Vấn đề của những ưu tiên

Cài đặt lại một chương trình máy tính trước sự chậm trễ của thời hạn bài vở quả dễ gợi nhắc cảm giác nhức răng đột ngột.

Khi đề cập tới chiều kích nuông chiều (indulgence) đối nghịch kiềm chế (restrain) thì Hofstede (1991) có lấy ví dụ Việt Nam đại diện cho tính nuông chiều thấp, còn Hoa Kỳ thì cao kèm câu hỏi: họ coi trọng sự ‘phóng túng’ và thưởng thức đời sống, hoặc thúc ép và suy nghĩ trước khi hành động là giá trị của họ? (Tiện thể, 5 chiều kích văn hóa còn lại nhằm góp phần kiếm tìm các điểm khác biệt và tương tự là: định hướng chuẩn tắc ngắn hạn vs. định hướng thực dụng dài hạn; chỉ số lảng tránh điều bất định; tính đực vs. tính cái; chủ nghĩa tập thể vs. chủ nghĩa cá nhân; và chỉ số khoảng cách quyền lực).

Két nối với sự tráng lệ huy hoàng của mọi sự, chúng ta đón rót đời mình với một cảm nhận lớn lao hơn về vẻ đẹp. Thường có thể mình quen chú vào nét vẻ xấu xí ở xung quanh. Song khi dần ý thức về thế giới, mình khởi sự ghi nhận các kỳ quan của môi trường sống. Nỗ lực tưởng tượng các cảnh quan diễm lệ này như tấm gương phản chiếu những gì mình thực sự là, chúng ta bắt đầu nhìn thấy có sự hài hòa giữa muôn vật. Những lằn ranh của kẻ khác bị tẩy xóa và chúng ta nhận ra tất cả đều lộng lẫy. Gắng kết nối với trạng thái hợp nhất của vũ trụ, mình không khó thấy vẻ đẹp hiện diện trong từng khoảnh khắc lẫn khía cạnh của thế giới đang phơi bày trước mắt.

Buông bỏ bao điều nhỏ nhặt. Ngừng lo lắng về những chuyện không đáng, cống hiến tâm trí và thời gian của bản thân cho điều đích thị quan trọng. Mình không thể giữ khoảng cách với đủ thứ mâu thuẫn, cáu bực và biến động khủng khiếp của cuộc sống song mình có thể từ bỏ ước muốn có sự trật tự hoàn hảo và đạt được yên an trên tiến trình n- 1, với n là khoảng thời gian còn lại trên đời.

Muôn đời kháng cự

Thật bàng hoàng khi biết mình đang đội trên đầu một cái mũ hàng hiệu hai chữ N & Y xoắn vào nhau vừa phải, phía sau nổi bật dòng ‘New York’ điểm danh tên chàng đố lẫn vào đâu được. Lòng thầm mong với tinh thần sám hối hồi hộp dâng đầy khá vô duyên rằng hy vọng, đó đích thị chỉ là chơi đểu hàng nhái thôi.

Với cách phối duy nhất đen trắng, lưỡi trai phía trước gập cong rất điệu, chất liệu vải mềm tay, và kiểu thiết kế chẳng thể đơn giản hơn được nữa. Sự đời thử thách thiệt éo le, khoác thêm thứ gì lên người đã mệt thêm nhọc, giờ còn phải của nợ tiếng tăm e quá đau thương. Lặng thầm hỏi Google, ra y chang hình mẫu độc chiêu khó đụng; giá bán ở xứ Việt mấy trăm ngàn hiện đang thời thượng (thiệt tình khai nhanh là bà chị bán đồ bành cạnh chợ vui tính chẳng quá xa chỗ ở nhìn nhau hỉ hả rồi nhẹ hô ’em ơi chị để ba mươi ngàn’, rồi người hoan hỉ chẳng kém lúc thực nhận 28.000VND vì đó là toàn bộ số bạc lẻ tôi có nơi cái kẹp tiền gọn gàng).

Không nhớ được lần cuối cùng mình đội mũ… Gần lắm thì cũng phải hơn 14 năm rồi, do quãng dài miên man trú thân ngoài Hanoi liên tục, đầu trần cứ lơ ngơ vô tư phơi cùng thời gian quá ngọ. Bao nhiêu lần sóng dập đất bồi hồ Tây da diết, ê chề thủy triều lên xuống sông Hồng ì ạch, mấy độ hồ Văn tại Văn Miêu lừng lẫy ỡm ờ dự định thay nước thì chừng ấy đận mưa to nắng quái cũng kiên định lập trường để mặc tóc tai thổi thiếu định hướng theo cùng gió ngàn bay.

… Phần khó khăn nhât trong thiền minh sát (insight meditation) là nhận ra tâm trí mình luôn luôn chống kháng; bằng không, nó sợ cóc thể tồn tại nổi. Nếu mình nhìn, chống kháng bằng một cái sự trông, một chiều- nhìn, một cảm- giác- nhìn, một cảm- nhận- nhìn; nếu mình nghe, ngửi, nếm, chạm… thảy đều thế hết. Và đặc biệt, tinh tế nhất: nếu mình ‘nghĩ’ thì luôn sẵn đấy một chống kháng ngay lập tức, ở- đây- và- bây- giờ hao tốn năng lượng khôn xiết. Tất cả trong một khoảnh khắc, khoảnh khắc nối khoảnh khắc, mê mệt.

Gì mang nghĩa ‘một sự chống kháng’ đây?

Như này, mình nhìn vào màn hình máy tính hoặc một bài báo. Một sự liên tiếp của nhìn, nhìn, nhìn (các con chữ), nghe nghe nghe (âm thanh bao quanh) và nghĩ nghĩ nghĩ (các tư tưởng, lập luận trong văn bản) được khai triển với một tốc độ sửng sốt và lực lượng hối thúc bất ngờ. Chúng giục giã gì vậy? Chúng giục mình ‘là’ chúng. Những gì ta sở hữu sở hữu ta, những gì ta nắm bắt nắm bắt ta. Giờ nhé, mình có thể mắc lỗi lầm ‘đói khát’ một số cảm xúc hoặc ham muốn dạng ‘Tôi thích văn bản này’ hay thậm chí khủng khiếp ‘Tôi ghét văn bản này’.

Nghe hay ho thật, cơ mà đấy không phải là những gì Đức Phật trỏ khi nhắc tới đói khát trong bối cảnh thế. Những chuỗi suy tư đã ngụ sẵn nhiều nhiều khoảnh khắc cá nhân được kết nối với nhau bởi một nỗi niềm khát khao tham lam vô độ vì đời sống, vì tồn còn, vì tiếp diễn; một nỗi khát thèm hiện hữu, nó không mang nghĩa nối kết các cuộc đời để tái sinh.  Mình không nhất thiết phải nhớ bao nhiêu kiếp dĩ vãng đã qua hoặc nhìn tới tương lai mù khơi đặng thấu hiểu lời Phật dạy.

Không, sửng sốt tột độ khi ta nhìn sát lại nơi mình: rất trực tiếp ngay dưới mũi, trong đôi mắt, vào lỗ tai, giữa vô vàn ý nghĩ. Từng thứ và mỗi một khoảnh khắc. Nó sát gần tới mức mình không thể nhìn thấy nó. Bởi vì diễn tiến, hiện diện quá nhanh, và chẳng hề có con đường thông thường nào để ‘thấy’ và ‘làm chứng trực tiếp’ những gì đang diễn ra dưới cánh mũi này cả. Nữa nhé, để ‘sống’ tâm trí mình cần nhóm hội và ghi nhận rất nhiều nhiều ở cái nơi vốn chỉ là các bong bóng nổ bôm bốp có mặt rồi biến mất. Làm cách nào, mình nghĩ, mình có thể bước đi, nếu quả thật mình đã từng thế rồi…

Giờ, còn nhớ buồn cười chứ, cái mũ lưỡi trai sành điệu N & Y xoắn bện phụ thuộc và khát thèm không ít người muốn tậu. Liệu mình có thể đập bẹp, uốn phẳng và đơn giản gọi chúng là ‘các phiền não tinh thần’ (defilements), hoặc các cảm xúc giời ơi đất hỡi. E chúng ta còn đề cập đến chúng chi tiết rõ ràng, song chắc hẳn cần đặt trong bối cảnh của đạo đức và khai tâm vỡ vạc những gì bấy lâu mù tịt…

Giơ tay rồi ngồi nhìn vào mắt nhau: trông thấy điều lo lắng không cân xứng

Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây...
Vì người cười không khóc, lòng buông cùng cỏ cây…

Thật cảm động khi có cơ hội ngồi đối diện nhìn vào mắt nhau; chắc càng tuyệt, nếu giơ thêm bàn tay vệ sinh sạch sẽ trước vấn nạn biến đổi khí hậu toàn cầu. Nghiên cứu cho thấy, chỉ cần 4 phút tiếp xúc mắt liên tục sẽ làm tăng thêm sự thân mật, thậm chí, có thể xảy ra chuyện khiến kẻ lạ phải lòng nữa. Vâng, thường thì tuổi trẻ vốn có xu hướng lãng mạn và không ngại ngần tiến hành cách mạng đủ mọi loại thứ trên đời.

