Ý tưởng tay ngang

Những con cá lội dưới nước dọc theo đoạn kênh vuông thành sắc cạnh dẫn bao quanh mấy cột nhà bằng gỗ; chúng lắc lư thân mình khó nhọc tới lui song cơ chừng đôi mắt si dại kia cứ ngó trơ như ngầm thú nhận rằng thật khó biết tại sao ý tưởng lại không toi.

Không phải lúc nào cũng nhất thiết phải xuyên thành phố từ đầu này tới góc nọ thì mới giải quyết vấn đề được. Xác định các mẫu hình trong quan hệ liên nhân.

Bất chấp ước muốn thiện lành mong cầu đến mấy thì sự chuyển di, không ám chỉ vụ đi lại bằng đôi chân trần được cắt tỉa sạch sẽ, luôn gây đau đớn.

Quán café là nơi họ ngồi để mở ngỏ các cơ hội làm đối tác cùng nhau, nhờ thế họ hiểu rằng sự phức tạp của tâm đảm bảo chẳng có một quan điểm nào nắm bắt được toàn bộ sự thật về trải nghiệm người. Đủ cởi mở và tin tưởng, họ tiếp tục tiến trình sống và hành nghề theo nhu cầu cần biết sử dụng (bộ) công cụ mang lại giá trị trong việc tạo nghĩa của thực tế tinh thần rối rắm. Một chuyến đi kết hợp nghỉ ngơi, thư giãn, chăm sóc cơ thể và giãi bày đớn đau nhờ gặp gỡ đêm khuya xứng đáng được thực nghiệm; điều hơi đáng tiếc vốn đeo bám sâu dày là cách tiếp cận y khoa về căng thẳng vốn thuộc giả thuyết hơn là sự kiện được chứng thực.

Giữa giời mưa, chạy qua hầm chui, ý tưởng tay ngang phân vân đứng giữa ngã ba đường lựa chọn trạng thái bị phát hiện hay trạng thái được tìm thấy; lần nữa, dễ thương được tìm thấy, và phát hiện chủ yếu xoáy vô bản chất.

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Tha nhân – trọng tâm trị liệu: một cách tiếp cận thú vị khác

Thường các nhà trị liệu tâm lý rất đặc trưng trong cách làm việc với lối hỏi “nhưng giờ thì chị cảm thấy thế nào?” Song thay vì quấy rầy thân chủ khỏi câu chuyện của họ về thế giới như thế, chính người theo cách tiếp cận tha nhân- trọng tâm (Other- Centred) lắng nghe hết sức cẩn thận rồi đặt câu hỏi trái ngược về đối tác có hành vi khiến thân chủ đang phàn nàn: “nhưng điều gì mà anh ấy thích?”

Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận này phản ánh sự dấn thân đầy ý thức với những người khác, gồm cả các quan hệ con người và tiếp xúc của chúng ta với môi trường xung quanh; là kiểu trị liệu sinh thái (ecotherapy), nó đưa các công việc trị liệu ra ngoài trời và kết nối vởi cả các loại hình nghệ thuật sáng tạo cũng như mối quan tâm xã hội.

Cụ thể hơn, phương pháp tha nhân- trọng tâm thể hiện sự khám phá tri nhận đã điều kiện hóa sẵn rồi và tái lượng giá về các mẫu hình chú ý và hành vi. Những chuyển đổi tri nhận như thế dẫn tới thay đổi tâm lý cá nhân người ta như sự định dạng thích ứng với các điều kiện mới. Phương pháp tích hợp, một mặt thẩm tra các động năng của trải nghiệm, và mặt khác, truy vấn tính xác thực của hiện thể đang tri nhận. Toàn bộ công việc diễn ra bên trong khung đạo đức, sự chú ý hợp trội, tính thấu cảm và các kỹ năng tỉnh thức (mindfulness skills).

Với bài trinh bày tại Hội thảo (2012) của mình, tác giả Caroline Brazier đã thể hiện sáng rõ cách tiếp cận trị liệu rất khác vừa nêu. Theo đó, Brazier làm nổi bật sự cân bằng giữa phát hiện cá nhân, với kết nối thể lý và các bài tập chú ý cũng như các câu hỏi giúp tri nhận dễ dàng hơn, đi kèm khung lý thuyết dựa trên cách tiếp cận của Carl Rogers, các truyền thống nhân văn- hiện sinh và con người- trọng tâm, đề cao mối quan hệ và thấu cảm như các yếu tố chính yếu quyết định trị liệu thành công, và nhà tham vấn từ căn bản tương tự dường như đạt được giá trị tối ưu khởi đi bởi các trực giác mới mẻ…; khi nền tảng được đặt để rồi, trong dạng thức nhân cách và biểu đạt thành niềm tin cá nhân, chúng ta tiến tới ‘tâm lý học Phật giáo’ với khái niệm cốt lõi là các ‘quan hệ đối vật’.

‘Định dạng quan hệ đối vật’ trong ý nghĩa tâm lý học Phật giáo hơn là cảm nhận của Phân tâm, khái niệm này biểu đạt việc “tâm trí bị điều kiện hóa bởi đối vật của sự chú ý”. Và đối vật chúng ta đang chú tâm vào (bất kỳ con người, đồ vật, trải nghiệm gì) thì không nhiều ít, hơn kém chi so với đối vật được tri nhận. Chún ta mong đợi thấy thứ gì, chúng ta thấy thứ đó, và khi thấy thứ đó rồi thì mình lại càng mong thấy nó hơn, và vì thế bị mắc kẹt. Vòng tròn tự củng cố của mong đợi và phản ứng hàm nghĩa chúng ta xây dựng xung quanh mình một bức tường tâm lý nhằm giữ cho bản thân thoát khỏi những điều mình sợ hãi và kháng cự. Và do cuộc đời vốn không dự đoán nổi, có đầy rẫy nỗi sợ hãi và vô vàn kháng cự. Chúng ta bắt đầu dựa cậy, mời gọi cấu trúc tâm thần hoặc phòng vệ này, cái gọi là ‘của tôi’: một định dạng được tạo dựng bao quanh các thói quen chúng ta thiết lập để giúp mình khỏi nhọc trí, bảo bọc bản thân, hoặc lập tức lãng quên luôn.

