Muôn đời kháng cự

Thật bàng hoàng khi biết mình đang đội trên đầu một cái mũ hàng hiệu hai chữ N & Y xoắn vào nhau vừa phải, phía sau nổi bật dòng ‘New York’ điểm danh tên chàng đố lẫn vào đâu được. Lòng thầm mong với tinh thần sám hối hồi hộp dâng đầy khá vô duyên rằng hy vọng, đó đích thị chỉ là chơi đểu hàng nhái thôi.

Với cách phối duy nhất đen trắng, lưỡi trai phía trước gập cong rất điệu, chất liệu vải mềm tay, và kiểu thiết kế chẳng thể đơn giản hơn được nữa. Sự đời thử thách thiệt éo le, khoác thêm thứ gì lên người đã mệt thêm nhọc, giờ còn phải của nợ tiếng tăm e quá đau thương. Lặng thầm hỏi Google, ra y chang hình mẫu độc chiêu khó đụng; giá bán ở xứ Việt mấy trăm ngàn hiện đang thời thượng (thiệt tình khai nhanh là bà chị bán đồ bành cạnh chợ vui tính chẳng quá xa chỗ ở nhìn nhau hỉ hả rồi nhẹ hô ’em ơi chị để ba mươi ngàn’, rồi người hoan hỉ chẳng kém lúc thực nhận 28.000VND vì đó là toàn bộ số bạc lẻ tôi có nơi cái kẹp tiền gọn gàng).

Không nhớ được lần cuối cùng mình đội mũ… Gần lắm thì cũng phải hơn 14 năm rồi, do quãng dài miên man trú thân ngoài Hanoi liên tục, đầu trần cứ lơ ngơ vô tư phơi cùng thời gian quá ngọ. Bao nhiêu lần sóng dập đất bồi hồ Tây da diết, ê chề thủy triều lên xuống sông Hồng ì ạch, mấy độ hồ Văn tại Văn Miêu lừng lẫy ỡm ờ dự định thay nước thì chừng ấy đận mưa to nắng quái cũng kiên định lập trường để mặc tóc tai thổi thiếu định hướng theo cùng gió ngàn bay.

… Phần khó khăn nhât trong thiền minh sát (insight meditation) là nhận ra tâm trí mình luôn luôn chống kháng; bằng không, nó sợ cóc thể tồn tại nổi. Nếu mình nhìn, chống kháng bằng một cái sự trông, một chiều- nhìn, một cảm- giác- nhìn, một cảm- nhận- nhìn; nếu mình nghe, ngửi, nếm, chạm… thảy đều thế hết. Và đặc biệt, tinh tế nhất: nếu mình ‘nghĩ’ thì luôn sẵn đấy một chống kháng ngay lập tức, ở- đây- và- bây- giờ hao tốn năng lượng khôn xiết. Tất cả trong một khoảnh khắc, khoảnh khắc nối khoảnh khắc, mê mệt.

Gì mang nghĩa ‘một sự chống kháng’ đây?

Như này, mình nhìn vào màn hình máy tính hoặc một bài báo. Một sự liên tiếp của nhìn, nhìn, nhìn (các con chữ), nghe nghe nghe (âm thanh bao quanh) và nghĩ nghĩ nghĩ (các tư tưởng, lập luận trong văn bản) được khai triển với một tốc độ sửng sốt và lực lượng hối thúc bất ngờ. Chúng giục giã gì vậy? Chúng giục mình ‘là’ chúng. Những gì ta sở hữu sở hữu ta, những gì ta nắm bắt nắm bắt ta. Giờ nhé, mình có thể mắc lỗi lầm ‘đói khát’ một số cảm xúc hoặc ham muốn dạng ‘Tôi thích văn bản này’ hay thậm chí khủng khiếp ‘Tôi ghét văn bản này’.

Nghe hay ho thật, cơ mà đấy không phải là những gì Đức Phật trỏ khi nhắc tới đói khát trong bối cảnh thế. Những chuỗi suy tư đã ngụ sẵn nhiều nhiều khoảnh khắc cá nhân được kết nối với nhau bởi một nỗi niềm khát khao tham lam vô độ vì đời sống, vì tồn còn, vì tiếp diễn; một nỗi khát thèm hiện hữu, nó không mang nghĩa nối kết các cuộc đời để tái sinh.  Mình không nhất thiết phải nhớ bao nhiêu kiếp dĩ vãng đã qua hoặc nhìn tới tương lai mù khơi đặng thấu hiểu lời Phật dạy.

Không, sửng sốt tột độ khi ta nhìn sát lại nơi mình: rất trực tiếp ngay dưới mũi, trong đôi mắt, vào lỗ tai, giữa vô vàn ý nghĩ. Từng thứ và mỗi một khoảnh khắc. Nó sát gần tới mức mình không thể nhìn thấy nó. Bởi vì diễn tiến, hiện diện quá nhanh, và chẳng hề có con đường thông thường nào để ‘thấy’ và ‘làm chứng trực tiếp’ những gì đang diễn ra dưới cánh mũi này cả. Nữa nhé, để ‘sống’ tâm trí mình cần nhóm hội và ghi nhận rất nhiều nhiều ở cái nơi vốn chỉ là các bong bóng nổ bôm bốp có mặt rồi biến mất. Làm cách nào, mình nghĩ, mình có thể bước đi, nếu quả thật mình đã từng thế rồi…

Giờ, còn nhớ buồn cười chứ, cái mũ lưỡi trai sành điệu N & Y xoắn bện phụ thuộc và khát thèm không ít người muốn tậu. Liệu mình có thể đập bẹp, uốn phẳng và đơn giản gọi chúng là ‘các phiền não tinh thần’ (defilements), hoặc các cảm xúc giời ơi đất hỡi. E chúng ta còn đề cập đến chúng chi tiết rõ ràng, song chắc hẳn cần đặt trong bối cảnh của đạo đức và khai tâm vỡ vạc những gì bấy lâu mù tịt…

Hạnh phúc lang thang như mây và tâm trí lêu bêu vô nghĩa lý…

Ca từ thoáng nhớ ra khá phù hợp với tin đưa về bảng xếp loại các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới thường niên năm 2015. Các tiêu chí đánh giá là thu nhập bình quân đầu người, tuổi thọ, quan hệ gia đình (có ai đó trông mong), tự do lựa chọn, tình trạng tham nhũng, và sự rộng lượng.

Nhóm tác giả của báo cáo cho biết, khát vọng chung được nuôi dưỡng bởi các thành viên; không chỉ tiền bạc mà còn nằm ở sự công bằng, chân thành, tin tưởng và sức khỏe tốt. Rằng người ta hạnh phúc hơn khi họ có thể dựa cậy vào gia đình, bạn bè và các thiết chế xã hội; cần khuyến khích các chính quyền khắp thế giới lắng nghe và đáp ứng bằng các chính sách ưu tiên cho trạng thái thân- tâm an lạc (well-being), đồng thời người ta cũng thấy quốc gia nào có tiềm lực xã hội và thiết chế vững vàng thì không chỉ trợ giúp tốt hơn trạng thái thân- tâm an lạc mà còn chóng thích nghi trước các khủng hoảng kinh tế- xã hội.

Lần nữa, rõ ràng chỉ số dính dáng hạnh phúc (happiness) thuộc phong cách Mỹ; theo tinh thần đã được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, việc theo đuổi và mưu cầu hạnh phúc là động lực phát triển niền kinh tế, cả phía khách hàng tiêu thụ lẫn nhà đầu tư. Và thực tế, nhiều người chúng ta nghĩ theo đuổi hạnh phúc là ý nghĩa sống ở đời dẫu cho nghiên cứu ngờ vực sự khôn ngoan đó.

Ý nghĩa thường được hiểu là điều gì vượt trên bản thân và hạnh phúc cá nhân của chúng ta; nó cột buộc vào điều rộng lớn so với chính mình: gia đình, quốc gia, nhân loại, sức khỏe hành tinh, kiến thức, trường trận hiểu biết con người, các tiêu chí nghệ thuật. Hạnh phúc là thuộc cảm giác tốt trong khi ý nghĩa khởi đi từ việc cống hiến cho tha nhân hoặc xã hội trong cách thức to lớn hơn. Nói chung, ý nghĩa ngang bằng với đức hạnh, trong khi hạnh phúc là những thứ người ta đạt được cái họ muốn có; nó là câu chuyện cho hơn là nhận.

