Khi người vẫn ưa thích và chưa chán sống ở phố thị…

Dịp thành phố quê nhà kỷ niệm ngày giải phóng trôi qua lâu rồi, chắc giờ này nguồn nhiệt hứng khởi hừng hực đã vơi giảm ít nhiều. Đọng lại dấu ấn đô thị chắc là mấy từ trỏ việc làm cụ thể nay mai: phía Tây (mở rộng), sông Cổ Cò (nạo vét để du lịch đường thuỷ vào Hội An), Hoà Vang (phát triển).

Thành phố đáng sống hẳn là thành phố đảm bảo các chất lượng sống khá cao. Cả trên bình diện quốc gia, ảnh hưởng của văn hoá và xã hội lên sức khoẻ tâm trí vẫn còn là đề tài mông lung. Cần biết, tuy xã hội đặt để các quy tắc ứng xử chung song không phải mọi kỳ vọng của xã hội đều thuộc lĩnh vực đạo đức (morality); chúng ta vì thế, cần một cách thức độc lập trong việc lượng giá các tục ước (convention) nào là luân lý (ethics) và cái gì thì không. Do luân lý độc lập với các giáo lý nên nó độc lập với các tục ước xã hội. Và thường thì có 3 nơi hồi quy hành vi xã hội: cá nhân, các tục ước xã hội, và đạo đức.

Vào thời điểm mà các thành phố, trong đó có Đà Nẵng, chuẩn bị sẽ đi vào sự trải nghiệm tăng trưởng theo cấp số nhân, cùng với dân số vọt cao thì càng phải biết thấu đáo ảnh hưởng của môi trường đô thị tới hạnh phúc cùng sức khoẻ ra sao.

Ghê ta.

… Mấy đoạn trên khởi thảo đã hơn nửa năm mà giờ bài còn dang dở. Tối nay định vội vàng hoàn thành chỉ như là cách để tránh rét lúc xa nhà.

Thái độ bảo thủ chính trị duy trì như một dạng điên nhẹ?

Đội ngũ những người quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội ở Việt Nam tỏ ra chê bai trình độ dân trí nước nhà ngày càng đông đảo; nhiều tuyên bố lạ lùng và lắm phát ngôn trên nghị trường gây sốc khủng khiếp đối với công luận, không ít tuổi tên chính trị gia bị gắn với tục danh mang tính dè bỉu lẫn khinh bỉ; vô số hành động xử lý, ra quyết định chẳng hề giống ai, xa lạ quá chừng thế giới văn minh, v.v…

Chủ đề chính trị và bệnh tâm thần có thể được minh họa lịch sử từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, bởi vì nó làm cho tinh thần quốc gia thêm cường tráng, song với nhiều người tham gia thì niềm vui trở thành cơn mê sảng (delirium).

Theo nghiên cứu, chủ nghĩa bảo thủ là một dạng điên khùng (insanity) nhẹ. Một phân tích gộp chọn từ 88 mẫu ở 12 quốc gia với 22.818 đối tượng đã vén lộ “nhiều biến số tâm lý dự báo chủ nghĩa bảo thủ về chính trị”. Các biến gồm: sợ chết, hệ thống bất ổn, giáo điều về sự nhập nhằng, tâm trí nhỏ hẹp, thiếu khoan dung về trạng thái không chắc chắn, nhu cầu cao về tính thứ bậc (bộc lộ nhận thức), cấu trúc, phức hợp thống nhất thấp, lo hãi bị đe dọa và mất mát, và kém tự tin. Nhóm tác giả kết luận khá chua chát rằng “ý thức hệ căn cốt của chủ nghĩa bảo thủ nhấn mạnh việc kháng cự với thay đổi và biện hộ cho sự bất bình đẳng”.

Không những chẳng hay ho gì lắm, người ta đang nói tới ai đó đầy sợ hãi, với cảm quan cái tôi nghèo nàn, và vắng thiếu tinh thần linh hoạt. Khoan dung với mơ hồ, nhập nhằng là điểm tâm lý đặc biệt sáng giá ở người trưởng thành vì thế giới nào chỉ có hai màu đen, trắng. Theo nghiên cứu trên, người bảo thủ sở hữu cơ bản phẩm tính ngược lại: không khoan dung với mơ hồ và không có khả năng giải quyết điều phức tạp.

Các nghiên cứu khác còn khẳng định, khi vắng bóng nỗ lực suy tư đầy cân nhắc thì ý thức hệ bảo thủ càng tăng lên; năng lực nhận thức và chủ nghĩa bảo thủ tương quan nghịch. Nghĩa là, nỗ lực tinh thần sút giảm thì làm tăng các niềm tin bảo thủ; tức các thuộc tính trách nhiệm cá nhân (đối lập việc nhận ra ảnh hưởng của các yếu tố tình huống), chấp nhận thang bậc và khung tham chiếu giữ nguyên trạng có thể được xem là dấu ấn của niềm tin bảo thủ.

Các phát hiện của chúng tôi khẳng định những lối tư duy bảo thủ là căn bản, bình thường và khá tự nhiên, nhóm nghiên cứu khẳng định. Các yếu tố động cơ thúc đẩy là những xác quyết chủ yếu của ý thức hệ, trợ giúp hoặc chỉnh sửa các đáp ứng ban đầu phụ thuộc vao mục tiêu, niềm tin, và giá trị của người ta…

Dù tiếp cận từ các góc độ xã hội học, phương pháp luận, thành phần cấu trúc và triết lý thì bảo thủ chính trị vẫn còn đáng xem xét thấu đáo, chẳng hạn cụ thể về khía cạnh chủ động tạo áp lực xã hội, toàn trị, v.v…

Kiếm tìm hạnh phúc đích thực: không có con đường tắt

Chấp nhận sống giữa cõi đời nhăng nhít này rồi thì nhỡ nảy sinh thắc mắc cắc cớ mấy cũng đừng ngượng ngùng quá thể: các đôi hạnh phúc nhất làm chi trên giường khi không làm tình nhỉ?

Được thôi; câu trả lời, chí ít với những cặp trẻ trung sống chung chưa kết hôn í, có ngay liền đây: đi ngủ cùng một thời gian. Wow, ngạc nhiên chưa, té ra nghiên cứu cho thấy, nếu gã trai trải qua một đêm ngon giấc thì hôm sau y sẽ ít bộc lộ tương tác tiêu cực; nói khác, nàng đi ngủ sớm hay muộn so với chàng thì mức độ thỏa mãn quan hệ thấp hơn hẳn. Đơn giản như đang giỡn thế nhỉ; dĩ nhiên, nào đã hết chuyện bởi sững sờ ghê nữa, nhiều nghiên cứu khác trước đó cũng chỉ ra điều tương tự rằng có mối liên quan giữa lịch ngủ không khớp nhau với sự xuất hiện xung đột. Tiện đây, trót thì trét thêm luôn nhé ạ là các mối quan hệ lâu dài thường do đối xử tử tế và rộng lượng; thẳng thừng nói toạc móng heo: khinh khi, xem thường là yếu tố số một khiến chúng mình hát bài ‘ta chia tay nhau từ đây’…

Tạm gác qua ba mớ vấn đề mí ý nghĩa rất dễ nảy sinh rắc rối, vì hôm nay nhân sự kiện Ngày Quốc tế Hạnh phúc, đúng hẹn lại lên, chỉ thử diễn giải duy nhất luận điểm: không có đường tắt trên hành trình truy cầu, kiếm tìm hạnh phúc.

