Nghiện yêu

Theo công trình đăng trên American Journal of Drug and Alcohol Abuse, nhóm điều tra viên tiến hành xem xét, so sánh các chi tiết lâm sàng, tâm lý và sinh học của tình yêu, niềm đam mê, trò đánh bạc và việc phụ thuộc chất; kết quả cho thấy, hầu như không thể phân biệt nghiện yêu (love addiction) khỏi các loại nghiện khác.

Nghiện yêu– hoặc yêu bệnh lý (pathological love)– được mô tả như sự chú ý và coi sóc mải miết, triền miên và cơ chừng chẳng thể điều chỉnh nổi đối với người bạn tình (romantic partner).

Mối lưu tâm chăm bẵm này thường gây hao tổn tới nhiều họat động hoặc trách nhiệm khác, có hoặc không được đền đáp trở lại về mặt cảm xúc, là nguyên nhân của nỗi niềm đớn đau, khốn khổ vô cùng lớn lao.

Nghiện yêu chưa được nghiên cứu nhiều, thậm chí người ta còn vinh danh nó trong vài phạm vi xã hội và phương tiện truyền thông nhất định (hoặc các mô thức chơi đàn guitar biểu diễn khắc kỷ của các băng hình âm nhạc), dù nghiện yêu không phải là cái gì đáng chào đón, vốn nhạt nhòa và ít gây tiếng vang.

Tuy nghiện yêu– khác với nghiện tình dục (sexual addiction) hay yêu hoang tưởng (delusional love)– không hề có các tiêu chí lâm sàng riêng nhất thì nghiên cứu nêu trên thông qua báo cáo về các đặc trưng của hiện tượng, đã góp phần giúp chúng ta hiểu biết tốt hơn các kiểu thuộc hành vi và lạm dụng chất gây nghiện.

Đèn sáng lên rồi song em không muốn về nhà/ Tâm trí em chẳng còn thuộc về em nữa/ Tâm hồn nôn nao, thân xác rẩy run/ Chực khát khao thêm một nụ hôn khác mong chờ…

Với ca từ bài hát khiêu gợi như thế, Robert Palmer có vẻ đã tinh tường từ lâu điều mà giới nghiên cứu cho đến mãi năm ngoái mới dám tuyên bố: tình yêu có thể là một sự nghiện ngập.

Nghiện yêu chiết xuất nỗi khoan khoái vô biên trong sự hiện diện của đối tượng tạo phấn khích, tựa như trạng thái say ma túy làm rời rã đê mê. Cảm xúc và khí chất âm tính, chả thiết để tâm tới những hoạt động từng một thời thích thú, và giấc ngủ chập nhiễu do nỗi chia xa người tình, thật giống với cảm giác cai nghiện ma túy.

Những hành vi lẫn ý nghĩ ám ảnh và cưỡng bức, gồm cả sự chú tâm hết mực cùng nhiều suy tư tống nạp liên hồi kỳ trận về đối tác, rồi các hành vi thiếu thích đáng hoặc phá vỡ– đầy dụng ý và bất chấp hậu quả– là vô số dấu hiệu của kiểu nghiện yêu cũng như các loại nghiện thuộc hành vi và lạm dụng chất khác.

… Em không thể ngủ, em không thể ăn/ Em chắc đang thấy mình đằm sâu mê mải/Cổ họng thắt lại, em làm sao thở nổi/ Chực khát khao thêm một nụ hôn khác mong chờ…

Một vài nghiên cứu– cơ bản với động vật nhũ thể phi nhân– khẳng định các vùng và chất dẫn truyền thần kinh ở não bộ có liên quan không chỉ tới chuyện điều đình hệ thống tưởng thưởng gồm các cảm xúc và tưởng thưởng thích đáng, lành mạnh mà còn kiêm cả chuyện lạm dụng hành vi và phụ thuộc chất nữa.

Nhóm nghiên cứu tin rằng, sự rối nhiễu các hệ thống stress và tưởng thưởng– gồm dopamine, chuỗi chất gây nghiện (opioid peptides) và hormone phóng thích corticotrophin có tác dụng đem lại sự cân bằng cho cơ thể– sẽ dẫn đến sự phụ thuộc và dễ gây nghiện cũng như tái nghiện.  Nhiều chất chỉ dấu di truyền (genetic markers) kiểm soát sự phát triển các hệ thống stress và tưởng thưởng bị làm hại, song chưa có cái nào được định dạng.