Tuy vậy, tất cả mọi người muốn được sống thật hạnh phúc. Nghịch lý xoay quanh hạnh phúc, như xoay quanh Tỉnh thức, là nó quá dễ đánh lừa. Tâm lý gia Viktor Frankl, tác giả Logotherapy, từng viết rằng ‘hạnh phúc không thể theo đuổi được; nó phải sinh ra’; ông cũng ghi rõ là ‘mỗi một theo đuổi hạnh phúc sẽ gây cản trở hạnh phúc’.

Vấn đề được phát hiện là mọi người ‘đặt tầm quan trọng nhất’ để được hạnh phúc thì ít thưởng thức ‘các cảm xúc tích cực’ 50%, có 35% kém ‘thỏa mãn’ và khốn khổ bởi 75% do trầm cảm và 17% thiếu hụt ‘thân – tâm an lạc về mặt tâm lý’, so với người đặt các ưu tiên vượt trên hạnh phúc bản thân.

Nghiên cứu tìm thấy các nguy cơ sức khỏe khi thiếu vắng ý nghĩa ở người hạnh phúc thể hiện ở đáp ứng hệ thống miễn dịch tương tự những người đang phải vật lộn với các khắc nghiệt kéo dài như đau buồn vì mất mát người thân; kiểu như cơ thể họ chuẩn bị đối kháng với sự nhiễm khuẩn vậy. Một hệ thống miễn dịch trong trạng thái này do kéo dài giai đoạn dễ làm tăng lên nguy cơ mắc bệnh ung thư và tim mạch, vì cơ thể sẽ ở trong trạng thái không ngừng bị viêm nhiễm.

Thôi thúc ngắn hạn để đạt hạnh phúc sẽ tạo ngay kết quả: các đối tượng cố ý nhắm tới thông qua một bài tập thể dục tức thời để đạt giá trị vui sướng trong môi trường thực nghiệm, rồi lập tức hướng về một sự kiện tích cực như xem một bộ phim hài thường thưởng thức sự kiện tích cực kém hơn những ai hướng tới các giá trị khác.

Ý nghĩa, về phần nó, tương quan với khả năng cải tiến sự phục hồi là khả năng chịu va đập vượt qua các tai ương nghịch cảnh. Nghiên cứu gần đây chỉ ra tương quan bản ngã và sự siêu việt tâm linh xét từ khả năng phục hồi.

Sự khác biệt giữa việc theo đuổi hạnh phúc và theo đuổi ý nghĩa mang lại nhiều cuộc tranh luận triết học nảy lửa, góp phần định hình trạng thái văn minh hóa của Tây phương trải qua 2000 năm, về bản chất của đời sống tốt lành.

Nguồn gốc của khổ đau là do khát khao thèm muốn. Lưu ý, với Đức Phật, hạnh phúc không phải là vấn đề; thực tế, hạnh phúc (sukha) đối lập với khổ đau (dukkha), với tiền tố ‘su’ và ‘du’ mang nghĩa ‘tốt’ và ‘xấu’. Khao khát hạnh phúc là vấn đề, lý do tại sao hạnh phúc hầu như bất khả theo đuổi thành công, ngoại trừ khoảnh khắc phù du ngắn ngủi khi, như kết quả của hành hạ dằn vặt do đói khát, một nhu cầu được thỏa mãn tạm thời.

Một cách tuyệt đối, chúng ta bước vào con đường hướng tới Tỉnh Thức, cho chúng ta một ý nghĩa siêu việt mang tính chất sử thi anh hùng ca và dẫn đến sự hoàn hảo trong tính cách con người như vị tha đầy lý tưởng, từ bi, thanh thản và khôn ngoan.

Ngoài ra, trong khi suy nghĩ thông thường hay nhìn nhận đức hạnh và việc theo đuổi hạnh phúc cá nhân như cách thế đối lập thì quy luật nhân quả đối xử ngang bằng trạng thái thân- tâm an lạc cá nhân với sự diễn bày đức hạnh và siêu việt bản ngã. Bài học từ các nghiên cứu tâm lý không chỉ là hạnh phúc chẳng thể kiếm tìm, truy cầu một cách hiệu quả mà còn rằng việc sinh ra từ chuyện mưu cầu những gì ý nghĩa nhất vượt trên cái tôi. Đuổi theo ham muốn bản thân, bị dẫn dắt bởi tham lam, thù hận và vô minh là nghiệp xấu.

Qua kết quả nghiên cứu của đại học Harvard dựa trên ứng dụng Track Your Happiness với 2500 người trên toàn cầu nhằm hỏi những gì người ta nghĩ và làm vào khoảng rảnh dừng ngẫu nhiên, cho thấy tâm trí lêu bêu hầu như là trạng thái mặc định quen thuộc, chiếm khoảng 46,9% thời gian; không đáng ngạc nhiên chi khi người vui nhất là người làm tình, song nghiên cứu này nhấn mạnh một trong các lý do tại sao sex giá trị thế vì rằng tâm trí chúng ta đỡ lang thang hẳn khi làm chuyện ấy.

Một tâm trí lêu bêu là một tâm trí bất hạnh; hạnh phúc của một người ít phụ thuộc vào hoạt động mà nằm nhiều hơn ở mức độ tỉnh thức xuyên suốt hoạt động. Nói theo ý tác giả nghiên cứu Dan Gilbert, tâm trí lêu bêu dự báo vượt trội về hạnh phúc của người ta; tâm trí dễ dàng rời bỏ hiện tại biết bao và nơi chúng đến là chỉ báo khá tốt về hạnh phúc so với các hoạt động ta dấn mình vào.

Bất luận hão huyền và viễn vông ra sao, hạnh phúc cứ khởi sinh. Và vì thế, gợi ý của tâm lý gia Viktor Frankl thật đáng ghi nhớ trên hành trình kiếm tìm ý nghĩa đời sống: tạo ra một công việc hoặc tiến hành một hành động; trải nghiệm chuyện gì đó hoặc tình cờ gặp gỡ người khác; chọn lựa thái độ trước nỗi khổ niềm đau (suffering) không thể né tránh.

Thiền tập như một hệ thống

Cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với việc tập thiền (meditation) chắc chắn đem lại nhiều lợi lạc hơn hẳn so với các kiểu tiến hành ít quy củ, thiếu tổ chức chặt chẽ.

Thử hình dung một danh sách ngắn để lý giải tại sao.

Một hệ thống thiền tập (phát triển) thì…

  • 1. Có khả năng lặp lại.
  • 2. Được cấu trúc/ xác định rất rõ ràng.
  • 3. Học viên và người hướng dẫn, giảng dạy có thể so sánh tiến bộ và kết quả.
  • 4. Các thuật ngữ và khái niệm dùng nhất quán, đủ để giải thích, thấu hiểu và so sánh tiến bộ/ kết quả.
  • 5. Tính độc lập của vị thầy/ sư phụ; cho dẫu bậc thầy có mất đi sau đó thì hệ thống vẫn vận hành được. Nói khác, nó ít phụ thuộc vào ‘con người’ mà nghiêng về sự vận dụng của hệ thống.
  • 6. Tự thân hệ thống có thể được nhìn nhận như vị thầy (tựa Đức Phật tôn kính Pháp là vị thầy của Ngài vậy).
  • 7. Một hệ thống có thể được giảng dạy và phân xếp thật dễ dàng; chí ít xử lý ổn hơn so với việc kế thừa đặc thù từ nhân cách của vị thầy.
  • 8. Một hệ thống cần có yếu tố khoa học: giống như một thục nghiệm ai đó có thể thử lại hết sức thành công.
  • 9. Một hệ thống lôi cuốn người học: con đường được sắp đặt rõ ràng, nhiều học viên khóa trước có thể trợ giúp và xác lập con đường. Tiến bộ tạo nên từng bước và có thể so sánh với người khác.
  • 10. Các vị thầy của hệ thống thế có khả năng đánh giá tốt tiến bộ của mỗi học viên dựa trên kinh nghiệm của họ với cùng bộ hướng dẫn tương tự cho những người trước… Điều này làm giáo viên giỏi hơn và hệ thống càng thêm tinh tế.
  • 11. Hệ thống tốt lên, càng tường tận tỉ mỉ và vị hướng dẫn càng dễ dự liệu, đoán biết cũng như đánh giá tiến bộ của người học.