Sự tạo tác thế giới này, thế giới của chúng ta, hoặc ‘của tôi’, gồm nhiều đối vật khác nhau (người, các trải nghiệm) để nâng đỡ cảm nhận của mình về cái tôi và về thực tế cũng như độ an toàn của các thế giới do mình tạo tác. Chúng ta kiếm tìm các đồ vật và con người hỗ trợ phương cách mình đang muốn nhìn thấy (có thể chúng ta chỉ chọn những ai tán đồng với mình, hoặc có thể mọi người là kẻ thù). Đây là mẫu hình khá quen thuộc trong trị liệu và trong tài liệu tâm lý học, ví dụ, người bị lạm dụng thường duy trì các quan hệ mới và những gì họ thu được càng giống như trước; tựa điệp khúc, ‘làm sao tôi có thể thoát khỏi mẫu hình đó đây?’

Câu trả lời Brazier đưa ra: tập trung chú ý sâu xa vào các đối vật mà ta tri nhận như trạng thái có ý nghĩa đối với bản thân và cách nó điều kiện hóa lối mình suy nghĩ và cảm nhận. Brazier hướng chúng tới thuật ngữ Phật giáo gọi là ‘sắc’ (rupa). Từ này không chỉ mang nghĩa ‘các đối vật được tri nhận’ mà còn trỏ điều gì đó mà quyền lực của nó gây phấn khích và thu hút sự chú ý của chúng ta; có thể gọi nó là một ‘nút bấm’, ‘cú lẩy cò’, hoặc chủ đề quán xuyến khởi lên trong đời chúng ta lặp đi lặp lại, hết lần này đến lần khác.

Nhà trị liệu chú ý tới các rupas, làm bộc lộ chúng ra rồi khám phá sức mạnh của chúng. Các chiến lược khác biệt từ việc thổi phồng ‘phẩm chất rupa’ của đối tượng cho đến việc tạo nên được khoảng cách tách biệt khỏi nó, để tái dựng lại nó khác đi với đầy đủ chi tiết liên quan, trong phòng trị liệu…

Dĩ nhiên, một rupa có thể tương đối khủng khiếp vì thế cần có một sự đánh giá sâu sát về cách thức làm sao giúp thân chủ tương tác với khoảng cách an toàn, làm sao giải quyết với các hồi tưởng, và sang chấn, tạo ra các kỹ thuật nền tảng cũng như cảm nhận về sự nương tựa.

Từ những kỹ thuật dùng tâm kịch (psychodrama) với chiếc ghế trống, các đối vật có thể xem là các mỏ neo, ký ức, hoặc thành phần của tiến trình tạc tượng (sculpting), Brazier tiến tới thảo luận về “tỉnh thức” (mindfulness) với lưu ý rằng, trong khi sử dụng nó như kỹ thuật nhằm nắm bắt những gì đang diễn ra hiện tại với từng khoảnh khắc thì bà còn dùng thuật ngữ này để chỉ việc có một mối quan hệ đáng tôn trọng với thực tế, tưởng thưởng sự khác biệt của nó, và sự kiện là nó không hề diễn ra dưới sự kiểm soát của chúng ta hoặc vận hành theo ước muốn của chúng ta. Đây là điều nhắc nhở cần cởi mở với những người khác và không nên xoắn bện thực tế khớp khít với cảm nhận riêng của chúng ta về bản ngã, dù nó tích cực hoặc tiêu cực đi nữa; nó cũng nhắc nhở về chiều kích tâm linh và tính thiêng, ngay cả khi những thứ này không nên mang vào quá đặc thù trong quan hệ trị liệu.

Như thế, đối lập khá dữ dội với các nhà trị liệu khác, người tiếp cận theo phương pháp tha nhân- trọng tâm đi sâu vào các câu chuyện của thân chủ rồi xem xét chúng mang ý nghĩa ra sao với thân chủ, nhắm vào các cảm xúc và định dạng chúng như là cái làm tăng thêm vấn đề hơn là giúp ích cho thân chủ… Brazier hướng tới quan điểm là một người lành mạnh khi họ dấn thân trọn vẹn vào những gì họ đang tiến hành hoặc với người mà họ đang quan hệ, hơn là khi họ quan sát một cách có ý thức các trải nghiệm của bản thân; với cách nghĩ ấy, bà cân nhắc về vai trò của trị liệu: liệu nó đáng giá so với việc cải thiện các điều kiện vật chất trong đời sống của con người ta, để được tiếp xúc với những ai quanh mình, hoặc làm việc cho sự tồn tại mãi mãi của hành tinh, hơn là đơn giản ngồi trong phòng trị liệu để phân tích các cảm xúc của mình với một người lạ?

Kết luận rút ra là một sự mời gọi cân bằng, cho một kiểu trị liệu có nền tảng vững chắc và yếu tính của nó cởi mở với những người khác, không xem trị liệu như cái gì đặc biệt tự thân mà chỉ là một phần khác tích cực, hữu dụng của thế giới liên thuộc của chúng ta. Thân chủ cũng cởi bỏ khỏi thái độ tương tự về những gì tiền định sẽ được khám phá và vui thú…

Mối quan hệ với thân chủ và khung tham chiếu lý thuyết của nhà trị liệu tâm lý

Một lý thuyết nền tảng vững vàng là điều quan trọng để dẫn dắt nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu lựa chọn cách thức can thiệp.

Cả hai lý thuyết gắn bó (attachment) và liên nhân cách (interpersonal) đều cho ta hiểu biết sâu sắc về những sự khác biệt cá nhân khi họ thao diễn bên trong các mối quan hệ giữa người với người. Cả hai dựa vào ý tưởng rằng những trải nghiệm ban đầu ảnh hưởng tới hành vi tương lai trong các quan hệ và đều góp phần tạo ra các dự báo về tương tác liên nhân cách.

Đặt để từ khung tham chiếu này, khả năng dễ đưa ra được các dự báo về cách thức thân chủ tri nhận về nhà trị liệu tâm lý, ứng xử trong phiên làm việc, và cách nhà trị liệu đáp ứng với thân chủ.

Thật thú vị nếu tìm biết được các tiến trình nào thể hiện trong sự phát triển quan hệ trị liệu và cấu trúc để hiểu thấu những sự kết hợp giữa mối quan tâm gắn bó của thân chủ, sự can thiệp của nhà trị liệu, và các phẩm chất liên nhân cách của nhà trị liệu làm dễ dàng, thuận lợi hơn cho việc củng cố mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu.

Nhiều nghiên cứu tỏ lộ về các biểu hiện hành vi của nhà trị liệu ảnh hưởng cả tiêu cực lẫn tích cực đối với mối quan hệ giữa họ với thân chủ của mình. Như Ackerman & Hilsenroth (2002) cho rằng có bằng chứng hỗ trợ các thuộc tính như uyển chuyển, thành thật, tôn trọng, tưởng thưởng, tự tin, nồng ấm, quan tâm, và cởi mở ở nhà trị liệu. Vị nào tỏ ra cứng nhắc, bất ổn, chỉ trích, xa cách, căng thẳng, hoặc rắc rối thường gây tiêu cực cho mối quan hệ.

