Nhích lần lữa làm sao cho vừa người thích hoàn hảo

Làm gì khi mình thích hoàn hảo và đang rơi vào thói quen xấu của sự lần lữa?

Tự nhận mình thuộc dạng người tôn thờ trạng thái hoàn hảo kỳ cục, vì thực sự mình có nhiều thói xấu như ăn nhiều ghê gớm và hay lột da khơi khơi, rồi bỏ bê chăm sóc bản thân do thiếu ngủ, ít tập thể dục/ tắm táp và cũng không dùng thuốc bổ (khiến tóc xam xám sớm). Cách người này xử lý: thi thoảng thức khuya để lên danh sách việc cần làm nhằm thay đổi bản thân, quan sát cách điều chỉnh vấn đề, và đưa ra hàng triệu lời hứa chẳng giữ được. Hôm sau rối tung phờ phạc thì từ bỏ dự tính ngay và quay về các thói quen xấu.  Có nhiều kiểu suy nghĩ ám ảnh song lại không theo đuổi tới cùng, rốt cục cảm thấy chính mình tồi tệ: một số suy nghĩ ấy đã nảy sinh hồi mới học lớp 8 hoặc sớm hơn. Giờ đang là sinh viên đại học năm thứ hai và thấy chán ốm bản thân; mất tự tin và ngại quan hệ với bạn bè…

Thực tế, trong nỗ lực làm người hoàn hảo thì lần lữa, trì hoãn là công cụ chúng ta dùng để ngăn ngừa nỗi lo lắng cứ chực ăn tươi nuốt sống mình ngay và luôn. Ham muốn thành người hoàn hảo có thể tăng thêm stress và lo âu vào bất kỳ việc bản thân đang muốn áp dụng. Tính hoàn hảo đẩy ta làm nhiều việc dễ tạo cảm giác ngập lụt, to lớn vô cùng và tiêu tốn thời gian khủng khiếp. Thực hiện điều hoàn hảo đặt buộc ta bổ sung nỗ lực ngoài sức tưởng tượng nhằm đảm bảo nó ngon lành cành đào và không mắc sai sót nào; làm đi thử lại cho đến ổn thỏa mới thôi. Chưa nói, các tiêu chuẩn đặt ra cho bản thân phù hợp với trạng thái hoàn hảo khiến các mục tiêu khó bề chạm thấu. Càng cứng nhắc về mức độ hoàn hảo, càng không chấp nhận do chẳng đạt được các tiêu chuẩn cao đến thế. Và câu chuyện dần chuyển sang phần tồi tệ: lo lắng và sợ hãi thất bại tạo cho người mang tính hoàn hảo đôi lúc thấy khá bị hăm dọa. Chính khi đó, sự lần lữa bước vào. Là cách tránh né và phòng thủ kín đáo, lần lữa minh họa cho việc chúng ta gỡ bỏ xuống gánh nặng, khỏi đương đầu với kỳ vọng cùng tiêu chuẩn cao vời, khiến mình không phải đối diện rồi cần thiết giải quyết chi hết.

Hầu hết người thích hoàn hảo cũng có thói tật mê chỉ trích bản thân. Nên khi chẳng đáp ứng với các mục tiêu và tiêu chuẩn đến thế, họ thường đổ tội cho bản thân, căm ghét chính mình, và sợ kẻ khác thất vọng. Nghĩ về sự trì hoãn như tấm chắn che đậy khuất mắt mọi sự sa lầy về mặt cảm xúc này. Tuy nhiên, trừ khi mình có kỹ năng hiếm hoi để đợi tới phút cuối trông thấy rõ ràng mọi việc hoàn thành tốt nên rốt cục lần lữa thành thứ đáng nguyền rủa, đồ của nợ tởm ghét. Mọi gắng sức né thoát các cảm xúc thông qua sự lần lữa chỉ tổ làm họ bắt gặp lại chúng về sau khi họ không thỏa mãn hoặc quá hạn cuối cùng đặt ra. Mục tiêu của sự lần lữa là né tránh các cảm xúc mà rốt cục lại gặp đúng các cảm xúc muốn tránh né ấy.

Cách xử lý tốt hơn các cảm xúc này là hiểu thấu mục tiêu mình muốn gì khi nảy sinh ra trò lần lữa: điều khiển nỗi lo niềm sợ. Khởi sự biết rằng lần lữa không phải là cách tốt nhất đặng kiểm soát lo lắng. Bắt đầu hiểu rõ nó rồi đây sẽ chỉ mang mình chộ mặt lần nữa các cảm xúc bản thân từng cố hết sức tránh mà thôi. Một khi tin rằng lần lữa cóc được việc như mình thiết tưởng, ta có thể cởi mở kiếm tìm cách khác xử lý nỗi niềm âu lo. Ăn, ngủ, chơi đùa. Bẻ nhỏ một nhiệm vụ lớn thành các mẩu nhỏ hơn. Nghỉ ngơi, vâng, nghỉ ngơi. Đúng thế, đề nghị mình dừng những gì đang tiến hành và chầm chậm lại… Đây là sự trì hoãn tốt lành. Cho phép mình dành thời gian hồi phục sức khỏe và tránh kiệt quệ do cố thúc đẩy bản thân dấn bước.

Tiếp theo, bắt đầu khám phá các động cơ ẩn giấu bên dưới tính hoàn hảo; thói tật cầu toàn cứ dần trở nên gây hại vì mình sợ tạo ra sai lầm, sợ thất bại, gắng buộc sống theo kỳ vọng của những kẻ khác, hoặc do tự dằn vặt bản thân kéo dài quá lâu. Dĩ nhiên, cũng cần biết rằng cầu toàn không phải là cách hữu hiệu gì để xử lý các trục trặc dây dưa vừa nêu. Thách thức thói lần lữa sẽ đi kèm với việc kiểm tra xem xem các tiêu chuẩn đề ra có đạt được không và nhìn nhận chúng đúng là không thể chạm tới thật. Chúng ta cũng cần cảm thấy dần thoải mái bộc lộ các điểm yếu kém, học cách đón chào vui vẻ những lỗi lầm lộ diện, và thay đổi lối suy nghĩ đen trắng rạch ròi quá mức vốn hay cặp đôi với tính cầu toàn và thói tật thích hoàn hảo.