Thưc tế, hầu hết mọi người hoặc ước ao hoặc đang tích cực kiếm tìm hạnh phúc, bình yên và hài lòng nhiều hơn. Các ước ao và kiếm tìm ấy thể hiện qua đủ dạng thức.

Chúng ta đa phần đều có thời điểm trong cuộc sống tự thuyết phục bản thân rằng nếu một chuyện gì đó xảy ra thì mình sẽ hạnh phúc mãi mãi. Chúng ta tự tin rằng sự kiện này là chìa khóa đảm bảo hạnh phúc, bình yên và hài lòng trọn đời. Dịp đặc biệt ấy dễ chừng đã tới rồi trôi đi lâu rồi thì chí ít mình cũng từng vui sướng.

Vật đổi sao dời, tình thế không giống cũ và chúng ta chẳng kéo dài cảm giác hạnh phúc, bình yên hay hài lòng. Lý do là chúng ta có thể nhận ra thứ hạnh phúc kiểu đó dựa trên hoàn cảnh bên ngoài thì phù du thiệt; bản chất cuộc đời vốn rứa.

Vậy hạnh phúc rốt ráo ở đời khởi từ đâu? Nó đến trong trạng thái hài hòa hay khi người ta thấy hợp nhất các cái tôi sâu xa hơn? Liệu mình có thể sống với sự kết nối với các cái tôi sâu xa và mọi lúc đều cảm thấy một sự yên an? Mình có tìm thấy hạnh phúc rốt ráo dài lâu đích thực không ta?

Các truyền thống tâm linh dạy rằng trên hành trình khám phá các sự thật thâm hậu nhất, chúng ta bắt đầu bởi việc lưu tâm tới những gì không phải là sự thật. Dành thời gian vén lộ và phơi bày lớp này tới lớp khác điều chi là bất hạnh; kiểu nhìn rõ “không phải cái này, không phải cái kia”. Với con đường tự khám phá, chúng ta điều nghiên rồi học hỏi những gì ngăn trở chúng ta có được hạnh phúc thực sự. Khi có thể thấy biết đó không phải là ham muốn đặc biệt hoặc một thành tựu hoàn mãn thì chúng ta cho phép bản thân thư thái với yên an và hạnh phúc rồi.

Tiến trình cắt bỏ, loại trừ này giúp chúng ta khám phá các khối chặn khiến mình không sống với các cái tôi sâu sắc hơn và vì thế, có hạnh phúc. Quá dễ duôi để thích thú kiếm tìm hạnh phúc với một căn bếp mới, ngôi nhà to hơn, nhiều trải nghiệm phong phú, lắm rượu bia và tích trữ đầy ắp thực phẩm. Tất cả chúng ta đều tin rằng giá mà mình tìm ra công thức ‘đúng đắn’ với đời sống bên ngoài thì mình sẽ có hạnh phúc, yên an và hài lòng bấy lâu khao khát.

Tất cả chúng ta thảy đều cần một số nhu cầu cơ bản và khi chưa đáp ứng được, mình gắng sức đạt tới. Kỳ thực, chúng ta không thể có khả năng sở hữu hạnh phúc với lối suy nghĩ đó. Với đa phần chúng ta, cuộc chiến đấu này mang phẩm tính tham lam vô độ chẳng bao giờ thỏa mãn nổi. Rồi chúng ta luôn luôn khao khát và tin rằng có…. (điền vào chỗ trống) sẽ làm mình hạnh phúc.

Hạnh phúc tương hợp với tất cả mọi người trong từng khoảnh khắc. Ngay lúc này, bây giờ đây. Do không tập trung đủ chứ nó luôn ở đây mọi lúc. Phụ thuộc chúng ta làm công việc cá nhân và tâm linh bên trong lòng mình cần thiết đặng đón nhận dòng chảy của Vũ trụ. Thượng đế hay bất kỳ danh xưng tôn quý nào phù hợp với truyền thống cá nhân, và kết nối nội tại với bản thân đều khả thể. Thay vì nhìn ngó đó đây kiếm tìm này nọ hoặc mò mẫm ẩn dưới ký ức, nếu có thể cởi mở với Vũ trụ, mình có thể trải nghiệm dòng chảy ngay lúc này, ở đây.

Cơ chừng sống trong thế giới quá bận rộn này, chúng ta kiếm tìm cách nào nhanh nhất tiến hành các thứ. Tỷ dụ, cân nhắc ăn ba phút hay dành cho việc luyện tập 10 phút. Áp lực có X, Y, và Z cập nhật rồi đạt điều này điểm nọ. Cách tiếp cận kiếm tìm phiên bản gấp rút liền ấy khiến công việc khó triển khai trọn vẹn hay đẹp đẽ, như ý. Không đủ thời gian chờ lá trà ngấm thì sấy khô, ép cuốn cách sao để có ngay cốc trà pha sẵn.

Chỉ có 24 giờ mỗi ngày; làm sao thực hiện hết thảy? Điều mình mong muốn nhất là gì?

Hầu hết đích thị muốn hạnh phúc, bình yên và hài lòng hoặc một số nối kết mấy điều ấy lại. Hữu ích nếu học hỏi phương thức gắn các suy tư và cảm xúc nội tại cho thật sâu sắc. Kết nối này giúp mình biết điều chi sẽ làm mình ngày càng thêm thỏa mãn đầy tràn. Biết rõ kết nối này theo cách đạt tới hoàn mãn không thường là kết quả của một sự khớp vội vàng hoặc ý thích bất chợt; chúng không lưu giữ quyền lực mình đang tìm kiếm.

Khi các phương tiện truyền thông hiện đại ra đời, chúng ta nghĩ đó là thứ mình muốn lâu nay. Đa phần những gì nghe thấy chẳng khác mớ rối rắm quấy nhiễu tâm trí sẽ dẫn mình lêu bêu tùm lum nơi chốn. Hiểu biết bản thân và sống đời tốt lành đòi hỏi mình dành thời gian, sự chú tâm và nỗ lực cần thiết. Nó không xảy ra trong thời gian chờ người ta đem hộp cơm tới. Vẫn biết, chúng ta muốn cố gắng và tìm ra cách dễ dàng thực hiện nhất. Song đôi khi không đi vào tâm điểm vấn đề thì chỉ tổ mất nhiều thời gian sau này hơn thôi. Đào sâu bản chất giúp mình khỏi tốn công cứ mãi lượn vòng vòng trên bề mặt.

Theo thói quen, chúng ta tìm 10 bước nhanh chóng và dễ dàng để…… (tùy nghi điền vào). Một số dạng thông tin cô gọn vậy tỏ ra hữu ích và nó tựa miếng băng dính dán trên ngón tay bị dập xước. Mình phải xem kỹ vết thương gây đau đớn nhằm tránh phiền phức; việc ấy đưa ta tới gốc rễ vấn đề, ví von tẹo, để chữa lành hẳn. Những giải pháp băng bó vội vàng thì giống như các miếng dán. Tất nhiên, không buộc phải vào rừng để nhặt củi nấu bữa ăn hay tiêu 12 năm trị liệu tâm lý để nói về kỷ niệm bữa tiệc thảm hại hồi sinh nhật tuổi lên 10.  Điều ấy nghĩa là, nếu muốn hạnh phúc đích thực và không đặt để cho cuộc đời xoàng xĩnh, quan trọng cần nhìn sâu vào bên trong bản thân mình; nghĩa là, có thể cần trợ giúp từ ai đó thích hợp, cũng có nghĩa đòi hỏi khám phá sâu xa hơn chính mình thông qua viết nhật ký, thiền định hoặc công việc tâm linh khác.