Hướng tới việc can thiệp, các kỹ thuật trị liệu phụ thuộc vào công tác xây dựng mối quan hệ bao gồm khám phá, phản ánh, ghi nhận những thành công, diễn dịch thật chính xác, giúp dễ dàng cho việc biểu tỏ tình cảm và tham dự vào trải nghiệm của thân chủ. Các thuộc tính tiêu cực đối với mối quan hệ sẽ dính tới hành vi trong khi làm việc như hướng dẫn quá mức, tự bộc lộ bản thân không thích đáng, và lạm dụng việc diễn dịch im lặng. Từ cách tiếp cận động năng (psychodynamic) chẳng hạn, Gabbard (1994) khẳng định, can thiệp của nhà trị liệu trải dài từ trạng thái hỗ trợ cho tới việc biểu đạt. Các can thiệp mang tính hỗ trợ gồm phản ảnh, chỉ bày và khen ngợi, còn các can thiệp mang tính biểu đạt là sự diễn giải phòng vệ (defense) và chuyển dịch (transference). Bên trong khung tham chiếu này, các thuộc tính diễn giải chuyển dịch cao quá sẽ gây hiệu ứng tiêu cực cho quan hệ (Piper, Azim, Joyce, & McCallum, 1991).

Các thăm dò khác phát hiện thấy bằng chứng sự diễn giải mang tính chuyển dịch ban đầu có thể tăng cường cho mối quan hệ… Thực tế, nhà trị liệu nên cân nhắc làm gì thì tốt nhất cho mỗi một thân chủ, phụ thuộc vào mối quan hệ liên nhân cách của thân chủ. Các đặc tính này của thân chủ kết nối với phẩm chất của mối quan hệ mà một số thì tương quan dương tính với nó (phẩm chất của các mối quan hệ đối vật, sự gắn bó) và một số khác lại tương quan âm tính (như các trục trặc liên nhân cách, sự né tránh) khẳng định có thể nhà trị liệu gặp nhiều khó khăn hơn trong việc củng cố mối quan hệ tích cực với một số thân chủ. Theo nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ với thành tựu trị liệu, thấy tương tác giữa thân chủ và kỹ thuật trị liệu có thể điều chỉnh mối quan hệ vừa nêu; mối quan hệ giữa việc đáp ứng của nhà trị liệu với tính cách thân chủ thường nhắm vào tính cách của thân chủ trong các cơ chế phòng vệ.

Truyền thống lâm sàng tâm động cũng quen lưu giữ quan điểm rằng các diễn giải phù hợp hơn với thân chủ khá ổn thỏa hơn là thân chủ gặp trục trặc nghiêm trọng (Gabbard, 1994); tuy thế, thực tế cũng có trường hợp thân chủ trải nghiệm chất lượng liên nhân cách thấp lại chịu đựng sự diễn giải ban đầu này.

Cần biết rằng, chức năng phòng vệ là khía cạnh đo lường được của cấu trúc nhân cách, trở thành biến quan trọng của thân chủ để xem xét mức độ thích ứng của nhà trị liệu đối với sự trình bày của thân chủ (Perry, Kardos, & Pagano, 1993). Cũng đáng quan tâm, theo nghiên cứu của Hersoug và cộng sự (2003) thì các biến thuộc thân chủ chịu ảnh hưởng như nào đối với sự thích ứng của nhà trị liệu lại là chuyện tùy chọn ở từng mỗi cá nhân thân chủ.

Lý thuyết liên nhân cách cung cấp một vòng tròn trịa hơn cho việc khái niệm hóa các thích ứng hàng ngày của các cá nhân trong thế giới liên nhân cách họ tham gia. Song đó là câu chuyện cho một bài viết khác.

(còn tiếp)

Những cảm xúc hoang tưởng và giận dữ giữa đời thường

Hàng ngày, quá nhiều những vụ việc bạo lực được báo chí quốc nội đẩy lên mạng lưới điểm toàn cầu góp phần khiến thiên hạ bàng hoàng và không thể lý giải thấu tình đạt lý nguồn cơn.

Đứa trẻ, hoặc đứa trẻ trong người lớn, chống chọi để bảo vệ phần thiện lành trước sức tàn phá của các trải nghiệm xấu ác, và lý tưởng hóa là một sự phòng vệ. Thật khó khăn nhằm biết chắc đối lập với lý tưởng hóa có phải là trạng thái ái kỷ quá mức (tự lý tưởng hóa bản thân), hận thù và gièm pha, hoặc hoang tưởng (phóng chiếu hận thù) hay không.

Giống như người lý tưởng, kẻ trải nghiệm các ý nghĩ hoang tưởng cũng dùng cơ chế phòng vệ phân liệt và tách biệt (splitting), dù trong ví dụ này thì anh, chị ta phóng chiếu tất tật các cảm nhận tồi tệ khỏi bản thân, nhìn nhận thế giới, một số cá nhân nào đó, hoặc con người nói chung như lực lượng thù địch và khủng bố, đang đặt để tấn công cái tôi ngây thơ và thiện lành.

Một con người như thế không ngừng gìn giữ cảm xúc tiêu cực của kẻ cùng đường bởi việc chối bỏ sở hữu chủ của chúng rồi đá chúng sang những kẻ khác. Trong những trường hợp cực đoan, thể hiện dưới dạng hoang tưởng paranoid, kẻ ấy tri nhận các kịch bản và cơ chế dù mang tính người hay không, như là ‘thực tế’ đối với thân chủ cho dẫu nhà trị liệu biết rằng chúng chỉ là huyễn tưởng mà thôi.

Dù có thể biểu tỏ trạng thái cực đoan, các cảm xúc hoang tưởng là dấu hiệu trải nghiệm đời thường, tuy không gây ngờ vực hoặc xung hấn kéo dài. Khi đời sống trở nên tồi tệ, chẳng bất thường việc phóng chiếu hụt hẫng và tức giận ra ngoài, và tự hỏi tại sao các kẻ khác hoặc ngay chính cuộc đời, lại đối xử như thế với chúng ta. Đây là cách hay gặp đặng xử lý các cảm xúc tiêu cực, khi những ý nghĩ hoang tưởng là cơ chế phòng vệ chống kháng với sự tức giận hay hận thù của người ta.