Cần lưu ý, điều diễn giải trên không hề biện hộ cho bất kỳ hệ thống thiền tập Phật giáo riêng biệt nào. Xem các kinh có thể nhìn ra cách (các) hệ thống được đặt để suốt thời Đức Phật. Và ngay cả một phương pháp luận nào đó cần thiết cho phép các biến thể dựa vào tính cách của hành giả thì chuyện ấy cũng có thể được tiếp cận một cách hệ thống.

Dĩ nhiên, khi dạng hệ thống ấy dần chỉ còn được ghi nhận qua giấy tờ và chết héo (không có sự truyền thừa, tiếp nối) thì thật khó khăn để phục hồi nó đúng như những ‘câu chữ’ vốn dùng ghi lại. Và người ta có lý do biết ơn một số hệ thống thiền tập xác thực trong vài thập niên trở lại đây như phương pháp Goenka, Mahasi, v.v…

Năng lực cải tiến của các hệ thống thiền tập này sẽ trở nên sành sỏi với các hướng dẫn (sau khi lão luyện về chúng) và nhờ cập nhật dựa trên trải nghiệm của người học các hệ thống này, và mối quan hệ của chúng với các lời chỉ dạy rõ ràng Đức Phật tất càng thêm ý nghĩa cho những ai theo đuổi…

‘Cái tôi’: sự lừa dối trên tiến trình nhận thức

Rằm tháng Giêng rồi, nhân Ngày Thơ quốc gia, lượn lờ tình cờ mà đọc được đôi câu treo trong khuôn viên Văn Miếu- Quốc Tử Giám của một cậu trai 8X khiếm thị: “Ngoài trời còn có trời cao, trong tôi biết có tôi nào tôi hơn” (Nguyễn Việt Anh, 1982, Hà Nội).

Ai thích Toán hoặc quan tâm thống kê chắc biết luật Benford. Phần phấn khích trong câu chuyện nhỏ này là cách thức nó sát gần cũng như giải pháp nêu ra lại dính kết tới ý tưởng về ‘cái tôi’ (self) mà theo đạo Phật thì chẳng khác chi trò ảo thuật lừa mị: được tạo ra như phó sản của ‘tiến trình xử lý ký hiệu tinh thần’. Đây có vẻ giải thích luật Benford thấu tỏ nhất. Theo tiến sĩ Steven Smith, hơn 70 năm qua luật Benford đã đạt đỉnh điểm của sự sùng bái; nó mạnh mẽ tuyên bố chứng thực một số bí mật hoặc thuộc tính khá bất thường của vũ trụ.

So sánh điều ấy với cuộc đấu tranh triền miên của con người nhằm định vị ‘cái tôi bên trong hoặc ở ngoài bản thân mình, trong khi con người không ngừng nhìn/ xử lý sáu giác quan. Rõ ràng, phải có một cái tôi, self, ego, một ta phỏng ạ? Tôi có thể thấy nó. Song nó đến từ đâu rứa? Và nó là cái chi chi? Câu trả lời của Phật đối với ‘vấn đề’ mà ngài tóm tắt thành ‘avijja‘ hoặc ‘sự ngu dốt/ thiếu khôn ngoan/ vô minh’, một ảo tưởng, liệu tương tự với trả lời chúng ta có thể tìm thấy với bài toán ‘bí hiểm’ này (tức thuộc vấn đề tinh thần/ logic)?

Lần nữa, theo tác giả Steven Smith, đừng phí thời gian đặng cố thấu hiểu các ý tưởng ấy; chúng hoàn toàn đi theo vết sai lạc hẳn rồi. Không có ‘thuộc tính vũ trụ’ nào và hiện tượng này chẳng liên quan gì với các ‘đơn vị’ (units) cả. Chung cuộc, chúng ta sẽ nhận ra rằng luật Benford trông giống với một cuộc biểu diễn ảo thuật thật ngoạn mục hon là như một thuộc tính bị giấu kín của vũ trụ. Nói gọn, mẫu hình logarithm của việc dẫn dắt các con số đến từ chiêu trò thể hiện của dữ liệu (data), và không có liên quan với các mẫu hình trong các con số được xem xét…Rằng việc này làm thay đổi theo một mẫu hình dựa vào các khả năng của số 10, ví dụ thế, là phản logarithm. Không hề nhận ra rằng bộ não mình đã bí mật biểu diễn dữ liệu, mình quy mẫu hình logarithm này cho một số dấu hiệu ẩn kín nào đó của các con số độc đáo.

Từ quan điểm Phật giáo hoặc thiền định thấu tỏ, điều gì đó tương tự cũng xảy đến với tâm trí. Việc xử lý ký hiệu hoặc trải nghiệm nhận thức của tâm trí tạo nên tri giác, ý thức về cái tôi, là ‘kết quả’ của tiến trình (phó sản hoang đường) đã không hề được tìm thấy trong nội tại tiến trình cũng như là ‘yếu tính’ rốt ráo. Do vậy, ý thức, như đức Phật ghi nhận, đúng là trò lừa của ảo thuật gia:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm Thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, Thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong Thức được?

Với cái nhìn này, đạt được Niết Bàn (Nirvana) sẽ mang nghĩa kết thúc rốt ráo công việc nhà của người ta. Giải quyết phương trình luân hồi đòi hỏi nhiều việc phải làm (cần đọc bài viết của tiến sĩ Smith hoặc đơn giản hành thiền vài năm), mà việc thức nhận đoạn kết sẽ là một thứ ngắn gọn và sâu xa, và sẽ không nằm trong lĩnh vực của sáu giác quan. Như trường hợp giải quyết luật Benford, nó hàm ý một số hình thức bước ra khỏi rồi xem xét lại vấn đề từ quan điểm trung lập, chắc chắn người ta không quên việc tính đến tiến trình nhận thức riêng tư hơn là rơi vào các diễn giải khác nhau mà tâm trí thường hay nảy nở, tăng nhanh đưa thêm…

Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm (2)

Khi thuốc chống trầm cảm lại là nguyên nhân gây trầm cảm thì tỉnh thức (mindfulness) càng nên được dùng như một liệu pháp để làm giảm các triệu chứng liên quan ở môi trường học đường.

Tiếp theo sự khơi mào cơn tức giận hôm nọ, giờ chúng ta thử xem xét thế hệ trẻ ngày nay có thể học hỏi được gì từ rối loạn khá quen thuộc này.

Tôi muốn theo sát chủ đề vừa nêu bởi mới đây, một cậu bạn trẻ làm trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật bất chợt thổ lộ rằng chắc chàng ta cần uống thuốc trầm cảm mất thôi (antidepressant).

Song trước khi bàn đến thuốc, liệu có ai dám quả quyết là tinh thần lạc quan sẽ phá hủy tất cả chúng ta. Dĩ nhiên, trả lời ngắn gọn một cách nghiêm túc: không.

Chẳng phải chờ đến sáng nay để đọc bài trên NYT; suy nghĩ tích cực, như chỉ trích cho thấy, kế thừa lịch sử dài lâu, đặc biệt ở Hoa Kỳ. Tại sao nó dễ khiến chúng ta phải lòng nhanh chóng quá vậy? Đơn giản vì chúng ta quá hạnh phúc (đất nước của những người bán trà đá vỉa hè cũng thừa tiền sắm Iphone 6) nên vì rứa, cả tin và bị lừa chăng? Tất cả các dạng kiểu ‘khoa học’ (trăm hoa đua nở hội thảo và chuyên đề, khóa học nọ kia) cùng tâm lý học đang không ngừng kể câu chuyện chúng ta háo hức muốn biết tường tận: hạnh phúc là điều tốt lành (hic, dính dáng vào khiến tôi cảm thấy bản thân thật tội lỗi).