Hãy nghĩ về khoảnh khắc lối mình thi thoảng quên lãng, hoặc không mong đợi, và gỡ miếng băng dính, rồi nhìn sâu hơn để tạo thuận lợi nhất cho việc chữa lành rốt ráo. Liệu mình biết cách có thể thách thức bản thân đặt câu hỏi sâu xa, rồi khám phá bên dưới miếng băng dính dễ tạo cảm giác lừa mị?

Né tránh tìm hiểu cội nguồn hụt hẫng và thất vọng rất người cũng như lắm nỗi niềm lo âu phiền não hàng ngày khiến mình lơ đễnh hiện tại và dễ lựa chọn phóng tâm trí về phía tương lai cùng với khát khao mơ hồ ước gì hạnh phúc:

Thật bất khả đòi hỏi phải đảm bảo tương lai sung sướng khi thưởng thức ngay liền một khoảnh khắc thú vị đang là. Chúng ta không có sự bảo chứng đó. Những dự đoán giỏi nhất vẫn thuộc về tính xác suất hơn là sự tất định, và kiến thức tuyệt vời chúng ta nắm được là mỗi một người sống trên đời rồi ra sẽ phải trải qua khổ đau và chết chóc. Vậy thì nếu khó sống hạnh phúc nổi với tương lai bất trắc, chúng ta làm sao đoan chắc thích nghi đồng cùng thế giới hữu hạn vốn luôn là nơi chốn, bất chấp các kế hoạch tốt nhất, sự cố cứ việc xảy ra và cái chết chung cuộc sẽ đến.

Trạng thái bất mãn về giới: vẫn đầy phiền muộn và còn nhiều bỏ ngỏ…

Xem cái clip nhân Ngày Mồng Tám Tháng Ba thật thú vị và đầy ý nghĩa nhắc nhở nhiệm vụ bất khả chối từ.

“Bạn nghĩ mình là nam hay nữ?”
“Em nghĩ mình là nữ ạ”

“Điều gì định nghĩa một người phụ nữ?”
“Sự thông minh, sắc đẹp và sự nữ tính”

“Theo bạn ngày 8/3 Quốc tế phụ nữ có dành cho mình không? ”
“Có ạ”

“Tại sao?”
“Vì em được gia đình và người yêu ủng hộ, sống thật với giới tính của mình”

Những nỗi niềm như dưới đây tiếp tục khẳng định mọi sự không phải lúc nào cũng được ghi nhận, thỏa ý.

Em là gã đàn ông 34 tuổi đã lập gia đình và có một em bé rồi. Em từng có một bí mật là thích ăn mặc áo quần con gái hồi mới là nhóc con 5 tuổi; em nhớ mình cảm thấy thật tuyệt vời và sung sướng quá độ. Em tự trấn an rằng các cảm giác kiểu đó sẽ biến mất khi em lớn lên; khủng khiếp thay, các cảm xúc này lại phát triển thành ước ao là một người phụ nữ đích thực. Làm thế nào để em có thể cảm thấy giống như một người đàn ông bình thường? Việc này có cần điều trị gì không ạ?

Chia sẻ trên dễ gợi ý về cái mà giới chuyên môn trợ giúp gọi là sự không hài lòng, bất mãn, khó chịu về giới (gender dysphoria, GD). Thực tế, nhiều người vẫn bắt gặp các cảm giác vốn xuất hiện từ thời thơ ấu này; họ có thể thấy khá khổ sở, căng thẳng ghê gớm về mặt lâm sàng hoặc thiếu hụt trong nghề nghiệp, giao tiếp xã hội, các khía cạnh đời sống khác.

Hiểu cơ bản, lúc còn bé con, chúng ta thường nghe các nhóc nhiều lần thổ lộ ao ước mình là giới kia, hoặc thậm chí không ngừng tin tưởng mình đúng là như thế thật. Chúng hay mặc áo quần khác giới cũng như thích chơi trò, giữ vai tương ứng với giới kia; ngoài ra, các biểu tỏ còn có thể là sự chối bỏ mạnh mẽ các loại đồ chơi đặc thù hay trang phục dành riêng cho giới đó. Cũng có thể là sự ghét bỏ cơ thể và bộ phận sinh dục của chính mình. Khi bước vào giai đoạn vị thành niên, các triệu chứng này thể hiện thành ao ước là người thuộc giới kia, được đối xử như giới kia, và thậm chí sống ở ngoài thực như người thuộc giới kia; giai đoạn vốn phức tạp này sẽ làm cho trẻ như thế càng cảm thấy khổ sở thêm khi buộc phải đương đầu với các cảm giác và vấn đề bản dạng ấy. Cả người trưởng thành lẫn vị thành niên đều nảy sinh nhu cầu khát khao giải thoát mình khỏi các đặc trưng giới tính ban đầu và thứ phát rồi thường thêm đoan chắc rằng mình được sinh ra với giới tính sai lạc hẳn rồi. Ý nghĩ về chuyện mình cảm nhận về bản thân từ bên trong không hề sát khớp với cái nhìn bên ngoài có thể gây nên nỗi niềm đau đớn với không ít người; họ tìm đến sự khuây khỏa nhờ liệu pháp thay thế hormone (HRT), phẫu thuật và các thủ tục phức tạp nhằm thay đổi ngoại hình (tham khảo). Một số chỉ thấy thoải mái khi sống ngoài đời đúng như là người của giới kia, số khác thì thích tiếp tục với bản dạng giới tính đã được ấn định từ hồi mới chào đời.

Trạng thái bất mãn về giới từng được gọi là rối loạn bản dạng giới (Gender Identity Disorder, GID), có người thì quen dùng thuật ngữ là đối tượng chuyển đổi giới tính (transsexuals); hiện tại, có vẻ ‘những người không theo chuẩn về giới” (gender noncomforming) là thuật ngữ tốt hơn nhiều vì nó chỉ cho cả những ai không cảm thấy mình thuộc về bản dạng nam hay bản dạng nữ.

Nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới cho biết họ muốn mình ‘cảm nhận như một người đàn ông bình thường’ hoặc ‘cảm nhận như một phụ nữ bình thường’ tương thích với định hướng hoặc bản dạng giới họ từng được nuôi dưỡng. Tuy thế, mục tiêu của trị liệu không phải là thay đổi các ý nghĩ này mà bắt đầu trợ giúp người ấy quản lý ác các cảm xúc này tốt hơn. Trị liệu không nên nhắm vào việc mình nên cảm thấy hoặc hành động ‘như một người đàn ông” mà thay vào đó, giúp mình hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra cũng như hỗ trợ mình trong những lựa chọn mình ra quyết định (ví dụ, sống ngoài đời như một bản dạng giới đàn ông hoặc phụ nữ, hoặc có lẽ là giới tính lưng chừng, mơ hồ (‘genderqueer’). Tiếc thay, nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới bị trầm uất và lo âu khi cố gắng hoài giải và quản lý các cảm xúc kiểu thế. Đáng lưu ý, thường xuất hiện nguy cơ khá cao muốn tự sát với nhóm này. May mắn là hiện có rất nhiều tổ chức và nhóm hội sẵn sàng trợ giúp các bạn giải quyết các cảm xúc vướng mắc.