Các cảm giác hoang tưởng là phương thức đặc thù giải quyết những cảm xúc tiêu cực. Bản chất tức giận và nguồn gốc gây xung hấn hãy còn tranh cãi, nhất là mức độ xung hấn tự nhiên và cần thiết cho sự phát triển cũng như sống còn, và liệu nó đáp ứng với hụt hẫng hay sợ hãi đến đâu. Xem xét một vài lý thuyết để hiểu thêm về sự phức tạp của các cảm xúc khủng khiếp này.

@ Lý thuyết Bản năng- Sinh học: thường nhìn nhận hành vi xung hấn như là sự diễn bày của thành phần nội tại, hiển nhiên thuộc bản chất con người, là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên (Lorenz, 1966).

@ Các lý thuyết Phân tâm:

a) Một số nghĩ xung hấn như phần tự nhiên của con người, một bản năng phá hủy; lực lượng chống lại đời sống và bản ngã; một sự ngăn cản việc phát triển cái tôi; bảo vệ cái tôi trước môi trường thể hiện tính ngăn trở;

b) Một số nhà tâm lý cái tôi (ego) nhìn xung hấn như phản ứng đối với các xung đột hiển nhiên trên tiến trình thích nghi, một phản ứng bất mãn và cảm xúc trầm uất;

c) Một số nhìn xung hấn như động cơ nỗ lực vượt qua một trở ngại;

d) Với một số nhà tâm lý bản ngã (self), xung hấn là phản ứng trước mối đe dọa mang tính ái kỷ thái quá, một dấu hiệu gây tổn thương tiềm tàng bản ngã;

e) Balint (1968) đặt nền móng xung hấn trong sự thất bại khi gắn khít nhu cầu của trẻ cho sự phụ thuộc tuyệt đối và đáp ứng của bà mẹ, sự hận thù phục vụ như rào cản dựng lên nhằm bảo vệ cái tôi khỏi ‘người không yêu thương chúng ta’;

f) Hầu hết các nhà Phân tâm độc lập Anh quốc nhìn động năng sống (libido) có yếu tính đổ tràn xung hấn, và do đó, xung hấn trẻ con là phần tranh đấu lành mạnh chống lại các tương tác bệnh lý. Winnicott (1971) duy trì quan điểm rằng xung hấn khởi từ hoạt động trước sinh của đứa trẻ.

@ Lý thuyết Hụt hẫng (frustration): nhìn hành vi xung hấn gồm việc thoát khỏi trở ngại cho các tiến trình và/ hoặc hành vi làm hài lòng. Người ủng hộ thuyết này còn cho rằng đáp ứng với xung hấn là hiện tượng phản ứng và chống kháng được đánh thức ở cá nhân bởi các hoàn cảnh ngoại giới.

@ Lý thuyết Học hỏi Xã hội: hành vi xung hấn là kết quả từ bản chất các hành vi chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ và những thăng trầm của tiến trình xã hội hóa và tích hợp nhóm. Bằng chứng cho quan điểm này được hình thành từ các dữ liệu thu thập bởi các nhà xã hội, nhân học, và tâm lý học theo định hướng lý thuyết học hỏi.

Tức giận, dĩ nhiên, có thể diễn ra dưới nhiều dạng thức; Malan (1979) quan sát một số bệnh nhân hay bộc lộ các hiện tượng:

  • tiền sử thiếu thốn cảm xúc, đôi khi quá mức trầm trọng, thường diễn ra vào giai đoạn cuối thời thơ ấu;
  • các xung năng hung dữ và phá hủy thật khó tin nổi, đi kèm độ căng tương ứng của tình yêu thương;
  • bằng chứng cho sự bị tước đoạt để lại chủ yếu hướng tới bà mẹ;
  • các chủ đề chính yếu liên quan với việc nuôi dưỡng- bú mớm.

Dĩ nhiên, đôi khi khó khăn để tưởng tượng trải nghiệm hụt hẫng của một đứa trẻ. Tuy vậy, chúng ta quan sát cách một đứa trẻ vặn xoắn cả người như dạng bùng nổ, thịnh nộ vậy. Malan cho là xung hấn lâu đời hàng triệu năm so với cảm xúc yêu thương cá nhân, nên quan hệ đầu tiên của đứa trẻ đối với mẹ mình là xung hấn? ( nhận được hơn là cho đi).

Khi nhà trị liệu làm việc với thân chủ biểu lộ sự sợ hãi trước nỗi giận dữ mang tính phá hủy thì dưới đây là một số gợi ý cần nhớ:

  • giúp thân chủ lưu giữ các đặc trưng và thành tựu mang tính tích cực, thiện lành, biểu lộ khía cạnh đó của bức tranh đi kèm với bất kỳ khía cạnh nào khác khiến thân chủ cảm thấy sợ hãi hoặc tội lỗi;
  • khuyến khích thân chủ nói thành lời sự giận dữ trong phiên trị liệu, hơn là hành động mang tính tự tàn phá bản thân hay đối tượng, ai đó ở bên ngoài, có lẽ quan sát cách biểu tỏ nó thành lời trong môi trường an toàn của trị liệu là không gây hại;
  • biểu tỏ, thông qua quan hệ với thân chủ, rằng diễn bày sự giận dữ thành lời (đặc biệt hướng tới nhà trị liệu) hoặc mô tả các huyễn tưởng phá hoại không hề gây hại cho nhà trị liệu hoặc thân chủ, hoặc quan hệ của họ;
  • cần thiết duy trì trạng thái vững vàng để không làm nảy sinh bất kỳ biểu đạt mang tính phá hủy về mặt thể lý trong phiên trị liệu;
  • tạo các kết nối giữa quá khứ và hiện tại để có thể giải thích độ mãnh liệt của sự giận dữ hoặc tội tội khi đang trải nghiệm nó; cùng lúc cho thấy một sự khác biệt giữa một đáp ứng đúng lứa tuổi ở thời thơ ấu và những gì không thích hợp trong hiện tại;
  • hỗ trợ thân chủ biểu đạt thích hợp sự giận dữ ở mức độ về các tình huống đương đại;
  • làm rõ sự khác biệt giữa tội lỗi thực tế là kết quả từ  việc biểu đạt nỗi tức giận gây đau đớn cho người khác, và tội lỗi không đúng đắn làm hư hại cảm nhận thân- tâm an lạc của chính thân chủ;
  • với lý do chính đáng của tội lỗi, khuyến khích và nâng đỡ ước ao của thân chủ tạo ra sự cách biệt trực tiếp hoặc gián tiếp: khả năng vá lành các tình huống và sửa chữa các quan hệ là dấu hiệu rằng nhu cầu phá hủy không nhất thiết kết thúc;
  • nhớ rằng bên dưới sự tức giận chắc chắn là một nỗi buồn đau sâu thẳm, sự trống rỗng hoăc trạng thái tuyệt vọng và yếu đuối khôn cùng là phòng vệ trước nỗi niềm thù hận. Người bị tổn thương có thể thích đáp ứng đầy tức giận hơn là chỉ ra cách thức họ đang thực sự chịu đau đớn hoặc yếu đuối. Càng nhận ra cách thức riêng có phù hợp với họ càng trợ giúp họ hiệu quả hơn;
  • cần thấu hiểu rằng nhà trị liệu và tham vấn cũng ghét bỏ thân chủ, nhất là những ai khiến họ cảm thấy không hội đủ năng lực hoặc ngần ngại (Winnicott, 1975). Chuyển kênh thích hợp nỗi niềm xung hấn ở nhà trị liệu hướng tới các mục tiêu rốt ráo của trị liệu sẽ hạn chế tối thiểu sự ngăn cách giữa thân chủ ‘tồi tệ’ và nhà trị liệu ‘tốt đẹp’;
  • cuối cùng, Malan thêm rằng sự tích hợp tình yêu thương và lòng hận thù dẫn đến các khoảnh khắc thay hình đổi dạng hết sức lớn lao, trong đó thế giới, cả quá khứ lẫn hiện tại, thay đổi từ ‘xấu xa’ thành ‘tốt lành’ (1979).