Bọn ta *nên* lo lắng điều gì? (Lo lắng vì chẳng phải ai khác, chính chúng mình góp phần tạo dựng tương lai).

E chừng ấy là nỗi sợ hãi không cân xứng: sự thiếu nhất quán giữa trạng thái khách quan của khoa học với sự khinh rẻ của đám đông to mồm đó đây. Nguồn cơn khởi phát dễ tìm thấy khi cân nhắc điểm khác biệt căn bản giữa hai ‘thế giới’.

Một là thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, đặc thù khoa học như khối kiến thức gồm các lý thuyết khả thể và đích thực, sự đúng đắn hoặc có thể sai của chúng, tính có thể bác bỏ, các trắc nghiệm chấp nhận hoặc thất bại, các khẳng định tin cậy hoặc chẳng thuyết phục, các mục tiêu thỏa mãn hoặc không trả lời nổi, sự triển khai bằng chứng cốt lõi, thành tựu tiến bộ đạt được. Khoa học theo Darwin chẳng hạn, giữ vị thế cao trong thế giới này với kiến thức khách quan tựa như ‘ý tưởng duy nhất hay ho chưa từng ai sở hữu’, và chắc hẳn độc sáng trong lịch sử khoa học; tưởng chừng không thể bị thay thế, sinh học sẽ là mãi mãi theo kiểu Darwinian, vì sự chọn lọc tự nhiên có vẻ là cơ chế duy nhất thực hiện thiết kế mà không có nhà thiết kế. Và hiểu biết Darwinian về bản chất con người là sự ứng dụng trực diện với tuệ giác căn bản đó. Nỗ lực nghiêm cẩn đầu tiên khoa học vì bản thân chúng ta…

Thế giới khác là thế giới chủ quan của các trạng thái tinh thần, của con người và xã hội: suy nghĩ, niềm tin, tri giác, cảm xúc, tình cảm, hy vọng, hoài bão.

Lưu ý sự phân biệt này, chúng ta có thể ghi nhận hết sức chính xác sự mất cân đối, không tương xứng và tại sao nó lại gây lo lắng đến thế.

Nói chung, sự tiếp nhận của công luận về một lý thuyết khoa học tán thành do và đa phần nhất trí bởi việc đánh giá thế giới khách quan của các ý tưởng. Tuy nhiên, nó không giống trường hợp hiểu biết khoa học về bản chất tiến hóa của nhân loại và vượt trên tất cả, các bản chất giữa giống đực và giống cái, đàn ông và đàn bà. Nếu các tranh cãi về khoa học tiến hóa của bản chất người được thực hiện trong thế giới của các ý tưởng mang nội dung khách quan, sẽ không có cạnh tranh; lý thuyết tiến hóa sẽ thắng thật dễ dàng. Song, như một sự kiện xã hội học, giữa thị trường công khai thì khả năng nó sẽ thất bại thảm hại trước những chỉ trích om sòm.

Bằng cách nào ư? Vì trong một sự đảo chiều hoàn toàn của quan hệ khách quan giữa khoa học với những chỉ trích như thế, tất cả mọi sự bất tương xứng, không cân đối đều lật ngược. Thứ nhất, sức nặng của ‘chứng cứ’, sức nặng của lập luận được chuyển di từ những chỉ trích vào thành khoa học, nó là chủ nghĩa Darwinism vốn chờ xét xử. Các thái độ chống Darwin không buộc phải tự phòng thủ, họ được chấp nhận khỏi bị phê phán, các tiêu chí đánh giá về các quan điểm này gồm tất thảy sự sẵn sàng tín nhiệm và ngờ vực tuyệt không chút tin tưởng. Thứ đến, thêm sự sỉ nhục gây tổn thương, một trạng thái quá thừa thãi các đồ thay thế tạo tác tại gia dùng làm trò ảo thuật đặng lấp đầy khoảng cách với cái khoa học nên là. Dạng khoa học bản- thân- tự- làm- lấy này bao gồm những tuyên bố dựa trên phương pháp giả tạo vốn chỉ là tên gọi mà thôi; sự ‘vướng mắc’ không thể thay đổi giữa tự nhiên và nuôi dưỡng nhằm nêu lên bản chất đố mà hiểu thấu rốt ráo do đó, cởi bỏ ‘bản chất tinh tuyền’ để được thảo luận đầy đủ chi tiết, một kỵ sĩ không thèm đôi co với bằng chứng thực nghiệm khó khăn mới chiến thắng nổi, dù sở hữu thiên hướng động não giỏi giang; tiềm năng ma mãnh của ‘tạo mẫu rập khuôn’ và ‘các mô hình vai trò’; một quyền lực bất chấp logic để dựng lên những điều bí hiểm trong tâm lý của cái rỗng không, như trong ‘xã hội hóa’ và ‘trao quyền’; gán ghép các cơ chế mà thậm chí không mấy tin tưởng: làm nhiều việc cùng lúc, lòng tự trọng, đe dọa rập khuôn; những phàn nàn về ‘sự việc gây tranh cãi’ và ‘có dụng ý, động cơ’ tựa như khoa học xã hội đích thực nhưng thực sự thì giả dối về mặt khoa học. Chính sách thoát- ly- khoa- học kiểu như thế là do vận động hành lang, được gán cho giả thuyết ‘định kiến và rào cản’ và một sự chối bỏ tiền nghiệm về khoa học của những khác biệt giới tính chẳng hạn.

Sự rối rắm này coi thường giá trị khoa học, song nó lại không hề bị đối xử như ý kiến đối lập với khoa học; trái lại, về mặt tâm lý và xã hội học, nó có một tiếng nói cực kỳ ảnh hưởng và gây tác động mạnh mẽ hơn địa vị khách quan được đảm bảo của chính nó.

Bi hài và thực trạng gì thì chí ít nó đang hiện diện. Song, dưới quan điểm dài hạn, vô tư của bản chất con người như sản phẩm của công trình chọn lọc tự nhiên, một viễn cảnh rộng lớn hơn đang mở ra. Và điều đó gây ấn tượng cho chúng ta về đặc ân được sống trong thời điểm của các giá trị Phục hưng, phương thức hiếm hoi, cục bộ, các giá trị gần đây trong lịch sử hai triệu năm cũng như đấy là các giá trị thuộc bản chất của giống loài chúng ta sẽ tiếp tục được bồi dưỡng. Đóng góp của Darwin trong sự hiểu biết của chúng ta về chính bản thân mình là điển hình cho tiến bộ nhân loại, một lý tưởng thần kỳ không chỉ của khoa học mà cả dí sản văn hóa rộng lớn hơn là các tư tưởng Phục hưng.

Hiểu biết sự phân biệt giữa tính khách quan tự trị của thế giới các ý tưởng và trạng thái hết sức khác của tâm lý và xã hội, chúng ta có thể lượng định giá trị đích thực của khoa học. Và khi ghi nhớ nằm lòng viễn tượng sâu xa ấy, chúng ta sẽ ít lo lắng hẳn đi về những nỗi sợ hãi thiếu cân đối, không tương xứng này.

Hy vọng, như một khái niệm tỏ mờ hư thực

Mấy đoạn bên dưới kèm tiêu đề và hình minh họa trên được soạn tròn trèm ba tháng rồi; tức trọn một kỳ tam cá nguyệt, nghĩa là cũng vừa khép xong cả quý luôn.

Trong cuốn sách gợi ý từng sáng tạo, đề nghị cho cái ngày thứ 265 của 2015 hôm nay (tức 100 ngày nữa là hết năm đó): làm sân golf ngay tại nhà riêng, thậm chí đào đủ 18 lỗ rồi rủ thêm người khác chơi cùng.

Khi mình ngồi ngắm ánh nắng ngoài kia nhảy nhót tưng tửng, với không gian yên ắng thoáng đãng phả đầy hơi mát khá lạnh song thi thoảng vẫn nghe rõ xen lẫn giọng Quảng quá chân chất nữ nhân cất tiếng vang vang thì thế giới còn tiếp tục lấp ló vô vàn bi hài nhân duyên thuận nghịch. Liếc thấy tin đưa rằng một căn nhà xây dựng lâu đời ngay giữa thủ đô bị sập bất ngờ; cứu hộ, thương vong, hoảng loạn và sợ hãi.

Và tí chút đừ người bởi cơn cảm mạo gây ứ nghẹn cổ họng khiến lòng dễ dãi chấp nhận dùng ngay quà tặng tình cảm gồm vỉ Strepsils 12 viên vị cam thảo với hộp ngậm Fisherman’s Friend bạc hà; nghe chừng thiệt lạ lẫm hay ho bởi lần sử dụng đầu tiên cái đồ gắn danh xưng ngoại quốc bay bướm, chứ quen thuộc đầy hiệu nghiệm thủy chung nghiêng về món nước pha muối truyền thống da diết.