Các cá nhân chuyển giới có nhu cầu lớn lao cho những đổi thay về các khía cạnh xã hội, nghề nghiệp và luật pháp. Chắc chắn, vẫn còn định kiến dai dẳng và nặng nề liên quan với chuyện đang bàn, và bước chuyển thay đổi chẩn đoán từ GID sang GD là hướng đi đúng đắn. Tuy vậy, nếu không có các điều kiện ‘mang tính chẩn đoán’ thì lại dễ gây khó khăn cho những ai muốn tiếp cận dịch vụ chăm sóc ý tế khi họ cần thay đổi trong giao dịch về bảo hiểm, dù thực tế nó còn là câu chuyện chưa ngã ngũ.

Lời cuối. Bản dạng giới thì không phải là bản dạng tính dục (sexual idnetiy). Người gặp trạng thái bất mãn giới có thể ổn thỏa trong việc thích hoặc yêu người có cùng hoặc khác giới với họ. Với đa phần chúng ta không phải rơi vào trạng thái bất mãn giới, cần hiểu cả loạt vấn đề mà các bạn bất mãn giới phải đương đầu, giải quyết như dùng đại từ nhân xưng nào gọi mình, mang một cái tên không tương thích với giới của bản thân, quyết định vào phòng vệ sinh nào cảm thấy thoải mái hơn, điền đúng vào ô khi khai các mẫu đơn thư và giấy tờ, thủ tục hành chính thường nhật, v.v…

‘Giới tính theo quy chuẩn’ có thể quen được sử dụng để mô tả cách mình nhìn nhận và cảm thấy về bản thân và về hành vi của mình tương thích với bản dạng giới. Song không phải mọi người ai cũng đều được hưởng đặc quyền tưởng chừng đơn giản như vậy.

Hấp dẫn và kháng cự cùng những điều ngộ nhận khó ngờ

Những thời khắc, ngày giờ giời đất mưa gió bão lũ não nề như thế này đi kèm tin tức đăng tải tai nạn chết người, sự đời đổi dời bất nhất nên e chừng quá dễ gây cảm giác khiến thiên hạ cầu mong, nghĩ thế này mơ thế nọ, tâm trí cứ mê trôi vu vơ và không khỏi bám vào đẩy ra theo thói quen tưởng nghĩ bấy lâu.

Tỷ dụ nổi bật liên quan đến cái gọi là quy luật hấp dẫn. Hãy thử nhìn vào những gì đối lập với nó, tạm gọi là quy luật kháng cự chẳng hạn. Tin xấu là mình bị ‘hút vào’ những gì làm mình kinh hãi, dưới dạng cách này hay cách khác, lặp đi trở lại cùng thời gian cho đến lúc mình tập hợp đủ lòng từ bi (cho chính mình và/ hoặc cho người) cũng như trí tuệ để đương đầu điều đó.

Những gì mình kháng cự vẫn cứ còn đó thật tự nhiên. Những điều gây kinh hãi, lo sợ không bao giờ đích thị tự nó biến mất bởi vì nỗi niềm kinh hãi, lo sợ nằm trong lòng mình, cho dù mình có mặt ở nơi đâu. Một số người nhìn điều này như phương thức vũ trụ kích thích tăng trưởng, trong khi  mình nên nghĩ đúng đắn rằng đó chỉ là nghiệp và tri nhận của bản thân đang thao tác thôi: trình bày với mình về những gì đang hiện diện trong lòng. Các trải nghiệm dẫn dắt ta hướng tới giác ngộ hoặc thoát khỏi nó hoàn toàn tùy thuộc vào ta.

Tin tốt lành là dù sức mạnh của sự kháng cự sẽ là thành phần tạo nỗi đau đớn khi đương đầu, điều ấy hàm nghĩa các bài học ta tiếp thu được sẽ lớn lao. Việc thiết yếu chẳng những không buộc phải đương đầu quá mức mà còn cần tỉnh thức với những gì kinh hãi, lo sợ. Khi sự kinh hãi, lo sợ được trải nghiệm như nó vốn thế, điều gì đó thú vị xảy đến: sự hãi sợ, kinh hoàng tan rã, tiêu trừ. Khả năng là khi mình học hỏi để nhìn thấy sự kinh hoàng, lo sợ như nó là, mình sẽ nhận ra điều ấy khác biệt với tự thân sự kinh khủng, sợ hãi vốn rồi tất tiêu biến đi. Nỗi đau đớn do sợ hãi, kinh hoảng khá nhẹ nhàng ban đầu, song nó có thể trở nên mãnh liệt khi mình chống kháng nó. Đây không là nỗi đau của chính sự sợ hãi, kinh hoàng mà đến từ sự kháng cự. Với một số người, có mặt ở trong phòng chờ thì e dễ càng đau đớn hơn cả lúc đang gặp gỡ bác sĩ nha khoa.

Khi chúng còn chưa được nhận ra, các sự thật vũ trụ sẽ ‘thao diễn’ trong đời mình dưới các hình tướng bất định bởi vì các sự thật luôn luôn loanh quanh đâu đó. Khác hơn là các lý do thuộc nghiệp, “mọi thứ xảy đến vì một lý do”- (những) thứ mình chọn- vì vậy hãy lựa chọn hết sức cẩn thận. Không có dạng thức sinh thể siêu thông minh đang chơi khăm minh, chỉ là một dạng hoang tưởng ngẫu nhiên người ta rơi vào vì các cái bẫy tự mình tạo nên mà không hề nhận ra. Bất kể mình trải nghiệm đang bị trừng phạt chỉ vì bỏ quên giá trị đạo đức của nó và được tưởng thưởng khi mình học hỏi đích thị. Người ta sẽ không ngừng nắm bắt cơ hội để vượt qua các rào cản tâm linh cho đến khi mình làm sạch chúng toàn bộ: khi mình tự do thoát khỏi mọi niềm đau nỗi khổ.

@Cập nhật, 20.7.2014.