Em thích nghĩ mình miễn nhiễm với ái tình… Sát hợp sự thật hơn là thổ lộ rằng, em vẫnchưa nhận đủ/ Em biết mình phải đương đầu trực diện: em nghiện yêu...

Yếu tố sinh thần kinh của yêu đương đưa tới cách thức tạo nên tiến trình hẹn hò ở con người thêm hiệu quả. Sự hấp dẫn tính dục và lãng mạn cho phép con người ân cần tán tỉnh và o bế đối tượng đặc thù, lưu trữ giá trị thời gian và năng lượng. Chất quyến rũ rồi kéo theo sau là sự kết đôi một vợ một chồng đã điều phối thuận lợi hơn cho chuyện hẹn hò và làm bố mẹ, do đó, góp phần tích cực cho sự nhân giống loài người.

Tình yêu lãng mạn và quan hệ một vợ một chồng chia sẻ cùng các đường dẫn tưởng thưởng kích họat dopamine như các hoạt động khoái sướng khác, những cảm xúc và hành động cần thiết để sống còn và tiến bộ.

Cơ cấu, biểu đạt và việc duy tri mối gắn bó cặp đôi mang tính xã hội hết sức lành mạnh chủ yếu dựa vào dopamine. Dẫu thế, trong hầu hết trường hợp, chức năng của hệ thống tưởng họat động bình thường, và một quan hệ lãng mạn không bị sa đọa thành nghiện ngập.

…Giá có thể đương đầu thật tốt, bởi em đang nghiện tình yêu…

Cho dẫu thế, những cái tương tự giữa yêu đương và lạm dụng chất vẫn khó chối bỏ được. Yêu là trải nghiệm khoái sướng mãnh liệt tựa khi lạm dụng bạch phiến hoặc các chất ma túy khác, và việc kiếm tìm sự ‘phởn phơ’ của tình yêu thì cũng chẳng ít nguy hại hơn so với khi dùng ma túy.

Người mắc nguy cơ nghiện yêu mang biểu hiện giống nguy cơ mắc các rối loạn dùng ma túy: đau đớn lúc bị cự tuyệt, vất bỏ lòng tự trọng, thiếu kém tự tin, tức giận, xung hấn, cảm nhận trục trặc, nghi ngờ hoặc mất mát, hay các hành vi mang tư tưởng chủ bại (self-defeating).

Tương tự các kẻ nghiện ngập khác, người nghiện yêu sẽ mò tìm cho bằng được quan hệ này ngay sau một quan hệ nọ, sẽ ngăn chia hóa các quan hệ thành các miền vùng khác nhau trong đời anh chị ta, và sẽ chịu đựng cao độ với các hành vi ẩn chứa nguy cơ.

Trong khi không xác định rõ ràng chẩn đoán lâm sàng nghiện yêu, nhiều nhà lâm sàng nhận ra hết sức sâu sắc các dấu hiệu và đặc tính cực kỳ gần gũi giống với các chẩn đoán lạm dụng hành vi và lạm dụng chất.

Tương lai, một sự hiểu biết sáng tỏ, vượt trội hơn hẳn đi kèm các tiêu chí của rối loạn sẽ cho phép các nhà lâm sàng vận dụng đích xác trị liệu nhận thức- hành vi để chăm chữa cho những ai mắc chứng nghiện yêu.

——————————————————————–

*Bạt: Tôi viết bài này vì tình cờ phát hiện thấy liệu đăng tải từ lâu liên quan chủ đề sex lại đang được các trang mạng trong nước tranh nhau sao chép, hồ hởi phát tán tiếp (vừa hỏi Google với từ khóa ‘chuyện ấy người Việt‘, sau 0,15 giây cho ra 6.980.000 kết quả.)

Film “Thiên Nga Đen” miêu tả ‘Rối loạn Nhân cách Ranh giới’: chủ đề sức khỏe tâm thần gây ức chế và phân tán khán giả

Bộ film tuyệt hay Thiên Nga Đen (Black Swan) thì tôi đã xem chùa trên mạng không lâu hồi sau Tết rồi, lu bu tí tớn tận đẩu tận đâu nên rốt cục cho qua luôn, chẳng dành lời nào để giới thiệu về nó cả.