Dọn dẹp nội tâm đặng tìm đủ không gian thúc ta nhúc nhích tương tác vào những khoảnh khắc biếng lười e chẳng quá khó, vì mẹo nhỏ sẵn bày: để khơi lên dopamine thì nên đưa liền một dự đoán, cóc buộc nhất thiết phải lớn lao mà chỉ cần thu hút tới trạng thái tập trung chú ý hoặc gia thêm tẹo năng lượng; tỷ dụ, cậu bạn đang làm công chức chắc kẹt việc đột xuất, hay cuộc gặp của các vị khởi nghiệp chắc chắn thành công, hoặc mai mấy giờ thì máy báo có thư điện tử, v.v…

Như thế, khiêm cung tự tại chẳng hề lùng bùng với lối biểu đạt hào hứng, tâm thế sống đời tri ân càng giúp bản thân thoải mái chịu đựng, và rốt ráo, vô vàn rào chắn hay ranh giới cảm xúc nỏ ngăn nổi khả năng nhìn thấu tỏ tính quan yếu điệp tô lòng cao cả tỏa rạng nơi chính tha nhân.

—————————————–

Khá dễ hiểu là đa phần mọi người trong đời sống thường ngày chẳng thấy mấy khó khăn khi nói về ‘hy vọng’, dù thực tế chủ đề nghe chừng quá quen thuộc này phải sau một thời gian mới thấy xuất hiện trong y văn tâm bệnh học.

Hy vọng trở thành mối quan tâm của nhân loại băng xuyên nhiều thế kỷ và nền văn hóa. Chẳng hạn, trong thần thoại Hy Lạp, nó thuộc loại tội lỗi chứa ở hộp Pandora là quà tặng thần thánh trừng phạt con người. Theo truyền thống Do Thái- Kitô giáo trái lại, hy vọng được xem như một món quà tâm linh thiện lành Chúa trời trao ban. Nó cũng là đề mục triết học quan yếu.

Vị đầu tiên giới thiệu hy vọng như khái niệm khoa học xã hội e là Karl Menninger (1959); đưa vào Tâm thần học, quan trọng cho khởi sự thay đổi có tính trị liệu, ước ao học hỏi và trạng thái thân- tâm an lạc của cá nhân. Từ thời điểm đó, hy vọng thu hút người ta nghiên cứu làm tăng lên số lượng các bài báo xuất bản. Tổng quan xác định có 32 công cụ đo hy vọng dựa trên các bài báo đã đăng (Schrank và cs. 2008).

Nhìn chung, các lý thuyết và thang đo về hy vọng được phân nhóm: (1) các khái niệm chủ yếu dựa trên cảm xúc; (2) các khái niệm chủ yếu dựa trên nhận thức; (3) các khái niệm kết hợp cảm xúc với nhận thức; và (4) các khái niệm đa chiều kích.

Chẳng hạn, Lynch (1965) xem hy vọng là một “hiểu biết và cảm xúc căn bản cho thấy rằng có cách thức vượt khỏi sự khó khăn, có nhiều giải pháp, và rằng là con người nên chúng ta ít nhiều khả dĩ trông nom thực tế nội tâm và ngoại giới”. Tương tự, Larazus (1999) cung cấp hai lý do xem xét hy vọng như một cảm xúc: đa phần khởi lên từ ước muốn hiện diện mạnh mẽ trong tình huống khó khăn; và thứ hai, phát triển ấn tượng là điều có thể, thông qua các nỗ lực của bản thân chúng ta hoặc do các lực lượng bên ngoài. Obayuwana & Carter (1982) xem hy vọng như trạng thái tâm trí tựu thành tích cực nhờ cái tôi cường tráng, ghi nhận trợ giúp của gia đình, tôn giáo, giáo dục và các tài sản kinh tế. Hinds (1984) thì xem hy vọng ở phạm vi rất rộng mà cá nhân đoán trước tương lai; là “một cấu trúc cảm xúc cai quản bởi các quy tắc nhận thức” (Averil và cs., 1990)…

Nhích lần lữa làm sao cho vừa người thích hoàn hảo

Làm gì khi mình thích hoàn hảo và đang rơi vào thói quen xấu của sự lần lữa?

Tự nhận mình thuộc dạng người tôn thờ trạng thái hoàn hảo kỳ cục, vì thực sự mình có nhiều thói xấu như ăn nhiều ghê gớm và hay lột da khơi khơi, rồi bỏ bê chăm sóc bản thân do thiếu ngủ, ít tập thể dục/ tắm táp và cũng không dùng thuốc bổ (khiến tóc xam xám sớm). Cách người này xử lý: thi thoảng thức khuya để lên danh sách việc cần làm nhằm thay đổi bản thân, quan sát cách điều chỉnh vấn đề, và đưa ra hàng triệu lời hứa chẳng giữ được. Hôm sau rối tung phờ phạc thì từ bỏ dự tính ngay và quay về các thói quen xấu.  Có nhiều kiểu suy nghĩ ám ảnh song lại không theo đuổi tới cùng, rốt cục cảm thấy chính mình tồi tệ: một số suy nghĩ ấy đã nảy sinh hồi mới học lớp 8 hoặc sớm hơn. Giờ đang là sinh viên đại học năm thứ hai và thấy chán ốm bản thân; mất tự tin và ngại quan hệ với bạn bè…

Thực tế, trong nỗ lực làm người hoàn hảo thì lần lữa, trì hoãn là công cụ chúng ta dùng để ngăn ngừa nỗi lo lắng cứ chực ăn tươi nuốt sống mình ngay và luôn. Ham muốn thành người hoàn hảo có thể tăng thêm stress và lo âu vào bất kỳ việc bản thân đang muốn áp dụng. Tính hoàn hảo đẩy ta làm nhiều việc dễ tạo cảm giác ngập lụt, to lớn vô cùng và tiêu tốn thời gian khủng khiếp. Thực hiện điều hoàn hảo đặt buộc ta bổ sung nỗ lực ngoài sức tưởng tượng nhằm đảm bảo nó ngon lành cành đào và không mắc sai sót nào; làm đi thử lại cho đến ổn thỏa mới thôi. Chưa nói, các tiêu chuẩn đặt ra cho bản thân phù hợp với trạng thái hoàn hảo khiến các mục tiêu khó bề chạm thấu. Càng cứng nhắc về mức độ hoàn hảo, càng không chấp nhận do chẳng đạt được các tiêu chuẩn cao đến thế. Và câu chuyện dần chuyển sang phần tồi tệ: lo lắng và sợ hãi thất bại tạo cho người mang tính hoàn hảo đôi lúc thấy khá bị hăm dọa. Chính khi đó, sự lần lữa bước vào. Là cách tránh né và phòng thủ kín đáo, lần lữa minh họa cho việc chúng ta gỡ bỏ xuống gánh nặng, khỏi đương đầu với kỳ vọng cùng tiêu chuẩn cao vời, khiến mình không phải đối diện rồi cần thiết giải quyết chi hết.

Hầu hết người thích hoàn hảo cũng có thói tật mê chỉ trích bản thân. Nên khi chẳng đáp ứng với các mục tiêu và tiêu chuẩn đến thế, họ thường đổ tội cho bản thân, căm ghét chính mình, và sợ kẻ khác thất vọng. Nghĩ về sự trì hoãn như tấm chắn che đậy khuất mắt mọi sự sa lầy về mặt cảm xúc này. Tuy nhiên, trừ khi mình có kỹ năng hiếm hoi để đợi tới phút cuối trông thấy rõ ràng mọi việc hoàn thành tốt nên rốt cục lần lữa thành thứ đáng nguyền rủa, đồ của nợ tởm ghét. Mọi gắng sức né thoát các cảm xúc thông qua sự lần lữa chỉ tổ làm họ bắt gặp lại chúng về sau khi họ không thỏa mãn hoặc quá hạn cuối cùng đặt ra. Mục tiêu của sự lần lữa là né tránh các cảm xúc mà rốt cục lại gặp đúng các cảm xúc muốn tránh né ấy.

Cách xử lý tốt hơn các cảm xúc này là hiểu thấu mục tiêu mình muốn gì khi nảy sinh ra trò lần lữa: điều khiển nỗi lo niềm sợ. Khởi sự biết rằng lần lữa không phải là cách tốt nhất đặng kiểm soát lo lắng. Bắt đầu hiểu rõ nó rồi đây sẽ chỉ mang mình chộ mặt lần nữa các cảm xúc bản thân từng cố hết sức tránh mà thôi. Một khi tin rằng lần lữa cóc được việc như mình thiết tưởng, ta có thể cởi mở kiếm tìm cách khác xử lý nỗi niềm âu lo. Ăn, ngủ, chơi đùa. Bẻ nhỏ một nhiệm vụ lớn thành các mẩu nhỏ hơn. Nghỉ ngơi, vâng, nghỉ ngơi. Đúng thế, đề nghị mình dừng những gì đang tiến hành và chầm chậm lại… Đây là sự trì hoãn tốt lành. Cho phép mình dành thời gian hồi phục sức khỏe và tránh kiệt quệ do cố thúc đẩy bản thân dấn bước.