Nghiệp xấu không phải luôn là lực lượng không thể phát hiện, theo dõi được, ví dụ, sức khỏe kém lúc này có thể là do bởi các thói quen sinh hoạt không tốt được tạo ra và duy trì nghiệp xấu là sức khỏe kém; ngoài sự tụng kinh, cầu nguyện thì điều tốt không kém nữa là xem xét nhu cầu thay đổi các thói quen xấu. Người ta cũng có thể làm một số hành động tốt để tạo nghiệp tốt và giảm bớt tác hai của nghiệp xấu như làm từ thiện, phóng sinh, ăn chay,…

Về việc tin rằng các suy nghĩ tích cực thu hút nguồn năng lượng tích cực từ vũ trụ và mình nên giữ trong tâm trí ý nghĩ rằng sức khỏe bản thân sẽ tốt lên thêm mãi nhờ quy luật hấp dẫn. Thực tế, có nhiều phiên bản cho cái gọi là quy luật hấp dẫn và nhiều chỉ trích chuyện nó vận hành hay không. Phiên bản thông dụng nhất rằng mình nghĩ gì sẽ nhận được thế là không đích thị sự thật. Bởi vì suy nghĩ về điều gì đó theo quan điểm dự tính, ý định thì mới chỉ là một hạt giống. Có nhiều điều kiện cần thiết cho hạt giống lớn lên, đơm hoa kết trái. Ví dụ, hàng triệu người nghĩ và thậm chí mơ mình trúng số suốt một đời, song họ không bao giờ trúng số vì họ thiếu các điều kiện nghiệp của sự rộng lượng đã thực hiện trong quá khứ đặng nuôi dưỡng hạt giống giàu có được triển nở và biểu hiện theo cách này. Tương tự, với người đau ốm khao khát sống rốt ráo không hạn định cho đến khi chết khi mà thời gian của nghiệp đã đến hồi kết thúc.

Khi ai đó e ngại rằng anh ta được nhiều diều tốt lành hơn nhờ quy luật hấp dẫn mà anh ta không xứng đáng và các điều tồi tệ sẽ theo sau thì thực tế, bất kể thứ gì người đó trải nghiệm trong lúc này thì họ luôn xứng đáng trong lúc này, bởi vì quy luật nghiệp luôn luôn vận hành hết sức hoàn hảo. Điều ấy không có nghĩa người ta đang đau ốm thì không cần điều trị mà là ở giữa chuyện đang tìm kiếm sự chữa lành, bất kể thứ gì người ta đang trải nghiệm ngay lúc này là mang bản chất nghiệp, chứ không phụ thuộc việc xui rủi, may mắn bất chợt. Không có chuyện cùng lúc phục hồi và không xứng đáng về mặt nghiệp; như thế, nỗi lo lắng của anh ta về trạng thái nghiệp xía vào và tuyên bố “trả thù’ sẽ không bao giờ xảy ra.

Vậy đó, ý tưởng quy luật hấp dẫn đang vận hàng đích thị nhờ bởi không ngừng suy nghĩ về một điều gì đó là một lầm lạc lớn. Nguyên nhân cộng với các điều kiện mới thành tác động, ảnh hưởng. Các điều kiện là chính yếu và điều ấy bao gồm các nỗ lực siêng năng, cần mẫn trong nhiều dạng thức thích hợp khác nhau.

Nhận rõ ngu xuẩn khi cố thuần dưỡng tự do ngôn luận

Chọn lựa là các bài học. Trạng thái thiếu quyết đoán cơ chừng là hậu quả của nỗi sợ thất bại, và có thể nảy sinh cảm nhận rằng nhờ không làm gì hết sẽ hạn chế các cơ hội tạo lựa chọn sai lầm. Kỳ thực, khám phá các cảm nhận ngờ vực lại có  thể giúp người ta vượt qua tính thận trọng quá mức; e mình có thể nghĩ tới mọi thành tựu, tự hỏi bản thân kịch bản tồi tệ nhất khả dĩ, và cách nó ảnh hưởng đời mình. Người ta không chỉ cân nhắc các tiềm năng mất mát, thiệt thòi mà cả kiến thức bổ ích thu lượm được trên tiến trình thực hiện. Thay đổi quan điểm về tình huống phản ánh các thấu hiểu mới mẻ giúp người ta nhận ra tất cả lựa chọn có thể dẫn dắt họ tiến về thành tựu tích cực, vì mình có thể luôn đạt được một hiểu biết sâu thẳm hơn về chính cuộc sống.

Thanh lọc, cố gắng tẩy trừ rồi tuyên phạt blogger vì anh, chị ta chọc giận, công kích mình càng quá dễ củng cố một sự phá cách đáng lo sợ. Bởi vì quả sắc sảo ý tưởng cho rằng kẻ nào muốn ném vứt sự tự do của một quốc gia thì thường phải bắt đầu bằng việc bắt thần phục tự do ngôn luận.

Tuy nhiên, cũng giống như các dạng tự do chính trị khác như tự do tín ngưỡng và tôn giáo, và tự do báo chí thì tự do ngôn luận, dĩ nhiên, không hoàn toàn tuyệt đối. Ta không thể la lên “Cháy!” lúc mọi người đang xem kịch trong nhà hát khi thực tế không có điều gì như thế cả; cũng như mình không thể dứ dứ nắm tay đe dọa trước khoảng không gian mũi người khác được. Nói khác đi, tất cả chúng ta tự do trong các giới hạn nhất định.

Việc luôn luôn thế và trong xã hội dân sự luôn cần phải thế. Hầu hết chúng ta không lưu ý nhiều tới các giới hạn ấy vì đa phần chúng ta được lập trình thậm chí để chẳng hề nghĩ tới việc vượt thoát khỏi chúng. Và ngay cả khi ai đó muốn đấm vào mũi người khác, sự đe dọa bị trừng phạt không là lý do duy nhất khiến họ ngừng lại (hy vọng thế) mà còn là cảm nhận rằng chúng ta không nên xâm phạm vào quyền của người khác chẳng bị đấm vào mũi.

Tiến bộ trong nghiên cứu khoa học thần kinh cũng nhanh chóng nhóm hội tương tự. Khái niệm ‘vô thức’ của Freud hoàn toàn có một nền tảng thần kinh, và bây giờ chúng ta biết thành phần lớn nhất của suy tư và ý nghĩ chúng ta đích thị diễn ra bên dưới cảm nhận ý thức của chúng ta. Và điều đó thật may mắn cho chúng ta. Bởi như tác giả Thinking, Fast and Slow chỉ rõ, ‘hệ thống 1’ (người suy tư nhanh chóng và vô thức) đảm bảo sống còn; ‘hệ thống 2’ (phần tâm trí được định dạng là ‘chúng ta’) bị quy định hết sức mạnh mẽ bởi năng lực làm việc của hệ thống 1. Nếu dành thời gian, chúng ta có thể phóng thích mình khỏi một số thứ thuộc hệ thống này song không thể hoàn toàn thoát được, và không phải lúc nào cũng làm được. Sự thật khó nhằn là ‘chúng ta’ không thoát ra khỏi các bản ngã vô thức của chính mình; dĩ nhiên, chúng ta biết điều này từ lâu rồi trước khi Daniel Kahneman đưa ra hai khái niệm trên…

Và cơ chừng chúng ta cũng không thực sự có tự do ý chí. Nghiên cứu chỉ ra rằng xung năng để thực hiện các hành động cơ bản (giơ một ngón tay, chẳng hạn) nảy sinh trong não chí ít một giây trước khi chúng ta nhận ra hoàn toàn, ý thức đủ đầy về ước muốn chuyển động nó. Dường như tâm trí vô thức, hiểu biết chức năng bị tước đoạt của ngôn ngữ, có thể kiểm soát rất lớn đến việc ra quyết định có ý thức nhiều hơn là chúng ta tưởng.