Thực tế, cũng cần biết rằng, một số thân chủ thấy mình khó khăn để biểu đạt sự thù địch đầy lo lắng rằng nếu họ làm thế, họ cũng sẽ tàn phá bản thân luôn; nên họ bộc lộ các hành vi trầm uất hoặc tự đập phá; cắt đứt các mối quan hệ, chẳng hạn, trước khi họ trở nên giận dữ với người khác; thậm chí, ở nhiều trường hợp phức tạp, gây hại với chính bản thân.

Sự tỏ tường và độ tin cậy bỏ qua định hướng mơ hồ, vô cớ

Trên trang tìm kiếm google.com đang minh họa hình vẽ quen thuộc của test Rorschach, nhấp chuột vào đường dẫn ‘chia sẻ điều trông thấy’ thì hiện lên dòng chữ thông báo hôm nay là sinh nhật lần thứ 129 của Hermann Rorschach.

Vậy, tự hỏi mình mong đợi gì đây lúc này? Dường như tất cả chúng ta sẽ có một số ước muốn khá căn bản, và sẽ phức tạp ít nhiều khi mình mong đợi một số thứ không giống những người khác. Chưa hết, đôi điều đâu có chịu diễn ra theo ý định; vì thế, có thể chúng ta đi vào giai đoạn khủng hoảng, tùy kịch bản mà thậm chí đưa đối tượng đến cả sự lựa chọn gặp nhà tham vấn và trị liệu tâm lý… Điều gì xảy đến nếu chúng ta hành động nhờ thử vượt thoát ra ngoài một số kỳ vọng và chuẩn tắc bị đè nén bấy lâu trong đời?

… Quay lại với nỗi kính sợ, kinh hoàng một thời test Rorschach có thể vén lộ. Cấu trúc độc đáo của test khiến nó tiếp tục gây tranh cãi đa phần bởi tính biểu tượng hóa. Là một trong số trắc nghiệm hiếm hoi còn duy trì được khởi thảo từ truyền thống phân tâm và cuộc đấu khẩu chủ yếu về độ hiệu lực của các ý tưởng mang hơi hướng Freud.

Ảnh hưởng của các ý tưởng này có thể được phản ánh rõ nhất qua cách thức sử dụng nó. Một kiểu dạng test ‘phóng chiếu’ mà người làm test nhìn các tấm ảnh rồi cho biết ấn tượng. Nhà tâm lý viết xuống những gì đối tượng nói về mỗi bức ảnh rồi diễn giải điều đối tượng nói và thể hiện. Các diễn giải ấy được cho là đem lại bức tranh về nhân cách người, được định khung trong các khái niệm theo trường phái phân tâm học Freud.

Nguyên bản test Rorschach thì khá buồn cười, song vượt thời gian nó được tâm lý gia John Exner phát triển với ‘hệ thống nhận hiểu’ đủ cho phép nhà lâm sàng độc lập đi tới các kết luận tương tự khi xử lý cùng các đáp ứng. Thậm chí, độ tin cậy của test gây tranh cãi và bị xem là thổi phồng quá mức, thậm chí, ngay cả khi tin cậy chăng nữa, cơ chừng nó không tương quan tốt lắm với các công cụ đo lường tâm trí khác và mang xu hướng đặc thù trong ‘chẩn đoán’ các động thái mang tính tâm thần phân liệt ở người hoàn toàn bình thường.

Hầu hết test tâm lý đều dựa trên nguyên tắc là người làm test không hề biết trước gì hết về chất liệu tạo ra test; thuật ngữ chuyên môn gọi là sự an toàn thông qua trạng thái mơ hồ và khó hiểu nhằm đảm bảo độ hiệu lực. Các công ty chuyên cung cấp test ngày nay chỉ bán cho người hành nghề có bằng cấp với giá cao và đảm bảo bản quyền. Song mô hình này quá dễ đổ sụp trong thời đại internet vì nó có thể góp phần vi phạm hợp đồng để đưa test ra công khai.

Các nhà tâm lý do đó, cần khởi sự thiết kết test sao cho chất liệu test không gây nên tác động lớn lao đối với sự trình bày, mà điều này đòi hỏi một sự chuyển đổi ý nghĩa trong cách suy tư và lượng nghiên cứu ghê gớm hiện tại nhằm đem lại độ hiệu lực của các test.

… Một đời sống không đối diện với nguy cơ thất bại không phải là cuộc đời sống tràn đầy. Đặt để các mục tiêu trong những cách đo lường khả thể. Dù chỉ có vẻ là các bước vi tế, nhỏ bé thì chúng là tiến bộ. Trước khi mình biết đến niềm vui ấy, các tiếng vọng của thất bại sẽ mờ dần. Cả hai suy tư khó thể tồn tại trong cùng khoảnh khắc và mỗi khoảnh khắc là điều duy nhất mình có quyền năng dùng để thay đổi.

Nhiều người nghĩ rằng mình có thể chỉ việc ngừng ngắt ngay suy tư về sự thất bại. Song bất khả tiến hành điều đó. Mình nên thay thay thế suy tư tiêu cực bằng suy tư tích cực. Thái độ, suy tư và hành động sẽ tống đẩy mọi thứ xấu xa, tồi tệ đó văng khỏi cối xay nghiền nát. Mỗi khoảnh khắc mình thành công, đó là khoảnh khắc mình ít nuối tiếc hơn.

