Khi bị nàng/ chàng từ chối là một khả năng thực tế không thể lờ đi dễ dàng…

Ồ, thi thoảng khi phải giả nhời ngay lập tức hoặc tìm kiếm câu trả lời cho vài ba trường hợp cần kíp liền liền quá chừng gấp gáp dính tới chủ đề yêu đương của người trẻ, tôi nhận ra chính mình hay rơi vào trạng thái bi hài. Thấy hai bài viết đây, đây là ví dụ minh họa nhãn tiền sống động.

Lứa tuổi đôi mươi có thể là khoảng thời gian thích hợp để khởi sự đúng đắn chuyện hẹn hò hoặc phát hiện xem ai là người yêu tiềm năng; nói khác đi, người ta ở quãng ấy không quá già, mình đủ thòi gian để cam kết với một người xứng đáng.

Tôi nghĩ, hầu hết thiên hạ e ngại họ sẽ không đủ giỏi giang với nghệ thuật yêu đương lãng mạn, giời mây giăng gió. Tình cảm và sex là các phần quan yếu trong những quan hệ lãng mạn mà nhiều người thuộc đủ các giới lo lắng khôn nguôi. Thảng hoặc, người ta dần quan tâm quá mức đến vai trò bản thân thủ diễn đến độ quên mất dần người kia, đối tác còn lại cũng giữ trọng trách không kém bởi có cả hai đang tham gia vào cuộc gặp gỡ khá bất ngờ này.

Nếu đôi bên đều e sợ và thiếu kinh nghiệm, dĩ nhiên chúng mình có thể cùng nhau học hỏi. Nếu giả sử, đối tác từng trải hơn thì cô ấy có thể vui lòng là giáo viên chỉ bày cho mình. Cách chi đi nữa, căn cốt là ghi nhớ tâm trí rằng không có phương thức ‘hoàn hảo’ để làm một người yêu hay ho. Chung cuộc, câu chuyện rốt ráo nằm ở chỗ làm hài lòng cả người kia và chính bản thân mình, vậy nên cần cảm thấy thoải mái để thử nghiệm.

Tin hay không thì tùy thôi, song chuyện hôn hít và các hành động thuộc tình yêu thể lý nọ kia là các kỹ năng đấy, và như mọi kỹ năng trên đời, chúng cải thiện với kiến thức cùng việc thực hành. Nếu mình đích thực nghĩ không rõ ta sẽ thành người yêu tốt hay không rồi còn muốn học hỏi nắm vững điều gì khác trước khi thực hành, vài ba cuốn sách đàng hoàng về sex có thể là gợi ý tham khảo. Có rất nhiều loại hướng dẫn hữu ích mang tính giáo dục kiểu “làm thế nào”; có điều, làm ơn đừng có thích thú với vụ dự tính sẽ dựa cậy vào sách báo khiêu dâm làm công cụ hướng dẫn đưa đường: đấy không phải là loại chỉ bày đáng thưởng thức, coi trọng hoặc là sex “đích thực”, và vì thế, nó không phải là công cụ học hỏi tốt lành.

Và đây cũng là thực tế rờ rỡ: bất kỳ chuyện gì dính dáng tới con người, bị chối từ, hắt hủi luôn luôn là một khả năng. Giống như các nhân vật ở đủ kiểu loại bài vở trôi nổi trên các trang mạng tiếng Việt, đa phần người ta rất sợ hãi bị chối từ, vì thế tôi nghĩ, chúng ta nên nhìn vào điều ấy một cách khác đi chút chút xem ra sao…

Tỷ dụ, thay vì nhìn vào việc bị từ chối như điều chi nên tránh né với bất cứ già nào, mình nhìn nhận nó như một trải nghiệm học hỏi? Nó sẽ gây đau đớn song nó cũng sẽ dạy mình điều gì đó. Đôi khi, bị từ chối là điều lợi lạc nhất cho chúng ta, vì nó giữ mình khỏi rơi vào các mối quan hệ hoặc trải nghiệm sẽ chẳng tốt lành gì cả, thậm chí, cơ chừng nó tựa như điều gì đó hoặc ai đó chúng ta ham muốn một cách rất nguy hại vậy. Cũng đáng để nhớ rằng bị từ chối không cắt bỏ được những ký ức tốt lành chúng ta từng có kèm theo. Chẳng hạn, mình vốn bị chối từ qua nhiều mối quan hệ, song giờ đây có thể ngoái nhìn lại thật trìu mến thời điểm chúng ta bên nhau. Nếu mình cho phép nỗi sợ bị từ chối ngăn chặn mình khỏi khởi sự thiết lập các mối quan hệ ấy, mình cũng sẽ bỏ lỡ quá nhiều thời điểm vui đùa, sung sướng…

Nếu mình nhìn vào sự bị từ chối như điều gì sẽ giúp mình mạnh mẽ, can trường hơn, mình sẽ không quá sợ hãi nó. Dùng mỗi một cuộc gặp gỡ như cơ hội tốt lành để cởi mở hơn với các trải nghiệm. Ví dụ, khi gặp một cô gái mình quá ao ước để quen biết nhiều hơn, thử nhắm vào cách thức mình thưởng ngoạn từng khoảnh khắc được giao tiếp với cô ấy. Nếu cô ấy từ chối mình, phát hiện xem điều gì mình có thể làm khác đi để mọi sự tốt đẹp hẳn lên. Nếu câu trả lời là không thì mình lại tiến tới và gặp gỡ người khác… Tất đến lúc mình sẽ tìm thấy ai là cô gái phù hợp với mình. Khi chuyện ấy xảy đến, nỗi sợ của cam kết thường bị đá văng ra từ hồi nảo hồi nào chẳng thèm nhớ nữa, bởi vì ở bên nhau tạo cảm giác quá chừng tốt lành.

Và ngay cả khi tình yêu không phải là câu trả lời cho mọi sự, nó đích thực và chắc chắn hữu ích chí ít với những tháng năm chúng ta còn sống trên đời.

Trong nỗ lực tách khỏi một người chồng gây thất vọng quá độ

Những kiến giải, khuyên nhủ kiểu dựa vào trải nghiệm như dưới đây lần nữa, đẩy người hành nghề tham vấn/ trị liệu tâm lý chạm mặt với câu hỏi khó nhằn: đâu đích thị là chuyên môn riêng có của quý vị?

“Bạn muốn chính thức ly hôn nhưng nghĩ đến con quá quấn quýt với ba nó nên bạn chùng lòng”, tức là bạn còn may mắn  về giá trị gia đình. Chỉ cần “hết chùng lòng” thì kể như gia đình của bạn đã kết thúc. Cái khó khăn của bạn đang ở trong trạng thái tâm lý và cũng đủ bình tĩnh để “nói chồng dọn về nhà bố mẹ anh ấy một thời gian cho bạn bình tâm lại, coi sống xa nhau có được không”. Điều này vô tình bạn đụng đến “nỗi sợ hãi của anh ta” nên “anh ấy cố chấp không chịu… càng níu kéo”. Hiện tượng này thể hiện sự thất thế của anh ta. Chính sự thất thế này càng làm cho bạn “không chịu nổi” vì tâm lý bạn luôn mong muốn biểu tượng người chồng phải mạnh mẽ, quả quyết. Nhưng may cho bạn vì bạn còn có cảm xúc “chỉ tội nghiệp một người đàn ông yếu đuối”. Chính cái bạn thấy “tội nghiệp” mà chồng bạn đang phải gánh chịu là sức mạnh còn lại của anh ta.

Ngoài 40 tuổi, kết hôn đã được 15 năm, có với nhau 3 đứa con; đấy chắc chắn là khoảng thời gian dài cùng những ràng buộc khó dứt, và cuộc hôn nhân của người phụ nữ này xoắn bện với đời sống hàng ngày: giả định là chị ấy nhìn thấy ông chồng thường xuyên, chia sẻ cùng mái nhà, ngồi chung mâm cơm, v.v… Và ngay cả khi đã rõ ràng về mặt trí năng rằng mối quan hệ không nên tiếp diễn nữa thì sự ngại ngần khi tạo ra một sự cắt đứt, tách biệt dứt khoát thông qua quyết định ly hôn quả là điều có thể hiểu được.