Chối bỏ như một cơ chế phòng vệ

Với người nhiễu tâm (neurotics), chối bỏ (denial) là cơ chế phòng vệ vô thức bảo bọc họ chống lại trải nghiệm đớn đau không chịu đựng nổi. Với kẻ bị loạn tâm (disorderded), những gì chúng ta quen ghi nhận như các cơ chế phòng vệ vô thức (chối bỏ chẳng hạn) thường là các sách lược có tính toán nhằm khôn khéo tạo ấn tượng, diễn trò, và lảnh tránh trách nhiệm.

Dạng nhiễu tâm dùng nhiều thứ cơ chế nội tâm đặng chống giữ, che chắn trước trải nghiệm nỗi đau cảm xúc và làm khuây khỏa lo âu. Hầu hết mọi người nghe nói về các ‘cơ chế phòng vệ’ cơ bản này. Đấy là các công cụ *vô thức*, dù quyền năng song tỏ ra không thích đáng hoặc không luôn luôn cực kỳ lành mạnh tựa các cách thức giảm bớt nỗi đau cảm xúc. Các ‘triệu chứng” mà cá nhân kẻ loạn tâm khiến nhà trị liệu chú ý là kết quả lo âu sót lại hoặc nỗi đau cảm xúc vẫn còn đó sau việc dùng chẳng mấy hiệu quả một hoặc nhiều các ‘cơ chế phòng vệ’ đặc thù. Vào những dịp khác, một người dễ nhờ cậy trợ giúp bởi vì ‘các phòng vệ’ dần tăng thêm sự thiếu thích ứng hoặc bắt đầu bẻ gãy, để mặc nỗi đau cảm xúc ẩn bên dưới chúng nổi lên bề mặt.

Các tính cách loạn tâm dấn thân vào một số hành vi quá ‘tự động’ đến độ gợi ý nghĩ thực hiện chúng hoàn toàn vô thức. Thoạt nhìn, các hành vi này giống với các cơ chế phòng vệ và dễ diễn giải thành như thế, nhất là bởi các cá nhân bị ngâm quá mức trong các hệ hình truyền thống. Tuy vậy, xem xét kỹ càng hơn, các hành vi này chính xác ra phải được gọi tên là những sách lược diễn trò, mánh lới gây ấn tượng và chống kháng trách nhiệm.

Lấy ví dụ về một người phụ nữ kết hôn và sống cùng chồng 40 năm nay, và bà vừa đưa ông vào bệnh viện vì trong khi họ làm việc ngoài vườn thì ông ấy chợt nói năng khó khăn rồi trông có vẻ kiệt quệ. Các bác sĩ chẩn đoán chồng bà bị đột quỵ, giờ não đã chết và sẽ không hồi phục được. Dẫu thế, mỗi ngày bà vẫn vào bên cạnh giường ông, nắm tay và trò chuyện. Các điều dưỡng bảo ông không thể nghe thấy song bà vẫn nói với ông hàng ngày. Các bác sĩ bảo ông không hồi phục được song bà thì tự nhủ với bản thân rằng ‘tôi biết ông ấy sẽ qua khỏi, ông ấy là một người đàn ông mạnh mẽ’. Người phụ nữ này đang ở trong một trạng thái tâm lý lạ lùng: trạng thái chối bỏ. Bà rất khó khăn để tin những gì diễn ra. Mới đây thôi, bà còn ở ngoài vườn cùng ông, thích thú bên nhau làm công việc ưa thích. Trước hôm xảy đến sự cố một ngày, họ cùng nhau đến thăm gia đình một người bạn. Ông ấy cơ chừng toát lên nét vẻ thật hạnh phúc và khỏe mạnh. Ông ấy không đau ốm gì lắm khi bà đưa vào bệnh viện. Thế mà, trong chớp mắt thôi, họ đang nói rằng ông sắp chết. Nỗi đớn đau thấm đẫm cảm xúc này bà chưa từng phải chịu đựng. Bà không sẵn sàng chấp nhận việc người đàn ông đầu ấp tay gối suốt 40 năm qua sẽ không về cùng nhà với bà nữa. Bà không chuẩn bị tinh thần cho việc sống cuộc đời vắng bóng hình ông. Vì vậy, tâm trí vô thức cung cấp một phòng vệ hiệu quả (hầu như tạm thời) để bà chống lại nỗi đớn đau. Rồi dần mai một, khi bà đủ khả năng chấp nhận thực tế phiền não, sự chối bỏ của bà bị bẻ gãy, lúc ấy, nỗi đau bấy lâu tích chứa phun trào và bà sẽ xót buốt cõi lòng ghê gớm.