Do đó, cố gắng thất bại thì sẽ đúng thế thật; nếu gắng thử thành công, mình có thể hoặc không thể thất bại. Là câu chuyện 50/50, chẳng quá chênh lệch tỷ lệ. Và mình sẽ dám đặt cược, đánh cá. Tương tự, bài báo trên New York Times thật thú vị, nó chứa đựng một mức độ cân bằng giữa chuyện hay ho, chuyện xấu tệ, và chuyện ngớ ngẩn. Và lần nữa, câu chuyện nói chung còn nhắc nhở các vị cài đặt tâm trí chuyên việc cung cấp dịch vụ test thu tiền, bất chấp tính củ chuối của test.

Năng lực suy tư về các nguyên nhân và các mối liên quan là điều hết sức thiết yếu, và luôn luôn được thừa hưởng tiến hóa từ tổ tiên; tỷ như, chúng ta cần biết một loại hạt nào làm mình ốm, hoặc kiểu đám mây ra sao dự báo thời tiết xấu… Vì vậy không đáng ngạc nhiên chúng ta tự động tạo ra đánh giá theo dạng này. Chúng ta có các trực giác mạnh mẽ về những thứ nào đi cùng nhau, trực giác đó ùa tự nhiên tới tâm trí, thường sau rất ít ỏi trải nghiệm. Điều ấy tốt cho việc ra các quyết định trong một thế giới mình thường không đủ thời gian để suy nghĩ trước khi hành động, song với các tác dụng phụ chứa một số lỗi có thể đoán biết được.

Một lỗi thế gọi là “tương quan ảo ảnh“, một hiện tượng hai vật dường như được xem là có liên quan nhau song kỳ thực thì không. Trong một thực nghiệm cổ điển, người tham gia được đề nghị xem xét các điển cứu giả của nhà tâm thần học về các bệnh nhân đáp ứng với test giọt mực Rorschach. Một số báo cáo ghi nhận bệnh nhân là đồng tính, và một số thấy họ nhìn qua test những điều như áo quần phụ nữ hoặc các hạt cúc áo. Báo cáo được chuẩn bị đảm bảo không có liên quan chắc chắn nào giữa ghi nhận của bệnh nhân và đáp ứng hình test, song những người tham gia thực nghiệm– dù được huấn luyện hay tay mơ trong tâm thần học– đã báo cáo hết sức mạnh mẽ (song sai lầm) mối liên kết giữa các dấu hiệu trong test Rorschach và bệnh nhân đồng tính.

… Câu hỏi vẫn còn đây: cuộc sống quá ngắn ngủi? Bất luận thế nào, mình không vội vã. Quá ngắn với nỗi buồn bã của ta? Nào hoàn toàn thế. Chúng ta không thể đợi chờ vì hạnh phúc. Vậy khi nào thì đời sống ngắn ngủi? Nó chỉ quá ngắn ngủi khi đầy ắp các nuối tiếc vàng vọt, tơi tả. Song nếu mình có thể giữ các giấc mơ sống còn, quá khứ sẽ rớt lại và mình có thể tung cánh hướng tới một tương lai ấm áp ánh mặt trời hơn.

Nói hớ, nhỡ lời và phong cách thể hiện bản thân bất lợi nơi công cộng: nghĩ về nghiệp

tơi tả, rối bời vì thất tâm, bấn loạn

Những dịp vui, buồn quá độ ở tầm mức cộng đồng lớn, bé thường thật dễ gây nên sóng gió dư luận, góp phần hình thành ít nhiều bi hài kịch vô tiền khoáng hậu.

Sự cố “chúc quốc tang nhiều niềm vui” như này nếu không nhìn nhận hoàn toàn từ cơ chế phức tạp của hành vi nói năng thì tất yếu cũng bị quy vào lỗi lầm nghiêm trọng hoặc được giới chuyên môn gọi tên, xếp loại ‘Freudian slip’ là dạng phát ngôn hớ hênh, nhỡ lời, nói nhịu. Ý tưởng của ông tổ Phân tâm là sự sẩy miệng phản ánh một lớp của các thái độ, suy tư thuộc vô thức đôi khi sơ suất, thoát khỏi sự kiểm soát của ý thức để nở bùng trên bề mặt; chúng là cửa sổ cho biết ai đó đang thực sự nghĩ gì.

… Hai đoạn trên đã được khởi thảo tầm tròn tháng rồi. Hôm nay lục ra lại vì chợt đọc thấy tin tức về vụ minh oan sau 10 năm thi hành án chung thân; những câu chuyện đậm tính nhân sinh khốn cùng như thế khiến chúng ta dễ nảy sinh căm phẫn, bàng hoàng và đau đớn, vượt trên cả pháp luật về sự bồi thường nếu có xảy đến theo kịch bản thế nào đi nữa.

Chiều tối qua ngồi cạnh xe bus với một cậu sinh viên Y khoa năm thứ 3. Nhắc đến vụ án bác sĩ Cát Tường, cậu này tâm sự ngay “cháu không biết nói sao”. Rồi tiện thể, nêu lời thề Hippocrates, chàng tuổi trẻ thể hiện lập trường rõ ràng “cháu còn nhỏ, mấy chuyện đó cháu không hiểu lắm” (!).  Và những lối thể hiện đùa tếu dễ gây thêm tai tiếng trong tình huống bi kịch càng chứng tỏ bối cảnh xã hội đang thực sự có vấn đề nghiêm trọng.

Từ vô vàn ví dụ đời thường, một câu hỏi khá quen thuộc là liệu có nghiệp (karma) tạo tác thông qua quyền lực của mỗi ý nghĩ không thôi. Chẳng hạn, nếu ai đó nung nấu các ý tưởng tàn hại đối với kẻ khác; liệu huyễn tưởng kiểu đó làm nên nghiệp xấu?

Trước hết, cần xác định thế nào là ‘nghiệp’ đã. Nói nôm na, nghiệp liên quan đến quy luật tự nhiên của nguyên nhân và kết quả về mặt đạo đức; bởi thế, những hành động xấu xa tạo quả đau đớn cho người thực hiện, trong khi hành động lành mạnh đem tới các trái quả tốt đẹp. Những thứ không thiện lành hướng tới làm khởi lên phiền não như tham lam, hận thù và hoang tưởng, trong khi thứ thiện lành thì khởi lên ngược lại: rộng lượng, từ ái và khôn ngoan.

