Ý tưởng tay ngang

Những con cá lội dưới nước dọc theo đoạn kênh vuông thành sắc cạnh dẫn bao quanh mấy cột nhà bằng gỗ; chúng lắc lư thân mình khó nhọc tới lui song cơ chừng đôi mắt si dại kia cứ ngó trơ như ngầm thú nhận rằng thật khó biết tại sao ý tưởng lại không toi.

Không phải lúc nào cũng nhất thiết phải xuyên thành phố từ đầu này tới góc nọ thì mới giải quyết vấn đề được. Xác định các mẫu hình trong quan hệ liên nhân.

Bất chấp ước muốn thiện lành mong cầu đến mấy thì sự chuyển di, không ám chỉ vụ đi lại bằng đôi chân trần được cắt tỉa sạch sẽ, luôn gây đau đớn.

Quán café là nơi họ ngồi để mở ngỏ các cơ hội làm đối tác cùng nhau, nhờ thế họ hiểu rằng sự phức tạp của tâm đảm bảo chẳng có một quan điểm nào nắm bắt được toàn bộ sự thật về trải nghiệm người. Đủ cởi mở và tin tưởng, họ tiếp tục tiến trình sống và hành nghề theo nhu cầu cần biết sử dụng (bộ) công cụ mang lại giá trị trong việc tạo nghĩa của thực tế tinh thần rối rắm. Một chuyến đi kết hợp nghỉ ngơi, thư giãn, chăm sóc cơ thể và giãi bày đớn đau nhờ gặp gỡ đêm khuya xứng đáng được thực nghiệm; điều hơi đáng tiếc vốn đeo bám sâu dày là cách tiếp cận y khoa về căng thẳng vốn thuộc giả thuyết hơn là sự kiện được chứng thực.

Giữa giời mưa, chạy qua hầm chui, ý tưởng tay ngang phân vân đứng giữa ngã ba đường lựa chọn trạng thái bị phát hiện hay trạng thái được tìm thấy; lần nữa, dễ thương được tìm thấy, và phát hiện chủ yếu xoáy vô bản chất.

Tếu táo và vu vơ ăn theo tí tẹo khi mưa to gió lớn não nề về xu hướng giáo dục

Việc từ bỏ thói quen đọc báo, xem TV và theo dõi tin tức thời sự hàng ngày có cái lợi nhãn tiền là chính mình tiếp tục tự khẳng định niềm tin (riêng với bản thân thôi) chắc như định đóng cột rằng mục tiêu không đạt được bằng tốc độ.

Bất chợt gặp phải đây đó nghiến răng bàn về xu hướng giáo dục là thêm một lần giật thột phát hiện thấy rất nhiều người có tham gia vào dự án mãi vẫn chưa chịu kết thúc này. Mọi nỗ lực, về mặt lý thuyết, đều đáng tưởng thưởng. Tất cả chúng ta gánh lấy trách nhiệm trong sự phát triển nghề nghiệp (dân gian truyền tụng câu cửa miệng ‘tập trung vào chuyên môn nào’), vì thế, hãy cùng nhau cống hiến cho ý tưởng rằng khoa học giáo dục sẽ trở thành chủ để nổi bật đủ đem lại lợi lạc ở hết thảy bậc học và cho mọi lứa tuổi.

Điều cần nghiêm túc lần nữa, việc định dạng các nhấn mạnh và xác lập các mối quan tâm trong chính sách và thực thi giáo dục chắc chắn sẽ khác biệt, tỷ dụ, một số thuộc phương pháp luận, số khác nằm ở triết lý, số khác nữa là chuyện tổ chức; tương tự, không giống nhau ở tông giọng: một số cần ghi chú khẩn cấp, một số khác đòi hỏi kế hoạch dài hơi,…

Đêm hôm gió máy nên nhớ đại khái là xu hướng giáo dục chi chi có thể hiểu về mặt thao tác theo chương trình đào tạo thể hiện khả năng thích nghi với cuộc sống, tổ chức hướng dẫn bằng các vấn đề nảy sinh trong cộng đồng, tăng cường trách nhiệm của học sinh cho việc lập kế hoạch trải nghiệm giữa đời, cố gắng nhắm vào sự hiểu biết những phương thức mà trẻ đang học hỏi, phải liên quan tới các phương pháp tư duy…

Nên thẳng thắn vận dụng đúng điệu xứ Quảng ‘nói phải củ cải cũng phải nghe’ đặng mong rằng sẽ là nhiệm vụ tuyệt vọng trong nỗi niềm ước ao định hình *tất cả* các xu hướng giáo dục đương thời, tuyệt vọng và chắc chắn vô ích nữa, vì một số sẽ được khai thác cạn kiệt và các xu hướng mới mẻ sẽ phát triển trước khi bất cứ điều gì có thể được thực hiện về các xu hướng đã xác lập này.

Thiển nghĩ, vì giời vừa ngưng đổ mưa và tiếng động cơ máy bay đáp xuống phi trường thành phố ồn ào quá, nên tạm thời chốt lại là cần phải làm gì đó về các xu hướng; định hình chỉ vì lợi ích của việc định hình chung quy đâu có được chi, ngoài chuyện chúng mình bận rộn quay mòng mòng suốt ngày.

Đóa súng hồng mất dấu môi hôn

Chúng ta đi qua quá nhiều điều thách thức và đổi thay trong các niềm tin mờ tỏ.

Khi trẻ, mình tin vào huyền thuật, huyễn tưởng và lắm thứ đâu cần lập luận. Tôi nhớ con bọ ngựa giơ những thanh kiếm khẳng khái giữa chớp giật của cơn giông trưa hè tái mét. Như cậu nhóc tì lí lắc, hầu hết chúng mình học hỏi về tín lý, rất sẵn lòng tin vào điều bất tri. Ấy nỏ phải vì khờ dại, chỉ do là có nhiều thứ mình chưa thấu tỏ về tính diệu kỳ của điều thứ cơ chừng hết sức tự nhiên. Dĩ nhiên, với số đông, hiện hữu nơi đó Thượng Đế; thật dễ dàng để tin y sì rứa tuyệt không suy suyển.

Rồi vào cái đận ngất ngưởng đầy đụng độ của lý trí và suy tư, chúng ta mất mát đức tin quá mức. Thay vì tới để thấy, mình bảo tắp lự với giọng điều gây hấn: chỉ tôi xem. Nếu không thể chứng thực, nó không phải là sự thật. Một phó sản của hệ thống giáo dục. Truy cầu câu trả lời đúng đắn. Thượng Đế không toi, ngài chỉ sống dở chết dở hạ hồi phân giải thôi. Nhiều kẻ lớn bé lần lượt rời bỏ đức tin.

Nhiều rốt lại chẳng còn cóc nhái khỉ khô chi. Không quà tặng, khuyến mãi, không cờ phướn bay trong gió sớm, không cầu nguyện hay chắp tay ngưỡng vọng bốn phương tám hướng xô bồ. Dàn quân đồng phục xông lên phía trước, bần cùng hóa và cô độc tột độ. Mất mát những ngày ấy không hề giống chút nào với tai ương từng xảy đến…

Câu chuyện của tình yêu, đức tin và cái bể nước ngầm rò rỉ khó hình dung viễn cảnh hồi đáp tương xứng. Sự vay mượn thêm thắt là thời điểm của chuẩn bị, dự liệu trước và hy sinh. Như đứa trẻ to xác, chúng ta bị răn đe để quyết chí từ bỏ kẹo ngọt.