Một ví dụ khác về cái gọi là ‘chối bỏ’. Nam (tên giả), quen bắt nạt trên lớp, đi dạo với một trong các bạn học không nghi ngờ gì rồi tiến hành giật tung cặp sách bạn đang cầm, đá tung tóe sách vở khắp nơi dưới sàn nhà. Đúng lúc đó, giám thị hành lang bắt gặp nên nghiêm nghị hét lên “Nam!”. Cậu bé mở rộng vòng tay, làm cử chỉ ngạc nhiên và biểu tỏ vẻ mặt ngây thơ vô tội “Cô gọi gì em ạ?”. Liệu Nam đang sống một tâm trạng khác? Trạng thái thay thế này có thể giúp cậu chịu đựng nỗi đau cảm xúc? Nam không thực sự hiểu chuyện gì vừa diễn ra hay cậu ta nghĩ rằng mình nào có làm điều gì đâu cơ chứ? Cậu ta quá héo hon vì tội lỗi và/ hoặc tủi hổ vì điều mình gây ra đến độ cậu đơn giản không thể tin nổi mình thực sự đã làm chuyện khủng khiếp? Khả năng câu trả lời là Không. Nam chắc chắn quan tâm nhiều tới chuyện cậu ta có thể bị trừng phạt, kèm với lời thông báo tới bố mẹ, và thậm chí có thể bị đình chỉ học tập. Nên cậu chuẩn bị thử một chiến lược dài hơi. Cậu sẽ làm hết sức để vị nữ giám thị tin rằng không thực sự thấy những gì đôi mắt mình đã ghi nhận. Sảnh đường đông nghẹt. Có thể là ai đó khác chăng. Có thể hành động ấy chỉ là ‘tình cờ’. Nếu cậu ta thể hiện vừa đủ vẻ ngạc nhiên, ngây thơ, và sự phẫn nộ chính đáng thì biết đâu chừng, đúng là biết đâu đấy, cô giáo sẽ bắt đầu tự nghi ngờ bản thân. Cậu bé hy vọng, không giống mình, cô giáo có thể là dạng nhiễu tâm (chẳng hạn, mang lương tâm thái quá và cảm giác cực đoan về tội lỗi hoặc tủi hổ) để nghĩ rằng cô giáo có thể đánh giá nhầm tình huống, có thể cô giáo thậm chí tự mắng mỏ bản thân vì vội vàng quy kết hoặc dễ góp phần gây nên một nỗi đau cảm xúc. Sách lược này từng được việc rồi, có thể nó sẽ lại tiếp tục được việc lần nữa.

Ví dụ vừa nêu dựa vào một trường hợp có thật. Đáng lưu ý, khi ‘Nam’ nhận ra cậu ta không thể diễn trò với giám thị hành lang, cậu bất đắc dĩ ngừng việc chối bỏ và nói rằng, ‘Vâng, có thể em làm thế thật song cô giáo giám thị đã tin chắc vậy vì cô ấy luôn nói xấu về em’. Nam đang dùng một số chiêu thức khác để diễn tiếp trò sắp đặt, dẫn dắt và tạo mánh khóe gây ấn tượng; điều quan trọng nhất cần nhận ra là không giống với những gì xảy ra trong trường hợp chối bỏ tâm lý đích thực như một cơ chế phòng vệ, vụ của Nam không cho thấy nỗi thống khổ được biểu lộ và thể hiện buồn thương khi sự chối bỏ kết thúc. Lý do đơn giản là tự bản thân Nam chưa bao giờ ‘chối bỏ’ (trạng thái tâm lý). Cậu ta chỉ đang nói dối thôi, và dần cậu ta ngừng việc nói dối vì chuyện đó chẳng dẫn cậu ta đến đâu cả. Cậu ta chuyển từ việc nói dối sang xin lỗi và hành hạ nạn nhân cũng là các chiêu trò dẫn dắt và mánh khóe gây ấn tượng hiệu quả.

Không thể nhấn mạnh đủ rằng ‘chối bỏ’ của người phụ nữ lớn tuổi bất hạnh thì không giống với sự ‘chối bỏ’ của cậu bé bắt nạt bạn học tên Nam. Một là cơ chế phòng vệ, một thuộc chiêu trò dẫn dắt và lảng tránh trách nhiệm; một là cơ chế vô thức bảo bọc người ta khỏi nỗi đau khổ cảm xúc sâu thẳm, một là lời nói dối được tính toán và cân nhắc rõ ràng.

Tuy thế, thực tế nhiều vị dùng cùng thuật ngữ để mô tả các hành vi rất khác hẳn nhau này. Ít nhiều cảm thấy khó chịu khi ngay cả người hành nghề chăm sóc sức khỏe còn xem là chỉ có mỗi một dạng chối bỏ và họ thường giả định rằng hễ cứ nhắc tới chối bỏ thì bó nó vào mớ cơ chế phòng vệ phức tạp. Nghe họ nói về thân chủ cứ ngoan cố ‘phòng vệ’ thuộc hành vi có vấn đề này khác khi thực chất, họ đang mô tả thân chủ còn tiếp tục ‘nói dối và trình diễn’ như phần của trò chơi bày đặt gây ấn tượng và lảng tránh trách nhiệm. Lần nữa, ‘chối bỏ’ e là một trong các thuật ngữ sức khỏe tâm thần dễ bị dùng sai.

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Nguyên tắc vàng phổ quát

Đối xử với người khác như cách bản thân mình muốn được đối xử vậy là nguyên tắc vàng mang tính phổ quát.

Các nhà trị liệu tránh làm việc với những người khác niềm tin và văn hóa với mình có thể đoan chắc rằng có một nền tảng thường dựa vào để trao đổi

Làm việc với kẻ mang niềm tin khác biệt dễ là thách thức lớn lao, nhất là với ai hành nghề tâm lý trị liệu. Mỗi thân chủ tự thân không chỉ gìn giữ một số niềm tin khác biệt mà còn chứa đôi điều làm nản lòng ghê gớm thuộc các hệ thống niềm tin tôn giáo và văn hóa mã hóa sẵn rồi.

Thân chủ thường tìm nhà trị liệu có cùng nền văn hóa hoặc niềm tin, nỗi sợ (đôi khi hoàn toàn đúng đắn) rằng một nhà trị liệu ngớ ngẩn hoặc tương phản có thể ngờ vực các niềm tin căn cốt mà họ không muốn thẩm tra.