Liếc qua, dường như các thành phẩm của nghiệp là hành động và kết quả đã được định sẵn; song không hoàn toàn chính xác vậy. Trước thời đức Phật, người ta nhận thức và chia sẻ về thực tế của nghiệp thường hay nói rằng phẩm tính của nghiệp tạo tác dựa trên các hành động thể lý.  Ông Phật bác bỏ điều ấy bằng lời dạy trong kinh pháp môn Thể nhập (Nibbedhika Sutta) rằng nghiệp là về ‘dự tính’ (volition). Khi có dự tính, người ta hành động qua thân xác, lời nói và tâm trí (thân, khẩu, ý).  Như thế để thấy rằng, nghiệp không phải là duy mỗi các hành động, mà những gì thiện lành/ xấu tệ khiến hành động khởi lên. Một cách đơn giản để nhớ tính ưu tiên của dự tính là nói rằng “suy tư, nghĩ ngợi (dự tính) là đáng kể rồi (hơn hành động) !”

Điều tốt lành và xấu ác chảy tràn từ những dự tính của chúng ta, kết tinh trong các suy tư, lời nói và hành động của chúng ta. Ngay cả một vài điều tốt giả tạo có vẻ khởi lên từ các dự tính xấu xa thì vẫn là nghiệp quả xấu (tiêu cực); nếu một số quả làm hại từ các dự tính thiện lành thì vẫn tạo ra nghiệp tốt (tích cực). Tuy thế, nên ăn năn, hối tiếc cho bất kỳ thiệt hại ‘tình cờ’ nào xảy đến. Nếu người ta không ăn năn, hối lỗi và cứ tiếp tục phạm những lỗi lầm tương tự thì rõ ràng dự tính lờ đi trách nhiệm bản thân, mà điều đó tạo nên nghiệp xấu! Nói rằng ‘con đường xuống địa ngục được trải bằng các dự tính tốt lành’ là nhắm vào ý tưởng làm một số hành động xấu có chủ ý hoặc hoàn toàn không biết những gì có thể là kết quả tốt lành. Điều này rõ là đường hướng phức tạp hơn việc chỉ thuần trộn lẫn của tốt và xấu.

Có rất nhiều khác biệt trong sức hút của nghiệp thông qua các suy nghĩ, lời nói và hành động. Cùng một vấn đề gây thương tổn cho người khác chẳng hạn, đích thực thực hiện nó tạo nên nghiệp mạnh mẽ hơn là chỉ nói về việc tiến hành nó, trong khi nói về việc tiến hành nó (ví dụ, hăm dọa) thì tạo nghiệp mãnh liệt hơn là chỉ nghĩ về việc thực hiện nó. Diễn đạt khác đi, thật tệ khi nghĩ về trạng thái xấu ác, tồi hơn nữa nếu nói về trạng thái xấu ác, và tàn độc nhất khi thực hiện tội lỗi. Dẫu vậy, nếu người ta cứ tưởng hoài nghĩ mãi về trạng thái xấu ác cho dù không hành động thì sự tích lũy nghiệp cũng có thể tạo nên bản chất. Tốt nhất là ngắt tội lỗi ngay từ nụ mầm mới nhú, chứ đừng để nó nở hoa trong tâm trí mình.

Vì những vụ việc khác nhau trong suy tư, lời nói và hành động nên trình tự của sức nặng nghiệp quả sẽ khác nhau. Chẳng hạn, thật tệ nếu lấy cắp 10.000 VND (mức độ hành động), tệ hơn nhiều khi vu vạ cho người khác (mức độ phát ngôn), và còn tệ hơn hết khi lên kế hoạch giết một người (mức độ suy tư).

Một cách bảo vệ ấn tượng chống lại việc tạo tác nghiệp xấu là gắn chặt với sự quan sát tỉnh thức các giới luật không giết chóc, ăn cắp, quan hệ tình dục bất chính, dối trá (hoặc đặt điều vu vạ, nói lời khó nghe và buôn dưa tào lao), hoặc dùng các chất gây say (khiến mất đi sự tỉnh thức).

Vô tâm dẫn đến đau đớn từ những lời nói và hành động thiếu suy xét. Quan sát sâu sắc các giới luật trong suy tư dẫn đến quan sát không ngừng nghỉ trong lời ăn tiếng nói và cả hành động nữa.

Bao giờ trở về mái nhà xưa?

Trở về nhà là trở về nơi yên ổn khỏi trốn trong mình
Trở về nhà là trở về nơi yên ổn khỏi trốn trong mình

Ác độc, cái tôi và quan điểm cần được ngăn chặn phù hợp trên tiến trình hành diễn của sự đời; đó là những gì tôi liên tưởng khi đọc thấy câu chuyện hai cha con sống cách biệt với cộng đồng gần 40 năm.

Báo chí dùng từ “người rừng trở về“… Tự hỏi, liệu đó là sự thật nếu mái nhà dấu yêu ấy lại nằm sâu trong rừng thẳm quen thuộc, thân thiết xa kia.

Cùng với việc canh tác, vỡ hoang và gieo ngô, trồng dưa thì Robinson Crusoe, Mai An Tiêm cũng dần trở thành những kẻ- đào- hang trên mảnh đất là không- gian- mang- kích- cỡ- cái- tôi. Với một số người theo kiểu bành trướng, cái tôi của họ có thể trải rộng hàng mẫu, hectares; và dĩ nhiên, một số người khác lắm khi suốt đời chỉ quẩn quanh trong kích cỡ không gian cái tôi của chính họ mà thôi.

Người sống nội tâm, theo cách Jung giải thích trong một tiểu luận, không thể tìm thấy một chỗ đứng chắc chắn với các đối vật nằm ngoài bản thân anh ta. Thế giới của người sống nội tâm được đặt để trong nếp gấp bên trong. Khác với kẻ quen hướng về ngoại giới “chối bỏ chính mình trong sự phân tán hoàn toàn bản thân vào các đối vật”, kẻ sống đời nội tâm “sẽ theo đuổi các ý tưởng… một cách thầm kín chứ không hề phô tỏ ra ngoài.”

Vấn đề là kẻ sống nội tâm cảm thấy như thể họ dần ngừng ngắt thật chầm chậm sự tồn tại trong bất kỳ phương thức vật chất nào khi mọi nguồn năng lượng tinh thần trong họ trải hết sức mong manh băng qua bề mặt của tính xã hội. Điều này lý giải tại sao những đối tượng này muốn được rút lui, ở ẩn; cốt nhằm phác thảo một đại thể về chính mình rồi tiến tới khôi phục trở lại sự độc bạch nội tại.