Muôn đời kháng cự

Thật bàng hoàng khi biết mình đang đội trên đầu một cái mũ hàng hiệu hai chữ N & Y xoắn vào nhau vừa phải, phía sau nổi bật dòng ‘New York’ điểm danh tên chàng đố lẫn vào đâu được. Lòng thầm mong với tinh thần sám hối hồi hộp dâng đầy khá vô duyên rằng hy vọng, đó đích thị chỉ là chơi đểu hàng nhái thôi.

Với cách phối duy nhất đen trắng, lưỡi trai phía trước gập cong rất điệu, chất liệu vải mềm tay, và kiểu thiết kế chẳng thể đơn giản hơn được nữa. Sự đời thử thách thiệt éo le, khoác thêm thứ gì lên người đã mệt thêm nhọc, giờ còn phải của nợ tiếng tăm e quá đau thương. Lặng thầm hỏi Google, ra y chang hình mẫu độc chiêu khó đụng; giá bán ở xứ Việt mấy trăm ngàn hiện đang thời thượng (thiệt tình khai nhanh là bà chị bán đồ bành cạnh chợ vui tính chẳng quá xa chỗ ở nhìn nhau hỉ hả rồi nhẹ hô ’em ơi chị để ba mươi ngàn’, rồi người hoan hỉ chẳng kém lúc thực nhận 28.000VND vì đó là toàn bộ số bạc lẻ tôi có nơi cái kẹp tiền gọn gàng).

Không nhớ được lần cuối cùng mình đội mũ… Gần lắm thì cũng phải hơn 14 năm rồi, do quãng dài miên man trú thân ngoài Hanoi liên tục, đầu trần cứ lơ ngơ vô tư phơi cùng thời gian quá ngọ. Bao nhiêu lần sóng dập đất bồi hồ Tây da diết, ê chề thủy triều lên xuống sông Hồng ì ạch, mấy độ hồ Văn tại Văn Miêu lừng lẫy ỡm ờ dự định thay nước thì chừng ấy đận mưa to nắng quái cũng kiên định lập trường để mặc tóc tai thổi thiếu định hướng theo cùng gió ngàn bay.

… Phần khó khăn nhât trong thiền minh sát (insight meditation) là nhận ra tâm trí mình luôn luôn chống kháng; bằng không, nó sợ cóc thể tồn tại nổi. Nếu mình nhìn, chống kháng bằng một cái sự trông, một chiều- nhìn, một cảm- giác- nhìn, một cảm- nhận- nhìn; nếu mình nghe, ngửi, nếm, chạm… thảy đều thế hết. Và đặc biệt, tinh tế nhất: nếu mình ‘nghĩ’ thì luôn sẵn đấy một chống kháng ngay lập tức, ở- đây- và- bây- giờ hao tốn năng lượng khôn xiết. Tất cả trong một khoảnh khắc, khoảnh khắc nối khoảnh khắc, mê mệt.

Gì mang nghĩa ‘một sự chống kháng’ đây?

Như này, mình nhìn vào màn hình máy tính hoặc một bài báo. Một sự liên tiếp của nhìn, nhìn, nhìn (các con chữ), nghe nghe nghe (âm thanh bao quanh) và nghĩ nghĩ nghĩ (các tư tưởng, lập luận trong văn bản) được khai triển với một tốc độ sửng sốt và lực lượng hối thúc bất ngờ. Chúng giục giã gì vậy? Chúng giục mình ‘là’ chúng. Những gì ta sở hữu sở hữu ta, những gì ta nắm bắt nắm bắt ta. Giờ nhé, mình có thể mắc lỗi lầm ‘đói khát’ một số cảm xúc hoặc ham muốn dạng ‘Tôi thích văn bản này’ hay thậm chí khủng khiếp ‘Tôi ghét văn bản này’.

Nghe hay ho thật, cơ mà đấy không phải là những gì Đức Phật trỏ khi nhắc tới đói khát trong bối cảnh thế. Những chuỗi suy tư đã ngụ sẵn nhiều nhiều khoảnh khắc cá nhân được kết nối với nhau bởi một nỗi niềm khát khao tham lam vô độ vì đời sống, vì tồn còn, vì tiếp diễn; một nỗi khát thèm hiện hữu, nó không mang nghĩa nối kết các cuộc đời để tái sinh.  Mình không nhất thiết phải nhớ bao nhiêu kiếp dĩ vãng đã qua hoặc nhìn tới tương lai mù khơi đặng thấu hiểu lời Phật dạy.

Không, sửng sốt tột độ khi ta nhìn sát lại nơi mình: rất trực tiếp ngay dưới mũi, trong đôi mắt, vào lỗ tai, giữa vô vàn ý nghĩ. Từng thứ và mỗi một khoảnh khắc. Nó sát gần tới mức mình không thể nhìn thấy nó. Bởi vì diễn tiến, hiện diện quá nhanh, và chẳng hề có con đường thông thường nào để ‘thấy’ và ‘làm chứng trực tiếp’ những gì đang diễn ra dưới cánh mũi này cả. Nữa nhé, để ‘sống’ tâm trí mình cần nhóm hội và ghi nhận rất nhiều nhiều ở cái nơi vốn chỉ là các bong bóng nổ bôm bốp có mặt rồi biến mất. Làm cách nào, mình nghĩ, mình có thể bước đi, nếu quả thật mình đã từng thế rồi…

Giờ, còn nhớ buồn cười chứ, cái mũ lưỡi trai sành điệu N & Y xoắn bện phụ thuộc và khát thèm không ít người muốn tậu. Liệu mình có thể đập bẹp, uốn phẳng và đơn giản gọi chúng là ‘các phiền não tinh thần’ (defilements), hoặc các cảm xúc giời ơi đất hỡi. E chúng ta còn đề cập đến chúng chi tiết rõ ràng, song chắc hẳn cần đặt trong bối cảnh của đạo đức và khai tâm vỡ vạc những gì bấy lâu mù tịt…

Khuyết tật, trục trặc, thiếu hụt, khó khăn, và một nửa của sự hòa hợp: điều có thể hiểu không hề đơn giản ngay cả khi đã thấy sờ sờ trước mặt…

Lòng thôi tơ tưởng, sông trôi muôn hướng...
Lòng thôi tơ tưởng, sông trôi muôn hướng…

Trạng thái khuyết tật (disability) cùng vô vàn biểu hiện trục trặc, thiếu hụt, rắc rối, khó khăn, bất ổn, … là chủ đề quá dễ khiến thiên hạ chú ý nếu truyền thông cố tình khai thác. Hai vụ đình đám gần đây ở trong nướcngoại quốc càng khiến công luận bàng hoàng về những ví dụ dính dáng sâu xa tới trạng thái định kiến, phân biệt đối xử và mẫu rập khuôn.