Các nhà trị liệu cũng e ngại né khỏi các thân chủ thuộc niềm tin hoặc văn hóa khác biệt, sợ rằng một sự hiểu nhầm có thể khiến thân chủ khó chịu hoăc cảm thấy bị xúc phạm, thậm chí có khả năng bị than phiền, khiếu nại. Sự thiếu tự tin thế thường không thiết lập được quan hệ tốt.

Trong khi các nhà trị liệu không thể biết hết các chi tiết liên quan đến mỗi niềm tin và văn hóa mà họ tình cờ tương tác và họ nên suy nghĩ cẩn thận trước khi nỗ lực làm việc trong các khung tham chiếu họ chẳng thể thấu tỏ rốt ráo, có một nguyên tắc thông thường đối với hầu như mọi hệ thống niềm tin: nguyên tắc vàng.

Đối xử với người khác như mình muốn họ sẽ đối xử với mình thế.// “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn, đừng làm cho người).

Một nhà trị liệu nghiêm trang sẽ không, dĩ nhiên, giả định rằng có thể đi đến tán đồng, nhất trí hoàn toàn được. Thực tế, thừa ví dụ minh họa đau đớn cho các mối hiểm họa của việc theo đuổi quá háo hức việc kiếm tìm nền tảng đặt để thông thường…

Một lời nhắc nhở luôn đáng nhớ; còn lâu mới lạc hậu hoặc thừa thãi, trong tác nghiệp.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Kháng cự lại sự thay đổi: ẩn dưới những nhiễu nhương, rối rắm

Trạng thái stress làm tăng lên ước muốn được tưởng thưởng chứ không phải niềm khoái sướng, nghiên cứu cho biết thế.

Thay đổi hiếm khi là tiến trình dễ dàng hoặc đơn giản; nó giúp chúng ta hiểu hơn các lý do chống kháng lại, và tôn trọng những khó khăn, phiền muộn dính dáng, liên quan.

Bố và mẹ đưa con gái 14 tuổi tới trị liệu bởi vì cô bé không hoàn thành bài tập ở trường, và họ đặc biệt khó chịu do phòng riêng của cô gái bày biện ‘thật bê bối’. Vấn đề mới xảy ra tạo nên khủng hoảng từ cuộc cãi vã giữa mẹ và con gái khiến cô bé ném đồ đạc rồi đe dọa tự sát. Người bố đang đi làm nhận điện thoại quay về nhà đưa con vào cấp cứu ở bệnh viện. Sau đó, họ thăm khám một bác sĩ tâm thần và được chẩn đoán khả năng cao mắc rối loạn lưỡng cực type 2, cộng khả năng bị ADHD nữa (dù cô gái có thể tiêu hàng giờ đọc truyện), rồi chỉ định 2 loại thuốc. Cô gái từng uống thuốc vì bệnh hen khá nặng, và bố mẹ đòi được trị liệu vì họ muốn tránh uống thuốc thêm.

Các sự kiện tiếp diễn liên miên xoay quanh chuyện cô gái không hoàn thành bài vở ở trường và khi về nhà dễ là biểu hiện bà mẹ cứ muốn làm con gái ngộ ra các lợi ích của việc chu toàn học hành. Phản ứng từ phía cô gái sẽ cho là mình không có khả năng tập trung đủ để hoàn thành bài vở, và rằng bố mẹ cô không hiểu con gái. Trong nhiều trường hợp tương tự với vụ ai đó phải đi cấp cứu, tương tác này sẽ leo thang tới điểm ông bố có thể buộc phải can thiệp rồi làm sao cho mọi sự lắng xuống. Đây là lần đầu mà sự tương tác căng thẳng đến độ cô gái biểu đạt dự tính tự sát.

Nhà trị liệu đề xuất cách hướng dẫn bố mẹ hiệu quả dựa trên thực chứng. Ông xác định vấn đề là kết quả của việc cô gái tự nhận thấy bản thân mình thiếu khả năng và do đó, không đáp ứng được. Bố mẹ đồng ý đây là quan điểm tự đánh giá mình chẳng hay ho gì. Nhà trị liệu hỏi người mẹ rằng bà đã thắng trong cuộc tranh cãi nào với cô con gái 14 tuổi của mình chưa. Bà mẹ thừa nhận chưa bao giờ thuyết phục được con gái thay đổi. Đó là khuyến cáo bố mẹ cần đặt để thời hạn cho việc học hành ở trường hoặc dọn dẹp phòng ốc ngăn nắp. Nếu không đáp ứng thời hạn, bà mẹ nên có mặt ở phòng con gái mà không để cho con gái có các đồ chơi điện tử ưa thích cho đến khi công việc hoàn tất. Nhà trị liệu giải thích điều này sẽ truyền thông với cô gái là cô có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Bà mẹ đồng ý thử cách tiếp cận này xem sao. Ông bố, quá mệt vì phải can thiệp, nhất trí song e ngại sự leo thang của con gái sẽ đòi hỏi mình lại can thiệp.

Vào lần gặp sau đó, bà mẹ nói mình đã thử bảo con gái có trách nhiệm đưa bà vào phòng. Đứa con gái la hét, khóc ầm lên hơn cả tiếng đồng hồ, dọa sẽ chết, và rằng mình không hoàn thành công việc được. Cuối cùng, bà mẹ rời khỏi phòng với lời hứa họ sẽ làm bài tập với nhau khi cô gái bình tĩnh đã. Việc này xảy ra ba ngày trước cuộc hẹn và bài tập vẫn để đó…

Một số nhà trị liệu có thể quen đáp ứng bằng việc nói với bố mẹ là họ đang làm hư con gái do không bắt cô bé phải có trách nhiệm xử lý, hoặc đưa ra một số chỉ trích khác về hành vi của bố mẹ chống kháng đề xuất đã nêu. Tuy thế, nhà trị liệu ở đây không hề ngạc nhiên với việc bố mẹ thể hiện như thế. Ông hiểu là khi người ta khư khư với các mẫu hình hành vi, họ thường bộc lộ thế vì các nhu cầu quan trọng được thỏa mãn. Trong tình huống đang bàn, cho thấy bà mẹ ghi nhận việc con gái mình càng dễ xuất hiện cơn suyễn và mức độ trầm trọng hơn khi stress. Phó bản của nỗi sợ ẩn bên dưới này là họ kiềm chế không thể hiện quyền uy chính đáng của người làm cha làm mẹ. Nếu nhà trị liệu tỏ ra hữu ích với bố mẹ và con gái mới lớn, ông phải tìm được cách để thúc đẩy thay đổi trong khi xem xét các nỗi sợ của họ.