Đạo Phật đã thành công dưới thương hiệu ‘tâm lý học tích cực’; theo lối nhìn thế thì lại rất thích hợp với những trào lưu phát triển hiện đại trong đạo Chúa như phái tả Phúc Âm (evangelist) chẳng hạn. Về mặt lịch sử, Công giáo (Christianity) thường được nhìn nhận là thuộc tâm lý cực kỳ tiêu cực, dựa trên việc quy rút cá nhân thành con sâu cái kiến bé nhỏ qua cái nhìn của đức Chúa nên nó dễ được hưởng hồng ân quan phòng che chở của đấng Christ, hoặc sát gần hơn, Nhà Thờ; cơ chừng đạo Chúa hiện đại đa phần từ bỏ các cách thức đun sôi sùng sục và ám ảnh bởi tội lỗi trong quá khứ. Song các dịch vụ happy-clappy của những tân Phúc Âm không hề khởi từ truyền thống cổ đại, chẳng xa hơn hậu Thanh giáo (Puritan) Hoa Kỳ.

Cần biết thêm chút, đạo Phật bảo con người ta chịu trách nhiệm với niềm đau nỗi khổ của chính họ. Tại sao lo lắng về các điều kiện xã hội, nghèo đói, hoặc phân biệt đối xử… Điều này trái ngược với sự nhấn mạnh tới lòng từ bi (compassion) trong đạo Phật hiện đại, dù chúng ta không thể phủ nhận rằng các lực lượng mang tính ái kỷ ‘tôi và hạnh phúc của tôi’ hiện đang tồn còn và đầy quyền năng. Đúng ra, đạo Phật đích thực thì gây ấn tượng về sự cân bằng; vì mỗi tích cực có một tiêu cực…

Hễ khi nào chúng ta lý tưởng hóa hạnh phúc, chúng ta giận ghét một con người buồn bã. Vâng, các bản văn thiền định Phật giáo không những hay trình bày về hạnh phúc mà chúng còn biểu tỏ ‘trầm cảm tâm linh’ (một ví dụ so sánh) khởi lên khi lặng ngắm Pháp (dhamma) diệu kỳ mà người ta chưa từng đạt được.

Với những ai cảm thấy lạc lõng và bơ vơ trong biển cả đầy ắp các khuôn mặt cười, có rất nhiều các bản kinh làm mình phiền muộn để mà giải khuây. Và nghệ thuật đủ sức khiến ta chùng xuống và thoát khỏi các cảm xúc hạnh phúc giả tạo ghê gớm; thời buổi internet ngày nay đâu khó tìm thấy các minh họa về một bài hát quá chừng buồn luôn, một truyện ngắn đau thương, hoặc một bộ phim làm ta khóc ngất… Và nếu chưa xứng, luôn có các chương trình phim kinh dị trên TV với bản tin thời sự ‘cướp- giết- hiếp’ hàng ngày.

… Giờ chính thức chạm tới đề tài thuốc men và sự giải trí.

Để cảm thấy tốt hơn, uống một viên thuốc đi nhé.

Đó đích thị là thứ logic ẩn bên dưới việc dùng thuốc men phục vụ cho việc giải trí, tiêu khiển, đỡ đau đầu; và nó cũng là logic sát đúng với cả y khoa hiện đại.

Điểm khác biệt ở chỗ, nếu một người quyết định ý chí để uống thuốc, hoặc hút điếu, hoặc tiêm gì đó. v.v… để bản thân thấy vui vẻ thì rõ là họ biến mình thành tội đồ hư hỏng đáng bị trừng phạt (?!)… Dĩ nhiên, không phải không có khác biệt nào giữa y khoa và việc dùng thuốc cho mục đích giải trí; chắc chắn có, và chắc chắn ở đó hiện diện vai trò của các chuyên gia sức khỏe. Vấn đề là các điểm khác biệt ấy thuộc phổ dài rộng của việc sử dụng, và tần suất bao gồm các tiền chất giống nhau, rồi chưa nói các cấu trúc hợp pháp đương đại tạo nên cuộc ly dị giả vờ giữa chúng nữa cơ.

Lần nữa, về mặt lịch sử, hầu hết các loại thuốc mang tính giải khuây đều có ứng dụng y khoa theo kèm: thuốc phiện, cần sa, LSD,..; tương tự, nhiều thuốc y khoa theo toa vẫn quen dùng cho mục tiêu thông thường, bất kể được phép hay dùng lậu.

Vấn đề căn cốt hơn: việc tạo tác một thời đại hữu hiệu của uy quyền, thiết chế y khoa kiến lập một thứ văn hóa khiến người ta nồng nhiệt tin tưởng rằng uống thuốc là giải pháp cho vấn đề, và nó dẫn tới vui vẻ, hạnh phúc. Nếu đúng thế, y khoa hiện đại quy về lỗi trực tiếp lẫn gián tiếp: tạo nên quá nhiều thuốc có khả năng gây nghiện và điều kiện hóa về mặt xã hội cho việc kiếm tìm giải pháp nhờ thuốc men.

Đáp ứng hữu lý, cả sức khỏe thể chất lẫn tâm lý, là chuyển khỏi cách tiếp cận lấy thuốc men làm trọng tâm để bước sang cái nhìn tổng thể, toàn diện. Trị liệu cả con người, chứ không chỉ nhắm vào bệnh tật. Cách tiếp cận này đặc biệt thích hợp trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nơi các liệu pháp dựa vào tỉnh thức (mindfulness-based) được chứng thực là mang lại hiệu quả hơn thuốc men trong việc xử lý hàng loạt vấn đề, gồm cả rối loạn trầm cảm.

Quan sát trong thiền tập

Ai từng trải qua khóa thiền Vipassana gần 12 ngày thảy đều có thể cảm nhận rõ ràng về vai trò của quan sát khi được đề nghị thực hành theo dõi: hơi thở vào ra bên trong khoang mũi, dùng tâm trí quét dọc ngang thân thể từ trên đỉnh đầu xuống dưới chân rồi vòng lại, chú ý tới khoảng tam giác bé xíu ngay dưới cánh mũi, v.v…

So sánh các kỹ thuật Phật giáo của việc quan sát (Vipassana) chúng ta có thể phân biệt cách tiếp cận khác nhau tạo nên nhiều điều đáng để suy ngẫm.

Đầu tiên, xác lập tự thân việc quan sát chỉ là ‘quan sát những gì hiện là’ trong giả định mọi thứ diễn bày trung tính. Các truyền thống khác nhau định rõ đây đơn giản là việc ‘nhìn vào những gì đang xảy đến’ mà không can thiệp, dính líu tới.

Để mặc khoảnh khắc mà độ tập trung có thể xảy đến hoặc không đạt tới được, trường phái tư duy đặc thù một cách truyền thống này tin rằng điều đó đủ cho việc “quan sát hết sức tỉnh thức”. Với họ, sự đói khát thường tương đương với nỗi thèm muốn, ước ao hoặc ghét bỏ trong các cảm xúc.

Cách tiếp cận thứ hai kế thừa mọi điều vừa nêu, tuy thế họ yêu cầu phương thức quan sát đầu tiên xét kỹ một điểm tinh tế và quan trọng: nếu chúng ta nhất trí, đối tượng quan sát của chúng ta là danh- sắc-và- hình- tướng cũng như ý thức và rằng chúng ràng buộc nhau bởi một dạng thức nọ kia sâu xa của trạng thái khát thèm, hơn là hàm ý mỗi một khoảnh khắc khi chúng ta trải nghiệm có ý thức khoảnh khắc của ‘tôi đang quan sát nơi đây’ và ‘có đối tượng được tôi quan sát’ thì chúng ta đã níu bám rồi. Chúng ta từng tán đồng bằng dạng thức nọ kia rằng cái bị/ được quan sát là của mình hoặc thuộc về chúng ta, tức là chúng ta đang đặt một quan hệ với nó. Do đó, chúng thách thức ta giá mà ‘chỉ để tự mình quan sát’ thì đã tóm lấy cái đầu con rắn chứ không phải hầu hết thời gian thiền tập trải nghiệm việc núm bắt đuôi hoặc thân con rắn. Vậy, dẫn tới việc thiền tập sẽ bao gồm hầu hết thời gian nắm bắt các suy tư, cảm xúc, tri giác, v.v… và không đủ tiêu chuẩn cho những gì Đức Phật biểu thị là ‘chú ý sắp sửa dẫn tới cội nguồn’ của trải nghiệm. Các trường phái Phật giáo truyền bá rộng rãi tuệ giác này thường hay giới thiệu một kỹ thuật chú ý để dừng tâm trí lập tức ngay khi bất kỳ nào khởi lên như “vô thường”, “đau đớn”, “trống rỗng”, v.v… Các nhãn mác này quen được dùng đặng miêu tả ngắn gọn là việc gọi tên tự thân trong dạng thức căn bản nhất của sự chú ý, nhằm dừng chẳng bao lâu sau khi tiến trình phát sinh mỗi một ấn tượng cảm giác được tâm trí ghi nhận. Ở đây, thiền giả cố gắng nắm bắt trải nghiệm cảm giác đang phơi lộ của con rắn sát gần đầu nó khả dĩ. Tiến trình này thoạt trông rất giống cách mô tả bên trên, song rốt cuộc ẩn bên dưới nó, tiến sát gần hơn tới một dãy chân trời- sự kiện trải nghiệm sinh khởi. Cách tiếp cận thế tạo công cụ thiết yếu để “khôn ngoan nhìn thấy khởi lên và biến mất” về thế giới (lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà không hề thỏa hiệp. Một thỏa hiệp hàm ý để mặc tâm trí phơi tỏ trong một mối quan hệ với đối tượng mà kết cục người ta sẽ tri nhận tự thân sự đang quan sát: bắt chụp rõ ràng trong tính hai mặt, đối ngẫu.