Có nỗi niềm thoải mái trong sự tương tự và nguyên trạng so với việc thay đổi cơ bản trong đời. Không hàm ý rằng duy trì nguyên trạng thì thỏa mãn hoặc lành mạnh, song đó cơ chừng là chuẩn tắc và do vậy, dễ dự đoán. Thậm chí, ngay cả khi mình ‘biết’ một cách thật hữu lý rằng đời sống sẽ tốt đẹp hơn lên sau những phiền muộn, rắc rối nhất thiết trải qua thì thay đổi không phải luôn được chào đón, gọi mời.

Đối với các sự vụ phức tạp, người chồng, như bao vị hôn phu khác trong các cuộc hôn nhân rối rắm, đã và chắc sẽ có những hứa hẹn thay đổi, rồi có lẽ còn chứng tỏ sự thay đổi ấy chí ít ở vài thời điểm, giai đoạn. Trước sự kiện chính yếu bất đắc dĩ như ly dị, chúng ta thường có xu hướng ôm ấp đầy tràn hy vọng với các cơ hội mong lặp đi lặp lại nhằm tránh đổ vỡ lớn. Tương tự, ít người kinh sợ 100%, 100% thời gian, vì thế dễ cảm thấy chần chừ bởi vì có rất nhiều chiều cạnh không hoàn toàn tiêu cực khả thể luôn thu hút chú mục vào, nhất là trong khoảnh khắc người kia ăn năn hối lỗi, đề nghị xin được tha thứ, và hứa sẽ thay đổi…

Lá thư của người phụ nữ cho thấy chị này đang vượt qua điểm mốc thôi ngóng chờ ông chồng dưới cái nhìn tươi sáng và tích cực nữa, và cũng không còn tin tưởng rằng anh ta quan tâm đến lợi lạc hôn nhân của cả hai vợ chồng. Tức giận lẫn ngờ vực chắc chắn là những cảm xúc tiêu cực sẽ dần tăng cao thôi thúc cô vợ thoát khỏi sự trì trệ hiện tại. Duy trì tiếp tục với các cảm xúc gặm mòn dần như vậy nào đem lại hay ho cho bất kỳ ai. Vì thế, cách gì người phụ nữ có thể xây dựng động cơ rời bỏ mà không đợi đến khi cô ấy cảm thấy quà tồi tệ đủ để bất chấp nỗi lo lắng và suy sụp để đương đầu với sự bất định chưa thật tỏ tường của việc ly dị và sống đơn thân?

Một chiến lược khởi phát động cơ là tập trung vào cuộc sống tốt đẹp hơn hẳn sau khi ly dị. Cách đó, thay vì nghĩ nhiều quá vào gánh nặng phải gánh chịu, người phụ nữ học cách cân bằng sắc màu cho bức tranh thêm phần sáng rõ để thấu hiểu tại sao tốt hơn hết là nên rời bỏ. Tương lai tưởng tượng còn có thể bao gồm việc bản thân được sống yên an và độc lập, tự chủ, hoặc tìm hiểu hẹn hò, hoặc tạo lập cơ sở mới cùng người khác tốt đẹp hơn. Bất chấp tương lai lý tưởng được hình dung như nào, người phụ nữ cần dành thời gian để hiển thị hóa nó ở mức nền tảng căn bản thường thấy.

Hình dung càng chi tiết và cụ thể, càng dễ tạo cảm giác tương lai không còn mơ hồ, mông lung vì nó có thể được cảm nhận ngay tức thời. Và khi chị ấy bổ sung dồi dào chi tiết điều cần thực hiện và những gì không mong muốn trong tương lai, càng dễ cảm thấy một quyết định rời bỏ cuộc hôn nhân hiện tại sẽ là sự lựa chọn cho đời sống tốt đẹp hơn, chứ không phải là một sự lựa chọn tạo nên trong tâm trạng băn khoăn, xâu xé và sợ hãi chập chờn không đành đoạn.

Đời cạnh tranh và quá bí bét, làm sao tránh stress?

Một cô gái trẻ sau khi tốt nghiệp đại học, đã đi làm được một thời gian rồi chợt than vãn về đời sống không rõ nên diễn biến như nào, rằng cô ấy chỉ không thấy hài lòng với những gì đang hiện diện, hỏi cô ấy muốn gì thì nhận được lời tự thú thiệt tình là không biết.

Tôi nghĩ đến nỗi trầm buồn hiện sinh. Stress cấp tính đòi hỏi đáp ứng thích nghi hết sức cao độ, song theo thời gian, nó trở nên mãn tính rồi một lúc nhất định, đòi buộc chúng ta phải suy nghĩ lại lối sống của bản thân. Stress là cái đinh chi mà thiên hạ cuống cuồng hoặc thầm lặng chịu đựng thật đớn đau cả thân lẫn tâm đến vậy?

Đời sống khả năng cao là luôn làm ta căng thẳng tinh thần, gây stress quá dễ dàng. Nói chung là hoàn toàn đúng đắn stress bộc phát nhanh chóng, song loại cấp tính kiểu thế có thể chuyển thành thói quen thâm căn cố đế, và chúng ta cần suy nghĩ lại những cách thức làm mọi điều sao đủ vượt qua và chế ngự nó. Stress mãn tính tạo nhiều hiệu ứng khắc nghiệt lên sức khỏe và trạng thái an lạc của chúng ta. Stress làm tăng thêm các hoạt động sinh lý cao độ và khiến mình thường xuyên thao thức, khó chợp mắt. Tác động đến hệ thần kinh, cơ thể phóng thích các hormones gây stress dưới nhiều dạng thức. Đáp sứng stress căn bản là đáp ứng mang tính thích ứng về mặt cơ thể, song stress cấp tính để lại nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng lên thân xác.

Quá nhiều sự kiện trong đời là tác nhân của bức bối, áp lực, căng thẳng, mệt mỏi…; các stressors này đặt để nguy cơ phát triển stress, nhất là nếu chúng ta không có các nguồn lực tâm lý đảm bảo xử lý chúng. Thực tế, một số người có khả năng chịu đựng stress cao hơn kẻ khác. Người ta cũng khác nhau trong các cách hiểu về stressors.

Nghiên cứu cho thấy, người gặp stress khuyến khích não trạng trải nghiệm thì có các mức độ hormone stress thấp hơn người nhìn nhận stress một cách quá tiêu cực.

Lý thuyết kích hoạt nhận thức về stress giúp giải thích đáp ứng stress; theo đó, chúng ta cảm thấy stress bất kỳ lúc nào có sự thiếu nhất quán giữa giá trị mình đặt để và giá trị đích thực của bản thân. Ví dụ, chúng ta bị stress nếu đụng hạn cuối cùng phải hoàn thành công việc mà mình lại không đủ khả năng đáp ứng đúng đắn. Chúng ta bị thúc đẩy làm giảm thiểu, hạ xuống sự thiếu nhất quán giữa các giá trị đặt để và các giá trị thực của bản thân.

Từ ví dụ nêu trên, chúng ta có thể thực hiện bằng việc tăng cường mức tải làm việc đến độ đảm bảo mọi thứ hoàn thành đúng thời hạn, song điều này dễ cảm nhận là không phải giải pháp vững bền. Chúng ta thường thành công trong ngắn hạn, còn với đường trường dài lâu thì e khá hiếm hoi, do chúng ta khốn khổ bởi stress cấp tính. …

Đáp ứng stress có thể được điều hướng bởi khả năng phục hồi tâm lý; khả năng này chịu đựng các stressors môi trường, và nó thông qua các chiến lược đối phó, đương đầu hữu hiệu mà nhờ thế mình xây dựng được khả năng phục hồi. Nếu các chiến lược đối phó không thích ứng và không hiệu quả, mình sẽ làm tăng thêm nguy cơ phát triển stress. Mình có thể cố sức để thích ứng chiến lược đối phó với tình huống cụ thể đủ đương đầu hiệu quả nhất. Khi bị stress tấn công, mình có thể khởi sự cảm thấy mất tập trung, và chẳng có điều chi mình có thể tiến hành ngõ hầu tránh né hoặc cải thiện được tình hình: dạng thức vô vọng.