Ngoài sự tưởng nghĩ, chúng ta đều ngạc nhiên chân thành khi người ta tạo ra thay đổi cốt lõi trong lối sống của họ, bất kể đó là việc giảm cân, thay đổi cách làm việc như điên dại để dành thời gian nhiều hơn cho gia đình, hoặc chấm dứt chuyện ghen tuông khủng khiếp. Tất cả chúng ta biết mình nên tạo ra sự thay đổi, có lẽ cảm thấy ngu ngốc rằng mình sao không đổi thay, song gì gì thì cuối cùng mọi chuyện vẫn cứ như cũ. Thay đổi thì khó khăn đối với bất kỳ ai. Thực tế, nếu thay đổi dễ dàng thì người ta sẽ ít nhờ các nhà trị liệu trợ giúp. Điều khiến thay đổi quá khó nhọc là vì giống gia đình trên, tất cả chúng ta nhận được các nhu cầu thỏa mãn nhờ các mẫu hình hành vi mình tạo ra, và chúng ta sợ hãi (thường vô thức) mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ, hoặc chí ít không còn thoải mái như trước, nếu chúng ta tiền hành mọi thứ khác hẳn đi.

Các nhà trị liệu giỏi giang chẳng ngạc nhiên với sự kháng cự thay đổi, bởi vì họ tôn trọng và thấu hiểu người ta đang nhìn thấy các lý do cho hành vi hiện tại; chưa nói, họ hiểu cách thức người ta ngoài lúc trị liệu đôi khi vượt qua khuynh hướng giữ nguyên trạng, thói quen vi tế đến thế nào.

… Trong phiên làm việc thứ hai, nhà trị liệu trước tiên lấy làm hối tiếc vì đã không lường hết nhiệm vụ khó khăn mà bố mẹ phải đương đầu để giúp đỡ con mình. Ông đề nghị họ đưa con gái đến bác sĩ chuyên khoa điều trị bệnh hen suyễn rồi thảo luận về các nguy cơ do stress tăng lên thêm như kết quả của trị liệu. Rồi họ đi đến chọn lựa nghiêm túc về chuyện tiếp tục trị liệu.

Vào phiên thứ ba, bố mẹ báo tin là bác sĩ bày vẽ cho họ xử lý trạng thái tăng thêm các cơn hen suyễn nhờ sử dụng các dụng cụ y tế thích hợp. Bác sĩ bảo họ rằng cơn hen suyễn không nên được dùng như là cái cớ tránh né trách nhiệm. Cả hai bố mẹ tuyên bố mình đã quyết lựa chọn trị liệu tiếp bất chấp gánh nặng chi phí. Nhà trị liệu khuyến cáo họ là trẻ vị thành niên đầu tiên nên được thử thách hạn chế thôi, và sự thay đổi chỉ diễn ra khi cô gái nhận thấy bố mẹ mình đã giải quyết kỳ vọng của chính họ bằng sự tôn trọng cô đích thực. Nhà trị liệu nói thêm là các đề nghị ban đầu có thể đã làm sự việc vận động quá nhanh và việc chuyển dịch hướng tới thay đổi chậm hơn sẽ khiến mọi người chịu đựng được, ngay cả nếu thời gian kéo dài ra. Rồi ông đề nghị bố mẹ dùng thời gian phạt ‘time-out’ trong phòng với việc đầu tiên chơi điện tử chỉ mỗi 30 phút thôi, rồi tuần tự tăng thời gian phạt nếu vi phạm.

Gia đình trở lại trị liệu hai tuần sau với thổ lộ là đã có tiến bộ đáng kể. Hai ngày sau chế độ phạt 30 phút, họ quyết định muốn cải thiện nhanh hơn lên và đã giữ con gái trong phòng hết cả buổi chiều bởi vì cô gái không làm xong bài tập. Mặc cho cô gái đập cửa thình thịch khoảng hai giờ đồng hồ, họ cũng không xiêu lòng. Họ quan tâm chút ít khi cô gái im tiếng, đã kiểm tra và thấy cô gái ngủ với hơi thở không quá nặng nhọc. Đêm kế tiếp họ dọa phạt cô gái tương tự, và bài tập đã được làm đầy đủ trong một tiếng đồng hồ.

… Một số độc giả có thể thắc mắc sao nhà trị liệu ban đầu nói chuyện rất ít với cô gái nhỏ. Điều ấy là cố ý. Nhà trị liệu quan niệm trẻ vị thành niên đang có quá nhiều quyền lực, và do đó, không muốn đưa cô bé vào trong các quyết định cho đến bố mẹ cô thiết lập uy quyền. Với một số tiến bộ tạo ra, nhà trị liệu tập trung quan tâm nhiều hơn vào cô gái. Ông hỏi cô gái mô tả về điều tự do mới mẻ nào cô ưa thích, khi cô gái cho thấy mình đang ngày càng tỏ ra có trách nhiệm.

Tóm lại, kháng cự là phản ứng tự nhiên và dễ đoán định trước đổi thay. Vượt qua sự kháng cự thay đổi đòi hỏi trình tự tìm ra các cách thức mới nhằm đạt được các nhu cầu căn cốt, trong khi lảng tránh các vấn đề tồn đọng. Sự tôn trọng của nhà trị liệu với tiến trình này là một hợp phần hết sức thiết yếu.

