nên tri giác, ý thức về cái tôi, là ‘kết quả’ của tiến trình (phó sản hoang đường) đã không hề được tìm thấy trong nội tại tiến trình cũng như là ‘yếu tính’ rốt ráo. Do vậy, ý thức, như đức Phật ghi nhận, đúng là trò lừa của ảo thuật gia:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm Thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, Thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong Thức được?

Với cái nhìn này, đạt được Niết Bàn (Nirvana) sẽ mang nghĩa kết thúc rốt ráo công việc nhà của người ta. Giải quyết phương trình luân hồi đòi hỏi nhiều việc phải làm (cần đọc bài viết của tiến sĩ Smith hoặc đơn giản hành thiền vài năm), mà việc thức nhận đoạn kết sẽ là một thứ ngắn gọn và sâu xa, và sẽ không nằm trong lĩnh vực của sáu giác quan. Như trường hợp giải quyết luật Benford, nó hàm ý một số hình thức bước ra khỏi rồi xem xét lại vấn đề từ quan điểm trung lập, chắc chắn người ta không quên việc tính đến tiến trình nhận thức riêng tư hơn là rơi vào các diễn giải khác nhau mà tâm trí thường hay nảy nở, tăng nhanh đưa thêm…

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Cùng nhau chung đụng phận này

Kêu gọi ‘đừng thương người’ không những bất nhẫn mà còn đích thị thể hiện thái độ đáp ứng thiếu trách nhiệm cũng như ít nhiều xiển dương cho lựa chọn vô cảm: chối bỏ nhu cầu yêu thương của chính mình và của những người xung quanh. Cần thể hiện đúng đắn và thấm lòng từ bi đối với người ăn xin, vì ‘ăn mày là ai; ăn mày là ta… đói cơm rách áo hóa ra ăn mày”.

Tùy hoàn cảnh sống và trải nghiệm cá nhân, đa phần chúng ta ái ngại, thường né tránh một số đối tượng nào đó chí ít vì bản thân cảm thấy tuyệt vọng hoặc chẳng biết phải làm gì mới phải. Trong tâm trạng chân thật, đều khá dễ nảy sinh cảm giác không thoải mái lắm khi đối diện, nhìn thấy và/ hoặc ứng xử với người ăn xin.

Gọi ai đó là ‘ăn xin’ để trỏ người xin tiền hoặc thức ăn nhằm đảm bảo nhu cầu sống còn. Trong các thành phố lớn, ở nơi công cộng, người ăn xin thường sống vạ vật đầu đường xó chợ, góc phố, trước cửa nhà đóng chặt về đêm.

Thực tế, dù biết họ thật đáng xót thương, song chúng ta lại không biết cách tốt nhất để thể hiện lòng từ bi sâu xa trước cảnh ngộ của đồng loại. Chúng ta nên đối xử như nào đối với người ăn xin và những ai trải qua đời sống lang thang, không chốn nương thân?

Dưới đây là vài ba chỉ dẫn cơ bản mong được lưu tâm.

1. Chào hỏi

Tuy khó thừa nhận song sự thật là hầu hết chúng ta thậm chí không nhìn người ăn xin như một con người. Chúng ta đã bị điều kiện hóa về thái độ thiếu tôn trọng và chẳng thèm quan tâm tới người ăn xin tình cờ bắt gặp đến độ mà các chất hóa sinh trong não bộ chúng ta không hề đáp ứng với họ như một con người đích thực.

Đây đó, bạo lực hướng tới người ăn xin và kẻ vô gia cư tiếp tục âm thầm gia tăng. Sau khi đã đặt câu hỏi chất vấn bản thân với thái độ khiêm cung một cách nghiêm trang thì thử tiếp xúc mắt đơn giản rồi mỉm cười với một người đang vạ vật trên đường. Nhờ nỗ lực tiến hành cử chỉ thân thiện như thế, chúng ta sẽ nhận ra rằng lý do để lòng mình nảy sinh cảm giác khó chịu lúc bắt gặp người ăn xin và kẻ vô gia cư là vì họ nhắc nhở chúng ta về những đặc quyền và lắm thứ lợi lạc mình đang được thụ hưởng. Mình không phải ngủ ngoài đường, không phải ngửa tay xin tiền ai đó để mua được bữa ăn ấm bụng.