Tiếp theo, bắt đầu khám phá các động cơ ẩn giấu bên dưới tính hoàn hảo; thói tật cầu toàn cứ dần trở nên gây hại vì mình sợ tạo ra sai lầm, sợ thất bại, gắng buộc sống theo kỳ vọng của những kẻ khác, hoặc do tự dằn vặt bản thân kéo dài quá lâu. Dĩ nhiên, cũng cần biết rằng cầu toàn không phải là cách hữu hiệu gì để xử lý các trục trặc dây dưa vừa nêu. Thách thức thói lần lữa sẽ đi kèm với việc kiểm tra xem xem các tiêu chuẩn đề ra có đạt được không và nhìn nhận chúng đúng là không thể chạm tới thật. Chúng ta cũng cần cảm thấy dần thoải mái bộc lộ các điểm yếu kém, học cách đón chào vui vẻ những lỗi lầm lộ diện, và thay đổi lối suy nghĩ đen trắng rạch ròi quá mức vốn hay cặp đôi với tính cầu toàn và thói tật thích hoàn hảo.

Làm thế nào để mở lòng ra thành thật?

Mới ngoài 20, thích giao tiếp và nhìn đời tích cực. Người luôn tràn đầy nhiệt huyết song một tháng trở lại đây thì đâm lo lắng, mất kiên nhẫn và cáu gắt; muốn ở riết trong nhà, không đi ra ngoài nữa vì nghĩ sẽ gặp đủ chuyện lắm người khiến mình bực bội; ngay cả bạn bè thân thiết nói làm gì cũng gây cho bản thân tức giận hoặc khó chịu. Biết là vấn đề nằm ở mình; bắt gặp bản thân nghĩ điều sai trái kiểu bạn bè chẳng còn thích mình nữa; tưởng tượng như có quả bóng lo lắng lớn dần lên trong lòng. Cảm thấy mệt dù không ngủ được, nằm trằn trọc suốt, và lúc nhắm mắt lại nhớ các tình huống tồi tệ và buồn bã.

Hôm nay thì kinh khủng khiếp. Định chỉ gặp mỗi bố để đi dạo cho khuây khỏa thế mà cuối cùng lại bắt điện thoại nghe một số lạ gọi tới… Thấy người rung lắc nhẹ, vài dấu hiệu cảnh báo lan khắp cơ thể và tim như nổ bùng song khi kiểm tra mạch thì khá bình thường. Hủy hẹn. Sau đó thấy quả bóng to đùng trong lòng bắt đầu lục bục rồi nước mắt chảy dài… Không nghĩ nên gặp bạn bè để khuây khỏa trở lại, vì e ngại người ta sẽ nhìn mình giống kiểu mình thích ở nhà vậy. Xấu hổ nhờ bạn bè khuyên nhủ hoặc giải thích giúp về tình trạng. Chưa từng thế này bao giờ nên sợ không thể kiểm soát thân thể lẫn cảm xúc. Thường tự đánh giá mình là kẻ độc lập, thực tế và tính cách mạnh mẽ; quen âm thầm xử lý các vấn đề cùng tình huống phát sinh rất hiệu quả.

… Nghe như người này đang đương đầu với cả trầm cảm và lo âu. Các triệu chứng bao gồm sự phấn khích tâm vận động (bồn chồn và mất tinh thần), khó ngủ say, giảm thiểu mối quan tâm với các hoạt động hàng ngày, và với đối tượng trẻ hơn, dễ cáu kỉnh. Thứ ‘cảm xúc kỳ lạ’ lưu ý khi nghe điện thoại giống như nỗi sợ bị tấn công vậy, thường gồm biểu hiện là tim đập thình thịch, người rung lắc, cơ thể nóng sốt, và sợ mất kiểm soát.

Nhiều người chưa từng trải qua các rắc rối tình cảm trước kia đột ngột thấy mình đang kinh nghiệm, đặc biệt khi họ tiếp chạm giai đoạn đầu trưởng thành. Đây là giai đoạn phát triển mang tới rất nhiều thay đổi ấn tượng bởi vì sự quá độ từ tuổi thơ và nhà trường sang tuổi trưởng thành và đi làm nên không ngạc nhiên lắm đòi hỏi thích nghi.

Các cảm xúc phiền muộn không có gì tội lỗi cả; chúng là sự kiện đời sống với rất nhiều người. Điều quan trọng giúp mình vượt qua giai đoạn khó khăn này là với tay ra và đề nghị trợ giúp. Tha nhân có thể cũng trải qua tương tự nên có thể đưa lời khuyên về cách thức xử lý; cũng có thể tham gia các nhóm tham vấn hoặc trị liệu cá nhân nếu thấy phù hợp.

Điều tồi tệ nhất là duy trì sự cô độc và tách biệt nội tâm cũng như ỳ ra, không làm gì như lơ là ăn uống do trầm cảm và lo âu. Nếu mình cứ đớn đau mãi thế thì tình hình sẽ càng thêm tồi tệ, chứ khó tốt hơn lên. Sơ khởi, có nhiều kỹ thuật hành vi làm giảm thiểu các triệu chứng trầm cảm và lo âu. Vấn đề chỉ là làm sao tìm ra chúng.

Ví dụ khác. Suốt thời trẻ, theo bố di chuyển và đi du lịch rất nhiều nên không gắn bó ai quá lâu. Chưa từng nhỏ lệ hoặc phải quan tâm cảm xúc quá mức; chỉ không nhận thấy tầm quan trọng của chúng trong những gì đang làm, cũng không thật thấy chúng giúp ích cho bản thân trong dài hạn. Thi thoảng khi biểu đạt cảm xúc ra xong rồi thì chỉ cảm thấy tồi tệ; thất vọng với bản thân khi bày tỏ chúng, ngay cả với riêng mỗi mình thôi.

Năm mới lên 12 tuổi, bố mẹ đã bảo là lạnh lùng, xa cách và đố mà ai ưa nổi chứ nói gì chuyện lấy được chồng. Hầu hết thành viên trong nhà và vài người bạn còn thấy có vẻ hăm dọa và đáng sợ. Tầm năm, sáu năm gần đây thì làm việc cởi mở hơn hẳn, thành người thân thiện nhờ đi theo các bước hướng dẫn đọc được trong các cuốn sách tự trợ (mỉm cười, gặp gỡ người tích cực, cười thoải mái, v.v…). Song việc cởi mở ấy chỉ làm mọi sự ổn thỏa ngắn hạn, vì để lại trong lòng mình rất nhiều cô độc hơn trước đây, là nguyên nhân khiến bố con lại tự dưng đâm cãi vã nhau. Song phải thừa nhận là tuy việc cởi mở bản thân tuy đem lại tiến bộ thật, nó dần tao nên sự đứt gãy về mặt cảm xúc, thậm chí ít tin tưởng vào người xung quanh.

Biết không hay ho, đúng đắn chút nào vì chẳng tin tưởng hoặc thể hiện cảm xúc ‘thật’ với người khác. Song hiện tại chưa tìm thấy cách hàn gắn, kết nối hay các bước phải thực hiện nhằm giúp bản thân cởi mở hơn, thậm chí vá sửa các vấn đề không mong muốn nảy sinh vì nỗ lực cởi mở.

… Thật vui vì nhân vật khao khát cởi mở hơn nữa với người khác. Có vẻ đấy đã là một tiến trình hết sức hụt hẫng, chắc bởi vì chưa chạm tới tâm điểm của vấn đề. Có thể người này bị xem là bắt chước hành vi chứa cảm xúc (mỉm cười, cười thoải mái) chứ không đích thị đem lại cảm nhận về chúng và thiên hạ thường hay đáp ứng kiểu thế (các khóa học kỹ năng mềm áp dụng chiêu tương tự). Đối tượng tiếp xúc có thể nghĩ mình thiếu thành thật, thậm chí, nhạo báng họ.

Bước đầu tiên chỉnh sửa là dừng biểu tỏ các cảm xúc ghê gớm. Thực tế, cảm xúc rất quan yếu; chúng cung cấp cho ta thông tin về bản thân và về môi trường xung quanh cũng như chỉ bày cho ta cách để kết nối thật ý nghĩa với những người khác. Cảm xúc còn giúp cơ thể mình mềm mại, tươi mát. Nếu đè nén cảm xúc quá lâu, cơ thể sẽ báo động trục trặc. E chừng đây chính là chỗ nhân vật đang trải qua. Do chôn giấu cảm xúc lâu quá đến độ giờ không biết làm sao để tiếp cận với chúng.

Các cảm xúc thường gây cho mình cảm giác tồi tệ vì chúng có thể đau đớn và khiến mình dễ tổn thương. Có thể hình dung là do bảo bọc bản thân tránh khỏi nguy cơ bị tổn thương mà mình quyết định ngay từ đầu là ngắt tách cảm xúc liền thôi. Trong khi đấy có thể là giải pháp tự vệ hữu ích ngắn hạn, nó có thể gây tàn phá nặng nề lâu dài về sau vì không có sự cân bằng. Mình có thể không thích cảm nhận các cảm xúc đau đớn song đóng sập chúng cũng có nghĩa là mình không cảm nhận được các cảm xúc tốt lành luôn. Cảm xúc dễ là điều kỳ diệu, cho mình trải nghiệm đam mê, tình yêu và niềm vui, và chúng còn cho mình cách thức phát triển các mối quan hệ đầy thỏa mãn sâu xa. Tuy thế, điều ấy kèm theo một số nguy cơ vì cảm xúc có thể và hay là nguyên nhân gây đau khổ; lý giải tại sao cảm nhận cảm giác và thậm chí, biểu đạt chúng không khiến mình yếu đuối nếu không muốn nói là làm mình mạnh mẽ thêm vì ước ao cảm nhận chúng bằng bất cứ giá nào. Ví von, dũng cảm chẳng phải là vắng mặt sợ hãi mà là làm mọi điều cần thiết phải thực hiện.