Chúng ta không có các nguồn lực vô tận để giải quyết các tác nhân gây stress; chỉ có thể làm tốt nhất để thích ứng với môi trường gây căng thẳng mà thôi. Nếu có quá nhiều giá trị đặt để xa vời, phi thực tế, bất kể vì tạo ra chúng cho bản thân hoặc vì tình huống công việc đòi hỏi, chúng ta nên cân nhắc tác động chúng gây nên thân- tâm chúng ta. Mong đợi quá mức vào chính mình, hoặc mức tải việc khủng khiếp? Bằng cách nào nó tác động tới tâm trí và thân xác chúng ta? Nên nhận rõ điều này. Gần đây nhất bạn cảm thấy stress? Bạn đối phó với nó như thế nào?

Học hỏi từ trải nghiệm: nói lại cho rõ

Cách tốt nhất để học hỏi là từ trải nghiệm, song tự thân trải nghiệm không thôi thì không đảm bảo toàn bộ câu chuyện. Học hỏi không thuần túy chỉ là chuyện giáo dục hoặc trải nghiệm; chúng ta cần cả khuyến khích sự phát triển cá nhân nữa.

Có thể rất khó nhằn để học hỏi từ trải nghiệm. Cơ chừng đe dọa chúng ta, trải nghiệm dễ khiến ta thấy yếu ớt hoặc tự nghi ngờ bản thân, song chính nó lại cũng làm ta mạnh mẽ hơn lên. Thông thường, những gì trải nghiệm đem đến là định dạng con người đang là của chúng ta.

Tôi tin, đa phần chúng ta thấy rằng hầu hết trải nghiệm cho mình một cơ hội để phát triển cá nhân, song để tận dụng lợi thế ấy, chúng ta cần suy nghĩ về cách thức bằng cách nào trải nghiệm có thể tạo điều kiện cho mình học hỏi.

Tỷ dụ, một người đàn ông gặp khó khăn lớn trong công việc. Anh ta bắt đầu nghĩ bản thân là vấn đề. Các đồng nghiệp truyền gửi thông tin ngấm ngầm rằng anh  ta chắc đang phải “rất khổ sở, mất ăn mất ngủ”. Anh ta tin họ để rồi tự mình đổ tội. vơ mọi thứ vào mình. Anh ta không tìm thấy lối thoát và vì thế, rốt cuộc, xin nghỉ việc.

Làm thế nào trải nghiệm làm dễ dàng và thuận lợi hơn cho việc học hỏi? Thay vì nghỉ việc, anh ta có thể suy tư: “Những nguyên nhân nào tạo nên các khó khăn này, và làm cách nào tôi/ chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện được tình hình đây?”. Cơ chừng, anh ta đã đúng khi ra quyết định nghỉ việc. Cơ chừng, anh ta cho việc bỏ đi là giải pháp dễ hơn nhiều. Quan điểm cá nhân ở đây, chúng ta hay để nhỡ, đánh mất rất nhiều cơ hội để học hỏi, đơn giản chỉ bởi vì chúng ta quên phản tư:

Học hỏi từ trải nghiệm là một trong những phương tiện căn cốt và tự nhiên nhất tương hợp với tất thảy mọi người… Tất cả điều nó đòi hỏi chỉ là phản tư và suy nghĩ, tự mình thôi hoặc với sự cộng tác, hợp sức của người khác.

Theo lý thuyết học hỏi từ trải nghiệm, chúng ta hiểu biết thông qua vòng tròn học hỏi. Trải nghiệm của chúng ta phục vụ nền tảng cho việc phản tư (reflelctions). Từ những trầm mặc suy nghĩ đó, chúng ta phát triển các ý tưởng về thế giới. Rồi chúng ta kiểm tra, trắc nghiệm xem chúng có đích thực là sự thật, và rốt ráo chúng ta có một trải nghiệm mới mẻ. Vòng tròn trải nghiệm không nhất thiết khởi từ trải nghiệm, chẳng hạn, chúng ta có thể nảy sinh ý tưởng mình muốn test thôi:

Suy nghĩ… là nỗ lực được dự tính trước nhằm khám phá những nối kết đặc thù, cụ thể giữa điều gì đó chúng ta thực hiện với các hậu quả tác thành, đến độ cả hai thứ ấy cứ thế tiếp diễn không ngừng (Dewey, 1916).

Có thể ít nhiều tán đồng ngay rằng “học hỏi là phương tiện nhờ thế chúng ta đạt được không chỉ kiến thức và kỹ năng mà còn cả giá trị, thái độ và phản ứng mang tính xúc cảm nữa” (p.4).

Theo đó, học hỏi là sự thay đổi dài hạn trong sự biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí như kết quả của trải nghiệm. Từ định nghĩa, nó gồm ba phần: 1) học hỏi là sự thay đổi dài hạn: nếu nó không phải là việc sử dụng thông tin ngắn ngủi, thoáng qua như kiểu ghi nhớ số điện thoại đủ để gọi cho ai đó rồi quên đi thì rõ ràng nó không cần phải lưu tâm mãi mãi. 2) học hỏi là những biểu trưng hoặc liên kết trong tâm trí vì thế nó cơ chừng đặt để nền tảng ở não bộ. 3) học hỏi là một sự thay đổi như kết quả của trải nghiệm, hơn là tựu thành của sự trưởng thành về mặt sinh lý, trạng thái mỏi mệt, dùng bia rượu ma túy, đang cơn mắc bệnh tâm thần hoặc mất trí nhớ.

Chúng ta cần phản tư trải nghiệm bản thân để khuyến khích việc học hỏi suốt đời và phát triển cá nhân, do vậy, trải nghiệm tự thân nó không thôi chưa đủ:

Khi chúng ta kinh qua một trải nghiệm, điều ấy không luôn luôn dẫn tới những hiểu biết và học hỏi mới mẻ. Ví dụ, nếu trải nghiệm chỉ phục vụ nhằm xác nhận một vài niềm tin mình vốn quen nắm giữ thì nó sẽ đóng vai trò diễn giải đặng hỗ trợ cho nhận thức nguyên trạng bấy lâu mà thôi (tham khảo lý thuyết nhận thức của Piaget), và nó ít chú ý tới sự đáng giá của trải nghiệm. Nếu chúng ta không chú tâm vào thì cơ hội học hỏi mới mẻ sẽ không hề xảy ra (pp. 15-20).

Liệu pháp với người đang mắc Rối loạn Nhân cách dạng Tâm thần phân liệt

Mục tiêu trị liệu với người đang mắc Rối loạn Nhân cách dạng Tâm thần phân liệt (SPD) sẽ khởi sự bằng việc cân nhắc chuyện thiết lập niềm tin tưởng đặc thù trên tiến trình đạt được lời thỉnh cầu trao đổi, đón nhận và cho phép đưa ra lời thảo luận, bộc lộ và đặt các câu hỏi. Các mục tiêu cảm xúc sẽ góp phần nâng lên sự chịu đựng và dung thứ tình cảm lẫn cảm xúc của thân chủ.

Có thể hiểu, SPD là trạng thái mãn tính và lan tỏa đặc trưng bởi các mẫu hình hay gây gổ trong suy tư, hành vi và chức năng. Kiểu dạng rối loạn nhân cách này được cho là khá hiếm hoi và thường ảnh hưởng ở đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Các cá nhân mắc SPD cũng gặp nguy cơ trầm cảm. Thuật ngữ “chứng loạn tinh thần” (schizoid) dùng mô tả người có khuynh hướng vào trong lòng mình và thoát khỏi thế giới bên ngoài.