Từ “khuyết tật” trỏ điều rõ ràng như chuyện di chuyển khó khăn hay trục trặc cảm quan kiểu bị  câm điếc, mù lòa chẳng hạn; song thực tế, khuyết tật còn bao gồm cả bệnh tiểu đường, nghe kém, rối loạn giấc ngủ, đau mạn tính hoặc viêm khớp, và kể cả rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) bởi vì tất cả các trạng thái ấy có thể quấy nhiễu, phá vỡ các hoạt động hàng ngày. Mình có thể gặp một sinh viên mắc khó khăn về đọc (learning disability) cần thêm thời gian làm bài kiểm tra đủ khiến mình tự hỏi chẳng rõ khái niệm ‘khuyết tật’ có hợp pháp không đây. Sinh viên gặp khó khăn học đường này dễ trải nghiệm mức độ hụt hẫng rất cao và kết quả học tập khá tệ nhưng lại cứ mang giả định rằng năng lực bản thân vốn thấp tè thế thôi. Một người mới tiến triển trục trặc về khả năng nghe có thể đề nghị mọi người nói to lên hoặc lặp lại câu cú song người này không kết nối với trải nghiệm là mình đang mắc mội khuyết tật; người ấy cho rằng ấy chỉ là biến thể trong lắng nghe thôi hoặc nghĩ do môi trường khiến việc nghe khó khăn…

Nếu họ chưa bộc lộ, nào ai dám chắc kẻ đấy bị một khuyết tật vô hình. Với nhiều định kiến và phân biệt đối xử ghê gớm, quyết định bộc lộ một khuyết tật vô hình với tha nhân e sẽ đè nặng tâm trí rất kinh khủng, khiến nảy sinh nhiều thách thức ghê gớm về mặt xã hội lẫn công việc; chuyện che đậy gây ảnh hưởng tiêu cực về sức khỏe  thể chất và tinh thần; ngược lại, thái độ cởi mởi giúp người trong cuộc tìm thấy rồi phát triển mạng lưới hỗ trợ xã hội với đối tượng cùng hoàn cảnh hoặc trải nghiệm.

Thực tế rõ ràng là người quản lý, thầy cô giáo, và nhiều tầng lớp khác nên nhận ra các thách thức đặc trưng liên quan với dạng thức khuyết tật vô hình. Với nhiều khuyết tật vô hình hay gặp,  thực tế đối tượng cũng chẳng hề tự quan sát thấy các triệu chứng tâm lý hoặc thể chất họ đang trải nghiệm.

Câu chuyện về người đàn ông 32 tuổi đang có vợ con Nick Vujicic chỉ ra rằng bị khuyết tật thúc đẩy chúng ta nhanh chóng thành thật với chính các cảm xúc của bản thân; vì thế,  đó lá lý do mọi người e sợ… Phải cởi mở, nỗ lực tiến hành một bước đi đặc biệt. Ấy không phải sự khiếm khuyết của người ấy biểu tỏ mà chính bản thân con người ấy đích thị thể hiện vậy.

Trạng thái bất mãn về giới: vẫn đầy phiền muộn và còn nhiều bỏ ngỏ…

Xem cái clip nhân Ngày Mồng Tám Tháng Ba thật thú vị và đầy ý nghĩa nhắc nhở nhiệm vụ bất khả chối từ.

“Bạn nghĩ mình là nam hay nữ?”
“Em nghĩ mình là nữ ạ”

“Điều gì định nghĩa một người phụ nữ?”
“Sự thông minh, sắc đẹp và sự nữ tính”

“Theo bạn ngày 8/3 Quốc tế phụ nữ có dành cho mình không? ”
“Có ạ”

“Tại sao?”
“Vì em được gia đình và người yêu ủng hộ, sống thật với giới tính của mình”

Những nỗi niềm như dưới đây tiếp tục khẳng định mọi sự không phải lúc nào cũng được ghi nhận, thỏa ý.

Em là gã đàn ông 34 tuổi đã lập gia đình và có một em bé rồi. Em từng có một bí mật là thích ăn mặc áo quần con gái hồi mới là nhóc con 5 tuổi; em nhớ mình cảm thấy thật tuyệt vời và sung sướng quá độ. Em tự trấn an rằng các cảm giác kiểu đó sẽ biến mất khi em lớn lên; khủng khiếp thay, các cảm xúc này lại phát triển thành ước ao là một người phụ nữ đích thực. Làm thế nào để em có thể cảm thấy giống như một người đàn ông bình thường? Việc này có cần điều trị gì không ạ?

Chia sẻ trên dễ gợi ý về cái mà giới chuyên môn trợ giúp gọi là sự không hài lòng, bất mãn, khó chịu về giới (gender dysphoria, GD). Thực tế, nhiều người vẫn bắt gặp các cảm giác vốn xuất hiện từ thời thơ ấu này; họ có thể thấy khá khổ sở, căng thẳng ghê gớm về mặt lâm sàng hoặc thiếu hụt trong nghề nghiệp, giao tiếp xã hội, các khía cạnh đời sống khác.

Hiểu cơ bản, lúc còn bé con, chúng ta thường nghe các nhóc nhiều lần thổ lộ ao ước mình là giới kia, hoặc thậm chí không ngừng tin tưởng mình đúng là như thế thật. Chúng hay mặc áo quần khác giới cũng như thích chơi trò, giữ vai tương ứng với giới kia; ngoài ra, các biểu tỏ còn có thể là sự chối bỏ mạnh mẽ các loại đồ chơi đặc thù hay trang phục dành riêng cho giới đó. Cũng có thể là sự ghét bỏ cơ thể và bộ phận sinh dục của chính mình. Khi bước vào giai đoạn vị thành niên, các triệu chứng này thể hiện thành ao ước là người thuộc giới kia, được đối xử như giới kia, và thậm chí sống ở ngoài thực như người thuộc giới kia; giai đoạn vốn phức tạp này sẽ làm cho trẻ như thế càng cảm thấy khổ sở thêm khi buộc phải đương đầu với các cảm giác và vấn đề bản dạng ấy. Cả người trưởng thành lẫn vị thành niên đều nảy sinh nhu cầu khát khao giải thoát mình khỏi các đặc trưng giới tính ban đầu và thứ phát rồi thường thêm đoan chắc rằng mình được sinh ra với giới tính sai lạc hẳn rồi. Ý nghĩ về chuyện mình cảm nhận về bản thân từ bên trong không hề sát khớp với cái nhìn bên ngoài có thể gây nên nỗi niềm đau đớn với không ít người; họ tìm đến sự khuây khỏa nhờ liệu pháp thay thế hormone (HRT), phẫu thuật và các thủ tục phức tạp nhằm thay đổi ngoại hình (tham khảo). Một số chỉ thấy thoải mái khi sống ngoài đời đúng như là người của giới kia, số khác thì thích tiếp tục với bản dạng giới tính đã được ấn định từ hồi mới chào đời.