Bước kế tiếp là cho phép bản thân cảm nhận các thang bậc tình cảm khác nhau. Dành thời gian và không gian để mình có thể nghĩ về các ký ức riêng biệt (hạnh phúc, buồn bã, đáng sợ…) rồi cảm nhận về chúng. Để bản thân mình khám phá mỗi một cảm xúc ứng hiện trên cơ thể mình. Ghi nhật ký cách cảm nhận ra sao ký ức hoặc các cảm xúc. Nói với người hiểu biết về các cảm xúc của mình (một nhà tham vấn sẽ là lý tưởng để giúp mình tiến trình này). Hoàn thành nhiều lần để các cảm xúc dần trở nên tự nhiên. Khi làm thế được rồi, có thể tưởng tượng người khác cảm nhận ra sao rồi dùng các quan sát mới mẻ này khi trò chuyện. Hãy để mọi người biết cách mình cảm nhận mọi thứ. Hỏi họ về các cảm xúc của họ và xem xem mình có thể tìm thấy một vài điểm chung… Các quan hệ vững bền được xây dựng trên việc trao đổi qua lại các cảm xúc; đấy gọi là sự thân mật cảm xúc và nó có thể vô cùng vui vẻ, hồ hởi.

Có lẽ, khi mình đủ khả năng tạo dựng sự thân mật về mặt cảm xúc, trạng thái  cởi mở với mọi người sẽ đến từ lòng mình sâu xa chứ không phải cái đầu tính toán.

Hiểu biết về nỗi đớn đau rã rời và ứ tràn cảm xúc

Đôi khi, người ta cảm thấy không còn mấy chút hào hứng với việc nỗ lực học hỏi, và họ cũng cảm giác trống rỗng tương tự trong các cuộc thảo luận, chuyện trò liên quan đến tình cảm. Để giải quyết nỗi niềm đớn đau ẩn hiện, họ có thể sử dụng chiến lược cách ly hoặc ngủ rũ về mặt cảm xúc.

Có người thì thường xuyên cảm thấy nhu cầu thôi thúc bản thân về nỗi đớn đau này bằng cách tưởng tượng mình trong một tình huống khốn cùng (ví dụ, một cuộc chia tay buốt xé, lời tâm sự thốt lên trước lúc chết, v.v…). Khó ‘thỏa mãn’ bình thường cho đến khi khóc lóc chẳng kiểm soát được, với cơn nhói đau nơi ngực rồi ngủ thiếp đi; chỉ thấy đỡ hơn hẳn sau khi thức dậy…

Khá nhiều lý thuyết tâm lý học liên quan với vấn đề nêu trên. Nhà trị liệu theo cách tiếp cận phân tâm hoặc động năng tâm lý sẽ lý thuyết hóa rằng các xung đột nội tâm lý giải nhu cầu trải nghiệm nỗi đau cảm xúc. Từ viễn tượng tâm lý ấy, khi nhận ra chính mình dấn thân vào các hành vi mang tính phá hoại bản ngã và cơ chừng vô mục đích nghĩa là chúng ta đang muốn dứt khỏi ký ức hoặc một trạng thái cảm xúc.

Nói khác, ước ao cảm thấy đau đớn cảm xúc có thể phản ánh vô thức mình nỗ lực tạo nên sự ‘chuộc tội’ về mặt tâm lý cho các hành động, xung năng hoặc tình cảm vốn khó khăn để thấy ra hoặc chấp nhận trên bình diện ý thức. Cơ chế phòng vệ này gọi là ‘phá hủy, tháo khoán’ (undoing) hướng tới hành động trong những cách đối lập với hướng mình cảm nhận ở bình diện vô thức thẳm sâu. Có lẽ phần nào cảm thấy tội lỗi, tỷ như việc muốn sống đời vui vẻ, đến độ mình thực ‘hủy xóa’ ước ao hạnh phúc này thông qua chuyện thay thế bằng các trạng thái cảm xúc khổ sở. Nghĩa là, mình dễ tự trừng phạt chính mình một cách vô thức nhằm ngăn ngừa các cảm xúc hạnh phúc ‘không thể chấp nhận nổi’ khởi lên bề mặt.

Nhà trị liệu dùng khung tham chiếu nhận thức- hành vi sẽ giải thích não trạng và các hành động khác hẳn. Lối tiếp cận này cho rằng các nguyên nhân gốc rễ của nhiều rối loạn hành vi và cảm xúc vốn bắt nguồn từ niềm tin về bản thân chúng ta, về thế giới, và về tương lai. Bên dưới hành vi, chẳng hạn, có thể là niềm tin căn cốt ‘Tôi tồi tệ và tôi đáng bị trừng phạt’.

Một nhà trị liệu nhận thức sẽ trợ giúp trong việc định dạng, và thay đổi hệ thống niềm tin góp phần hình thành nhu cầu đớn đau về mặt cảm xúc. Nhà trị liệu có thể giúp thân chủ nhận ra các nỗi sợ liên quan tới hành vi hủy hoại bản thân. Nếu các niềm tin nằm bên dưới là nguyên nhân khiến mình ngại ngần rời bỏ niềm vui và hạnh phúc chẳng hạn, nhà trị liệu sẽ giúp khớp khít với các nỗi sợ, khám phá nguồn gốc của chúng, rồi tái cấu trúc những niềm tin và suy tư liên quan đến nỗi sợ làm mình bị tắc ứ.

Một nhà trị liệu cần làm việc sát hợp với thân chủ nhằm xác quyết các gốc rễ trong nhu cầu đớn đau về mặt cảm xúc. Trước hết, nhà trị liệu sẽ muốn hiểu điều gì đem lại khoái sướng nhờ lui tới với các trạng thái đớn đau về mặt cảm xúc. Liệu tự thân trạng thái đớn đau cảm xúc đem lại niềm vui hoặc đúng ra là sự phóng thích về mặt tâm lý nhờ khóc lóc? Cảm thấy lo lắng khi tiếp nhận tâm trạng đớn đau về mặt cảm xúc, hay ngược hẳn lại, cảm thấy lo lắng nếu mình bị ngăn chặn không tiếp cận được các tâm trạng nêu trên? Một nhà trị liệu từng trải chắc sẽ dành thời gian đánh giá thân chủ và tình huống của thân chủ nhằm tích lũy thêm hiểu biết sáng rõ khía cạnh tâm lý của thân chủ. Nhờ làm thế, nhà trị liệu sẽ thêm khả năng trị liệu thân chủ và vấn đề như thân chủ mô tả. Tìm kiếm nhà trị liệu phù hợp và thoải mái giúp mình cảm thấy nhiều kết nối hơn về mặt cảm xúc và phóng thích tối đa các gánh nặng tâm lý.

Lại có thân chủ lớn lên với một người cha nghiện rượu, tuy không lạm dụng thể lý song lại hành hạ bằng lời nói; ngay từ bé, thân chủ đã ước mình bị hiếp: không phải để vui sướng mà có lẽ vì quá buồn đau. Quen nghĩ tới các kịch bản về một đời sống gia đình khốn khổ hơn, vì thân chủ cảm thấy mình không đủ xấu xa, và muốn một điều gì đó đáng để rơi lệ…

Thường chúng ta khá ngờ vực bất kỳ ai có ‘nhu cầu’ đau đớn về mặt cảm xúc, và với nhiều người, đó là nơi chốn thoải mái. Thiên hạ hay kiếm tìm các tình huống tương tự đời sống của họ, bất luận tính chất lành mạnh hay không. Điều này có vẻ là những gì đang diễn ra với thân chủ nhắc trên; nghe như người ấy đang cưỡi trên một cơn bão cảm xúc, hoặc có thể nghĩ, đang kiếm tìm các hỗn độn cảm xúc. Hỗn độn cảm xúc xảy đến khi có một rối loạn toàn diện và rối rắm trong mớ cảm xúc ứ tràn. Người trải nghiệm điều này không chắc về cách mình cảm nhận, khả năng vì có các xung đột cảm xúc và sự ghi nhận về việc mất kiểm soát. Với đống cảm xúc cuộn xoáy bao quanh, cơ thể họ dễ rơi vào trạng thái phấn khích cao độ về mặt sinh lý. Sau khi quen sống với trạng thái hỗn độn cảm xúc thế, nhiều người chạm tới điểm cảm thấy tốt lành. Họ khởi sự vui thú với kịch tính và dần tin rằng sống trong trạng thái bình lặng là quá kỳ cục và chán chường. Do vậy, bất chấp những điều tốt lành trong đời, họ kiếm tìm sự chao đảo để mong quay về trạng thái thoải mái.