Chẳng hạn, chúng ta không đơn giản quyết định dừng cảm thấy buồn bã hay trầm uất. Tuy thế, có các con đường gây ảnh hưởng khác đối với các tâm trí vô thức vẫn đang hiện diện. Chúng ta dẫu không thể, chí ít ngay tức khắc, ngừng ngắt bản thân khỏi cảm giác tức giận (khác biệt, dĩ nhiên, với chuyện ngừng bản thân không hành động khi đang tức giận) song chúng ta có thể, theo thời gian, truy tìm những điều gì đào sâu sự tức giận rồi tháo ngòi nổ, giảm thiểu khả năng gây tức giận của chúng lên bản thân mình. Do đó, chúng ta thực tế có khả năng rèn tập một dạng tự do gián tiếp, thứ tự do từ các tâm trí ý thức của chúng ta để điều khiển chiều kích cơ bản đời sống nhờ rèn tập các bản ngã vô thức của mình đi vào con người mà các bản ngã ý thức muốn chúng trở thành. Bằng cách đó, dù chúng ta có thể không ý thức đủ đầy các cú đấm thì các cú đấm sẽ chỉ được tung ra khi chúng ta tán đồng nên thế.

… Bi kịch rất chết người của tự do ngôn luận và sự gia tăng thói cố chấp, không khoan dung.

Vượt qua nỗi sợ bất tri giúp chúng ta đưa ra các quyết định. Nghĩ về điều tồi tệ nhất có thể xảy đến quả là một tiến trình kinh khủng, song khi đối đầu với nỗi sợ hãi, nắm lấy nó khiến chúng ta nhụt chí. Cho phép bản thân nhìn sự tồn tại của bản thân như một loạt các bài học cần biết hơn là các quyết định phải đưa ra thật chính xác sẽ làm thay đổi cuộc đời chúng ta. Thay vì bị tê liệt bởi sự do dự, chúng ta bắt đầu thưởng thức các hương vị của những trải nghiệm mới mẻ nảy nở từ các lựa chọn của bản thân. Nhìn mỗi một quyết định tạo ra như cơ hội để học hỏi, thay đổi và lớn lên tất không khó thấy rằng các lựa chọn của chúng ta sẽ dẫn dắt mình tới một sự thức nhận mới về chính bản thân và cả thế giới xung quanh.

Chết kiểu Vietnam: chính trị, tâm lý, và quyết định kết liễu bản thân

Cái chết của một ông tướng công an vốn mang trọng bệnh sẵn trong người rồi tiếp tục làm dấy lên làn sóng dư luận bàn tán theo điệu dè bỉu sâu cay, phản ánh hơi hướng lý thuyết âm mưu và lần nữa, chứng tỏ sự bất mãn xã hội vượt trên cả kết quả xử lý về một vụ án cụ thể. Dĩ nhiên, cái chết đau đớn ấy còn mang cả tính tôn giáo của chính trị về việc kết- thúc- cuộc- đời.

Riêng tôi lại thấy lòng mình nhói lên cảm giác khó chịu khi có một cái chết khác bị bỏ lơ không ai thèm tham gia trao đổi cả: bị cáo tự tử vì xấu hổ.

Nhìn chung, chúng sinh cảm thấy chẳng dễ dàng tẹo nào để nói về cái chết và các hình thức quyên sinh nọ kia; nhiều người vẫn thừa độ tự tin để phán quyết tắp lự ngay rằng họ sẵn sàng trả một giá lành mạnh để kéo dài đời mình lâu hơn, tốt đẹp hơn; đoạn cuối đời thường là giai đoạn kéo dài ra vốn mang theo một cái giá nặng nề thuộc cảm xúc, thể lý, đạo đức, và tài chính khiến cho cái chết trở thành điều cấm kỵ lớn lao nhất. Khái niệm một ngày bỗng biến mất (dù đẹp giời hay không) đích thị đối lập  với nhiều giá trị văn hóa được xác lập quen thuộc bấy lâu; sự khởi lên ghê gớm của cái tôi càng làm tăng cao nỗi niềm phiền nhiễu đặng thức nhận trắng phớ ra rằng các bản ngã cá nhân của chúng ta sẽ không tồn tại lâu thêm được.

Đương đầu với nỗi sợ hãi muôn phần về cái chết đòi hỏi phải hiểu biết rồi thực tập nghiêm cẩn. Và khoảng thời gian đầu đời định hình thái độ chính trị của chúng ta, dựa trên môi trường bố mẹ dạy dỗ.

Vậy nên tự sát– tất thảy các dạng thức tự kết liễu đời mình–  là hành động chính trị, nó hàm ý chỉ trích xã hội? Ở đây biểu tỏ hai hệ thống giá trị kiến tạo hai con đường khác biệt nhằm giải quyết các cảm xúc nảy sinh: xấu hổ và tội lỗi. Theo đó, luân lý xấu hổ là hệ thống giá trị đạo đức mà trong ấy điều ác nhất là ô danh và nhục nhã và điều thiện lành nhất thì ngược lại, chẳng hạn, kiêu hãnh và vinh dự. Còn luân lý phạm tội là hệ thống giá trị đạo đức mà điều ác nhất là tội lỗi và điều thiện lành thì ngược lại, chẳng hạn, sự trong trắng.

Cái chết do đó, chứa đựng thành phần chính trị nhằm buộc tội xã hội thiếu lòng trắc ẩn và không đủ khả năng đáp ứng đủ đầy các nhu cầu của công dân. Mỗi trường hợp tự tử vì vậy, là một hành động chính trị đang ủy thác với lời tuyên bố tuyệt đối rằng xã hội đang khiến cho một số kẻ trở thành vô dụng còn một số người khác thì đáng được vinh danh.

Điều làm nên bản tính người của chúng ta

Rồi qua mùa mùa đắp đổi, đời người tựa sông lở bồi...
Rồi qua mùa mùa đắp đổi, đời người tựa sông lở bồi…

Sau quỷ tiết Halloween í ẹ của dân chúng khắp nơi, cái đọng lại riêng tôi gần đây là buổi nói chuyện tại Viện Goethe; sự kiện này khiến bản thân mong ngóng tương tự nỗi háo hức cả ngày hội thảo về an sinh xã hội do một học viện thuộc hệ thống trường Đảng tổ chức.

Theo thống kê- xác suất kiểu gì đó, hôm nay Việt Nam có công dân thứ 90 triệu. Thời điểm hợp lý để cầu mong bé gái ấy sẽ được thực hưởng đầy đủ các quyền con người như hiến chương Liên hiệp quốc quy định.

Nền kinh tế nước nhà thì xám xịt và mờ tối. Các bộ dính dáng sâu xa với vụ nhà ngoại cảm tìm mộ liệt sĩ (trực tuyến, làm cứ liệu tham khảo; quan điểm quân phiệt trong học thuật). Và câu chuyện “miếng nhục” (cập nhật) sẽ được chọn thêm nhằm gợi hứng cho những gì sắp chia sẻ ở đây.

Dư luận ít nhiều la ó, chửi rủa, ca thán và đồng thời tách biệt mình khỏi cộng đồng. Ai cũng bức xúc và cảm thấy thật tệ hại hay rằng phi lý quá… Vậy, điều gì làm nên bản tính người của chúng ta?

Hiện tại, nếu căn cứ trên kết quả nghiên cứu nắm biết thì thấy tri nhận bản thân qua gương soi (đặt để sự tự nhận thức) là khả năng học hỏi được; thậm chí trẻ nhỏ ở một giai đoạn phát triển đặc thù, việc biểu đạt điều này cũng khác biệt tùy thuộc vào mức độ thông minh, nền tảng văn hóa, và các điều kiện kiểm nghiệm. Phát hiện góp phần khẳng định rằng khả năng này dường như tồn tại trên chuỗi tiến hóa liên tục.