Nghiện ngập và lạm dụng: “Làm gì khi bố thường xuyên đánh mẹ?”

Khi giải quyết chuyện bố, mẹ nghiện rượu thì điều chính yếu của việc đón nhận nguồn lực trợ giúp là biết mình mong đợi chi và cần ứng xử ra sao:

Giờ tụi em đã lớn và tự lập hết nhưng bố thậm chí còn quá quắt hơn. Không có nguyên nhân gì đáng để bố đánh đập mẹ cả, toàn những chuyện nhỏ nhặt hoặc là khơi lại chuyện ngày xưa nghịch ngợm của các con. Bố ngày càng nhậu nhiều hơn, tần suất đánh đập mẹ cũng nhiều hơn, còn luôn giữ con dao nhỏ trong người. Em đã khuyên mẹ ly hôn nhưng mẹ nói tụi em còn chưa ổn định nên mẹ không muốn. Tụi em đều ở xa và không biết chuyện gì sẽ xảy ra với mẹ. Xin hãy cho em lời khuyên trong tình cảnh này. Em có thể thay mẹ viết đơn khiếu nại được không? Gửi đến những cơ quan nào?(Yến)

 ………

Cái bất hạnh của mẹ bạn là không biết cách ứng xử với người say rượu. Người say rượu rất thích mọi người kính trọng họ và có lời nói nhẹ nhàng. Nếu không được đối xử như vậy, cái tức tối sẽ được cài vào não ở tần số tự động hóa, nên cứ uống đến độ nhất định thì hình ảnh xấu của người can thiệp lúc họ say trước đây sống lại và họ càng cáu càng tức khi gặp mặt. Mẹ của bạn đã để lại trong não bố bạn ở tần số say rượu những điều làm ông uất ức nên cứ say đến độ đấy là xuất hiện “đe dọa và làm hung dữ”. Bây giờ sửa lại khó lắm vì nó ăn sâu vào vỏ não mất rồi.

Có lẽ bạn chưa hiểu nguyên nhân từ xưa, lúc cha mẹ bạn còn trẻ và những ngày đầu ông uống rượu. Bạn hỏi mẹ bạn xem những ngày bố mẹ bạn mới cưới có chuyện gì không. Đây cũng là sự tế nhị nên bạn cần khéo léo. Nếu hiểu được lý do bố bạn uống rượu lúc đầu và cách ứng xử của mẹ bạn thì mới có thể “điều trị tâm lý” cho bố bạn được.

……..

Cho dẫu bất đồng với cách lý giải hời hợt trên, sự thật không may là các trường hợp tương tự xảy đến với các gia đình Việt Nam chẳng phải hiếm gặp, và thường nảy sinh một số cảm xúc đặc thù ở con cái.

Tôi tin, ngay cả khi không thấy kể gì về chuyện mấy người con có giáng đòn xuống ông bố nghiện rượu về thể lý hoặc cảm xúc, tổn thương họ phải gánh chịu từ bé thế đến giờ vẫn khó nguôi ngoai sớm chiều. Vấn đề là tình huống sẽ không được cải thiện (thậm chí càng làm tồi tệ hơn) cũng như hữu ích cho bất cứ ai, bởi việc gây đau đớn. Cô gái cùng anh, chị em mình cần tìm cách thức thật xây dựng để xử lý với các cơn tức giận và nỗi niềm bất mãn ở trong chính lòng họ. Ngoài việc học hỏi các cách thức đối phó mới, cũng khá tốt để đi đến nhận diện chính xác những gì đang diễn ra và hiểu rằng, nghiện ngập có thể chỉ là một loại bệnh đơn lập.

Như mấy người con này nhận ra ít nhiều, yêu thương và tha thứ cho ai đó không bảo vệ cho chúng ta khỏi việc định dạng người đó là ai, cách họ ứng xử, và bất kỳ hiểm nguy nào họ đặt để lên chúng ta. Các người con và bà mẹ có quyền tự bảo vệ bản thân khỏi sự lạm dụng về thể xác, lời nói và tinh thần, bất luận cách người bố lạm dụng liên quan ra sao.

Người ta tiến hành các chiến lược khác nhau với tình huống đang bàn. Một ví dụ là tách khỏi người cha và hành vi lạm dụng của ông, nhận thức rõ ràng là ông ta vẫn tiếp tục làm hại lòng tự trọng của con cái cũng như ông ấy có thể không ngừng đầu tư nhằm củng cố thêm vai trò, quyền lợi của bản thân hơn là lo lắng, quan tâm đến sức khỏe cảm xúc của vợ con.

Một chiến lược có thể là giữ ông bố ở khoảng cách an toàn, giống như giữ một con hổ bé, chúng ta yêu nó song vẫn đặt trong cũi cạnh nhà; quan tâm khả năng gây hại cho bản thân và người xung quanh. Khoảng cách an toàn được thực hiện khi cả mấy anh chị em cùng rủ nhau ghé nhà thăm bố hoặc nhân sự kiện gia đình, không có các cuộc tiếp xúc cá nhân: mọi sự tình cờ, kết thúc trao đổi rồi rời đi khi các lời mắng chửi của ông bố phủ lên, và tạo nên tâm thế xác định rằng cô gái chẳng còn ngâm tăm im lặng chịu đựng trước hành vi ấy nữa.

Một sự lựa chọn khác là nhận ra ông bố có thể mang tính cách lạm dụng; chuyện thuộc bản thân ông ấy, chứ không liên quan đến cô gái hay anh chị em… Các cá nhân như thế thường tỏ ra:

  1. không chịu chấp nhận trách nhiệm trước hành vi của bản thân,
  2. cảm quan khó tin nổi về việc cho mình có quyền và cần được tôn trọng dù đích thị không xứng đáng, và
  3. hầu như ích kỷ trong các quan hệ với mọi người xung quanh.