Có rất nhiều cách dẫn tới việc người ta chao đảo về mặt cảm xúc, và chuyện sống với kẻ nghiện ngập, nhất là đối tượng lạm dụng, khá sát gần đỉnh điểm đang bàn. Nghiện rượu là thứ tật kinh khiếp do lắm lý do, chứ không đơn giản là những phá hoại và tổn thương nó gây ra cho các thành viên trong gia đình.

Trẻ em sống trạng thái căng thẳng quá mức đến độ chúng có thể cảm nhận nguy hiểm và chúng lựa chọn hoặc trốn tránh hoặc đánh lạc hướng. Trẻ thường xuyên cảm thấy tức giận với bố mẹ nghiện ngập của mình song bởi vì bộc lộ sự tức giận thì không an toàn nên chúng buộc phải che giấu các cảm xúc bản thân và làm bất cứ điều gì cần thiết để sống còn. Chưa nói, trong khi con cái các bố mẹ nghiện ngập thường yêu quý bố mẹ mình, chúng không biết làm cách nào để cân bằng cảm xúc đó với sự tức giận, đau buồn và sợ hãi. Kết cục, có nhiều cảm xúc xung đột, chúng quen sống trong trạng thái sinh lý tăng cao, và ít khả năng kiểm soát; nói ngắn, chúng sống trong sự chao đảo về mặt cảm xúc.

Khi thân chủ tự hỏi đang diễn ra điều gì sai trái, nhà trị liệu đoán rằng thân chủ muốn thay đổi. Điều này có thể thực hiện tốt, nhất là nếu mình có sự trợ giúp của người làm chuyên môn được đào tạo bài bản về nghiện ngập và các hệ thống gia đình. Nhà trị liệu hầu như sẽ giúp thân chủ học hỏi cách điều chỉnh tốt hơn các cảm xúc bản thân, đặt để các ranh giới liên nhân cách, và thiết lập cảm nhận kiểm soát đời mình. Khi lốc xoáy của cơn bão cảm xúc ngừng bặt, thân chủ có thể khám phá ra rằng trạng thái ‘buồn chán’ không nhất thiết là phương thức chung sống tồi tệ.

Chối bỏ như một cơ chế phòng vệ

Với người nhiễu tâm (neurotics), chối bỏ (denial) là cơ chế phòng vệ vô thức bảo bọc họ chống lại trải nghiệm đớn đau không chịu đựng nổi. Với kẻ bị loạn tâm (disorderded), những gì chúng ta quen ghi nhận như các cơ chế phòng vệ vô thức (chối bỏ chẳng hạn) thường là các sách lược có tính toán nhằm khôn khéo tạo ấn tượng, diễn trò, và lảnh tránh trách nhiệm.

Dạng nhiễu tâm dùng nhiều thứ cơ chế nội tâm đặng chống giữ, che chắn trước trải nghiệm nỗi đau cảm xúc và làm khuây khỏa lo âu. Hầu hết mọi người nghe nói về các ‘cơ chế phòng vệ’ cơ bản này. Đấy là các công cụ *vô thức*, dù quyền năng song tỏ ra không thích đáng hoặc không luôn luôn cực kỳ lành mạnh tựa các cách thức giảm bớt nỗi đau cảm xúc. Các ‘triệu chứng” mà cá nhân kẻ loạn tâm khiến nhà trị liệu chú ý là kết quả lo âu sót lại hoặc nỗi đau cảm xúc vẫn còn đó sau việc dùng chẳng mấy hiệu quả một hoặc nhiều các ‘cơ chế phòng vệ’ đặc thù. Vào những dịp khác, một người dễ nhờ cậy trợ giúp bởi vì ‘các phòng vệ’ dần tăng thêm sự thiếu thích ứng hoặc bắt đầu bẻ gãy, để mặc nỗi đau cảm xúc ẩn bên dưới chúng nổi lên bề mặt.

Các tính cách loạn tâm dấn thân vào một số hành vi quá ‘tự động’ đến độ gợi ý nghĩ thực hiện chúng hoàn toàn vô thức. Thoạt nhìn, các hành vi này giống với các cơ chế phòng vệ và dễ diễn giải thành như thế, nhất là bởi các cá nhân bị ngâm quá mức trong các hệ hình truyền thống. Tuy vậy, xem xét kỹ càng hơn, các hành vi này chính xác ra phải được gọi tên là những sách lược diễn trò, mánh lới gây ấn tượng và chống kháng trách nhiệm.

Lấy ví dụ về một người phụ nữ kết hôn và sống cùng chồng 40 năm nay, và bà vừa đưa ông vào bệnh viện vì trong khi họ làm việc ngoài vườn thì ông ấy chợt nói năng khó khăn rồi trông có vẻ kiệt quệ. Các bác sĩ chẩn đoán chồng bà bị đột quỵ, giờ não đã chết và sẽ không hồi phục được. Dẫu thế, mỗi ngày bà vẫn vào bên cạnh giường ông, nắm tay và trò chuyện. Các điều dưỡng bảo ông không thể nghe thấy song bà vẫn nói với ông hàng ngày. Các bác sĩ bảo ông không hồi phục được song bà thì tự nhủ với bản thân rằng ‘tôi biết ông ấy sẽ qua khỏi, ông ấy là một người đàn ông mạnh mẽ’. Người phụ nữ này đang ở trong một trạng thái tâm lý lạ lùng: trạng thái chối bỏ. Bà rất khó khăn để tin những gì diễn ra. Mới đây thôi, bà còn ở ngoài vườn cùng ông, thích thú bên nhau làm công việc ưa thích. Trước hôm xảy đến sự cố một ngày, họ cùng nhau đến thăm gia đình một người bạn. Ông ấy cơ chừng toát lên nét vẻ thật hạnh phúc và khỏe mạnh. Ông ấy không đau ốm gì lắm khi bà đưa vào bệnh viện. Thế mà, trong chớp mắt thôi, họ đang nói rằng ông sắp chết. Nỗi đớn đau thấm đẫm cảm xúc này bà chưa từng phải chịu đựng. Bà không sẵn sàng chấp nhận việc người đàn ông đầu ấp tay gối suốt 40 năm qua sẽ không về cùng nhà với bà nữa. Bà không chuẩn bị tinh thần cho việc sống cuộc đời vắng bóng hình ông. Vì vậy, tâm trí vô thức cung cấp một phòng vệ hiệu quả (hầu như tạm thời) để bà chống lại nỗi đớn đau. Rồi dần mai một, khi bà đủ khả năng chấp nhận thực tế phiền não, sự chối bỏ của bà bị bẻ gãy, lúc ấy, nỗi đau bấy lâu tích chứa phun trào và bà sẽ xót buốt cõi lòng ghê gớm.

Một ví dụ khác về cái gọi là ‘chối bỏ’. Nam (tên giả), quen bắt nạt trên lớp, đi dạo với một trong các bạn học không nghi ngờ gì rồi tiến hành giật tung cặp sách bạn đang cầm, đá tung tóe sách vở khắp nơi dưới sàn nhà. Đúng lúc đó, giám thị hành lang bắt gặp nên nghiêm nghị hét lên “Nam!”. Cậu bé mở rộng vòng tay, làm cử chỉ ngạc nhiên và biểu tỏ vẻ mặt ngây thơ vô tội “Cô gọi gì em ạ?”. Liệu Nam đang sống một tâm trạng khác? Trạng thái thay thế này có thể giúp cậu chịu đựng nỗi đau cảm xúc? Nam không thực sự hiểu chuyện gì vừa diễn ra hay cậu ta nghĩ rằng mình nào có làm điều gì đâu cơ chứ? Cậu ta quá héo hon vì tội lỗi và/ hoặc tủi hổ vì điều mình gây ra đến độ cậu đơn giản không thể tin nổi mình thực sự đã làm chuyện khủng khiếp? Khả năng câu trả lời là Không. Nam chắc chắn quan tâm nhiều tới chuyện cậu ta có thể bị trừng phạt, kèm với lời thông báo tới bố mẹ, và thậm chí có thể bị đình chỉ học tập. Nên cậu chuẩn bị thử một chiến lược dài hơi. Cậu sẽ làm hết sức để vị nữ giám thị tin rằng không thực sự thấy những gì đôi mắt mình đã ghi nhận. Sảnh đường đông nghẹt. Có thể là ai đó khác chăng. Có thể hành động ấy chỉ là ‘tình cờ’. Nếu cậu ta thể hiện vừa đủ vẻ ngạc nhiên, ngây thơ, và sự phẫn nộ chính đáng thì biết đâu chừng, đúng là biết đâu đấy, cô giáo sẽ bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Cậu bé hy vọng, không giống mình, cô giáo có thể là dạng nhiễu tâm (chẳng hạn, mang lương tâm thái quá và cảm giác cực đoan về tội lỗi hoặc tủi hổ) để nghĩ rằng cô giáo có thể đánh giá nhầm tình huống, có thể cô giáo thậm chí tự mắng mỏ bản thân vì vội vàng quy kết hoặc dễ góp phần gây nên một nỗi đau cảm xúc. Sách lược này từng được việc rồi, có thể nó sẽ lại tiếp tục được việc lần nữa.