Và có nhiều chứng cứ (chẳng hạn, đây) thêm hiểu biết về nhận thức của khỉ dã nhân; chúng tri nhận không gian, định lượng, phân loại, tính nhân quả, và chú ý theo những cách phức tạp hơn nhiều so với chúng ta biết đến trước đây.

Vậy, câu hỏi vẫn còn đó: những gì khiến chúng ta khác biệt?

Theo nhà nghiên cứu Michael Tomasello thì cơ sở trả lời hoặc chí ít thành phần căn bản để giải quyết, có thể nằm ở năng lực hợp tác của chúng ta. Trong các thực nghiệm với các loài khỉ dã nhân và trẻ nhỏ, nhóm tiến hành đã phát hiện một số điểm khác biệt lý thú chỉ ra cách chúng ta liên kết nhau nhằm đạt được kết quả.

Các loài dã nhân, bao gồm cả chimpanzees và bonobos, hợp tác để đạt được thành tựu (thường là nhằm kiếm thức ăn). Trẻ em cũng làm điều tương tự; tuy thế, trẻ thực hiện theo các cách khác hẳn chẳng hạn, trẻ đổi hướng theo bối cảnh hợp tác trong khi các loài dã nhân thì không. Trẻ thích tìm tòi cách hết sức hợp tác, trong khi các loài dã nhân thì chỉ thích điều đó khi chúng có thể thôi. Trẻ hiểu nguyên tắc, vai trò của kẻ hợp tác, và có thể chơi đóng vai rất nhanh mà không cảm thấy quá khó khăn. Các loài dã nhân phải học lại vai mới nếu chúng chưa từng thấy trước đó, v.v…

Dĩ nhiên, những điểm khác biệt này có thể được quy cho số lượng các thứ này kia, song Tomasello tin rằng con người tiến hóa rất đặc thù khi mắc bận vào “dự tính kết nối” là điều mà các loài dã nhân không có được (đọc thêm). Trẻ sơ sinh sẽ chỉ một đối vật đủ để rồi người lớn nhìn vào đấy và kiến tạo nên sự chú ý mang tính chia sẻ; chúng cũng sẽ chỉ một đối vật với người lớn mà không làm ra bất kỳ đòi hỏi nào chứng tỏ muốn chơi đối vật đó: chúng chỉ muốn chia sẻ sự chú ý. Điều này được gọi là động lực mang tính thông tin, và nó dường như chỉ hiện hữu ở loài người.

Những hành động mang tinh thần hợp tác này “tạo nên nền tảng có ý chia sẻ sẵn nhằm truyền thông hợp tác”, và Tomasello tin rằng những sự thích nghi nhận thức khởi lên đối với sự kết nối cố ý này nằm ẩn duy nhất dưới các tiến trình nhân loại như nhận thức, truyền thông, văn hóa, và đạo đức.

Những sự thích ứng nhận thức này rốt cuộc đến từ đâu? Chúng khởi lên khi cạnh tranh thực phẩm tăng cao, khả năng là do một số loài dã nhân lớn rời khỏi cây để xuống đất; con người đáp ứng nhờ phát triển các năng lực hợp tác này đủ khiến họ có thể săn bắn rộng hơn và tiếp tục phát đạt.

… Đọc các tin tức trên báo chí điện tử quốc nội, tôi không khỏi hình dung một bối cảnh bao trùm hơn, chứ tuyệt lười biếng đặng đơn giản áp lia lịa mỗi cái lý thuyết tâm lý đám đông. Lần nữa ngẫm nghĩ về mức độ thông minh, nền tảng văn hóa, và các điều kiện kiểm nghiệm, chẳng quên liên tưởng đến thời đại kinh tế sức chú ý.

Gì thì gì, rõ ràng, khi sống trong trạng thái phục vụ cộng đồng của mình là ta cũng đang thuộc dạng một công dân tốt của hành tinh trái đất rất đáng trân quý.

“Bao giờ cho đến tháng Ba”…

Tím thẫm không âm thầm chết lịm
Tím thẫm không âm thầm chết lịm

“Bao giờ cho đến tháng Ba

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng

Hùm nằm cho lợn liếm lông

Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi

Nắm xôi nuốt kẻ lên mười

Con gà, be rượu nuốt người lao đao…”

Bạn chắc từng một lần nghe, thậm chí thuộc lòng bài đồng dao quá ngược đời và nhố nhăng như vậy rồi đó mà.

Đó là ví von vần vè khá xưa cũ kèm chất cà tửng được tôi cố ý lấy làm minh họa cho một luận điểm hết sức đúng đắn đậm tinh thần nghiêm túc thời đại rằng, sự thật tự thân nó chẳng biện hộ, nói lên được điều chi cả. Và đó quyết không phải là điều nói dối đâu!

Huyền Chíp, cuốn sách của cô í và những phát biểu, bàn cãi thuận, chống của hơn hai bên lại là một ví dụ thời sự cho điều thượng dẫn; thậm chí, nó còn có thể sử dụng để cho ta hiểu ra điều trần trụi vừa  đau đớn vừa đáng cười phá lên này: hiếm khi có một sự thật duy nhất.  Nhân tiện, trên tinh thần yêu quý TED, tôi khuyến cáo bạn dành thời gian xem clip do Chimamanda Ngozi Adichie trình bày (ngay bên dưới hình ảnh là bản dịch tiếng Việt).

Câu chuyện cô gái da nâu mới đôi mươi xách ba lô kèm 700$ qua 25 quốc gia hình như cũng góp phần làm cho một tuyên bố khác bị mất tác dụng. Ý là, thông qua sự tham gia ngộ nghĩnh của cả ông lẫn bà giáo sư, phó giáo sư thuộc hai chuyên ngành khác hẳn nhau trong các cuộc gặp gỡ truyền thông, báo chí, chúng ta nhận ra sự phản phé chết người: khoa học không hề trung lập về mặt chính trị. Đây là lập luận chứng minh sự tương phản gây tê tê, trên một chút buồn nhẹ ấy: mọi thứ về khoa học hiển nhiên sáng rõ là mang tính chính trị. Điều này bao gồm các kiểu câu hỏi được đặt ra, phương pháp luận đặc thù dùng nhằm cố gắng phát hiện các câu trả lời, và bối cảnh xã hội được sử dụng làm khung tham chiếu cho các phát hiện. Một khoa học gia nói rằng ông/ bà ta ‘khách quan’ thì kỳ thực hoặc là nhân vật ấy dối trá hết sức điệu nghệ hoặc không hề nhận ra cách thức định kiến của bản thân đang tác động đến công việc mình tiến hành như thế nào. Cả hai khía cạnh ấy đều là thứ trường hợp kịch bản tồi tệ nhất (!). Từ viễn tượng của khoa học tiêu dùng, các khoa học gia cần 1. nhận thức về các định kiến của bản thân (tương thích với chủ đề nghiên cứu), và 2. hoặc tán trợ việc chắc chắn định kiến của họ không được tòi ra trong phương pháp luận nghiên cứu/ viết xuống, hoặc phải minh bạch về định kiến của họ đủ để các độc giả có thể tạo lập một ý kiến, quan điểm mang tính am hiểu.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Theo truyền thống phim truyền hình nhiều tập của nhà đài VTV, những dây dưa dính mắc vẫn còn chưa thôi diễn bày tội nợ. Một cách tình cờ mà định mệnh, bỗng dưng câu chuyện của Huyền Chip và cuốn sách kể lại chuyến lêu bêu dọc ngang thế giới đã trở thành đề tài học thuật thú vị thu hút các tinh hoa xứ Việt khắp hang cùng ngõ hẻm, kể cả kẻ còn đang dùi mài kinh sử ở xứ người hay hằng hà sa số vị đang hưởng lợi nơi quê nhà dấu yêu sau khi từ ngoại quốc trở về: khoa học tuy tiếp tục là trò chơi hay nhất tại thành phố, thủ đô song các phát hiện nghiên cứu tự thân chẳng chứng minh đúng đắn được vụ chi cả.