Trạng thái bất mãn về giới từng được gọi là rối loạn bản dạng giới (Gender Identity Disorder, GID), có người thì quen dùng thuật ngữ là đối tượng chuyển đổi giới tính (transsexuals); hiện tại, có vẻ ‘những người không theo chuẩn về giới” (gender noncomforming) là thuật ngữ tốt hơn nhiều vì nó chỉ cho cả những ai không cảm thấy mình thuộc về bản dạng nam hay bản dạng nữ.

Nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới cho biết họ muốn mình ‘cảm nhận như một người đàn ông bình thường’ hoặc ‘cảm nhận như một phụ nữ bình thường’ tương thích với định hướng hoặc bản dạng giới họ từng được nuôi dưỡng. Tuy thế, mục tiêu của trị liệu không phải là thay đổi các ý nghĩ này mà bắt đầu trợ giúp người ấy quản lý ác các cảm xúc này tốt hơn. Trị liệu không nên nhắm vào việc mình nên cảm thấy hoặc hành động ‘như một người đàn ông” mà thay vào đó, giúp mình hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra cũng như hỗ trợ mình trong những lựa chọn mình ra quyết định (ví dụ, sống ngoài đời như một bản dạng giới đàn ông hoặc phụ nữ, hoặc có lẽ là giới tính lưng chừng, mơ hồ (‘genderqueer’). Tiếc thay, nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới bị trầm uất và lo âu khi cố gắng hoài giải và quản lý các cảm xúc kiểu thế. Đáng lưu ý, thường xuất hiện nguy cơ khá cao muốn tự sát với nhóm này. May mắn là hiện có rất nhiều tổ chức và nhóm hội sẵn sàng trợ giúp các bạn giải quyết các cảm xúc vướng mắc.

Các cá nhân chuyển giới có nhu cầu lớn lao cho những đổi thay về các khía cạnh xã hội, nghề nghiệp và luật pháp. Chắc chắn, vẫn còn định kiến dai dẳng và nặng nề liên quan với chuyện đang bàn, và bước chuyển thay đổi chẩn đoán từ GID sang GD là hướng đi đúng đắn. Tuy vậy, nếu không có các điều kiện ‘mang tính chẩn đoán’ thì lại dễ gây khó khăn cho những ai muốn tiếp cận dịch vụ chăm sóc ý tế khi họ cần thay đổi trong giao dịch về bảo hiểm, dù thực tế nó còn là câu chuyện chưa ngã ngũ.

Lời cuối. Bản dạng giới thì không phải là bản dạng tính dục (sexual idnetiy). Người gặp trạng thái bất mãn giới có thể ổn thỏa trong việc thích hoặc yêu người có cùng hoặc khác giới với họ. Với đa phần chúng ta không phải rơi vào trạng thái bất mãn giới, cần hiểu cả loạt vấn đề mà các bạn bất mãn giới phải đương đầu, giải quyết như dùng đại từ nhân xưng nào gọi mình, mang một cái tên không tương thích với giới của bản thân, quyết định vào phòng vệ sinh nào cảm thấy thoải mái hơn, điền đúng vào ô khi khai các mẫu đơn thư và giấy tờ, thủ tục hành chính thường nhật, v.v…

‘Giới tính theo quy chuẩn’ có thể quen được sử dụng để mô tả cách mình nhìn nhận và cảm thấy về bản thân và về hành vi của mình tương thích với bản dạng giới. Song không phải mọi người ai cũng đều được hưởng đặc quyền tưởng chừng đơn giản như vậy.

Quan sát trong thiền tập

Ai từng trải qua khóa thiền Vipassana gần 12 ngày thảy đều có thể cảm nhận rõ ràng về vai trò của quan sát khi được đề nghị thực hành theo dõi: hơi thở vào ra bên trong khoang mũi, dùng tâm trí quét dọc ngang thân thể từ trên đỉnh đầu xuống dưới chân rồi vòng lại, chú ý tới khoảng tam giác bé xíu ngay dưới cánh mũi, v.v…

So sánh các kỹ thuật Phật giáo của việc quan sát (Vipassana) chúng ta có thể phân biệt cách tiếp cận khác nhau tạo nên nhiều điều đáng để suy ngẫm.

Đầu tiên, xác lập tự thân việc quan sát chỉ là ‘quan sát những gì hiện là’ trong giả định mọi thứ diễn bày trung tính. Các truyền thống khác nhau định rõ đây đơn giản là việc ‘nhìn vào những gì đang xảy đến’ mà không can thiệp, dính líu tới.

Để mặc khoảnh khắc mà độ tập trung có thể xảy đến hoặc không đạt tới được, trường phái tư duy đặc thù một cách truyền thống này tin rằng điều đó đủ cho việc “quan sát hết sức tỉnh thức”. Với họ, sự đói khát thường tương đương với nỗi thèm muốn, ước ao hoặc ghét bỏ trong các cảm xúc.

Cách tiếp cận thứ hai kế thừa mọi điều vừa nêu, tuy thế họ yêu cầu phương thức quan sát đầu tiên xét kỹ một điểm tinh tế và quan trọng: nếu chúng ta nhất trí, đối tượng quan sát của chúng ta là danh- sắc-và- hình- tướng cũng như ý thức và rằng chúng ràng buộc nhau bởi một dạng thức nọ kia sâu xa của trạng thái khát thèm, hơn là hàm ý mỗi một khoảnh khắc khi chúng ta trải nghiệm có ý thức khoảnh khắc của ‘tôi đang quan sát nơi đây’ và ‘có đối tượng được tôi quan sát’ thì chúng ta đã níu bám rồi. Chúng ta từng tán đồng bằng dạng thức nọ kia rằng cái bị/ được quan sát là của mình hoặc thuộc về chúng ta, tức là chúng ta đang đặt một quan hệ với nó. Do đó, chúng thách thức ta giá mà ‘chỉ để tự mình quan sát’ thì đã tóm lấy cái đầu con rắn chứ không phải hầu hết thời gian thiền tập trải nghiệm việc núm bắt đuôi hoặc thân con rắn. Vậy, dẫn tới việc thiền tập sẽ bao gồm hầu hết thời gian nắm bắt các suy tư, cảm xúc, tri giác, v.v… và không đủ tiêu chuẩn cho những gì Đức Phật biểu thị là ‘chú ý sắp sửa dẫn tới cội nguồn’ của trải nghiệm. Các trường phái Phật giáo truyền bá rộng rãi tuệ giác này thường hay giới thiệu một kỹ thuật chú ý để dừng tâm trí lập tức ngay khi bất kỳ nào khởi lên như “vô thường”, “đau đớn”, “trống rỗng”, v.v… Các nhãn mác này quen được dùng đặng miêu tả ngắn gọn là việc gọi tên tự thân trong dạng thức căn bản nhất của sự chú ý, nhằm dừng chẳng bao lâu sau khi tiến trình phát sinh mỗi một ấn tượng cảm giác được tâm trí ghi nhận. Ở đây, thiền giả cố gắng nắm bắt trải nghiệm cảm giác đang phơi lộ của con rắn sát gần đầu nó khả dĩ. Tiến trình này thoạt trông rất giống cách mô tả bên trên, song rốt cuộc ẩn bên dưới nó, tiến sát gần hơn tới một dãy chân trời- sự kiện trải nghiệm sinh khởi. Cách tiếp cận thế tạo công cụ thiết yếu để “khôn ngoan nhìn thấy khởi lên và biến mất” về thế giới (lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà không hề thỏa hiệp. Một thỏa hiệp hàm ý để mặc tâm trí phơi tỏ trong một mối quan hệ với đối tượng mà kết cục người ta sẽ tri nhận tự thân sự đang quan sát: bắt chụp rõ ràng trong tính hai mặt, đối ngẫu.