Dù cách tiếp cận thứ ba cũng kế thừa mọi thứ đã trình bày, song nó lại không cho phép bất kỳ ‘lời bào chữa’ nào do không lưu tâm, ghi nhận tới. Nói khác, trong khi cách tiếp cận/ trường phái thiền tập thứ hai vẫn làm dúm dó và biện hộ một sự thay đổi dự tính sẵn trong quan sát thiền tập, cách tiếp cận thứ ba này khẳng định rằng một khi chúng ta bước vào mô thức quan sát như thế thì thể nào ngay bây giờ điều chi hẳn là đều được quan sát một cách nhị nguyên, mang tính đối ngẫu. Tỷ dụ, trong khi một số tuệ giác của thiền sư theo cách tiếp cận thứ hai hợp pháp hóa rằng một thiền sinh có thể ‘thay đổi đối tượng thiền tập nếu một đối tượng thứ phát trở nên hay gặp’, cách tiếp cận thứ ba quả quyết không nên có điều tựa thế. Nếu chúng ta dấn thân vào bất kỳ điều quan sát nào nhằm cố thấy ra những gì đang hiện diện đúng với căn cốt của nó thì ngay cả một ước muốn/ dự tính chuyển đổi các đối tượng cũng nên được ghi nhận. Tiếp tục và ước thay đổi đối tượng thiền tập thì thực tế tựa như một cách tiếp cận dính mắc mà kết cục hàm ý ôm nắm và bám níu vào đối tượng quan sát. Một khi khởi sự thiền tập, tự thân việc ghi nhận cũng nên trở thành một đối tượng của ý thức! Đích thị khó khăn để lại ngừng ngay cả việc thiền tập này song như tất cả chúng ta đều biết, ham muốn và luân hồi sẽ rốt cục là cứu cánh khi đồng nhất hóa nỗi đớn đau với thân xác này trở nên ngập tràn quá độ và thiền giả cứ để mặc nó vậy rồi tự định hình bản thân lần nữa.

… Tóm lại, dù ba cách tiếp cận trên có vẻ như mới được nhìn nhận từ viễn tượng mang tính lý thuyết thì tất cả chúng đều muốn trợ giúp thiền giả buông phóng khỏi cái tình gắn bó sâu xa với việc nhìn, nghe, ngửi, nếm… suy tư.

Ngoài ra, nếu tìm hiểu cặn kẽ thì biết là đã có sẵn các hướng dẫn chi tiết. Xin ghi nhận sự kiện rằng bất kỳ điều chi (không có ngoại lệ) đều phải được ghi nhận, và thứ hai cách một cái nhãn ngắn gọn cơ chừng được áp dụng ở đây nhằm ngừng tâm trí nhanh nhất có thể ngay khi vừa quan sát thấy ‘đang bị dính vào’ hoặc là ‘thành phần’ của câu chuyện.

Chí ít, có ba mô thức thực hành đáng lưu tâm kỹ càng. Trước tiên, vốn đang lan rộng phổ quát ở các điểm tu tập thiền định tại phương Tây là chuyện nhấn mạnh khía cạnh tâm lý của các nhóm ôm nắm hoặc các bầu khí cảm giác được thay thế bằng một diễn giải đậm tính triết lý quá. Thứ hai, đặc trưng bởi việc không ngừng gây trở ngại cho tiến trình ghi nhận vì sự lợi lạc của ‘kỹ thuật’ mà khá buồn cười, có vẻ gây ra hạn chế cho chính sự triệt để của khoảnh khắc đó. Thứ ba, áp dụng việc ghi nhận tất cả bao quanh mà không loại trừ bất kỳ điều gì.

Tri ân sự nỗ lực chú ý dõi theo bài viết của độc giả và chúc quý vị may mắn với việc quan sát kỹ lưỡng, thấu triệt.

Cài đặt đồng bộ và nâng cấp hệ thống: hiểu biết tốt hơn đời sống tâm lý con người

Nhân loại lại bay trên  cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng...
Nhân loại lại vội bay lên trên cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng…

Khi cái laptop nồi đồng cối đá T42 IBM bị bánh xe ô tô cán lên làm vỡ màn hình do đặt để bất cẩn, chủ nhân của nó tiếc tiền gắn liền kỷ niệm nên nhanh nhảu nối dây cài cắm với màn hình máy tính bàn vốn tạm thời hỏng hóc ổ cứng… Thói khôn lỏi, sửa chữa vặt vãnh khó đảm bảo ổn thỏa lâu dài, chưa nói sẽ không khỏi mặc cảm tự ti khi so sánh với các dòng đời mới và vô vàn kiểu loại smartphone, Iphone, Ipad truy cập mạng lưới điểm toàn cầu cũng như tích lũy thông tin hết sức hiệu dụng.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Liệu ưu tiên khẩn thiết tìm hiểu có phải là chủ đề nóng hừng hực: tâm trí con người cần được nhận diện và rồi kiểm soát nếu em í bất chợt lêu bêu? Bởi ở mức độ nhất định, khoảng cách làm sáng tỏ cái nhìn nên đừng chú mục sát sườn: tại sao tâm trí người lớn tuổi hơn thường ít có xu hướng lang thang?

Tỷ dụ dễ hiểu rất đời là câu chuyện phân tách tính dục (sexuality) với tư tưởng dâm dục (eroticism) khá tương tự như khác biệt giữa con vật và loài người:

Động vật có sex và điều đó tự nhiên, nó là thôi thúc căn bản, thuộc bản năng, mang yếu tố sinh đẻ. Con người có đời sống dâm dục. Chúng ta thay hình biến dạng tính dục. Chúng ta xã hội hóa tính dục thông qua trí tưởng tượng. Và tác nhân cốt lõi của hành động dâm dục là sự sáng tạo, trí tưởng tượng, hoặc khả năng làm mới lại, khả năng hưởng thụ và đoán biết trước… Chúng ta có thể mường tượng hành động mà cóc nhất thiết đích thị tiến hành nó. Và đấy là sự vun bồi tự thân nỗi niềm khoái lạc.