Thoát khỏi bối cảnh phù hợp, các tuyên bố rất dễ xiển dương điều xấu xa bất chấp dự tính tốt lành của người phát ngôn; không có bối cảnh, kết luận tưởng chừng tuân thủ logic nghiêm ngặt lại góp phần nảy nòi hậu quả là khiến cho chuyện rời bỏ bối cảnh ‘thấm đầy sự thật” trở thành thứ phá hoại và hoàn toàn bất công.

Đọc đến đây mà bạn vẫn còn tỉnh táo thì tôi chỉ xin thêm lời cuối rằng, một tuyên ngôn chống lại sự thật như trên không hề chứa đồ dối trá tí nào đâu.

Sống tách biệt và cô độc: Thực sự “biết” một người thuần túy chỉ dựa trên chẩn đoán ?

Mùa hạ tuổi thơ rong ruổi, trên từng rơi rụng ơ thờ, mơ hồ hơi thu ghé lại, dọc dài dáng đứng buồn vui...
Mùa hạ tuổi thơ rong ruổi, trên từng rơi rụng ơ thờ, mơ hồ hơi thu lùa lại, dọc dài dáng đứng buồn vui…

Câu chuyện về hai cha con ông Hồ Văn Thanh và Hồ Văn Lang tưởng là thân phận cá nhân song đích thị dính dáng sâu xa tới chính sách định canh, định cư đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Không phải là hiện tượng quá chừng xa lạ hoặc độc sáng duy nhất, sự tách biệt và cô lập xã hội đó đây cứ khiến người ta bỏ làng, sống trong hang đá; có thể tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới (người rừng ở ngoại quốc).

Lần nữa, vấn đề trả về hay hòa nhập đi kèm với nỗ lực của chính quyền xây nhà, nhập hộ khẩu (cập nhật: thổ lộ cách sinh tồn giữa đại ngàndựng chỗ ở mới) đặt định rõ ràng trạng thái chung rằng con người ta đơn độc nhưng không cô đơn; bởi hơn 40 năm, cha con nhà họ Hồ đã yên ổn sống đời tự cung tự cấp trong rừng sâu, từ chối tiếp xúc với cộng đồng thân tộc.

Và đây còn là câu chuyện minh họa cho việc người ta tin tưởng vào chính quyết định của bản thân, đồng thời cũng cảm thấy quyền lực qua sự kiện rằng họ đang nắm lấy hạnh phúc trong đôi tay mình.

Họ trở về và trở… bệnh; người thân xác quyết rằng cha tôi không phải người rừng; công luận thì biết tới quan điểm của giới khoa cử, đại diện khảo cổ, quan chức giáo dục, nhân danh nhà văn, tiếp cận theo góc nhìn dinh dưỡng, cánh báo chí dĩ nhiên liên tục theo vết “người rừng” và kiên trì ước mơ “giải mã” dựa trên tập tục, giấc mơ kỳ lạ.

Thực tế, việc ẩn dật vẫn hay xảy ra bất kể  lứa tuổi (người già ẩn dật); một dạng tỵ nạn, lưu vong, xa lánh và cách biệt với xã hội; những con người mà ‘dấu cô độc đã hằn ghi trên trán’. Điều này đặt ra việc nghiêm túc cần phân biệt giữa sự cô đơn và tách biệt.

Theo một nghiên cứu dài hơi khá thú vị thì  được xem là cách biệt xã hội (social isolation) khi hơn một trong các điều kiện dưới đây được đáp ứng:

  • sống một mình
  • không bao giờ ra khỏi nhà
  • không có bà con thân thuộc
  • không thăm viếng bất kỳ ai
  • không tiếp xúc với hàng xóm, láng giềng
  • ở một mình hơn 9 tiếng mỗi ngày
  • láng giềng gần nhất cách tầm trên 500m (50 yards).

Để xác định người được xem là đơn côi, cô độc (loneliness) thì nhóm nghiên cứu dùng các tiêu chí sau:

  • suốt ngày cảm thấy cô đơn
  • ước ao có nhiều bạn bè hơn
  • không nhìn nhận đủ bạn bè hoặc bà con thân thuộc
  • không có tâm tình tri kỷ
  • không có bạn bè thực sự sống gần bên
  • không gặp đủ người
  • không có một ai để đề nghị che chở
  • trải qua kỳ Giáng sinh trước tủi thân và cô độc

Giờ hãy xem xét người được phân loại rất khách quan là cách biệt song không cô đơn. Họ trông thế nào ?

  • thích thú với việc bầu bạn với riêng mình; họ thường lặng lẽ hoặc dè dặt
  • họ có quan hệ thỏa mãn với bạn bè hoặc hàng xóm, hoặc họ luôn duy trì việc sống với bản thân
  • trong mẫu nghiên cứu ở đây, tất cả họ đều không có con cái
  • là những nhân cách tự thấy mình đủ đầy
  • lựa chọn việc trải qua mùa Giáng sinh trước một mình

Thế còn người không tách biệt song đạt điểm số về cô đơn thì sao?

  • họ đang chăm sóc một người phối ngẫu phụ thuộc và ít nhờ vả, trợ giúp
  • họ sống với một đứa con trưởng thành rồi và đang làm việc toàn thời gian
  • họ trải nghiệm cái chết của vợ/ chồng hoặc các bạn bè mình
  • họ chuyển chỗ suốt thời gian nghiên cứu
  • sức khỏe của họ trở nên sút kém đi
  • không ai viếng thăm họ
  • họ không cầu xin sự giúp đỡ

Một vài dòng cuối trong báo cáo nghiên cứu trên là như thế này.

 … thật sai lầm để giả định rằng cô độc nên luôn luôn được xem là đối tượng cần trợ giúp và thay đổi. Cô độc có thể liên quan với một nguy cơ lớn hơn của những tình huống khẩn cấp chưa bị phát hiện ra, song nó chắc chắn là nguy cơ nên được giảm thiểu và không phải là tự thân sự cô độc vì sự cô độc có thể được ấp ủ trong lòng.

Đến đây, câu chuyện hiện sinh lại dễ khiến thiên hạ nghĩ tới ranh giới của sự bình thường, vốn quen được xã hội mặc định ít nhiều. Bài lần tới sẽ chỉ ra cụ thể tri giác của nhà tâm lý học lâm sàng về người mắc rối loạn tâm thần.