Dù cách tiếp cận thứ ba cũng kế thừa mọi thứ đã trình bày, song nó lại không cho phép bất kỳ ‘lời bào chữa’ nào do không lưu tâm, ghi nhận tới. Nói khác, trong khi cách tiếp cận/ trường phái thiền tập thứ hai vẫn làm dúm dó và biện hộ một sự thay đổi dự tính sẵn trong quan sát thiền tập, cách tiếp cận thứ ba này khẳng định rằng một khi chúng ta bước vào mô thức quan sát như thế thì thể nào ngay bây giờ điều chi hẳn là đều được quan sát một cách nhị nguyên, mang tính đối ngẫu. Tỷ dụ, trong khi một số tuệ giác của thiền sư theo cách tiếp cận thứ hai hợp pháp hóa rằng một thiền sinh có thể ‘thay đổi đối tượng thiền tập nếu một đối tượng thứ phát trở nên hay gặp’, cách tiếp cận thứ ba quả quyết không nên có điều tựa thế. Nếu chúng ta dấn thân vào bất kỳ điều quan sát nào nhằm cố thấy ra những gì đang hiện diện đúng với căn cốt của nó thì ngay cả một ước muốn/ dự tính chuyển đổi các đối tượng cũng nên được ghi nhận. Tiếp tục và ước thay đổi đối tượng thiền tập thì thực tế tựa như một cách tiếp cận dính mắc mà kết cục hàm ý ôm nắm và bám níu vào đối tượng quan sát. Một khi khởi sự thiền tập, tự thân việc ghi nhận cũng nên trở thành một đối tượng của ý thức! Đích thị khó khăn để lại ngừng ngay cả việc thiền tập này song như tất cả chúng ta đều biết, ham muốn và luân hồi sẽ rốt cục là cứu cánh khi đồng nhất hóa nỗi đớn đau với thân xác này trở nên ngập tràn quá độ và thiền giả cứ để mặc nó vậy rồi tự định hình bản thân lần nữa.

… Tóm lại, dù ba cách tiếp cận trên có vẻ như mới được nhìn nhận từ viễn tượng mang tính lý thuyết thì tất cả chúng đều muốn trợ giúp thiền giả buông phóng khỏi cái tình gắn bó sâu xa với việc nhìn, nghe, ngửi, nếm… suy tư.

Ngoài ra, nếu tìm hiểu cặn kẽ thì biết là đã có sẵn các hướng dẫn chi tiết. Xin ghi nhận sự kiện rằng bất kỳ điều chi (không có ngoại lệ) đều phải được ghi nhận, và thứ hai cách một cái nhãn ngắn gọn cơ chừng được áp dụng ở đây nhằm ngừng tâm trí nhanh nhất có thể ngay khi vừa quan sát thấy ‘đang bị dính vào’ hoặc là ‘thành phần’ của câu chuyện.

Chí ít, có ba mô thức thực hành đáng lưu tâm kỹ càng. Trước tiên, vốn đang lan rộng phổ quát ở các điểm tu tập thiền định tại phương Tây là chuyện nhấn mạnh khía cạnh tâm lý của các nhóm ôm nắm hoặc các bầu khí cảm giác được thay thế bằng một diễn giải đậm tính triết lý quá. Thứ hai, đặc trưng bởi việc không ngừng gây trở ngại cho tiến trình ghi nhận vì sự lợi lạc của ‘kỹ thuật’ mà khá buồn cười, có vẻ gây ra hạn chế cho chính sự triệt để của khoảnh khắc đó. Thứ ba, áp dụng việc ghi nhận tất cả bao quanh mà không loại trừ bất kỳ điều gì.

Tri ân sự nỗ lực chú ý dõi theo bài viết của độc giả và chúc quý vị may mắn với việc quan sát kỹ lưỡng, thấu triệt.

Điều đích thực là vấn đề

Kể cũng ngộ, mình có thể cảm thấy cần làm việc chuyên cần hơn đặng hoàn thành mục tiêu; các cảm nhận về tính quả quyết cơ chừng dễ là kết cục nảy sinh do trạng thái mất an toàn, và mình phát hiện bản thân bù trừ quá mức với bất kỳ thiếu hụt nội tâm nào.

Đây sẽ là thời điểm tốt để kiểm tra các mục tiêu cuộc đời nhờ nhìn vào bên trong. Tưởng tượng chính mình trong tương lai, vào giai đoạn cuối. Thử gắng nghĩ xem đâu sẽ đích thực là vấn đề, những gì mình muốn thành tựu. Và thú vị, mình nhận thấy những thứ như tính cách, từ bi, và rộng lượng sẽ ngày càng mang nhiều ý nghĩa với bản thân hơn hẳn, so với những thành tựu trong công việc.

Nghĩ về những điều ấy nhờ hiển thị hóa mình vốn sở hữu và cách thức khiến mình trở thành một con người toàn diện và đủ đầy đúng như mình vốn thế! Tự hỏi chính mình đích thực cần những gì để việc thực hiện hoàn mãn, tự dưng sẽ nhận ra mình đã sẵn có mọi thứ rồi.

Nhắm vào những gì thực sự quan trọng là phương thức tốt để ý thức một đời sống hoàn mãn đích thị ra sao, cũng dễ dàng để bắt chụp thành công trong công việc hàng ngày. Chúng ta sẽ cảm thấy một sự thăng tiến hoặc niềm tự hào to lớn khiến mình cảm thấy hoàn hảo.

Dù sự thỏa mãn sâu xa đến từ bên trong, khi chúng ta nghĩ về chuyện mình là ai và làm thế nào mình làm phong nhiêu hơn đời sống những người xung quanh, sự bất định của chúng ta chợt bị buông xả, rời xa và biến mất tăm dạng. Làm việc nghiêm túc, bài bản và chăm chỉ với điều đích thực là vấn đề, mình sẽ nhận ra một cảm nhận tự tin vững chắc hơn về chính bản thân mình.

Xác định hành vi bất thường và mô hình y khoa điều trị rối loạn tâm thần

Khi xem xét các yếu tố quan trọng nhất liên quan đến sức khỏe tâm thần nói chung, thường một chuyện đích thực căn bản lại rất hay bị lờ đi. Đó không phải là chuyện giảm stress, một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục, các quan hệ tốt đẹp, hoặc tuân thủ thuốc đã chỉ định.

Điều gì ư? Đó là để họ ngủ như với người lính sống sót trong vụ tai nạn chết người do rơi máy bay. Lên cơn hoảng loạn, ngất xỉu, kiệt sức và sợ hãi, nhiều người trải qua sang chấn có thể cảm thấy thân xác rã rời và suy yếu với trạng thái tinh thần bị đánh sụp nghiêm trọng.