Nhân cách dạng tâm thần phân liệt (SPD) thể hiện hướng vào trong quá mức với một khung tham chiếu ghê gớm cho việc nội quan cũng như kiếm tìm sự cô độc. Các cá nhân mắc rối loạn này dễ tách biệt, tạo khoảng cách và vô cảm với các quan hệ xã hội hoặc gắn bó thân mật. Họ là kẻ đơn côi thích hoạt động cô lẻ và ít biểu lộ cảm xúc. Dù tên của rối loạn nghe như dạng tâm thần phân liệt với vài ba triệu chứng tương tự, điều quan trọng cần nhớ rằng rối loạn nhân cách dạng tâm thần phân liệt không giống với tâm thần phân liệt. Nhiều cá nhân mắc rối loạn này hoạt động chức năng tốt và tiếp xúc với thực tế trong khi người mắc tâm thần phân liệt thì phân tách khỏi thực tế. SPD cũng giông giống với rối loạn nhân cách lảng tránh (APD), tuy nhiên điểm khác biệt ở chỗ là người lảng tránh thì có ước ao tham gia xã hội trong khi người dang SPD thì lại ưa thích cô độc và vô cảm đối với sự chấp nhận hoặc chối bỏ của tha nhân.

Về mặt hành vi, mục tiêu làm việc với người mắc SPD là dạy các kỹ năng xã hội và tính xác quyết, củng cố thêm các gắn bó với người khác, tăng cường hòa nhập cộng đồng và làm giảm thiểu các ứng xử tách biệt, thu mình. Về mặt nhận thức, mục tiêu thông qua sự phân biệt giữa các suy tư hợp lý và rối loạn, để thân chủ học hỏi cách sống với sự mơ hồ lần lữa. Nhà trị liệu nên nhắm đến chuyện điều chỉnh các suy tư về bản thân và tha nhân, và dạy các cơ chế phòng vệ mà có thể dùng thật ý thức hơn là các cơ chế trục trặc tỷ như cơ chế chối bỏ và phóng chiếu làm duy trì rối loạn.

Kiến tạo một môi trường an toàn

Điều nhà trị liệu cần nhớ là các cá nhân mắc rối loạn này dễ nảy sinh mối quan tâm về năng lực của họ trong việc đối phó với trạng thái gần gũi và thân mật với nhà trị liệu. Hậu quả, nhà trị liệu phải nhìn ra sự tiếp xúc giữa mình với thân chủ là thành tố thiết yếu sống động của trị liệu. Xác lập một mối quan hệ thấu cảm với thân chủ nhằm đảm bảo một môi trường quan hệ an toàn là điều cốt tủy; một môi trường như thế cũng cần chú ý không phô trương bởi sẽ khiến cái tôi dễ bị tổn thương của thân chủ trỗi lên trở lại.

Cũng quan trọng với nhà trị liệu là gắng đạt tới một sự thấu hiểu cách thức và lý do tại sao thân chủ đi vào “ẩn náu, trốn tránh”. Muốn được thế, nhà trị liệu phải cẩn trọng và ý thức rằng các nỗ lực tiếp xúc và truyền thông dính sâu xa với quan hệ có thể được thân chủ trải nghiệm như một sự xâm phạm, lấn vào và khích động họ thu mình, xa cách.

Sự dàn xếp, thỏa hiệp mang đặc trưng tâm thần phân liệt là nỗ lực của cá nhân đặng tạo nên sự an toàn khỏi những người khác thông qua trạng thái cô lập trong khi kiểm soát độ căng giữa sự cô lập và trạng thái bị mắc bẫy hoặc bị nô lệ hóa như hậu quả nảy sinh của sự cô lập như thế. Nhà trị liệu cần biểu tỏ một sự thấu hiểu về nghịch lý mang tính tâm thần phân liệt vốn là kết quả từ sự thỏa hiệp ấy và đưa ra một diễn đạt hòa hợp. Trị liệu rối loạn này thường sẽ chậm chạp với những bước tiến bộ nhỏ nhặt; bởi vì chiều dài thời gian và nhịp bước rề rà đó, thường không khó thấy các nhà trị liệu quá dễ giảm sút mối quan tâm.

Mặt khác, có thể giá trị ở mối quan hệ trị liệu vượt trên cả sự ý thức nhà trị liệu nhân ra sẽ đem lại lợi lạc ở một số chiều cạnh. Tỷ dụ, thân chủ có thể yêu cầu nhà trị liệu cho biết cách thức họ đang làm việc cùng nhau. Trong khi đây vốn là câu hỏi tương tác đơn giản, nó dễ gợi ý rằng thân chủ đang hợp trội trong một mối quan hệ và đang thiết lập một sự gắn bó với nhà trị liệu và nhà tri liệu có thể không hề nhận ra điều ấy. Nhà trị liệu phải chú tâm dõi theo mối quan hệ trị liệu, ghi chú về nó và chịu trách nhiệm một cách có ý thức cũng như thật thích hợp đối với cái tôi dễ bị tổn thương của các thân chủ khi nó khởi lên.

Làm việc với các cơ chế phòng vệ

Khi làm việc với vấn đề phòng vệ thể hiện tính chất tâm thần phân liệt, mục tiêu nhà trị liệu nhắm tới là khám phá chức năng của tiến trinh phòng vệ và tiến bộ thông qua các cơ chể chứa nhiều yếu tố bị đè nén và giấu che của cái tôi dễ bị tổn thương. Các phòng vệ được nhìn nhận như mẫu hình của hành vi hoặc suy tư mà người ta dùng để bảo bọc bản thân khỏi nỗi đau cảm xúc hoặc khó chịu khởi từ các tình huống đời sống hiện tại vốn thường liên quan sâu xa với ký ức thời thơ ấu đầy đau đớn. Các phòng vệ này giúp cái tôi dễ bị tổn thương đè nén các cảm xúc và nhu cầu kết nối, quan hệ.

Cùng với sự kiềm nén, các phòng vệ khác như lảng tránh, thu mình, trơ lỳ về mặt cảm xúc và cách biệt nên được xử lý bằng đáp ứng trị liệu phù hợp là xem xét việc định danh, độ hiệu lực, và bình thường hóa các phòng vệ đồng thời thấu hiểu chức năng của chúng. Khi các phòng vệ này cho thân chủ cảm thấy ổn thỏa và được dùng như cơ chế đối phó, cần lưu ý để đảm bảo cả thân chủ lẫn nhà trị liệu có thể giải quyết cảm xúc ẩn bên dưới. Mục tiêu của nhà trị liệu là tăng cường thêm sự khoan thứ với cảm xúc và việc biểu đạt các cảm xúc.

Một số hoạt động mà nhà trị liệu có thể tiến hành:

1. Giúp thân chủ bộc lộ cảm xúc với người khác để thân chủ cảm thấy mình có khả năng kết nối với tha nhân

Ví dụ, nhà trị liệu có thể nói: Vậy là B, con chó nhà anh, không sống qua cuộc phẫu thuật được, và thật buồn là nó chết rồi. Hiện anh cảm thấy như thế nào về chuyện đó?

Thân chủ: Về điều gì kia?

Nhà trị liệu: Về cái chết của con chó B. nhà anh đó. Tôi đoán là anh hẳn cảm thấy buồn.

Thân chủ: Tôi cho rằng thế, tôi nghĩ thế.

Nhà trị liệu: Thế còn T. con trai anh, cậu bé cảm thấy như thế nào về cái chết của B.?

Thông qua việc khuyến khích tiến trình học hỏi xã hội, thân chủ sẽ bắt đầu nhận ra và thấu hiểu các cảm xúc khác nhau ở người khác cùng lúc với việc họ có thể mô hình bắt chước, việc này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực tri nhận sự thân mật, gần gũi và trao đổi qua lại ở thân chủ.

2. Các bài tập phản ánh

Hoạt động này nhằm khuyến khích thân chủ phản ánh một điều tình cờ xảy đến trong đời họ mang tiềm năng đánh thức một cảm xúc. Thân chủ nên được động viên nói về các cảm xúc của họ và cảm xúc của những người khác khi thân chủ đã hiểu và phản ánh sự kiện liên quan. Thân chủ cũng được khuyến khích ghi lại nhật ký phản ánh những suy tư và cảm xúc liên quan đến sự vụ hàng ngày; bài tập này giúp thân chủ nhận ra các cảm xúc của riêng họ rồi biểu đạt chúng.