Tư tưởng dâm dục thế, theo nữ tâm lý gia lừng danh Esther Perel, hàm ý xem sex như một trải nghiệm rung động mãnh liệt và siêu việt. Perel gọi đó là “nơi mình đi vào trong chính lòng mình cùng với kẻ khác”. Nhiên liệu cho cuộc du hành siêu việt này là sự sáng tạo riêng có của cá nhân. Và xuyên qua sự thăm dò trí dâm dục khiến các huyễn tưởng dậy lên. Các ranh giới mở rộng ra và nhiều thực tế mới mẻ được rèn giũa. Do vậy, tiêu điểm của tư tưởng dâm dục và trí thông minh gợi tình không phải ‘quan hệ” mà mang “ý nghĩa của sex”. Siêu việt là bởi thế. Perel cũng chỉ ra tính cách tân như điểm quan trọng khác giữa sex/ erotics: không phải là các vị trí hoang dại mà hơn thế là điều mình như người tham gia đem theo vào trải nghiệm: cảm xúc, sức quyến rũ, độ đam mê, tinh thần. Sự nối kết giữa sự mới mẻ và tính sáng tạo là điều bắt buộc để duy trì một mối quan hệ lành mạnh…

Dẫn chứng cách nhìn trên càng dễ chứng nhận sự thật rằng ngày nay, làm việc hoặc nói chuyện với người trong lĩnh vực kinh doanh, giáo dục, chính trị, văn hóa, xã hội… gì gì thảy đều hay được đề nghị đưa ra một mô hình hoặc tập hợp các công thức khoa học có thể ‘giải quyết’ các vấn đề hành vi giúp họ. Dẫu hiện có nhiều mô hình về cách con người ứng xử, sự tạo thành thói quen, và nhận thức khả dĩ giúp chúng ta thấy hiểu bản chất chính mình thì bất kỳ mô hình nào, theo định nghĩa, đều là việc đơn giản hóa thế giới đích thị đang là. Các mô hình tâm trí cũng cụ thể hóa hiểu biết của chúng ta ở một thời điểm nhất định. Hàng ngày, nảy nở nghiên cứu thêm và cập nhật hiểu biết về phương thức tâm trí hoạt động. Trong khi các phát hiện này phản hồi với các mô hình đang tồn tại, chúng thường đứng ngoài rìa của những khám phá kinh điển được dạy trong sách giáo khoa và các cuốn khoa học phổ thông trong một thời gian dài.

Và quả đúng là chúng ta mê những giải thích thật giản dị và chặt chẽ về các hiện tượng phức tạp. Chúng ta thích biết bao nhiêu việc trải nghiệm đời thường có thể được làm rõ ràng, minh bạch nhờ các khung lý thuyết đơn giản. Lợi lạc lớn lao việc bình dân hóa khoa học và nhờ hiểu biết các tiến trình tâm thần từng khiến chúng ta khốn khổ. Song khá nực cười để nhìn nhận bất kỳ mô hình đơn lẻ nào như nền tảng cơ bản cho hoạt động kinh doanh, marketing, hoặc quyết định sự vụ ở đời. Một mô hình có thể là khung tham chiếu có tính khai sáng đi nữa thì nó không thể hồi quang rộng khắp sự phức tạp của tâm trí.

Đó là lý do tại sao nếu mình nghiêm túc muốn làm ăn tốt đẹp và tạo lập những quyết định sống đúng đắn thì mình nên ưu tiên nghiên cứu các khoa học hành vi liên tục và suốt đời. Mình cần cập nhật thật nhất quán và tái xác lập yếu tố các viễn tượng chúng đưa ra nhằm tự bảo vệ bản thân chống lại các mô hình lỗi thời vốn gây lầm lạc hơn là làm rành mạch.

Nói khác, khởi từ bây giờ, mình nên tháo gỡ các mô hình không chính xác đã mang theo suốt từ bấy đến nay. Mỗi chúng ta có cả lố tâm lý cổ truyền chuyển giao bởi nền văn hóa, thông qua bố mẹ, và cách giáo dục thừa hưởng. Có thể nhiều ý tưởng trong đó hãy còn nhất quán với nghiên cứu đương đại, song đa phần thì không.

Chẳng hạn, hầu hết mọi người nghĩ rằng chúng ta hành động dựa trên ‘niềm tin”. Tuy thế, các nghiên cứu chứng thực, chúng ta tạo các quyết định phụ thuộc nhiều yếu tố lắm, như sự dễ chịu và việc sắp đặt (ở tiệm tạp hóa chẳng hạn), rồi đi tới tìm ra những hợp lý hóa hậu thuẫn cho những lựa chọn ấy. Nghĩa là, chúng ta không luôn luôn mua thứ gì vì thích, chúng ta thích thứ gì vì mình mua nó. Chúng ta vốn siêu trong vụ kể chuyện theo dạng biện hộ thế.

Nhiều người chúng ta đầy ứ các quan niệm sai lầm kiểu vậy. Song chúng ta khó tránh được. Nghệ thuật sử dụng khoa học hành vi không phải là điều trọng tâm trong nền giáo dục của chúng ta.  Chúng ta nên bắt đầu làm quen với việc tạo lập và tái xây dựng lại hiểu biết của chúng ta về hành vi và nhận thức con người nhờ kiểm tra, xem xét nghiên cứu mới nhất khi nó được công bố. Vẻ đẹp của cách tiếp cận gộp lãi thêm lên này là nó sẽ làm thay đổi lối chúng ta nghĩ về các vấn đề, bạn bè, và đời sống chúng ta khi chúng tiến triển, biến hóa. Tựa như chuyện nâng cấp hệ điều hành để ngày càng sát hợp hơn với thực tế. Đó là một trong những điều quan trọng chúng ta có thể tiến hành, và là cách chắn chắn đảm bảo áp dụng hết sức chính xác tâm lý học vào đời sống của mỗi chúng ta.

Cũng nên biết, mặc dù chán ngán do đánh giá quá cao động cơ song nghiên cứu của các nhà tâm lý học cũng vẫn đang đuổi theo hạnh phúc. Và bản chất con người đang tiến triển trong đáp ứng với những cách tân của công nghệ, chẳng hạn tác động của công nghệ điện thoại di động đến động năng trò chuyện hàng ngày.

Chắc chắn, vẫn còn để ngỏ gợi hứng về cách thức tâm trí hoạt động. Cần tìm biết bộ não đã tạo ra thế giới tâm thần chúng ta như thế nào, chúng sẽ chỉ ta hay cách từ vựng cơ bản của tâm lý học hiện đại về trí thông minh, hành vi, thái độ, động cơ, v.v… không phải cứ thuộc kiểu dạng bản chất mãi mãi như thế mà được cấu trúc, phân loại dựa vào mục tiêu đặc thù ở các thời điểm trong lịch sử; nhiều mục tiêu cũ mèm giờ không phục vụ được cho nhu cầu hiện tại nữa và dần gây trở ngại cho tiến bộ tương lai…

Ngược dòng thời gian đặng trầm ngâm cùng tác phẩm hiếm thấy và ít khi được thông tỏ của B.F. Skinner. Đối lập với một số diễn dịch sai trái về vị trí của ông, Skinner không những chưa từng bao giờ ngờ vực rằng chúng ta có thể mô tả các trạng thái nội tâm như suy tư hoặc cảm xúc mà còn tự hỏi cách thức chúng ta làm thế nào để tiến hành chuyện đó; câu trả lời của ông gây ngạc nhiên, tương thích với thực hành tâm lý trị liệu, và là một thách thức đối với những ai giả định chúng ta có thể biết các cảm xúc bản thân chỉ nhờ tiến trình đơn giản của việc tự nội quan.

… Tác giả Gay Watson (2008) khuyến cáo chúng ta tích hợp các cách tiếp cận thân thể và tâm trí với nhau , vẽ ra những tiếp cận dự liệu trước từ phương Đông; và như cuốn sách trình bày, các lý thuyết và mô hình tâm lý, tâm lý trị liệu có thể tìm được vết ở nhiều biến thể của tâm lý học Phật giáo 2500 năm rồi.

Điều này gợi nhắc tới tác phẩm kinh điển thể hiện các nguyên tắc của tâm lý học đồng thời nó cũng minh họa đặc sắc cho lối viết, khả năng dự báo và tuệ giác của William James từ 1890.

Như cái chết của tâm trí, các công ty internet ngày nay đang sử dụng các dữ liệu cực lớn tích lũy từ từng hành vi nhỏ nhặt của người dùng mạng để gây ảnh hưởng tới lựa chọn của khách hàng. Các lý thuyết và tư tưởng tâm lý học về cách thức tâm trí hoạt động đóng vai trò rất nhỏ bé nếu không nói là nó vắng bóng trong các mô hình được đề cập trong bài báo vốn dựa hoàn toàn vào các mô hình từ toán học.