Tại sao ta làm điều ấy trước tiên? Bởi vì ngủ là điều quan trọng nhất để phục hồi sức khỏe tinh thần. Chúng mình có thể đã lâu không ăn, uống gì song không thể không ngủ; vấn đề quan trọng này thường hay bị lờ đi, và chúng ta quen nhắm tới chế độ dinh dưỡng và tập luyện thân thể. Ngủ quan trọng, song người ta thường nỗ lực lập công đến độ quên ngủ đủ vì muốn phá vỡ các kỷ lục thế giới. Sau vài ngày, người ta khởi đầu ảo ảnh, ngôn ngữ trở nên mông lung và các giác quan dần trục trặc. Thiếu ngủ là vấn đề nghiêm trọng gây ra các nguy biến cho sức khỏe nói chung.

Dĩ nhiên, nghệ thuật và trò chơi không chỉ dành riêng cho trẻ con. Các hình vẽ, đường nét cho người ta phương thức biểu đạt những gì xảy ra với bản thân nhiều hơn là dùng thuần túy kể lể. Nền văn hóa chúng ta còn chú trọng đến giá trị của các từ cất thành tiếng cùng lắm suy tư đầy trí tuệ. Song các cảm xúc, thường biểu đạt qua nghệ thuật và trò chơi, có thể đôi khi mang quyền năng gấp hàng ngàn lần; liên quan riêng đến sang chấn, dân gian quả là sáng suốt qua ví von: “một bức tranh giá trị cả ngàn lời nói”.

… Lòng vòng chút để quay về bàn thế nào là hành vi bất thường cũng như vấn đề xác định rối loạn tâm thần.

Khi miêu tả mô hình y khoa áp dụng cho việc chẩn đoán bệnh tâm thần, thường thấy giải thích rằng bệnh tâm thần được nhìn như hành vi bất thường, và điều ấy làm nảy sinh câu hỏi: làm thế nào chúng ta quyết định một hành vi con người nào đó là ‘bất thường’ và ‘bình thường’?

Liệu chúng ta nên gọi hành vi vô đạo đức là ‘bất thường’? Nếu vậy, chúng ta sẽ áp dụng đạo đức loại gì đây? Một số nền văn hóa cho phép có nhiều vợ, một số xem như thế là vô đạo đức; một số cho phép dùng rượu bia, một số xem thế là vô đạo đức; một số ăn thịt bò, một số xem bò là vật thiêng nên việc ăn thịt bò là vô đạo đức. Phiên bản đạo đức nào đảm bảo tính chuẩn tắc đây? Liệu chúng ta nên gọi các hành vi đặc biệt là ‘bất thường’? Tôn giáo của ai đó có thể là ‘bất thường’ với niềm tin của kẻ khác.

Chúng ta nên gọi hành vi đặc biệt là ‘bất thường’? Đặc biệt, khác thường với ai? Một số nhìn việc xăm hình là bất thường, một số không; một số cho là bất thường khi nghe các tiếng nói hoặc nhìn thấy những điều không hiện diện nơi này, những người khác xem xét điều ấy như là trải nghiệm tâm linh. Các nhà tâm lý tin rằng một số tác gia sáng tạo nổi tiếng như Isaac Newton, Albert Einstein, Vincent Van Gohh, Emly Dickinson là các nhân cách có biểu hiện, kiểu dạng tâm thần phân liệt. Chuyện gì xảy ra nếu giả định là họ bị buộc phải làm người bình thường? Làm thế nào điều ấy ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của họ?

Một cách có thể xác định vấn đề các hành vi trở thành “bất thường’ và cần can thiệp tâm lý là khi thân chủ trải nghiệm hành vi đang có vấn đề, hoặc nhận ra hành vi quấy nhiễu việc thực hiện chức năng khiến họ không dấn thân đủ đầy trong đời sống, như họ xác định về chúng. 

Theo thời gian, cơ chừng cách nghĩ này vẫn còn hữu dụng. Điều quan trọng là lưu ý rằng tùy vào thân chủ để quyết định xem hành vi trở thành vấn đề, chứ không phải do ai đó khác. Chúng ta gặp người cứ khăng khăng đòi ai đó cần phải thay đổi hành vi của họ; kiểu như viết thư hỏi làm thế nào để buộc một người bạn nhất thiết dùng thuốc, rõ ràng, người này không thoải mái với hành vi và trải nghiệm của bạn mình, song thật tiếc chúng ta không nhìn thấy anh ta khó chịu với hành vi hoặc trải nghiệm của bản thân.

Có thể xác định ‘chức năng’ như này. Là người đó:

  1. ăn
  2. ngủ
  3. tương tác với người khác theo ý thích
  4. làm việc như mình thiết lập
  5. tiến hành thích đáng việc tự chăm sóc bản thân như cách họ xác định (ví dụ, vệ sinh, chăm chữa y tế)

Vậy áp dụng cách nào trong thực tế? Liệu người dưới đây là ‘bất thường’?

  1. Một người đàn ông mặc bộ đầm dài
  2. Người làm nhà sống trên cây
  3. Ai đó chọn lối sống ‘ẩn dật’

Rốt ráo, tất quay về xem họ tự đánh giá đấy có là vấn đề không; trừ hai ngoại lệ với nguyên tắc chung này là:

  1. Khi ai đó ngừng ngắt hoàn toàn chức năng đến độ đời sống của họ gặp nguy hiểm. Nếu họ không thể ăn uống, ngủ nghỉ, có xu hướng gây thương tích hoặc sức khỏe đe dọa mạng sống hoặc họ thể hiện hành vi khác đe dọa mạng sống trong một vụ can thiệp đảm bảo chất lượng song không được họ đồng thuận.
  2. Khi ai đó gây nguy hiểm cho những người khác, một vụ can thiệp đảm bảo bảo chất lượng song không được họ đồng thuận.

Tuy vậy, nếu họ không hề tự gây nguy hiểm cho bản thân hoặc cho người khác thì tôi tin, thân chủ nên là người quyết định hành vi của họ là ‘bất thường’ hay không và có ước muốn nhờ sự trợ giúp. Bạn đọc nghĩ gì, làm thế nào chúng ta quyết định thế nào ‘bình thường’ và khi nào thì hành vi trở nên ‘bất thường’?

Hệ thống vẫn tận dụng được để chẩn đoán và điều trị các ‘rối loạn’ tâm thần là mô hình y khoa. Thế nào là ‘mô hình y khoa’ và tại sao nó lại quan trọng đối với sự hiểu biết của quảng đại quần chúng?

Mô hình y khoa là một cách để nhìn nhận về các vấn đề sức khỏe tâm thần. Có thể chỉ ra những điểm khác biệt giữa mô hình y khoa và mô hình xã hội trong nhìn nhận các thiếu hụt thể lý, tinh thần hoăc cảm quan chẳng hạn.