Nếu cô gái thừa tự tin, thử chọn cách tiếp cận này, kiểu giống các nhân viên làm việc ở nhà tù biết đồng nghiệp lạm dụng song họ lờ đi. Nếu độ trọng thị bản thân chưa cao lắm, đừng dùng nó vì bố cô gái sẽ dày vò con về mặt cảm xúc khi cô gái không duy trì sự tách biệt và nhận ra ông bố là kẻ lạm dụng dây dưa.

Khuyến cáo sử dụng bất kỳ cách tiếp cận nào tốt nhất với cô gái. Lưu ý rằng kẻ khác có phát biểu riêng họ. Nhiều người đưa ra lời khuyên tuyệt vời cho những tình huống không liên quan với họ, đó là cách họ nghĩ bản thân sẽ giải quyết được nó. Sự thật, cô gái nên làm những gì người bình thường khỏe mạnh cần làm là nhận ra bố mình lạm dụng, gây nguy hại về sức khỏe tinh thần cho mình, và cô gái cần phát triển một chiến lược xử lý tình huống. Nếu thế, cô gái đi đúng hướng.

.. Là kẻ nghiện ngập, ông bố có thể lo sợ người vợ bỏ rơi mình. Đàn ông bê tha lè nhè thế không nhiều bằng hữu thực sự. Dễ tưởng tượng người vợ làm mọi thứ: bếp núc, giặt giũ, dọn dẹp, nhà cửa v.v… Ông bố không tìm được ai gắn bó với mình thế và ước ao bà vợ hy sinh cuộc đời cho sự ích kỷ của ông ta.

Ông bố đang đe dọa tính mạng và hành hạ bà mẹ. Rời bỏ tình huống tương tự tạm gọi là ‘kế hoạch vượt thoát’. Làm bảng kiểm các nguồn lực: bà con, nơi nào tạm cho tá túc, ai hỗ trợ tài chính, v.v… thậm chí, xem xét cả các nguồn lực đang hiện diện ở cả nơi bà mẹ đang cư trú nữa: nhà mở, các tổ chức, đoàn hội trợ giúp. Cô gái cần giúp mẹ nhờ cơ quan pháp luật can thiệp…

Bất hạnh thay, tình huống như gia đình cô gái đang phải gánh chịu rất thông thường ở khía cạnh lạm dụng. Kẻ quấy rối đủ mọi dạng kiểu dùng nhiều vũ khí tâm lý cực kỳ hiệu quả để diễn kịch, bày vẽ chiêu trò, hăm dọa, và giữ người ta dưới sự kiểm soát, khống chế. Cũng đặc trưng việc nạn nhân hay đưa mình vào tình huống chối bỏ, giảm thiểu thấp nhất hậu quả, hợp lý hóa; thêm nữa, các nạn nhân thường bị tẩy não siêu tuyệt để tự họ nghĩ rằng mọi sự là do lỗi của họ, duyên phận không may mắn. Chưa nói, ở tầng mức vô thức sâu thẳm, họ biết rằng họ bị tổn thương khủng khiếp nhất  khi họ không tán đồng với những mệnh lệnh của kẻ trấn áp (một tỷ lệ nạn nhân tử vong xảy ra khi họ đi đến quyết định kết thúc quan hệ). Vì vậy, họ tự hoang tưởng cho rằng mọi chuyện đã an bài, sắp đặt sẵn rồi và họ an toàn hơn nhiều khi dấn sâu theo các mệnh lệnh, điều khiển của kẻ lạm dụng tài ba.

Các nạn nhân không khởi sự suy nghĩ thấu đáo và sáng suốt được trừ khi họ được dịp ít nhiều thoát ra khỏi tình huống lạm dụng. Thậm chí, nếu kẻ lạm dụng siêu giỏi về các chiêu trò như gây đau đớn thì nạn nhân dễ cảm thấy áy náy nếu tiến hành cắt đứt mối dây gắn bó. Song với việc trợ giúp kịp thời và đúng đắn, các nạn nhân có thể hồi phục một viễn tượng đời sống cân bằng và khởi sự làm lại…

Yếu tố quan yếu nhất trong trợ giụp nạn nhân thoát khỏi kẻ trấn áp là có một kế hoạch rất an toàn và mạng lưới hỗ trợ tốt. Không ở một mình và cần có các kế hoạch cụ thể phù hợp để giúp giải cứu một cách an toàn. Những kẻ lạm dụng không thích và để yên khi thấy uy lực và khả năng đe dọa của họ bị lung lay. Song khi cảm thấy họ  đối đầu với cả lực lượng hỗ trợ hùng hậu khác với một con người cô lẻ bị họ hành hạ bấy nhiêu năm trời khốn khổ, chuyện sẽ khác.

Cũng cần giúp cho các nạn nhân bị lạm dụng cảm nhận mức độ nhất định về năng lực kiểm soát. Họ không thể bị thúc đẩy hành động nếu e ngại. Nên rất giá trị khi họ nhận ra rằng có gia đình, bạn bè, và nhiều nguồn trợ giúp khác quan tâm, đứng bên và sẵn sàng ứng cứu khi bà sẵn sàng tiến hành các bước tái xác lập cuộc đời của chính mình.

Thực tế, tại Việt Nam, hiện có không ít các tổ chức, trung tâm chuyên sâu hoạt động can thiệp và trợ giúp nạn nhân trong các trường hợp bị bạo hành, lạm dụng.

Ranh giới trong trị liệu tâm lý: làm thế nào tái xác lập và vận dụng thành công

Chủ đề ‘ranh giới’ trong trao đổi mang tính trị liệu tâm lý thường hay bị thân chủ lờ đi ở nét chính yếu nhất: các sắc thái tạo nên thành phần căn cốt cho một đời sống lành mạnh.