Dưới viễn tượng này, Jung dường như đã đúng khi ông quan sát thấy rằng “suy tư nội tâm tiến tới thành bằng chứng cho chính hiện thể chủ quan riêng có của nó”. Và trong khi kẻ sống nội tâm có thể chắn chắn tiến hành một số cuộc đột nhập vào bối cảnh xã hội vô cùng bao la và không được che chắn, người ấy phải tuần tự rút lui cố thủ trong một góc xó nào đó rộng đủ cho một ý thức đơn độc trú ngụ, nhắm để, vâng, chọn lọc bằng chứng cho chính hiện thể chủ quan của bản thân mình; nếu không, dễ từ bỏ sự tồn tại. Hãy nghĩ về Crusoe không có hang động, An Tiêm nương thân trong mái lá suốt mùa mưa gió.

Và trong khi gia tài của kẻ sống đời nội tâm đa phần thuộc thế giới của ký ức và hoài niệm thì e chừng, người đọc những câu chuyện kể về họ vừa nhấm nháp được hương vị của sự cô độc vừa lại có thể thưởng thức bữa tiệc đông người ồn ào, náo nhiệt ý kiến ý cò nữa.

Đặt để khung làm việc trong tham vấn tâm lý

Lúc này và nơi đây, hoa cỏ cùng bầy sâu cái kiến vui, buồn hư thực...
Lúc này và nơi đây, hoa cỏ cùng bầy sâu cái kiến cứ tự nhiên chung nhau nỗi niềm vui buồn, hư thực…

Cái vụ này có vẻ không nhiều người chú tâm, để ý một cách nghiêm trang, dù số ‘chuyên gia’, ‘chuyên viên’ hành nghề tác nghiệp tham vấn, trị liệu tâm lý và các lĩnh vực liên quan chẳng hề ít ỏi chút nào.

Ở đây, tạm thời không đề cập quá chuyên sâu tựa kiểu vấn đề định khung sự chết như là cách tìm hiểu những gì đích thực tồn tại trong truyền thông, giao tiếp của bối cảnh tâm lý trị liệu.

Hiện diện cả hai thái độ đầy sâu sắc thuộc ý thức và vô thức hướng đến việc định khung, dẫu chúng đảm bảo được an toàn hay chấp nhận đã bị biến đổi. (Robert Langs, 2009, Managing Managed Care: Psychotherapy and Medication Management in the  Modern Era).

Ý tưởng về khung làm việc (framework) trong trị liệu lần đầu tiên được Marion Milner đưa ra khái niệm (1952) nhờ sử dụng ẩn dụ khung tranh của người nghệ sĩ. Có thể nói, nếu không có khung tranh thì sự chú ý của chúng ta bị lôi kéo ra khỏi cơ thể vật chất của tác phẩm và nó giữ chức năng đơn giản nhắc nhở mình biết thưởng thức, nhận thấy khoái cảm thẩm mỹ hơn khi bức vẽ được chứa đựng, khoanh vùng, bao quanh lại.

Nảy sinh suy tư cần có một khung làm việc với những gì xảy đến giữa thân chủ và nhà trị liệu. Robert Langs, nhà Phân tâm Hoa Kỳ đã viết rất rộng rãi về khung trị liệu, tầm quan trọng của việc ngăn chặn, đồ chứa và cách thức đứt gãy, bẻ bỏ được thân chủ tri nhận hết sức chính xác như thế nào trong khi nó thường bị nhà trị liệu lờ đi (1976; 1978; 1988); ông chỉ ra những lỗi lầm như thế được trải nghiệm rất vô thức, rồi thông qua việc nói về những ám chỉ trong phiên trị liệu do nhà tham vấn đưa ra mà những lỗi lầm ấy được chữa lành.

Vô vàn ví dụ lâm sàng của việc sử dụng khái niệm ‘khung làm việc’ để hiểu các khía cạnh quan trọng trong tiến trình trị liệu, và mặc cho những gợi ý nọ kia đặng thực hành trị liệu giỏi giang thì hơn thế, nhà tham vấn sẽ học hỏi được nhiều từ những lỗi lầm, từ những gì xảy đến khi khung làm việc có sai lệch hoặc bị bẻ gãy mà mọi sự trở nên tốt đẹp.

Nếu chúng ta nghĩ tới một cá nhân tiếp xúc với nhà trị liệu và đến gặp buổi đầu tiên thì dễ suy đoán là họ sẽ thỏa thuận những gì diễn ra tiếp theo; những buổi gặp thông thường được nhà trị liệu đưa ra và thân chủ tán đồng, cả hai cần thiết nhất trí phương thức công việc sẽ được thực hiện: khung trị liệu. Nhà trị liệu định hình nơi chốn gặp gỡ; khoảng thời gian mỗi phiên trị liệu và tiền thù lao, cũng như giải thích hậu quả gì khi thân chủ quên hoặc cắt bất kỳ cuộc hẹn gặp nào…

Vượt qua các chi tiết nhỏ nhặt, khung làm việc có những kết nối với cách thức chúng ta quan tâm trong quá khứ; tuy thế, cũng cần nhấn mạnh tới tầm quan trọng của nó trong hiện tại, mối quan hệ ở -đây- và- ngay- bây- giờ giữa nhà trị liệu và thân chủ, yếu tính cần có của trạng thái thích đáng giữa lời nói và hành động của nhà trị liệu.

Có thể đề xuất khung làm việc bao gồm: một bối cảnh riêng tư của cuộc gặp giữa nhà trị liệu và thân chủ; thời gian xác định và thời lượng cho mỗi phiên trị liệu; những dịp nghỉ ngơi ngắn được nhà trị liệu tuyên bố rõ ràng; phí phục vụ; và một ý niệm nội tại về phần nhà trị liệu những gì được nói và không được nói với bất cứ ai ngoài quan hệ trị liệu… (Anne Gray, 1994, An introduction to the therapeutic frame).

Qua khung trị liệu độc đáo, Phân tâm đưa lại khả năng biểu đạt chính mình hết sức thoải mái trong một bối cảnh thân tín. Ở phòng tham vấn, không chủ thể nào bị làm lu mờ trước mối quan tâm và hiểu biết mang tính trị liệu. Hầu hết những suy tư tội lỗi và những nỗi sợ ghê gớm có thể được biểu đạt và đón nhận bởi nhà trị liệu mà không buộc phải cáng đáng khắc nghiệt, bị đánh giá hay trừng phạt. Cái giúp chúng ta bảo vệ không gian này là sự ý thức về tính chủ thể riêng có, và nếu chúng ta thực hiện hết sức nhạy cảm thì càng thấy rõ các khía cạnh thực dụng của khung làm việc. (Alessandra Lemma, 2003, Introduction to the practice of psychoanalytic psychotherapy).