Khái niệm ‘bất thường’ được mang khoác vào một ý nghĩa ngụy khoa học rất lớn; vốn nó dựa trên các lượng giá từ quan điểm khuyết thiếu chống kháng với sự bình thường: những gì người ta không thể làm, so với những gì ai đó có thể thực hiện được. Mô hình y khoa, tỷ dụ, nhìn người khuyết tật như kẻ có vấn đề; họ cần được thích ứng với thế giới như nó là vậy.

Nền văn hóa đặt nặng vào mô hình y khoa về sức khỏe tâm thần. Nếu chúng ta trải nghiệm khó chịu về mặt tinh thần hoặc cảm xúc căng thẳng thì rồi ta vội tìm đến bác sĩ để được cho toa uống thuốc. Làm thế nào điều này ảnh hưởng tới việc điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần?

1. Các cảm xúc được xem là ‘bất thường’ và ‘được điều trị’. Tại sao điều này lại là vấn đề? Bởi đa phần các đáp ứng cảm xúc đối với những sự kiện ở đời là bình thường.

2. Bác sĩ ‘chỉ định’ thuốc. Bệnh nhân trải qua các chuyện tác dụng phụ hoặc phàn nàn về cảm xúc của họ đang bị ‘tê đờ’ có liên quan với việc thay đổi thuốc uống. Bệnh nhân gián đoạn việc uống thuốc vì họ cảm thấy chúng không hiệu quả, hoặc gây tác dụng phụ chẳng chịu đựng thêm được nữa so với nhãn mác khuyến cáo.

3. Bệnh nhân được điều trị không như một người cộng sự hoặc đối tác bình đẳng trong mối quan hệ bác sĩ/ bệnh nhân. Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân và đưa ra các y lệnh, chỉ định. Thường thì các chẩn đoán không được thảo luận với bệnh nhân cũng như không hề mời gọi họ tham gia vào tiến trình chẩn đoán.

4. Một chẩn đoán sai lệch khỏi chuẩn mực hoặc tính bất bình thường thì cần tìm đến việc giải quyết vấn đề sức khỏe tâm thần. Phương pháp giải quyết các vấn đề sức khỏe tâm thần quá phổ biến đến độ nhiều thân chủ tin rằng họ phải được chẩn đoán thì mới giải quyết được vấn đề. Đây đích thực không phải là sự thật. Hệ thống chẩn đoán được tạo ra tuân theo mục đích nghiên cứu; về sau được các hãng dược chấp nhận như một mã hóa các ‘rối loạn’ phục vụ mục đích của họ. Một chẩn đoán không nhất thiết điều trị một vấn đề trục trặc thuộc sức khỏe tâm thần và nhiều nhà thực hành chối từ việc đưa ra chẩn đoán. Nhiều nhà lâm sàng tin là việc chẩn đoán đặt một  nhãn mác không cần thiết để bảo thân chủ rằng họ đang ‘bất thường’ bất chấp việc họ không ngừng nhận ra dù làm bất kỳ gì, thân chủ đang thể hiện một cơ chế phỏng vệ mà họ phát triển nhằm giải quyết với đời. Họ thích nhìn thân chủ như các kẻ sống sót làm bất cứ điều chi để vượt thoát được giai đoạn này. Họ nhìn nhận thân chủ là đối tượng đang đề nghị được giúp đỡ như con người hiện kiếm tìm các cách thức phát triển tốt đẹp hơn theo hướng giải quyết vấn đề, và đây là sự lựa của một con người hết sức lành mạnh.

5. Hành vi ‘bất thường’ được xác định rồi và bất kỳ điều gì khác biệt với nhãn mác này là ‘bất thường’ và đôi điều gì đó vì thế, cần được chỉnh sửa, khớp khít lại. Song ai xác định như nào là ‘bình thường’. Sự chuẩn tắc đến từ ai?

6. Lĩnh vực y khoa chịu ảnh hưởng sâu nặng bởi các hãng dược hướng tới thuốc men đầu tiên, và đôi khi, là cách điều trị duy nhất dù có nhiều cách khác tương ứng và lắm lúc tính khoa học còn đáng tin cậy hơn. Một ví dụ, nghiên cứu khẳng định nhất quán rằng tâm lý trị liệu với trầm cảm có thể nên được dùng là liệu pháp trước tiên trừ khi người đó hăng hái tự sát. Các thuốc chống trầm cảm chỉ nên dùng thêm vào khi tự thân tâm lý trị liệu không đáp ứng ổn thỏa toàn bộ hoặc bản thân người đó không chắc với chuyện họ tự sát hoặc không đảm bảo chức năng đủ để tham gia các phiên trị liệu. Tiếc là tâm lý trị liệu hiếm khi được khuyến cáo trước, và đầu tiên thường luôn là thuốc chống trầm cảm.

Điều quan trọng là cần hiểu biết cách thức mô hình y khoa tác động đến việc điều trị các vấn đề sức khỏe tâm thần trong đời sống văn hóa của chúng ta. Quan trọng không kém còn là việc nhận ra có các phương pháp trị liệu thay thế khác nữa. Các thân chủ nên được khuyến khích kiếm tìm các phương thức lành mạnh tác động đến cảm xúc và tâm trạng của họ bất kể đó là việc luyện tập thể lực, thiền tập, thay đổi chế độ dinh dưỡng lành mạnh hơn, ngủ nhiều hơn, giảm thiểu các tác nhân gây stress trong đời sống, chuyển đổi công việc, tham gia trị liệu tâm lý, giải quyết các bất ổn trong hệ thống gia đình, đăng ký học một lớp yoga, dành nhiều thời gian hơn cho gia đình hoặc các sở thích, biểu đạt bản thân thật sáng tạo hoặc phát triển chiều kích tâm linh,… Thân chủ nên được nhìn nhận lại sức khỏe tâm trí và việc trị liệu sức khỏe tâm thần trong chuyện chăm sóc và chữa lành bản thân theo cách riêng.

Kết thúc một cuộc hôn nhân bị hành hạ kinh khủng và lạm dụng thê thảm

Câu chuyện tình cờ đọc thấy này khiến tôi quan tâm chủ yếu từ khía cạnh mà hình như chưa thấy cánh báo chí hoặc độc giả bàn luận thấu đáo: làm thế nào chuẩn bị cho sự kết thúc tốt đẹp một cuộc hôn nhân trải qua chịu đựng đau đớn kinh khủng và lạm dụng kéo dài thê thảm đến vậy.

Những gã giống như chồng của người phụ nữ mang đặc trưng của dạng được gọi là các rối loạn nhân cách (personality disorders). Trong khi họ thảy đều có các lịch sử cuộc đời và nền tảng xuất thân khác biệt, hành vi của họ lại khá tương tự nhau. Các cá nhân này lạm dụng, hăm dọa, hạ mình, kiểm soát và đòi hỏi như một nhân cách ghê gớm. Quan trọng nhất, hành vi cá nhân của người phụ nữ ít bộc lộ ra nhiều với cách thức mình được đối xử trong hôn nhân. Người phụ nữ có thể là người bạn đời tốt nhất, và sự đối xử của họ vẫn như thế thôi.