Phê bình khá công bằng, so sánh với ngành sinh học không ngừng tiến hành các nghiên cứu nhằm chỉ cố gắng mô tả các giống loài mới, tự thân tâm lý học có vẻ cũng đang thu hẹp tâm trí của chính nó, vì sự mù quáng do sở thích dùng các phương pháp thực nghiệm trong khi hạ thấp tầm quan trọng của việc nắm bắt các hiện tượng mới mẻ và thú vị của đời sống con người.

Tha nhân – trọng tâm trị liệu: một cách tiếp cận thú vị khác

Thường các nhà trị liệu tâm lý rất đặc trưng trong cách làm việc với lối hỏi “nhưng giờ thì chị cảm thấy thế nào?” Song thay vì quấy rầy thân chủ khỏi câu chuyện của họ về thế giới như thế, chính người theo cách tiếp cận tha nhân- trọng tâm (Other- Centred) lắng nghe hết sức cẩn thận rồi đặt câu hỏi trái ngược về đối tác có hành vi khiến thân chủ đang phàn nàn: “nhưng điều gì mà anh ấy thích?”

Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận này phản ánh sự dấn thân đầy ý thức với những người khác, gồm cả các quan hệ con người và tiếp xúc của chúng ta với môi trường xung quanh; là kiểu trị liệu sinh thái (ecotherapy), nó đưa các công việc trị liệu ra ngoài trời và kết nối vởi cả các loại hình nghệ thuật sáng tạo cũng như mối quan tâm xã hội.

Cụ thể hơn, phương pháp tha nhân- trọng tâm thể hiện sự khám phá tri nhận đã điều kiện hóa sẵn rồi và tái lượng giá về các mẫu hình chú ý và hành vi. Những chuyển đổi tri nhận như thế dẫn tới thay đổi tâm lý cá nhân người ta như sự định dạng thích ứng với các điều kiện mới. Phương pháp tích hợp, một mặt thẩm tra các động năng của trải nghiệm, và mặt khác, truy vấn tính xác thực của hiện thể đang tri nhận. Toàn bộ công việc diễn ra bên trong khung đạo đức, sự chú ý hợp trội, tính thấu cảm và các kỹ năng tỉnh thức (mindfulness skills).

Với bài trinh bày tại Hội thảo (2012) của mình, tác giả Caroline Brazier đã thể hiện sáng rõ cách tiếp cận trị liệu rất khác vừa nêu. Theo đó, Brazier làm nổi bật sự cân bằng giữa phát hiện cá nhân, với kết nối thể lý và các bài tập chú ý cũng như các câu hỏi giúp tri nhận dễ dàng hơn, đi kèm khung lý thuyết dựa trên cách tiếp cận của Carl Rogers, các truyền thống nhân văn- hiện sinh và con người- trọng tâm, đề cao mối quan hệ và thấu cảm như các yếu tố chính yếu quyết định trị liệu thành công, và nhà tham vấn từ căn bản tương tự dường như đạt được giá trị tối ưu khởi đi bởi các trực giác mới mẻ…; khi nền tảng được đặt để rồi, trong dạng thức nhân cách và biểu đạt thành niềm tin cá nhân, chúng ta tiến tới ‘tâm lý học Phật giáo’ với khái niệm cốt lõi là các ‘quan hệ đối vật’.

‘Định dạng quan hệ đối vật’ trong ý nghĩa tâm lý học Phật giáo hơn là cảm nhận của Phân tâm, khái niệm này biểu đạt việc “tâm trí bị điều kiện hóa bởi đối vật của sự chú ý”. Và đối vật chúng ta đang chú tâm vào (bất kỳ con người, đồ vật, trải nghiệm gì) thì không nhiều ít, hơn kém chi so với đối vật được tri nhận. Chún ta mong đợi thấy thứ gì, chúng ta thấy thứ đó, và khi thấy thứ đó rồi thì mình lại càng mong thấy nó hơn, và vì thế bị mắc kẹt. Vòng tròn tự củng cố của mong đợi và phản ứng hàm nghĩa chúng ta xây dựng xung quanh mình một bức tường tâm lý nhằm giữ cho bản thân thoát khỏi những điều mình sợ hãi và kháng cự. Và do cuộc đời vốn không dự đoán nổi, có đầy rẫy nỗi sợ hãi và vô vàn kháng cự. Chúng ta bắt đầu dựa cậy, mời gọi cấu trúc tâm thần hoặc phòng vệ này, cái gọi là ‘của tôi’: một định dạng được tạo dựng bao quanh các thói quen chúng ta thiết lập để giúp mình khỏi nhọc trí, bảo bọc bản thân, hoặc lập tức lãng quên luôn.

Sự tạo tác thế giới này, thế giới của chúng ta, hoặc ‘của tôi’, gồm nhiều đối vật khác nhau (người, các trải nghiệm) để nâng đỡ cảm nhận của mình về cái tôi và về thực tế cũng như độ an toàn của các thế giới do mình tạo tác. Chúng ta kiếm tìm các đồ vật và con người hỗ trợ phương cách mình đang muốn nhìn thấy (có thể chúng ta chỉ chọn những ai tán đồng với mình, hoặc có thể mọi người là kẻ thù). Đây là mẫu hình khá quen thuộc trong trị liệu và trong tài liệu tâm lý học, ví dụ, người bị lạm dụng thường duy trì các quan hệ mới và những gì họ thu được càng giống như trước; tựa điệp khúc, ‘làm sao tôi có thể thoát khỏi mẫu hình đó đây?’

Câu trả lời Brazier đưa ra: tập trung chú ý sâu xa vào các đối vật mà ta tri nhận như trạng thái có ý nghĩa đối với bản thân và cách nó điều kiện hóa lối mình suy nghĩ và cảm nhận. Brazier hướng chúng tới thuật ngữ Phật giáo gọi là ‘sắc’ (rupa). Từ này không chỉ mang nghĩa ‘các đối vật được tri nhận’ mà còn trỏ điều gì đó mà quyền lực của nó gây phấn khích và thu hút sự chú ý của chúng ta; có thể gọi nó là một ‘nút bấm’, ‘cú lẩy cò’, hoặc chủ đề quán xuyến khởi lên trong đời chúng ta lặp đi lặp lại, hết lần này đến lần khác.

Nhà trị liệu chú ý tới các rupas, làm bộc lộ chúng ra rồi khám phá sức mạnh của chúng. Các chiến lược khác biệt từ việc thổi phồng ‘phẩm chất rupa’ của đối tượng cho đến việc tạo nên được khoảng cách tách biệt khỏi nó, để tái dựng lại nó khác đi với đầy đủ chi tiết liên quan, trong phòng trị liệu…

Dĩ nhiên, một rupa có thể tương đối khủng khiếp vì thế cần có một sự đánh giá sâu sát về cách thức làm sao giúp thân chủ tương tác với khoảng cách an toàn, làm sao giải quyết với các hồi tưởng, và sang chấn, tạo ra các kỹ thuật nền tảng cũng như cảm nhận về sự nương tựa.

Từ những kỹ thuật dùng tâm kịch (psychodrama) với chiếc ghế trống, các đối vật có thể xem là các mỏ neo, ký ức, hoặc thành phần của tiến trình tạc tượng (sculpting), Brazier tiến tới thảo luận về “tỉnh thức” (mindfulness) với lưu ý rằng, trong khi sử dụng nó như kỹ thuật nhằm nắm bắt những gì đang diễn ra hiện tại với từng khoảnh khắc thì bà còn dùng thuật ngữ này để chỉ việc có một mối quan hệ đáng tôn trọng với thực tế, tưởng thưởng sự khác biệt của nó, và sự kiện là nó không hề diễn ra dưới sự kiểm soát của chúng ta hoặc vận hành theo ước muốn của chúng ta. Đây là điều nhắc nhở cần cởi mở với những người khác và không nên xoắn bện thực tế khớp khít với cảm nhận riêng của chúng ta về bản ngã, dù nó tích cực hoặc tiêu cực đi nữa; nó cũng nhắc nhở về chiều kích tâm linh và tính thiêng, ngay cả khi những thứ này không nên mang vào quá đặc thù trong quan hệ trị liệu.