Thi thoảng cũng tình cờ đọc thấy đôi ba bình phẩm rên rỉ là film khó xem, ghê rợn, nặng nề, hoặc thậm chí tác giả nhiệt tình ‘nhặt sạn‘ như đánh giá mang hơi hướng học trò dễ thương dưới đây.

Có thể nhận thấy, sự đưa đẩy dữ dội giữa hiện thực, ảo giác và sự kinh dị đã khiến Thiên nga đen có gì đó thiếu hấp dẫn, làm người xem thấy mệt mỏi và nản lòng. Những cảnh cuối cùng của phim đã đem đến câu trả lời cho toàn bộ băn khoăn của khán giả. Nhưng khi ấy chắc chắn sẽ có người lại băn khoăn liệu điểm đến này có xứng đáng cho một chuyến đi quá dài.

Suy đoán chủ quan, ấn tượng của một bộ phận khán giả nước nhà về bộ film như vậy không thuần túy chỉ thuộc vấn đề sở thích, thẩm mỹ như kiểu thích dạng này chẳng mê nổi loại kia mà sâu xa, e chừng chủ yếu vì cái điệu rối loạn tâm thần được ưu tiên chú tâm phản ánh cực kỳ đậm đặc.

Diễn viên từng trải Natalie Portman- người thủ vai chính Nina- chẳng hổ danh với tấm bằng Tâm lý của đại học lừng danh Harvard, thông qua chỉ dẫn cụ thể cái gọi là rối loạn ám ảnh cưỡng bức (OCD) trong tính cách nhân vật cô hóa thân cũng như thực tiễn tác nghiệp của nghề diễn viên.

[Nói thêm, so sánh với bản gốc cuộc phỏng vấn, bài chuyển ngữ trên Vietnamnet hơi bị phóng túng; tự hỏi, đâu là ‘sự tự kỷ của nhân vật Nina‘, hơn nữa, tôn giáo và tâm linh không đồng nhất với nhau.]

Tính cách nhân vật Nina giả tưởng, song chân dung cuộc đời cô minh họa nhiều đặc trưng của một rối loạn tâm thần nghiêm trọng; đọc sách giáo khoa Tâm bệnh học của sinh viên ngành Tâm lý sẽ dễ dàng nhận ra đó là rối loạn nhân cách ranh giới (BPD), đúng như lời của nhóm viết kịch bản khi thổ lộ tiến trình chuyển Thiên Nga Đen từ sách lên film.

Do chất giằng xé gay gắt, diễn tả ngoạn mục- dưới góc độ nghệ thuật- cơn loạn thần sống động, đi kèm vài ba yếu tố hãi hùng quen thuộc (dù nó đích thị chẳng hề thuộc thể kinh dị) nên Thiên Nga Đen khá kén chọn người xem; ít nhiều cần khuyến cáo với những ai có tâm hồn ‘mong manh dễ vỡ’ hoặc cõi lòng đang muộn phiền, sứt mẻ, …

Chủ đề chính của bộ film liên quan tới độ căng thẳng tinh thần lạ thường và những diễn biến phức tạp của hành vi tự hủy hoại bản thân– vốn hay gặp ở đối tượng kiếm tìm tối đa sự toàn hảo.

Nhân vật chính Nina chịu sự khuynh loát, áp lực từ người mẹ rất muốn cài cắm ý tưởng vào đầu đứa con gái của bà rằng, chỉ thực sự an toàn cho Nina khi cô duy trì quan hệ gần gũi, gắn bó mật thiết với mẹ mình; thế giới bên ngoài đầy hiểm nguy, đe dọa. Nhằm gắng sức đạt tới sự toàn hảo, Nina cắt cứa thân xác và tự bỏ đói, cố súc xả mọi thứ ra ngoài khi ăn uống, cũng như hóa bối rối đâu là cảnh thật đâu là ảo ảnh…

Đối tượng mắc BPD hay sa vào những quan hệ mãnh liệt, bất ổn. Các cá nhân như thế có xu hướng nhìn mọi thứ hoặc trắng hoặc đen, rất dễ chung chiêng giữa yêu thương và ghét bỏ, cảm nhận điều gì đó tốt tất hoặc xấu tuốt. Họ thường thấy trống rỗng bên trong và truy cầu vô cùng gấp gáp các cách thức lấp đầy bản thân, lảng tránh cảm nhận bị ruồng bỏ. Hậu quả, họ quen thói lạm dụng chất (rượu chè, ma túy) và dính líu các rối loạn liên quan tới ăn uống.