Ví dụ vừa nêu dựa vào một trường hợp có thật. Đáng lưu ý, khi ‘Nam’ nhận ra cậu ta không thể diễn trò với giám thị hành lang, cậu bất đắc dĩ ngừng việc chối bỏ và nói rằng, ‘Vâng, có thể em làm thế thật song cô giáo giám thị đã tin chắc vậy vì cô ấy luôn nói xấu về em’. Nam đang dùng một số chiêu thức khác để diễn tiếp trò sắp đặt, dẫn dắt và tạo mánh khóe gây ấn tượng; điều quan trọng nhất cần nhận ra là không giống với những gì xảy ra trong trường hợp chối bỏ tâm lý đích thực như một cơ chế phòng vệ, vụ của Nam không cho thấy nỗi thống khổ được biểu lộ và thể hiện buồn thương khi sự chối bỏ kết thúc. Lý do đơn giản là tự bản thân Nam chưa bao giờ ‘chối bỏ’ (trạng thái tâm lý). Cậu ta chỉ đang nói dối thôi, và dần cậu ta ngừng việc nói dối vì chuyện đó chẳng dẫn cậu ta đến đâu cả. Cậu ta chuyển từ việc nói dối sang xin lỗi và hành hạ nạn nhân cũng là các chiêu trò dẫn dắt và mánh khóe gây ấn tượng hiệu quả.

Không thể nhấn mạnh đủ rằng ‘chối bỏ’ của người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh thì không giống với sự ‘chối bỏ’ của cậu bé bắt nạt bạn học tên Nam. Một là cơ chế phòng vệ, một thuộc chiêu trò dẫn dắt và lảng tránh trách nhiệm; một là cơ chế vô thức bảo bọc người ta khỏi nỗi đau khổ cảm xúc sâu thẳm, một là lời nói dối được tính toán và cân nhắc rõ ràng.

Tuy thế, thực tế nhiều vị dùng cùng thuật ngữ để mô tả các hành vi rất khác hẳn nhau này. Ít nhiều cảm thấy khó chịu khi ngay cả người hành nghề chăm sóc sức khỏe còn xem là chỉ có mỗi một dạng chối bỏ và họ thường giả định rằng hễ cứ nhắc tới chối bỏ thì bó nó vào mớ cơ chế phòng vệ phức tạp. Nghe họ nói về thân chủ cứ ngoan cố ‘phòng vệ’ thuộc hành vi có vấn đề này khác khi thực chất, họ đang mô tả thân chủ còn tiếp tục ‘nói dối và trình diễn’ như phần của trò chơi bày đặt gây ấn tượng và lảng tránh trách nhiệm. Lần nữa, ‘chối bỏ’ e là một trong các thuật ngữ sức khỏe tâm thần dễ bị dùng sai.

Kết nối đảm bảo các mối quan hệ thân mật, dài lâu

Làm việc với các đôi, ngoài một số tình huống đặc thù lạm dụng vài ba kiểu hình quan hệ ít gặp, thường luôn thấy khá nhói tim nản lòng khi chứng thực tiến trình gỡ rối sự vụ, tâm tình khó nói.

Nhà trị liệu dễ đi về hướng cảm nhận khá bất công do chia sẻ thất bại vì quá quen thuộc hiện tượng các đôi ra quyết định nhờ trợ giúp khi quan hệ của họ đã tồi tệ xa điểm dễ dàng sửa chữa. Bất luận các quan hệ vượt thoát nạn thuyền tình đánh đắm hoặc phải tan rã chia ly thì một điều luôn tồn đọng gây ấn tượng khác biệt thực sự chung cuộc: kết nối.

Kiểu loại và mức độ kết nối liên nhân cách có thể hiện hữu rất khác biệt bên trong một mối quan hệ. Có các kết nối thuần túy thể lý hoặc ‘hóa học’; rồi cũng có kết nối chủ yếu trên bình diện trí năng, thuộc lĩnh vực cảm xúc, hoặc thậm chí là ‘thực tế’ hay dựa trên lối sống cụ thể.

Sức mạnh tương đối của nhiều kiểu dạng kết nối có thể tạo nên tất cả khác biệt về phẩm chất quan hệ, thậm chí quyết định quan hệ sẽ vững bền và là khí cụ làm đủ đầy cả hai, hay rồi ra thất bại. Phẩm chất kết nối (tỷ dụ, chiều sâu quan hệ) cũng có thể là bề kích đáng nói. Các kết nối chỉ trên bề mặt giả tạo thì thường ngắn ngủi, dù chúng dễ thành mãnh liệt, nồng nhiệt.

Không có gì ngạc nhiên lắm nếu nhiều đôi cho rằng kết nối mạnh mẽ nhất họ cảm thấy vào lúc khởi đầu quan hệ là ở mức thể lý. Trong khi hấp dẫn thân xác và đam mê dục tính có thể thuộc các khía cạnh quan yếu ở bất kỳ đôi nào, ‘hóa chất’ thuở mới gặp nhau cũng chỉ là một trong các lý do thất bại và kết thúc quan hệ, nhất là khi nó khống chế các kiểu kết nối khác nhằm đảm bảo cho một mối quan hệ lành mạnh. Thành phần thân xác quá mức dữ dội có thể dễ dẫn tới việc bóp méo các tri giác; chẳng hạn, một phía tôn sùng quá mức kẻ kia sẽ gán cho họ nhiều thứ không đích thực thuộc về. Họ cũng dễ quy thành các vấn đề tiềm tàng và thiếu vắng kết nối ở các tầng bậc khác nhằm duy trì mối quan hệ.

Mù quáng, chẳng thể nhận ra các chiều kích thiết yếu của mối quan hệ không luôn luôn phải xuất phát từ sự cuồng dại thể xác; ví dụ, một bên có thể thiếu tự tin và quá ngập lụt trong việc được tán đồng và ý thức rõ ràng đến nỗi họ cho phép cường độ mãnh liệt về kết nối cảm xúc khống chế đánh giá đúng đắn hơn của họ về các chiều kích khác.

Dựa theo trải nghiệm cá nhân, các quan hệ thực sự ổn thỏa thì kết nối tồn tại và phát triển trên nhiều tầng bậc phức tạp. Phạm vi các kết nối này ngày càng thẳm sâu và chín chắn theo thời gian thường có một khả năng chịu đựng lớn lao ở mức độ toàn mãn các trải nghiệm từng bên của mối quan hệ.

Đó là lý do tại sao ý tưởng tốt khi mới bắt đầu quan hệ thử hỏi bản thân một số câu quan trọng, việc trả lời dễ kiến tạo tất cả khác biệt với ước ao tốt lành cho tương lai quan hệ.

Một vài câu hỏi quan trọng có thể hình dung như sau:

Làm thế nào mình kết nối với người này trên bình diện trí tuệ?

Liệu chúng ta có các quan điểm tương tự về điều, việc nào đó? Chúng ta nghĩ về thế giới theo cách giông giống nhau? Trí tuệ hai đứa ngang bằng? Mình thực sự hiểu họ và họ thực sự hiểu mình?

Làm sao kết nối với người này trên bình diện cảm xúc?

Mình có thể giãi bày tâm sự các cảm xúc sâu thẳm nhất trong lòng mình? Nàng bộc lộ sự tôn trọng các cảm xúc ấy? Liệu mình an toàn không khi ‘phơi nhiễm’ một cách xúc cảm vậy? Chàng vững vàng, ổn định về mặt cảm xúc? Nàng biết cách để điều hướng các cảm xúc bản thân?

Làm thế nào chúng mình kết nối ở bình diện tâm lý?

Mình có ‘bắt’ được nhau, hợp về sự châm biếm, lối biểu đạt, các vấn đề? Tôn trọng cá tính khác biệt? Sống với sự khác biệt của chúng mình? Cùng chia sẻ cảm giác hài hước? Thực sự vinh danh, tôn trọng và vui thú với kiểu người chúng ta thể hiện?

Làm thế nào kết nối trên bình diện tâm linh?

Cùng chia sẻ các giá trị căn bản? Tôn trọng các niềm tin của nhau? Có dùng bất kỳ thái độ, lối tư duy hoặc giá trị đặt thành thách thức để yêu thích, chấp nhận và tôn trọng người kia?

Làm thế nào kết nối trên bình diện giao tiếp?

Anh ấy có nghe khi tôi biểu đạt? Mình có luôn cảm thấy thích cô ấy gìn giữ mọi thứ liên quan đến mình? Luôn sẵn lòng đối thoại hoặc mỗi cuộc thảo luận chóng thành dịp cãi vã?

Làm thế nào kết nối trên các chiều cạnh thực tế khi sống cùng nhau?

Chúng ta dễ thoải mái với mọi điều ưa thích ở từng người? Chia sẻ các mối quan tâm chung với đủ thời gian bên nhau? Đủ tôn trọng các mối quan tâm khác biệt để vẫn có được không gian riêng? Các thói quen thâm căn cố đế tương thích và tồn còn hay chúng gây chán ghét và bực bội cứ không ngừng mài mòn, cọ xát chúng ta?

Làm thế nào kết nối thật sâu xa và đầy tràn ý nghĩa?