Các mẫu hình quan hệ diễn tiến giữa đời thường

Nếu mình nhận ra bản thân cứ lặp lại cùng một lỗi lầm như trước, có lẽ nên nhìn vào các mẫu hình quan hệ lâu nay. Các mẫu hình quan hệ là các thói quen, khuôn kiểu mình thường tái tạo trong quan hệ với người khác. Các vai trò gia đình là kiểu dạng quan hệ mình sao bản. Song các mẫu hình khác cũng dễ được lặp lại nữa.

Nếu mình lớn lên trong một ngôi nhà bạo lục gia đình thì khả năng sẽ tái tạo trong các quan hệ trưởng thành về sau, hoặc mình đánh đồng vai nạn nhân và dính vào các quan hệ với những kẻ lạm dụng lần này tới lần khác. Nếu lớn lên trong một gia đình lạm dụng chất mình có thể trở thành chính kẻ lạm dụng chất đi quyến rũ hoặc mình có thể bị kích hoạt dễ dính vào nghiện ngập ma túy, rượu bia. Nếu lớn lên từ đối tượng bị gạ gẫm tình dục thì về sau có thể thành kẻ hoang đàng hoặc bị hút theo kẻ lạm dụng tình dục tương tự cách mình từng bị khi còn là đứa bé.

Có một ví von xưa cũ rằng đàn ông thường cưới người tương tự mẹ mình còn phụ nữ thích lấy người giống các ông bố. E chừng điều này khá xác đáng, dù chỉ là luật bất thành văn. Một phụ nữ muốn lập gia đình với người đàn ông ‘hoàn hảo’; cô ấy lập trình để rồi lại tìm thấy một người đàn ông mang cả các vấn đề hành vi của cả bố lẫn mẹ mình; tất cả trong một!

Chúng ta thường bị quyến rũ, hấp dẫn với người thể hiện tính cách bố mẹ mà mình từng gặp các vấn đề và sự vụ rắc rối nhất. Nếu là một phụ nữ và có nhiều chuyện phiền toái với mẹ thì mình dễ lựa chọn bạn bè có tính cách giống với mẹ; trường hợp đàn ông cũng thế. Nếu là một người đồng tính nữ, mình dễ bị quyến rũ bởi các phụ nữ rất giống mẹ mình, đặc biệt nếu cô ấy vốn bị lạm dụng; các đồng tính nam thường hút vào đàn ông đối xử với họ như ông bố từng thế, đặc biệt nếu họ bị lạm dụng.

Các lý do khiến chúng ta hành xử như thế không hề lành mạnh chút nào.

1.  Chúng ta không ngừng thực hiện sự vụ mình từng gặp phải với bố mẹ để nhận được tình yêu thương từ kẻ bắt cặp, vốn là điều mình không bao giờ có được từ bố mẹ. Tựa như câu đố mình liên tục giải cho bằng được vậy; nghĩ rằng nếu mình có đúng nó, chúng ta sẽ được họ yêu thương. Tiếc thay, sự đời không diễn ra theo cách ấy.

2.  Các vai trò giới chủ yếu chúng ta học hỏi từ bố mẹ mình. Chúng ta cũng lựa chọn các thông điệp nhắn nhủ từ nền văn hóa mình lớn lên, dù các nguồn thông tin chính về cách thức thành một người đàn ông hoặc phụ nữ ra sao thì do chịu ảnh hưởng bởi bố mẹ. Nên chi, nếu bố lạnh lùng và xa cách còn mẹ hay giận điên lên thì một cậu trai trẻ có thể sau này trở thành một ông chồng lạnh lùng và xa cách sống cùng một bà vợ dễ điên tiết.

3. Cũng có một mẫu hình tương tự. Nếu mình là người nữ lớn lên trong gia đình có bố nghiện rượu và mẹ phải phép thì đây là phương thức mình nhìn nhận về một cuộc hôn nhân; mình có thể sẽ cưới một gã nghiện rượu và trở thành người phụ nữ phải phép. Chúng ta làm những gì mình hiểu biết và chúng ta biết rõ các nguyên tắc để chung sống với một người nghiện rượu. Điều này tạo nên cảm giác thoải mái, hài lòng và thấy ‘bình thường’. Chúng ta khởi sự khiêu vũ với điệu nhạc quen thuộc mà thậm chí còn không hề nhận ra diễn tấu đang thể hiện.

Dĩ nhiên, mình không buộc phải câm nín hoặc cam chịu với hoàn cảnh, tình huống như trên. Mọi sự có thể thay đổi, với điều đầu tiên là cần nhận biết những gì mình đang tiến hành, thực hiện.

Nhìn vào các mẫu hình quan hệ của bản thân. Ai mình đang thực sự hiện quan hệ, sống cùng? Phần mình có đang lặp lại mẫu hình này? Bản thân hiện liên tục đóng vai nạn nhân của các kẻ lạm dụng? Mình có thành kẻ bị kích hoạt nghiện ngập? Đang giữ vai trò kẻ chăm nom cho đối tượng đau ốm, yếu đuối?

Muốn nhảy tango phải có hai người. Mình không thể bị hút vào với kẻ lạm dụng trừ khi mình thích chơi trò nạn nhân. Mình không thể bị mủi lòng với kẻ yếu đuối trừ khi mình thích giữ vai người chăm sóc. Các kẻ lạm dụng không dụ dỗ được người độc lập, thông minh và mạnh mẽ; chúng luôn tìm kiếm con mồi làm nạn nhân. Nếu mình chấm dứt làm kẻ phải phép hoặc nạn nhân thì mình sẽ cắt đứt việc bị lôi kéo vào vai trong những mối quan hệ tồi tệ này.

Mối quan hệ với thân chủ và khung tham chiếu lý thuyết của nhà trị liệu tâm lý

Một lý thuyết nền tảng vững vàng là điều quan trọng để dẫn dắt nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu lựa chọn cách thức can thiệp.

Cả hai lý thuyết gắn bó (attachment) và liên nhân cách (interpersonal) đều cho ta hiểu biết sâu sắc về những sự khác biệt cá nhân khi họ thao diễn bên trong các mối quan hệ giữa người với người. Cả hai dựa vào ý tưởng rằng những trải nghiệm ban đầu ảnh hưởng tới hành vi tương lai trong các quan hệ và đều góp phần tạo ra các dự báo về tương tác liên nhân cách.

Đặt để từ khung tham chiếu này, khả năng dễ đưa ra được các dự báo về cách thức thân chủ tri nhận về nhà trị liệu tâm lý, ứng xử trong phiên làm việc, và cách nhà trị liệu đáp ứng với thân chủ.

Thật thú vị nếu tìm biết được các tiến trình nào thể hiện trong sự phát triển quan hệ trị liệu và cấu trúc để hiểu thấu những sự kết hợp giữa mối quan tâm gắn bó của thân chủ, sự can thiệp của nhà trị liệu, và các phẩm chất liên nhân cách của nhà trị liệu làm dễ dàng, thuận lợi hơn cho việc củng cố mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu.

Nhiều nghiên cứu tỏ lộ về các biểu hiện hành vi của nhà trị liệu ảnh hưởng cả tiêu cực lẫn tích cực đối với mối quan hệ giữa họ với thân chủ của mình. Như Ackerman & Hilsenroth (2002) cho rằng có bằng chứng hỗ trợ các thuộc tính như uyển chuyển, thành thật, tôn trọng, tưởng thưởng, tự tin, nồng ấm, quan tâm, và cởi mở ở nhà trị liệu. Vị nào tỏ ra cứng nhắc, bất ổn, chỉ trích, xa cách, căng thẳng, hoặc rắc rối thường gây tiêu cực cho mối quan hệ.