Như một nạn nhân, quan hệ với kẻ lạm dụng chứa sự kiệt sức khủng khiếp về mặt cảm xúc. Họ cố tình nỗ lực tối đa để hủy hoại sự tự tôn của người vợ. Tình yêu và hội chứng Stockholm quen thuộc miêu tả tại sao người bình thường lại hay duy trì các mối quan hệ bị lạm dụng.

Khi bỏ qua một lịch sử hôn nhân bị lạm dụng, chúng ta muốn nhắm tới tình tiết sự vụ giải quyết của chuyện ly dị/ tách ra chứ không phải mối quan hệ. Một kẻ hăm dọa muốn tập trung khai thác các chủ đề anh ta từng quen dùng trong quá khứ: chỉ trích cá nhân, đe dọa, lăng nhục, v.v… Cũng lão luyện rành nghề trong chuyện diễn xuất, các kẻ này dùng hàng loạt hăm dọa vốn phi thực tế và khi không khả thi, họ thường dùng mặc cảm tội lỗi hoặc lời hứa hẹn thay đổi, hay “anh muốn được giúp đỡ”. Người phụ nữ nên nhắm vào tiến trình giải quyết. Một trò giải trí kinh điển của đối tượng là gọi cho đứa con, hỏi năm đầu ba sợi rồi tìm cơ hội để tấn công lòng tự tôn của bà vợ. Khi điều ấy xảy đến, họ sẽ nói đại khái kiểu như “Cuộc gọi này vì con, chứ không phải cho anh”, rồi gác máy. Người phụ nữ không nên tán đồng nói về thời xưa cũ hồi nào. Lưu ý người thân trong nhà và cảnh báo về chuyện diễn xuất hoặc đe dọa. Người phụ nữ đừng quên rằng lý do để gã này thù địch vì bà vợ thụ hưởng lợi thế hợp pháp vào thời điểm hiện tại. Các kẻ kiểm soát rất cáu gắt và tức giận khi sự kiểm soát một tình huống (giống như một cuộc hôn nhân vậy) bị đẩy tới đầy thách thức hoặc bị thay đổi theo bất kỳ cách nào. Hồ sợ ly hôn cho người phụ nữ quyền đặt mình vào sự kiểm soát, điều khiến đối tượng dễ thấy rất rối ren.

Khuyến cáo làm tham vấn tâm lý khi người phụ nữ trải qua giai đoạn khó khăn này. Nếu đang thấy các dấu hiệu trầm cảm, người phụ nữ nên xin ý kiến bác sĩ gia đình hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần. Sự vụ đòi hỏi hỗ trợ từ người thân, bà con và giới chuyên môn để giúp người phụ nữ quay về với đời sống bình thường mà cô xứng đáng được như thế.

… Cho dẫu dự tính ly thân, cơ chừng vấn đề của người phụ nữ thường không phải là đang muốn bỏ đi…; đó là chuyện sức chịu đựng và độ bền bỉ cho việc tách biệt. Lần nữa, cần định hình kẻ thất bại trong quan hệ và hội chứng Stockholm khi yêu thương. Gã chồng minh họa việc sử dụng các kỹ thuật thể hiện một kẻ lạm dụng, kiểm soát và “gây độc hại”. Cần có các khuyến cáo người phụ nữ tạo ra một kế hoạch thoát ra và cách thức không dính mắc chi với các vấn đề nhỏ nhặt; hội chứng Stockholm mô tả các kết nối chúng ta thường có với bạn đời lạm dụng và phương thức thay đổi lối sống để chung đụng, sống được với kẻ lạm dụng.

Thiển nghĩ, để thoát ra yên an nhất, người phụ nữ cần một kế hoạch ra đi đã; có thể phải tốn nhiều tháng trời để xây dựng lại sự tự tôn, chuẩn bị cho đoạn kết của quan hệ vợ chồng, và rà soát, xem xét các trạng thái tài chính, pháp lý và xã hội. Thật hữu ích nếu diễn tập các kịch bản cho chuyện ly hôn; với mỗi thứ, trạng thái độc hại của quan hệ và sự bất mãn của người phụ nữ sẽ thu hút sự chú ý của gã chồng. Trong khi anh ta không hề thay đổi đáng ghi nhận hành vi lạm dụng, các ý nghĩ về một cuộc ly dị hoặc kết thúc hôn nhân sẽ không phải là toàn bộ cú sốc đối với anh ta.

Người phụ nữ đừng gửi đi các thông điệp mập mờ và đan xen kiểu “Tôi muốn ly dị dù vẫn còn yêu anh ấy” hoặc dạng muốn ly thân song không tố cáo gã chồng. Khi người vợ tách ra, anh ta sẽ làm cho cô ấy lưu tâm tới chuyến hành trình cảm xúc đầy khổ sở, dằn vặt song người phụ nữ có thể báo cho anh ta biết rõ ràng rằng bất chấp mọi nỗ lực, những sự xa cách, v.v… không có điều chi cải thiện được tình hình. Cô ấy có thể đưa ra một hy vọng cho kết thúc êm thấm mối quan hệ theo cách làm tổn hại thấp nhất đôi bên và những ai liên quan. Nhấn mạnh khía cạnh cảm xúc của cuộc hôn nhân đã không còn và các quyết định đưa ra về cách thức kết thúc chỉ là chuyện sự vụ, thủ tục mà thôi. Nếu được, người phụ nữ muốn làm việc với một nhà tham vấn tâm lý như một phần kế hoạch vượt thoát; hữu ích trong việc định dạng các thái độ, hành vi về phần người phụ nữ quen biểu lộ, suy tư để chịu đựng cuộc hôn nhân đã bị ngộ độc theo thời gian với người chồng “nghiện rượu và vũ phu” (dĩ nhiên, không nhất thiết tiến hành lúc này hoặc là nguyên nhân gây rắc rối cho tương lai).

Đáng lưu ý, ngoài biểu hiện tượng cẳng chân hạ cẳng tay dễ thấy, người lạm dụng kẻ khác về mặt ngôn từ không chỉ thấy hành vi của họ đích đáng (“Cô ta đáng bị như vậy”) mà họ còn đổ tội sang lỗi cho những người khác về các cơn tức giận bùng phát và cảm nhận về quyền được làm thế nữa. Vì lý do ghê gớm vậy, sẽ không hiệu quả để thảo luận tới lui về chuyện lạm dụng nói năng. Người phụ nữ không cần thiết lên danh sách các giai đoạn nhằm chứng thực việc ra đi là đúng đắn; cùng lúc, chẳng cần gã kia thấu hiểu tại sao mối quan hệ giữa họ đang đầu độc người vợ. Một số kẻ lạm dụng đáp ứng kiểu “Anh không hiểu tại sao vợ chồng mình lại không tiến hành việc này” khi đương đầu với một cuộc ly dị hoặc ly thân. Đó thực sự là sự trì hoãn có ý đồ chiến lược, cho phép họ có thêm thời gian lại cãi cọ và ngược đãi về sự tự tôn của người phụ nữ trong khi gã ta tìm kiếm thêm các chiến thuật và chiêu trò mới.

Cầu chúc người phụ nữ mọi điều tốt lành khi cô ấy quyết tâm muốn thay đổi và sống một cuộc đời khác.