Như thế, đối lập khá dữ dội với các nhà trị liệu khác, người tiếp cận theo phương pháp tha nhân- trọng tâm đi sâu vào các câu chuyện của thân chủ rồi xem xét chúng mang ý nghĩa ra sao với thân chủ, nhắm vào các cảm xúc và định dạng chúng như là cái làm tăng thêm vấn đề hơn là giúp ích cho thân chủ… Brazier hướng tới quan điểm là một người lành mạnh khi họ dấn thân trọn vẹn vào những gì họ đang tiến hành hoặc với người mà họ đang quan hệ, hơn là khi họ quan sát một cách có ý thức các trải nghiệm của bản thân; với cách nghĩ ấy, bà cân nhắc về vai trò của trị liệu: liệu nó đáng giá so với việc cải thiện các điều kiện vật chất trong đời sống của con người ta, để được tiếp xúc với những ai quanh mình, hoặc làm việc cho sự tồn tại mãi mãi của hành tinh, hơn là đơn giản ngồi trong phòng trị liệu để phân tích các cảm xúc của mình với một người lạ?

Kết luận rút ra là một sự mời gọi cân bằng, cho một kiểu trị liệu có nền tảng vững chắc và yếu tính của nó cởi mở với những người khác, không xem trị liệu như cái gì đặc biệt tự thân mà chỉ là một phần khác tích cực, hữu dụng của thế giới liên thuộc của chúng ta. Thân chủ cũng cởi bỏ khỏi thái độ tương tự về những gì tiền định sẽ được khám phá và vui thú…

Không bao giờ mất đi người mình yêu quý

Có lần, vị thiền sư tên Foyin đã cứu sống một phụ nữ định quyên sinh nơi dòng sông, rồi hỏi nàng tại sao nàng muốn chết, nhất lại là nàng đang còn rất trẻ.

Người đàn bà đáp, lấy chồng mới ba năm, song khi con trai mất, chồng đâm bỏ bê, không thèm ngó ngàng gì vợ. Do đó, cô cảm thấy đời sống hiện tại chẳng có gì ý nghĩa nữa. Vị thiền sư hỏi tiếp, thế đời sống của cô trước hôn nhân như nào. Hồi tưởng, người phụ nữ thấy đấy là thời thật vô lo và mọi thứ như ý. Vị thiền sư lưu ý rằng, ngay hiện tại lúc này, cô chỉ việc quay về với giai đoạn ba năm trước; lúc đó, cô đâu có chồng con, giờ cô cũng không có họ. Một cách căn bản, xét toàn thể, cô không hề có sự mất mát đích thực nào. “Công án” vị thiền sư nêu ra: nếu cô ấy có thể vô lo ba năm trước, tại sao cô ấy lại quá sầu muộn ba năm sau?

Chúng ta trả lời câu hỏi này như thế nào đây? Sự thật, chúng ta đau đớn khổ sở chỉ khi mình chăm chắm vào tình huống bất hạnh hiện tại khiến mình cảm thấy ghét bỏ không cần thiết. Kỳ thực, gọi là điều xui rủi này khi so sánh với một trạng thái từng diễn ra rồi, vốn nó tương đối may mắn, đâu nhất thiết khiến mình phải gắn bó cùng. Vì thế, những ai đau khổ nhất thường có xu hướng trước tiên đau khổ kéo dài; khi đời sống của họ được cải thiện thì lại dễ cảm thấy mất mát khủng khiếp về sau.

Bởi vì cảm nhận mất mát đến từ sự so sánh, xuất hiện nỗi tiếc thương và bao lời ai oán. Nếu nhìn vào bức tranh rộng lớn phủ trùm một giai đoạn rộng lớn hơn, gồm cả nỗi buồn lẫn niềm vui bây giờ, sẽ thấy đấy chỉ là sự xoắn bện quá độ và chỉ ra bánh xe nghiệp bất hạnh/ may mắn mà thôi. Do đó, đều ảo ảnh, hoang tưởng việc để bản thân bị quấy nhiễu, đảo lộn bởi cả điều may mắn lẫn sự xui rủi.

Vị thiền sư đã hích nhẹ giúp cho người phụ nữ trẻ siêu việt trên các trạng thái nọ kia một cách nhị nguyên mà cô đang trải qua, để buộc cô quay về với những gì rốt ráo là mình trước đây: biểu hiện trạng thái nguyên thủy của Phật tính.

Nhất là trong những thời điểm bấn loạn, chúng ta nên quay lại trạng thái tâm linh nội tại căn bản quen thuộc này, phóng thích khỏi rối rắm do gắn bó với vận may tốt đẹp và ghét bỏ, đẩy đuổi sự xui rủi, bất hạnh.

Tại sao chúng ta quá phấn khích hoặc trầm uất ghê gớm? Đơn giản nhờ mang con tim và tâm trí tỉnh thức với Phật tính sẵn có, thay cho chuyện dính bám vào các điều kiện ngoại giới vốn phù du thoáng chốc; nhất định sẽ khởi lên tâm trí duy trì trạng thái yên an.

Vấn đề thuộc các điều kiện trong hiện tại do vậy, nên được xem xét tựa như trái quả tựu thành đang dần trôi qua bởi các nguyên nhân và điều kiện tích lũy, thậm chí, trước cả khi khởi sự…

Điều này không phải là trạng thái vô cảm hoặc thiếu quan tâm nghiêm cẩn; vì các biểu tỏ bình thản thực sự luôn hậu thuẫn lòng từ bi trải đều cho tất cả mà chẳng hề xốn xang, nhốn nháo với bất cứ ai hoặc bất kỳ điều gì. Lành thay.

Thiền tập tỉnh thức: câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành

Thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation) giờ không còn quá xa lạ với quảng đại quần chúng Đông Tây.

Thiền tập tỉnh thức là câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành chứ nó không liên quan chi với việc thay đổi thế giới bất công. Nói khác đi, ngay cả tiềm năng to lớn và tác dụng lâm sàng sáng giá thì cần làm rõ một điều rằng tỉnh thức không phải là giải pháp hoàn hảo cho toàn bộ vấn đề của thế giới; nó là một lĩnh vực nghiên cứu đầy hứa hẹn, đi kèm với vài ba chỉ trích rất cần nắm biết.

Ví von, làm tóc thì rốt ráo chỉ liên quan đến tóc, không liên quan chi  đến việc thay đổi thế giới bất công. Chữa lành ung thu chủ yếu thuộc về thuốc men, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công. Bay lên sao Hỏa là chuyện du lịch không gian, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công.

Một mẫu hình dần nổi trội lên ở đây: một điều thì chung quy liên quan điều ấy, không phải là thứ mà nó không thuộc về. Hoàn hảo, đó là sự tiến bộ đích thực.

Có rất nhiều lời giảng dạy, minh họa và nguyên tắc trong đạo Phật thực sự hữu ích để tạo nên sự thay đổi tích cực về mặt xã hội. Đó tuyền chuyện dân chủ; quyết định chịu trách nhiệm tạo nên nhiều tiến trình; lòng từ bi thực tế; sự thịnh vượng vượt qua sự bất bình đẳng; không hoặc chỉ dùng gọi là sự trừng phạt; nhấn mạnh vào giáo dục và trao quyền cá nhân lẫn trung gian; thoát khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử; ý tưởng thậm chí quyền năng nhất là đối tượng hướng tới pháp trị, và v.v…

Tỉnh thức không phải là một trong những điều vừa nêu; nó là sự dạy dỗ cách thức trở nên yên an và chấp nhận.

Tỉnh thức có thể thao tác trong một dãy phức tạp các mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn cùng các vấn đề xã hội nảy sinh. Từ toàn bộ tính khả thể, như tác giả bài báo chỉ ra, nó có thể trở thành trừu tượng tách khỏi bất kỳ bối cảnh ý nghĩa nào và được dùng theo các lối kiểu gây hại. Song đó không phải là vấn đề của tỉnh thức, nó là vấn đề của sự thiếu vắng các điều tốt lành khác, đặc biệt là các giá trị đạo đức. Điều ấy lý giải tại sao Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng tỉnh thức, và các thực hành thiền nâng cao khác, diễn ra trên sự đặt để của một nền tảng đạo đức rất tinh tuyền.

Rời bỏ điều đó và áp dụng sai trái, nó trở thành Tỉnh thức Lầm lạc. Vì vậy, có lẽ chúng ta nên dừng đổ lỗi cho tỉnh thức về hiện trạng không thuộc về nó.