Hướng tới việc can thiệp, các kỹ thuật trị liệu phụ thuộc vào công tác xây dựng mối quan hệ bao gồm khám phá, phản ánh, ghi nhận những thành công, diễn dịch thật chính xác, giúp dễ dàng cho việc biểu tỏ tình cảm và tham dự vào trải nghiệm của thân chủ. Các thuộc tính tiêu cực đối với mối quan hệ sẽ dính tới hành vi trong khi làm việc như hướng dẫn quá mức, tự bộc lộ bản thân không thích đáng, và lạm dụng việc diễn dịch im lặng. Từ cách tiếp cận động năng (psychodynamic) chẳng hạn, Gabbard (1994) khẳng định, can thiệp của nhà trị liệu trải dài từ trạng thái hỗ trợ cho tới việc biểu đạt. Các can thiệp mang tính hỗ trợ gồm phản ảnh, chỉ bày và khen ngợi, còn các can thiệp mang tính biểu đạt là sự diễn giải phòng vệ (defense) và chuyển dịch (transference). Bên trong khung tham chiếu này, các thuộc tính diễn giải chuyển dịch cao quá sẽ gây hiệu ứng tiêu cực cho quan hệ (Piper, Azim, Joyce, & McCallum, 1991).

Các thăm dò khác phát hiện thấy bằng chứng sự diễn giải mang tính chuyển dịch ban đầu có thể tăng cường cho mối quan hệ… Thực tế, nhà trị liệu nên cân nhắc làm gì thì tốt nhất cho mỗi một thân chủ, phụ thuộc vào mối quan hệ liên nhân cách của thân chủ. Các đặc tính này của thân chủ kết nối với phẩm chất của mối quan hệ mà một số thì tương quan dương tính với nó (phẩm chất của các mối quan hệ đối vật, sự gắn bó) và một số khác lại tương quan âm tính (như các trục trặc liên nhân cách, sự né tránh) khẳng định có thể nhà trị liệu gặp nhiều khó khăn hơn trong việc củng cố mối quan hệ tích cực với một số thân chủ. Theo nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ với thành tựu trị liệu, thấy tương tác giữa thân chủ và kỹ thuật trị liệu có thể điều chỉnh mối quan hệ vừa nêu; mối quan hệ giữa việc đáp ứng của nhà trị liệu với tính cách thân chủ thường nhắm vào tính cách của thân chủ trong các cơ chế phòng vệ.

Truyền thống lâm sàng tâm động cũng quen lưu giữ quan điểm rằng các diễn giải phù hợp hơn với thân chủ khá ổn thỏa hơn là thân chủ gặp trục trặc nghiêm trọng (Gabbard, 1994); tuy thế, thực tế cũng có trường hợp thân chủ trải nghiệm chất lượng liên nhân cách thấp lại chịu đựng sự diễn giải ban đầu này.

Cần biết rằng, chức năng phòng vệ là khía cạnh đo lường được của cấu trúc nhân cách, trở thành biến quan trọng của thân chủ để xem xét mức độ thích ứng của nhà trị liệu đối với sự trình bày của thân chủ (Perry, Kardos, & Pagano, 1993). Cũng đáng quan tâm, theo nghiên cứu của Hersoug và cộng sự (2003) thì các biến thuộc thân chủ chịu ảnh hưởng như nào đối với sự thích ứng của nhà trị liệu lại là chuyện tùy chọn ở từng mỗi cá nhân thân chủ.

Lý thuyết liên nhân cách cung cấp một vòng tròn trịa hơn cho việc khái niệm hóa các thích ứng hàng ngày của các cá nhân trong thế giới liên nhân cách họ tham gia. Song đó là câu chuyện cho một bài viết khác.

(còn tiếp)

Về nhà dễ đổ lệ quá độ

… Cách đây khoảng 1 năm cháu cũng đã gửi lá thư đến chú với bao nỗi lo lắng về tương lai về nghề nghiệp về tình yêu… Cứ ngỡ rằng nỗi phiền muộn ấy sẽ dần sẽ ổn nhưng càng thời gian gần đây cháu lại càng thêm lo sợ. Cháu biết rằng Thất nghiệp luôn là nỗi ám ảnh với tất cả các bạn sinh viên mới ra trường nhưng với cháu thì đúng là cháu cảm thấy hết sức nặng nề. Bốn năm dưới giảng đường đại học cháu cảm thấy bản thân mình quá thụ động quá vô nghĩa và khi nhận ra được điều đó hình như đã muộn màng ạ. Cháu vừa tốt nghiệp 31/5 vừa rồi nhưng cháu chưa thể xác định được cho mình 1cv muốn làm, và bây giờ cháu rơi vào tình trạng làm công việc gì cũng đc miễn là nuôi nổi bản thân và dĩ nhiên là không được phép vi phạm pháp luật. Thế nhưng những công việc như vậy cũng thật khó tìm ạ. Cháu rơi vào trạng thái căng thẳng vô cùng, cháu rất sợ ra trường rồi mà vẫn không có việc làm để nuôi nổi mình, cháu cứ sống ngày ngày dưới cái mảnh đất Thủ đô bon chen này để tìm việc càng tìm càng khó về nhà thì cháu không muốn mà nói đúng ra là cháu không dám ạ. Bố mẹ cháu cũng có khuyên về nhưng cháu sợ hàng xóm nói đi học Đại học mà lại không có việc (vì miền quê nghèo nhà cháu ít bạn đi học a). Cháu thực sự cảm thấy vừa mệt mỏi vừa sợ vừa lo lắng. Còn về chuyện tình cảm yêu đương thì càng thê thảm ạ. Trước cũng có vài bạn con trai có ý nhưng hình như bản thân cháu cũng k biết là mình nghĩ gì và cũng k biết cái tình yêu là gì nữa, bằng tuổi cháu có bạn đã lấy chồng, có bạn sắp lấy, và đa phần là đã có người yêu nhưng cháu thì chưa có gì nhiều người nghĩ rằng có thể do cháu nói dối hoặc có vấn đề gì đó. Nhưng cháu cảm thấy bản thân mình k sao. Chú ơi liệu con người có duyên số không hả chú? Hay mình phải đấu tranh giành cái số đó ạ? Cháu thực sự rất hoang mang về cái số của cháu ạ… Từ rất sớm ngay từ khi năm 2 khi các bạn của cháu vẫn vô tư hồn nhiên không nghĩ tới, tuy nhiên hơn nửa cuộc đời sinh viên của mình cháu lại sống quá thu mình, cháu chỉ biết đến giảng đường nghe thầy cô giảng, gần như cháu không tiếp xúc va chạm với bên ngoài mấy, cũng không theo học thêm bất kỳ một thứ gì khác, chỉ đến cuối năm 3 cháu mới nhận ra điều này cháu cố gắng để hòa mình nhiều hơn (mặc dù nỗi lo tương lai sẽ đi đâu về đâu vẫn tăng). Cháu cảm nhận được niềm vui nhiều hơn, có nhiều kỉ niệm hơn với bạn bè với thầy cô thì thời gian lại không còn nhiều. Cháu dần thấy nuối tiếc nhiều hơn… Nhất là trong những ngày cuối cùng của cuộc đời sinh viên, hôm nay chính thức chia tay cháu thấy rất buồn và hẫng hụt nhiều quá chú ạ. Cháu biết là chắc chắn phải chia tay bạn bè, thầy cô giáo nhưng mà cháu vẫn cứ muốn được có thêm nhiều thời gian hơn nữa, mấy ngày gần đây cứ những lúc một mình nước mắt cháu lại rơi ra. Cháu cứ muốn sống trong hoài niệm xưa. Có đôi lúc cháu có ý nghĩ thật điên rồ là thi lại đại học nhưng mà nghĩ lại thi lại bạn bè mình cũng có còn đó đâu. Cháu không biết làm sao và cảm xúc đó có dần biến mất không và rồi cháu sẽ phải đối diện với cuộc sống mới với những con người xa lạ như thế nào ạ. Chú cho cháu lời chia sẻ với ạ.

Khoảnh khắc chia tay thầy cô, bạn bè, trường lớp dẫu thật ngậm ngùi song sẽ không kéo dài lâu, cả nỗi sợ hãi tương lai cùng với niềm tiếc nuối dĩ vãng êm đềm quá dễ khiến mình rơi lệ, lo âu bâng quơ rồi cũng đi qua…

Trước tiên, tôi muốn chỉ ra rằng ngay việc cô gửi lá thư này đã là minh chứng cho một dạng thức của tính quyết đoán: nhận ra mình cần cải thiện điều gì đó và tiến hành bước đi đúng để sửa chữa, điều chỉnh nó. Nếu cô rà soát lại cả ngày, chắc chắn cô đã tỏ ra quyết đoán không ít lần… song đó không phải là kiểu quyết đoán đang gây cho cô phiền muộn.