Vấn đề là đặc ân mình được thụ hưởng không quan trọng hơn nhân tính ở người ăn xin. Nhìn vào mắt họ, gật đầu chào, mỉm cười ý nhị, chúc một ngày may mắn và làm bất kỳ điều chi đối với một đồng loại.

2. Trao tặng (nếu mình có thể)

Người ta đi ăn xin vì có lý do. Bất luận họ đã hành xử ra sao trước đây, hiện tại họ không đáp ứng nổi các nhu cầu sống căn bản như ăn, mặc, chỗ ngủ…

Trong khi truyền thông đưa tin về một số câu chuyện giả danh, lợi dụng lòng tốt để trục lợi cá nhân, thậm chí hình thành cả ‘công nghệ ăn mày’ thì đấy chỉ là mảng xám không đại diện cho đa số người đang chịu đựng bệnh tật, đói rét ở ngoài kia, trên đường phố. Đừng để một thiểu số kẻ dối trá lừa bịp ngăn chặn chúng ta trao tặng biểu hiện thương yêu cho rất nhiều người đang rất cần trợ giúp hàng ngày.

Nhiều người ngần ngại cho tiền vì sợ người ăn xin sẽ dùng vào việc ăn chơi, hút chích, bài bạc,… Nỗi sợ ấy là thái quá vì theo một nghiên cứu công bố tại San Francisco (Hoa Kỳ) vào tháng 3.2013, 94% người được hỏi cho biết họ dùng số tiền xin được cho việc mua thức ăn; chưa tới một nửa số người được hỏi tiêu vào ma túy hoặc rượu bia. Khi trao tiền hoặc thức ăn trực tiếp cho những người này, chúng ta đang trao quyền cho họ để đưa ra lựa chọn, và mình phải tin tưởng rằng tự họ đưa ra được lựa chọn tốt nhất trong hoàn cảnh sống khốn cùng như thế.

Có rất nhiều nhu yếu phẩm và dịch vụ khác mà người ăn xin và kẻ vô gia cư cần đến, dù các tổ chức và cơ quan chức năng đã trợ giúp không ít. Nếu mình vẫn không muốn cho tiền thì thử hỏi trực tiếp họ cần gì để xem mình có thể đáp ứng được không…

3. Dấn thân hoạt động từ thiện

Vậy là mình đã vượt qua não trạng hạ thấp nhân phẩm con người, và cũng đem lại cho một số người cảm giác được an ủi và no ấm trong ngắn hạn. Vậy làm sao dấn bước sâu xa hơn nữa?

Làm từ thiện. Tham gia các tổ chức ở ngay địa phương đang sinh sống để ngăn chặn và làm tiêu trừ hiện tượng ăn xin là cách thể hiện lớn lao cả cho cộng đồng nói chung cũng như với bản thân người ăn xin. Hỏi các tổ chức khi nào và điều họ cần; vận dụng tài nghệ xoay sở và kỹ năng riêng có của bản thân để trợ giúp các tổ chức này. Với từng vị trí và công việc, hãy tham gia giáo dục cộng đồng về các nguyên nhân dẫn đến ăn xin cũng như không ngừng nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để làm trong sạch và lành mạnh hóa môi trường xã hội.

… Đọc loat bài cùng chủ đề lòng lại tự nhủ lòng: tay nâng bát cơm, nhớ công của bao người sẻ chia, giúp đỡ không ngừng để cho mình cơ hội sống qua cơn khốn khó mỗi ngày. Và vì muốn thành đạo nghiệp nên mới thọ nhận thức ăn này.