Vượt trên những ước ao, thảng hoặc người ta xác định (các) ranh giới như là điều ‘công bằng’ hoặc ‘đúng đắn’. Ngay cả khi các ranh giới tốt lành hòa hợp với những gì thuộc công chính và chắc thực về mặt đạo đức, mọi thứ được cho là công chính và chắc thực về mặt đạo đức ấy lại không tất yếu thành ra một ranh giới như ý được. Với nhiều kẻ khác, ranh giới là ‘điều tôi muốn’. Lần nữa, các ranh giới nào khiến mình đạt nhu cầu thì thường là ranh giới tốt lành, song có thể chúng ta đề cao giá trị của nguyên tắc vàng thì chưa chắc rằng người khác luôn tường tận cách chúng ta muốn được đối xử cũng như khó giả định tha nhân lưu giữ các mối quan tâm, lợi lạc tốt nhất của ta trong tâm trí họ.

Thi thoảng, một nữ thân chủ sẽ nói “cô ấy nên tôn trọng các ranh giới của tôi chứ”, như thể người kia phải có khả năng đọc tâm trí mình vậy. Khi các phi hành gia lần đầu tiên mạo hiểm bước vào không gian, họ cảm thấy ấn tượng bởi nhận ra rằng các ranh giới chính trị chằng chịt trở nên chẳng nghĩa lý gì nữa đối với quả đất. Cùng nghĩa, nhiều người mong đợi các ranh giới của họ được tự chứng thực cho dẫu kẻ khác cóc thèm lưu tâm hoặc tôn trọng chúng.

Không đơn giản hẳn là một sự thỏa thuận, rất nhiều lần người ta sẽ phát ngôn kiểu ‘Tôi muốn thiết lập ranh giới với Hùng’. Và điều này chỉ ra đâu là nghĩa mà người khác đòi hỏi các bản sao tương tự câu hỏi của họ, dạng ‘nên như nào thì mới công bằng?’, ‘liệu anh sẽ chấp nhận chuyện gì?’, hoặc ‘cô muốn chi?’. Tất cả các câu hỏi dễ thương này giúp người ta hiểu biết mối quan hệ, song khi chạm tới các ranh giới, rốt ráo đấy không phải là các câu hỏi đúng. Các ranh giới được xác định bởi các cá nhân cụ thể, bởi chính họ, vì bản thân họ.

Người giỏi giang về chuyện chiêu trò thường thách thức năng lực hoặc quyền lợi của chúng ta liên quan đến đặt để ranh giới, nhằm phục vụ các ước muốn riêng có của chính họ. Khi đối đãi với loại người ấy, hãy làm việc với các suy tư trong ta, về phần mình, đến mức thậm chí căn cơ tốt nhất. Các ranh giới của mình phải thỏa mãn quy điều đạo đức và hỗ trợ việc đáp ứng các nhu cầu của mình, chứ không nhất thiết của họ. Sự phân biệt này chính xác là điều mà một bậc thầy chiêu trò muốn mình lờ đi trong tranh cãi nảy lửa. Các ranh giới rất cần thay đổi khi hoàn cảnh đổi thay, song thường thì không hề chóng vánh hoặc phản ánh bản chất, thực tế.

Các ranh giới cần được xác định. ‘Thiết lập ranh giới’ là tiến trình trải qua nhiều giai đoạn, khởi từ việc đặt ranh giới cho bản thân chứ không phải cho đầu kia. Nhờ tôi thiết lập sớm sủa, các ranh giới tốt lành tạo nên khung tham chiếu cho đạo đức và tính công chính, đúng như tôi hiểu biết chúng. Các ranh giới cũng hỗ trợ mình đáp ứng được nhu cầu riêng tư. Những niềm tin và nhu cầu của mình khác biệt với người, cho nên chẳng hề chần chừ thiết lập một ranh giới không giống ranh giới của gia đình, bạn bè mình. Tuy nhiên, bất luận ranh giới lựa chọn, mình sẽ cần thông báo với người thích hợp trong đời.

Các ranh giới cần được công khai. Tương tự, bất kể ranh giới lựa chọn, mình sẽ cần công khai chúng với người thích hợp. Công khai các ranh giới thường đòi hỏi chí ít một sự dũng cảm nhất định. Mình đang đặt người có quan hệ lưu tâm những gì mình sẽ và không chịu đựng được. Thường các đòi hỏi này làm thay đổi hành vi mà thường họ không mấy ưa thích. Nhớ rằng, đây là một lời tuyên bố, không phải sự thỏa hiệp. Thật dễ thương để lắng nghe phản hồi song cũng cần dè chừng việc sẽ bị thuyết phục thu hồi quyết định mà mãi về sau, đến lượt mình mới kịp nhận ra nó đã bị vượt qua.

Các ranh giới là câu chuyện phòng thủ. Không phải vì mình xác lập, tuyên bố về nó mà ranh giới sẽ khiến những người khác tôn trọng nó. Giống như các ranh giới trong lĩnh vực chính trị đòi hỏi các tường rào, cổng ngõ, lính canh phòng ngự, các ranh giới cá nhân đòi hỏi việc lập kế hoạch chính xác điều phải tiến hành khi ai đó cố gắng xâm phạm ranh giới. Việc mô tả đảm bảo mình duy trì ranh giới. Thực tế, nếu thiết lập ranh giới rồi nhận ra ta không đủ khả năng củng cố nó theo ý riêng, mình sẽ cần suy nghĩ lại về tự thân ranh giới hoặc cách thức mình ước ao thực hiện để bảo vệ nó.

Căn cốt, các ranh giới chỉ tốt lành khi có các kỹ năng và việc giải quyết được xác lập, tuyên bố rồi bảo vệ chúng.

(còn tiếp)