Hầu hết các tình huống xã hội đòi hỏi tính quyết đoán thường trực. “Đây là bài kiểm tra tiếng Anh của tôi” hoặc “Tôi sẽ không la cà phố xá với đám bạn vào tối thứ Sáu”. Người ta gặp khó khăn ghê gớm với các tình huống quyết đoán mang chứa theo kèm các cảm xúc mãnh liệt. Như cô đã mô tả rất chính xác, khi một tình huống cảm xúc khởi lên, cơ thể mình phóng thích adrenaline và các hóa chất khác tạo nên một cảm nhận đầy cảm xúc “chiến hay biến”. Phóng thích các hóa chất này thường chuyển một tình huống quyết đoán vào một tình huống xung hấn như cô trải nghiệm. Nó cũng có thể gây cảm giác ngập tràn và tạo nên một hàm lượng cảm xúc quá tải, làm mình bật khóc, ứa nước mắt, bàn tay run nhẹ, lạnh cóng, căng cơ, và chân rung…

Khi chúng ta tê mỏi về mặt cảm xúc, bị bao vây bởi các tác nhân gây căng thẳng tinh thần (bố mẹ, công việc, tiền bạc, yêu đương, v.v…) và cơ chừng không thể chạm tới được mục tiêu ao ước (sự độc lập) thì trạng thái bi ai đó thường chứng tỏ một hạn mức stress cao độ.

Các mức độ cao về stress gây khó khăn trong việc ra quyết định những gì cần làm đầu tiên, tiếp theo, và những gì ngay lúc này đây không nên lo lắng. Điều đầu tiên cô sẽ cần tiến hành là giảm thiểu stress và nỗi niềm bi ai trong đời. Xác định các điều nào tạo nên stress và nhắm vào nhẹ bớt đi mức độ gây căng thẳng tinh thần. Nếu chúng ta có một người bạn hoặc thành viên trong gia đình hết sức căng thẳng, tỷ dụ thế, hãy đưa họ ra một khoảng cách an toàn hơn về mặt cảm xúc. Nói với họ sẽ gỡ khỏi sự dính mắc của mình trong nỗi niềm bi ai của chính họ chẳng hạn. Kiểm tra tình huống riêng của bản thân ta. Mình có đang làm việc chi hoặc mang thái độ khiến sự vụ tồi tệ đi? Nếu chúng ta đang có các quyết định không tốt, có thể chia sẻ với bố mẹ nếu điều ấy không gây cảm giác ngột ngạt.

Hạnh phúc, vui sướng thường là mức độ thể hiện cho việc các hành vi đưa chúng ta tiến tới với mục tiêu mong đợi. Nếu cô muốn độc lập, liệu cô có đang thực hiện hướng về chiều đó, hay hơi tệ chút, mình đang ứng xử hoặc suy tư theo cách khiến mọi người nghĩ mình khó mà trở thành người độc lập được? Cũng thử cố gắng tiến hành các kỹ thuật cá nhân quen thuộc làm giảm thiểu stress. Nếu thuận tiện, một nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu có thể giúp cô sắp xếp, phân loại các tác nhân gây stress cũng như xem xét ưu tiên cho các nỗ lực của bản thân cô.

Nguyên nhân lớn nhất cho các vấn đề nêu trên có thể lý giải như sau.

  • Thiếu hụt kinh nghiệm xã hội. Điều này thường gặp ở người mới lớn, chưa va chạm bao nhiêu với đời. Tuổi này có các phản ứng cảm xúc mạnh mẽ, kéo dài những rắc rối của giai đoạn thay đổi cuộc sống và biến chuyển nội tiết tố. Các bạn trong độ tuổi này cũng có thể ít kinh nghiệm xử lý các tình huống phức tạp đòi hỏi một số tính quyết đoán rất lớn song cảm xúc lại được kiểm soát. Qua nhiều năm, người trưởng thành phát triển các kỹ năng xã hội tạo nên tính quyết đoán, thậm chí trong các tình huống đầy cảm xúc thì họ vẫn đủ sức kiểm soát. Nói cho công bằng, thực tế, không phải người trưởng thành nào cũng thiện xảo, điệu nghệ trong việc quyết đoán kiểm soát cảm xúc, và các cơn thịnh nộ cũng không hiếm thấy trong những nơi chốn công cộng, địa điểm giao dịch, làm ăn. Trong tình huống mới tốt nghiệp này, cô có thể từ từ thực tập nâng cao hơn tính quyết đoán mỗi ngày. Định rõ dạng ý kiến, quan điểm quyết đoán mà cô có thể luyện tập.
  • Ký ức chan chứa cảm xúc thường tạo nên tình huống như cô đang trải nghiệm. Bộ não chúng ta ghi nhớ các tình huống cảm xúc và lưu lại cả tình huống và các cảm xúc mình cảm nhận lúc đó. Nếu chúng ta bị một con chó cắn, lần sau nhìn thấy một con chó chúng ta cảm thấy ghê sợ, kinh hãi (cảm xúc) và nhớ lại lần bị cắn trước đây (tình huống). Nếu bố mẹ hoặc những người khác có thái độ xung hấn khi cô biểu đạt ý kiến trong quá khứ thì cô có thể tạo thương đau hóa với những gì chính mình đang trải nghiệm. Việc cô khóc và cảm thấy phiền muộn về mặt cảm xúc đích thị là sự lưu giữ nỗi sợ hãi về những hậu quả cô từng nghĩ tới và gặp phải trước đây… Tôi từng có cơ hội làm việc với một cô gái trẻ mang bộ mặt nhăn nhó khi cô í biểu đạt bản thân rất cảm xúc. Chúng tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng mẹ cô gái trẻ này từng có thói quen tát vào mặt cô gái mỗi khi bà ta không hài lòng với lời giải thích của con gái. Những cái nhăn nhó ấy là “ký ức cảm xúc” của việc bị tát không ít lần và não bộ của cô gái trẻ sẵn sàng cho một cái tát khác mỗi khi cô í biểu đạt bản thân, thậm chí với người khác không phải mẹ mình.
  • Sự tự tin thấp cũng có thể tạo nên phản ứng như của cô. Có thể cảm thấy ý kiến của mình không đáng giá hoặc chẳng thích hợp. Nếu cô từng bị chỉ trích vì quan điểm, ý kiến hoặc phát biểu trong quá khứ (nhắc lại ‘ký ức cảm xúc’), cô có thể rất ngần ngại biểu đạt bản thân. Cô có thể tìm kiếm trên mạng hoặc mua, mượn sách đọc viết về sự tự tin và lòng tôn trọng chính con người mình. Cô cũng có thể bắt đầu bằng việc biểu đạt bản thân trong những tình huống không mang tính đe dọa gì lắm, tuần tự tăng dần lên độ căng cảm xúc của các biểu đạt. Tỷ dụ như kiểu đi từ ý “Tôi không quan tâm khoa học về nền điện ảnh tài liệu” tiến tới việc nói với người lớn “Cháu nghĩ chú đã không đối xử công bằng với cháu” hoặc với một cậu bạn trai nào đó “Mình không đáng bị đối xử với sự thiếu tôn trọng như vậy! Nếu nó xảy đến lần nữa, quan hệ giữa bọn mình sẽ chấm hết!” Ở tuổi của cô, có nhiều thời gian dành cho việc cải thiện các kỹ năng nêu trên.
  • Một mức độ stress cao độ trong đời cô có thể cũng dễ làm cho việc biểu đạt cảm xúc khó khăn. Thử tìm đọc sách báo về stress. Nếu các mức độ stress cao quá, tìm cách giảm thiểu nó và cùng lúc tăng cường sự tự tin. Nếu có điều kiện, nên cân nhắc việc tìm tới một nhà tham vấn tâm lý.

Ghi nhớ trong tâm trí mình rằng có một phản ứng cảm xúc khi mình biểu đạt bản thân là điều bình thường. Khi nhận diện, kiểm soát và sử dụng đúng đắn, nó tạo nên ‘chất lửa’ trong phát ngôn, tính kịch của hành động thể hiện, ‘độ mãnh liệt’ trong sự biểu tỏ đậm tính nghệ thuật, và sự chắc thật trong một lời hứa.