Đa phần người mắc BPD học hỏi là thế giới không chút an toàn. Dẫu vậy, họ lại không được dạy các kỹ năng làm thế nào để điều hướng đời mình. Quan hệ cực kỳ xung khắc giữa Nina và bà mẹ trong Thiên Nga Đen thể hiện tương đối đặc trưng kiểu cá nhân đớn đau bởi BPD. Các cá nhân mắc BPD cũng có xu hướng biểu đạt về một hình ảnh cái tôi không chắc chắn. Họ thường xuyên nghĩ mình bị đối xử bất công, tàn nhẫn và gặp khó khăn khi phải gánh chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân.

Một số triệu chứng khác thuộc BPD:

  • Cảm thấy trống rỗng và buồn chán
  • Thường xuyên biểu lộ sự tức giận không chính đáng
  • Bị thôi thúc quá đáng vào chuyện tiền nong, lạm dụng chất và các quan hệ tình dục
  • Không chịu đựng nổi trạng thái cô đơn
  • Nguy cơ ngẫm nghĩ và dự tính tự sát rất cao, đồng thời còn có một số hành vi tự hủy hoại bản thân khác nữa.

Điều trị BPD khá khó khăn, đòi hỏi thời gian lâu dài. Một cách chăm chữa tên là Trị liệu Hành vi Biện chứng (DBT) được nhà tâm lý học, TS. Marsha Linehan khai triển, đã chứng thực độ thành công rất cao trong việc giảm thiểu nhiều hành tự hủy hoại bản thân.

DBT sử dụng một số kỹ thuật trợ giúp các cá nhân tìm ra con đường mới để giải quyết với những cảm xúc quá mạnh mẽ; bao gồm trị liệu nhận thức, thiền định và các kỹ thuật thư giãn.

Đối tượng tham gia trị liệu học hỏi được rằng, dù vẫn còn có các suy nghĩ tự sát hoặc hành hạ bản thân này nọ thì họ không buộc phải hành động theo chúng. Họ biết nếu dùng các kỹ thuật khác thì mình sẽ chống chọi, vượt qua ‘cơn bão lòng’. Trị liệu nhóm thường giữ vai trò hết sức quan trọng trong DBT. Thuốc men có thể hỗ trợ các cá nhân đương đầu hiệu quả với những cảm nhận trầm cảm và sợ hãi. Song điều chính yếu đáng quan tâm phải là sự thay đổi cách thức cá nhân tri nhận và đáp ứng với các sự kiện diễn ra trong đời.

Đây cũng là nội dung mà TS. Marsha Linehan, người vừa mới dũng cảm tâm sự câu chuyện riêng tư trên New York Times về những cuộc đấu tranh bà kiên trì tiến hành để chống lại rối loạn tâm thần khắc nghiệt.

Chia sẻ chân thành về khoảng thời gian nằm viện lòng thòng và những ý nghĩ lẫn dự tính tự sát của bà đem lại hy vọng tràn trề rằng, rối loạn tâm thần không thể ngăn cản người ta muốn sống một cuộc đời tốt lành.

Hiển thị hóa các rối loạn tâm thần

Mạng mẽo ở nhà lại dở chứng, chẳng thể truy cập được cả tuần nay.

Tôi thích cách hiển thị hóa các rối loạn tâm thần của một tay thiết kế người Anh tên Patrick này, và muốn chọn đăng hai cái trong toàn bộ số đó.

Thực lòng, tôi muốn thay chứng Agoraphobia bằng OCD- rối loạn ám ảnh cưỡng bức- hơn, chỉ tiếc là hình của nó trên máy trong cửa hàng internet công cộng chẳng xuất hiện nổi (không hiểu vì sao).

Thêm chút, tác giả các bức vẽ đã muốn xóa hình về rối loạn bản sắc giới (gender identity disorder) với lời giải thích kỹ càng ở đây, sau khi bạn đọc bày tỏ ý kiến.

Ngày Cá Tháng Tư đùa chơi vui vẻ!