Liệu mình thật sự chạm được nhau, cảm thấy nhau, trải nghiệm điều gì đó ở mức độ khiến chúng mình cảm thấy nắm bắt đủ đầy và đáng giá?

Kết nối trên nhiều mức độ, tầng bậc khả thể và với sự cân bằng đúng đắn là điều thiết yếu để phát triển mức độ thân mật trong quan hệ đảm bảo lâu dài rồi đơm hoa, kết trái. Thân mật đích thực là chất keo kiểm nghiệm qua thời gian. Thân mật đòi hỏi chúng ta không chỉ kết nối với người khác mà cần tiến hành điều đó thường xuyên với bản thân, thành thật và sâu sắc, ngày càng nhiều hơn một tầng bậc.

Cần lưu ý, các trở ngại cảm xúc mang vào mối quan hệ (cũng như nét tính cách) có thể ảnh hưởng tới năng lực thân mật. Nhiều yếu tố gây stress, nỗi sợ, những phiền toái, v.v… có thể gây rắc rối cho việc thiết lập các kết nối đảm bảo củng cố thêm sự thân mật.

Nhiều lần trong đời chúng ta buộc phải làm việc với tiến trình kết nối. Xét về cứu cánh, luôn là các kết nối chúng ta thiết lập và duy trì lưu giữ mối quan hệ cùng nhau và làm sâu sắc hơn sự tôn trọng chúng ta dành cho người mình yêu thương. Nếu muốn quan hệ thỏa mãn, mối quan hệ mang tính nuôi dưỡng, giúp mình trưởng thành và mang lại niềm vui sống, chúng ta đơn giản phải kết nối cùng nhau.

Khi nỗi sợ biến bé thành đứa trẻ ngỗ ngược, khó ưa…

Câu hỏi của độc giả làm tôi muốn chia sẻ sâu thêm về nỗi sợ hãi có thể biến trẻ nhỏ thành đứa ngỗ nghịch, bạo ngược khó ngờ.

Hầu hết chúng ta chống chọi với nỗi sợ bằng cách này hoặc cách khác. May mắn, đa phần chúng ta học được cách sống với hoặc vượt qua chúng ở một phạm vi kiểm soát nhất định mà không bị quá nhiều ảnh hưởng nặng nề.

Song nếu nỗi sợ của người ta dễ thuộc bản chất gây tê liệt thì khi sự vụ xảy đến, sống với nỗi sợ tương tự như sống với một tên bạo chúa vậy: đòi hỏi quá mức ảnh hưởng tới mỗi một hành động. Hơn thế, thường bắt gặp các thành viên khác trong gia đình cũng cảm thấy như đời mình đang bị khống chế ghê gớm lúc người thân trải qua sức ép do nỗi sợ làm tàn tạ. Rồi khi, thông qua nỗ lực đầy ý nghĩa đặng giải quyết thật tốt lành cùng người sợ hãi, các vị khác cảm nhận việc đang sống dưới ách chuyên chế hơn lên do đã ‘cho phép’ một cách vô ý khiến nỗi sợ dai dẳng thêm hoặc thậm chí còn tiếp tục leo thang.

Trẻ em có thể đương đầu với nhiều lo âu và sợ hãi xuyên suốt thời kỳ tuổi hoa. Rất nhiều bé dường như trải qua các giai đoạn muốn thoát khỏi hoặc chiếm ưu thế đủ dạng nỗi sợ nọ kia đến độ việc chống kháng nỗi niềm sợ hãi trở thành hợp phần tự nhiên của sự phát triển.

Song lắm khi trẻ dần bị chốt khóa trong vòng kiềm tỏa của nỗi sợ gây liệt kháng khủng khiếp khiến chúng hống hách, làm chúa tể ở nhà mình. Ví dụ, trẻ đang trải qua cơn sợ côn trùng biết bay (do đó, không dám liều ra ngoài mùa sâu bọ sinh sôi) có thể dẫn đến kết cục phá vỡ chuyến đi chơi công viên của cả nhà. Trẻ sợ động vật có thể làm gia đình mất vui khi bố mẹ bố trí xem xiếc thú. Trẻ e ngại các trò cưỡi lái dễ biến ngày nghỉ du ngoạn cuối tuần thành trải nghiệm tồi tệ, nhất là với bố mẹ và người chịu trách nhiệm trông nom, vì các cơn tam bành và hành vi né tránh của chúng.

Khi nỗi sợ gây liệt kháng, hầu như mọi người liên quan đối tượng đang sợ đều bị ảnh hưởng, và đời sống chợt rắc rối với tất cả. Điều tương tự cũng xảy ra trong các gia đình khi một thành viên bị cơn nghiện vây khốn rồi cơn nghiện rốt ráo khống chế ít nhiều đời sống của mọi người trong nhà (ý nghĩa của cái gọi là ‘làm khổ lẫn nhau’/ codependency).

May thay, tin tốt lành là nỗi sợ hãi và cơn lo âu nằm trong số trục trặc tâm lý có thể trị liệu được. Hiện có nhiều cách tiếp cận ‘nỗ lực và xác thực’ mà thảy đều đem lại tỷ lệ thành công tốt đẹp; một giải pháp mỹ mãn quen thuộc là phơi nhiễm (exposure).  Để vượt thắng một nỗi sợ, mình buộc phải đối đầu rốt ráo, bất kể nỗi sợ vốn khó định hình thật thấu tỏ (vốn là điều thuộc về lo âu) hoặc nỗi sợ là điều gì đó cụ thể hay tình huống riêng biệt (ám sợ gán nhãn). Kiên trì phơi nhiễm bản thân với thứ thường né tránh và cho phép mình trải nghiệm sự kiện rằng các hậu họa ghê gớm mình quen tưởng tượng đã không xảy ra là cách hay nhất làm giảm thiểu hoặc thậm chí dần tiêu trừ đáp ứng đầy sợ hãi. Bây giờ để người ta đối đầu với những gì thích né tránh là chuyện rất thách thức, vì thế, nói chung, việc chỉ thành tựu ‘một cách có hệ thống’; dùng lối tiếp cận sao cho người ta ngày càng dễ tiến sát gần hơn với điều họ sợ nhất, để họ cảm thấy an toàn ở mỗi một bước nhỏ tiến bộ, tuần tự ‘giải mẫn cảm’ họ trước các tình huống khơi dậy nỗi niềm sợ hãi.

Các phương pháp phơi nhiễm khác dùng cách thức mãnh liệt và ngay liền hơn, như độ căng thể hiện trong kỹ thuật ‘nhâm ngúng’ (immersion) và ‘ngập tràn’ (flooding). Trong khi người lớn khá sẵn các nguồn lực để giải quyết với các cách tiếp cận mang tính đụng độ sát sườn thế, trẻ em quá nhạy cảm để rồi chúng dễ làm bản thân thân tổn thương hơn, do đó, rốt cuộc chỉ tổ làm tăng thêm nỗi niềm sợ hãi. Đứa trẻ nào cũng tự nhiên cưỡng lại bất kỳ nỗ lực phơi nhiễm, nhất là lúc ban đầu, nên quan trọng là khởi sự đơn giản thôi rồi củng cố sự già dặn dần bằng mỗi một bước nhỏ tiến tới. Có lẽ, mưu mẹo nhất để giúp trẻ vượt qua nỗi sợ là đồng thời xử lý cách thức các thành viên khác trong gia đình sơ xuất ‘gây nên’ nỗi sợ làm trẻ càng nảy bật lảng tránh khiến kéo dài thêm điều khó chịu.

Giúp trẻ đương đầu và tuần tự vượt qua sự suy yếu do nỗi sợ đòi hỏi điều nôm na ‘lòng thương yêu cứng rắn’, trong khi mình không những luôn luôn thể hiện mối quan tâm mà còn lưu ý không củng cố các ý niệm rằng thực tế có điều gì sợ hãi đang tồn tại hoặc cách an toàn là tránh tình huống làm trẻ sợ hãi. Và đó đích thị những gì xảy đến khi người trong nhà chấm dứt việc mua vui bằng việc dọa trẻ.

Trẻ em vượt thắng các nỗi sợ và ám ảnh của bản thân với lối trị liệu đúng đắn thường được hưởng nhiều lợi lạc khác. Khi tăng lên khả năng đối đầu các tình huống chúng thường quen né tránh mà không cảm thấy tê liệt, trẻ căn bản cảm thấy vừa quyền làm chủ vừa hiệu lực vào bản thân. Chúng không chỉ dần điềm tĩnh vì nỗi sợ lắng xuống mà còn tự tin hẳn. Trẻ cũng học hỏi được cách biết nhắm tiêu điểm tập trung đời mình. Không còn bị nỗi sợ kiểm soát nữa, trẻ cảm thấy cần tự chịu trách nhiệm đảm đương nhiều hơn.

Các thành viên gia đình khác trải nghiệm lợi lạc tích cực tương tự. Không còn bị nỗi sợ hãi kiềm nén từng gây phiền phức cho trẻ nhỏ, họ thoải mái khỏi kinh qua vô vàn chiêu trò ngạo ngược của tiểu bạo chúa trong nhà.