Hãy đơm hoa kết trái cho tương lai đầy hứa hẹn vẫn không ngừng mời gọi còn mở rộng trước mặt.

Một câu hỏi quen thuộc: làm thế nào tôi biết mình đang cảm nhận điều gì đây?

Những câu hỏi ấy, vào một lúc nào đó trong đời, sẽ bất chợt xuất hiện hết sức mãnh liệt: “Làm thế nào tôi biết những gì mình đang suy nghĩ và cảm nhận là đúng đắn đây? Có thể ai đó khác mới đúng thì sao? Tôi nghĩ mình biết những gì mình đang suy nghĩ rồi ai đó đến và bảo điều khác biệt cơ, và tôi lập tức tin họ! Tại sao tôi làm thế? Chẳng mấy chốc tôi quên béng điều mình từng nghĩ chắc là sai lầm.”

Khá dễ dàng bị vướng mắc dính cả chùm vào trạng thái tương tự bên trên; mọi người đều ít nhiều biểu lộ thế, cả thân chủ lẫn nhà trị liệu hay với những ai chưa từng đặt chân vào phòng tham vấn tâm lý. Câu hỏi: tại sao tôi làm thế? cơ chừng là câu hỏi đầy lợi lạc, hoặc chẳng tạo mấy vang vọng lắm, song chí ít mình có thể gạt câu hỏi đó sang bên.

Mục tiêu của nhiều người, cả trong tham vấn lẫn bên ngoài phòng trị liệu, là chắc thực với chính bản thân mình; họ chuyển tải hết sức chính xác một cách hiểu biết điều mình suy nghĩ và cảm nhận. Thực tế phũ phàng và trêu ngươi là điều này chưa chắc có hiệu lực như mong đợi đâu. Chúng ta hết thảy có thể thổi bùng ra ngoài, hoặc quên phắt những thứ từng chắc thực, kỳ thực các suy tư lẫn cảm xúc của chúng ta đều đặn bị bẻ gãy rồi thay đổi trong tiến trình tương tác với tha nhân và các tình huống nọ kia xảy đến trong đời, và thực tế mọi sự diễn ra như thế. Những gì đích thị sau đó là cảm nhận bền chắc bên dưới chúng ta hoặc trong lòng chúng ta.

Chiêu lừa mẹo xảo khéo không chỉ cố gắng bám vào nền tảng vững vàng qua mọi thời gian mà còn biết cách làm sao để tiếp chạm nó khi mình muốn. Thường khá dễ dàng hơn chúng ta nghĩ nhiều. Đấy chính là lộ trình nhắm tập trung vào. Song mình không nhất thiết nghĩ về nó như lộ trình hoặc kỹ thuật, chúng chỉ đích thị là các cách thức nói về thực tế.

Đôi khi tất cả điều chúng ta cần thiết tiến hành là thư giãn, tạo ra một không gian nội tại trong lòng rồi tự vấn bản thân bằng lối thân thương: “Hiện tôi đang cảm thấy như thế nào đây?” Điều gì đó bên trong thân xác mình đáp ứng; trong trạng thái thế, nó không mở ngỏ cho chuyện tranh cãi, từ bản thân mình hoặc so với ai đó khác. Rất đơn giản cách thức mình cảm nhận, suy tư, và đang là với tình huống bản thân, từng khoảnh khắc. Nó luôn tương thích, và khi tiếp chạm, nó luôn luôn đưa mình thêm một bước tiến về phía trước.

Lại nhớ tới lý thuyết bất hòa về mặt nhận thức…

Lý thuyết bất hòa về mặt nhận thức (cognitive dissonance) của Leon Festinger (1957) cho thấy suy nghĩ của chúng ta có thể biểu lộ dưới ba mối quan hệ căn bản:

  • Thuận hòa (consonance): “Tôi là một sinh viên tốt”, và “Tôi luôn luôn chuẩn bị bài trước khi đến trường”
  • Nghịch hợp (dissonance): “Tôi hút thuốc lá”, và “Hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”
  • Không tương thích (irrelevance): “Tôi là sinh viên tốt”, và “Hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”

Theo lý thuyết bất hòa, nghịch hợp về mặt nhận thức thì chúng ta có động cơ nội tại để thành tựu hoặc lưu giữ sự bất hòa về mặt nhận thức, do nó củng cố một cảm nhận khoái sướng cho bản thân; khi chúng ta có những suy tư thuận hòa thì mình càng đúng đắn, phù hợp hơn với chính bản thân mình.

Cũng thế, khi kinh qua sự bất hòa, chúng ta thường có xu hướng trải nghiệm độ căng thẳng hoặc các cảm xúc tiêu cực, khó chịu ủ thêm vào thái độ và sự thay đổi hành vi đủ để mình đạt được hoặc lưu giữ sự thuận hòa về mặt nhận thức.

Một ví dụ kinh điển cho lý thuyết này được hai tác giả Festinger và Carlsmith (1959) thực hiện; theo đó, những người tham gia thực nghiệm được đề nghị đánh giá về một công việc buồn tẻ. Những người tham gia được trả 1 Mỹ kim đánh giá công việc như vui vẻ hơn và thú vị hơn những người tham gia được trả 20 Mỹ kim.

Những người tham gia nhận giá 1 Mỹ kim đã tự lừa dối chính mình vì tại sao họ sẽ làm một công việc buồn tẻ chỉ có 1 Mỹ kim nếu nó không được vui vẻ và thú vị? Những người tham gia được trả 20 Mỹ kim không buộc phải phải làm thế khi họ được trả mức giá tương đối tốt.

Có thể hình dung các cách cụ thể giúp ta tránh trạng thái bất hòa về mặt nhận thức.

  1. Thay đổi hành vi đến độ nó xứng hợp với suy tư, thái độ hoặc niềm tin của chúng ta
  2. Thay đổi suy nghĩ khiến cho nó xứng hợp với hành vi của chúng ta
  3. Tìm thấy và tin tưởng vào thông tin xứng hợp với hành vi của chúng ta
  4. Tránh thông tin trái ngược với các niềm tin của bản thân
  5. Tránh các tình huống khiến mình gặp nguy cơ hành động theo các cách gây trái ngược, mâu thuẫn với suy tư, thái độ hoặc hành vi của chúng ta

Nếu muốn thay đổi thái độ của ai đó, mình nên cố gắng tạo ra sự hòa thuận nhận thức trong suy tư của người đó.

Tỷ dụ, ai đó tin rằng hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe song vẫn cứ hút thuốc lá như thường thì khả năng là họ dễ trải nghiệm sự bất hòa về mặt nhận thức. Mình có thể gắng nhấn mạnh sự bất hòa này đến độ anh ta khởi sự nhận ra rằng các suy nghĩ của anh ta là bất hòa, nghịch hợp.

Lưu ý, nhiều người dường như đối phó thật ổn thỏa với sự bất hòa. Tại sao thế? Mức độ người ấy trải nghiệm về sự bất hòa về mặt nhận thức phụ thuộc chí ít vào hai yếu tố:

  1. Sự cân đối giữa các ý nghĩ bất hòa và các ý nghĩ nghịch hợp
  2. Tầm quan trọng của các ý nghĩ

Thứ nhất, nếu tôi tin rằng mình có lối sống lành mạnh, sự cân đối của các ý nghĩ hòa thuận hỗ trợ cho niềm tin này càng lớn thêm lên so với sự phù hợp của các ý nghĩ bất hòa bác bỏ nó. Tiếp đến, ai đó nghĩ rằng các suy tư bất hòa của anh ta không có ý nghĩa hoặc tầm quan trọng nhất định với bản thân thì sẽ ít khả năng muốn thay đổi chúng; ví dụ, “Tôi hút thuốc lá”, “hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”, song “Tôi không thể bị thương tổn được”.

Wow, vậy đó, lắm lúc, bất luận mọi giá người ta phải tìm cách bảo bọc (suy nghĩ của) bản thân thôi.