Điều thân chủ cần

Quên mật khẩu cài then, nhờ gió mùa nhắn lại...
Quên mật khẩu cài then, nhờ gió mùa nhắn lại…

Sự thật, điều hầu hết thân chủ tham vấn, tâm lý trị liệu cần thì vượt xa hẳn yêu cầu được can thiệp bằng thuốc men và/ hoặc tái cấu trúc nhận thức, vốn là hai phương thức thực chứng thông dụng nhất có thể cung cấp.

Vì mỗi người thảy đều kiếm tìm ý nghĩa và sự bình yên. Họ cần và xứng đáng được trợ giúp vì các khủng hoảng đau đớn, kinh hoàng, đầy hiểm họa hoặc thấm đẫm hiện sinh, đương đầu với ‘đêm tối của tâm hồn’.  Họ cần một phương pháp tâm lý giá trị đủ khiến họ đương đầu hiệu quả với những con quỷ ẩn dụ, cơn tức giận và trạng thái thù hận kiềm nén, và thực tế tồn còn của tội lỗi. Họ cần tiếp cận một thứ tâm lý trị liệu nhằm đặt câu hỏi đúng, và không e ngại đi theo đường hướng tâm linh. Họ cần một kiểu tâm lý trị liệu phục hồi tâm hồn mình.

Hơn một thế kỷ qua, từ nguyên Hy Lạp ‘psyche’ đã bị diễn giải sai lạc khi chỉ mang nghĩa là ‘tâm trí’ (mind); hậu quả, tâm thần học, tâm lý học và tâm lý trị liệu- nghiên cứu và chữa lành tâm hồn- chủ yếu quan tâm tới tâm trí mà thôi (bao gồm ý thức hoặc tư duy, tri giác, ký ức, tưởng tượng, ý chí và cảm xúc) và hành vi con người. Song thuật ngữ cổ điển ‘psyche’ chứa đựng biểu tượng hóa xưa cũ là đời sống, tinh thần, cái tôi hoặc tâm hồn. Những gì khách hàng lựa chọn dịch vụ tâm lý trị liệu cần bây giờ là tâm lý trị liệu đích thực.

Dù chúng ta hiểu biết rất nhiều về trí nhớ, thực sự chúng ta không hiểu mức độ tương tự về trầm cảm chẳng hạn. Tất cả chúng ta có ký ức ngắn hạn về những gì mình cần cho một giai đoạn ngắn, như danh sách vật dụng cần mua trong tiệm tạp hóa hoặc nơi gửi xe máy. Song bằng cách nào và tại sao mọi thứ được mã hóa thành ký ức dài hạn thì có thể vẫn còn là một bí mật. Rồi, tâm trí cứ giấu giếm. Các ký ức này có thể thuộc giác quan, phong nhiêu với các cảm xúc. Nhiều trường phái tư tưởng hàm ý nhờ xử lý chúng mà ta vén lộ các bí mật của tính cách hoặc thay đổi hành vi.

Song lần nữa, cơ chừng bất khả. Tính hiệu năng của phân tâm học luôn vẫn sơ sài lắm. Trị liệu dùng lời nói dài hạn giữ vai trò nhất định song với nhiều người, khoảnh khắc bừng ngộ sẽ không trực tiếp nảy sinh trong sự thay đổi hành vi. Buồn thay, nào dễ sở hữu thần dược.

Liệu rằng chúng ta nên cởi bỏ mọi tấm mạng che chắn? Dù hiểu biết tạo nên thay đổi, song căn bản là hành động. Nếu có thể phát hiện cái gì đằng ấy, chúng ta nên gắng sức phơi tỏ; cơ mà với một ký ức tổn thương, đau đớn đã kiềm chế quá lâu thì thông thường tốt hơn hết là để mặc?

Dẫu rằng nhiều điều có thể xích gần ấm áp bên dưới các tấm khăn che, trải nghiệm đời sống hay nhất lại theo chiều thẳng đứng. Nếu có thể sờ chạm được một số đồ đồng nát, e nên dồn lực để loại bỏ hết chúng. Không có trải nghiệm nào trong đời mà chẳng hề vướng bận sầu khổ, bất kể mình muốn hay không; song tốt nhất bỏ qua một số miếng tảng, u bướu khó nhằn.

Nếu chú mục bất tri ghê gớm vào các nỗi niềm sầu khổ, chắc chắn mình sẽ bỏ nhỡ cơ hội triển nở thật thiện lành.

Thời gian để bay vội

Sao từ bùn vươn lên mà các tao nôi hồng vậy...
Sao từ bùn vươn lên mà tao nôi hồng đến vậy…

Đồng hồ chỉ 23 giờ 51 phút.

Đôi khi dễ thương là không đủ… Tuy thế, cơ chừng càng dễ thương thì càng nhiều kẻ mong đợi, kỳ vọng; dường như không thật ổn để tán thưởng hoặc lờ đi nên bạn cố gắng thêm chút, lần nữa. Rồi có vẻ càng bộc lộ, càng nhiều người nắm lấy. Đôi khi giống đường một chiều vậy. Không thể hoặc chẳng còn cơ hội thay đổi. Kết thúc rốt ráo, hoặc lửng lơ nửa chừng và vu vơ bên lề là nơi sẽ tìm thấy mình ngơ ngác.

Không có thời gian đúng mà mọi lúc đều đúng thời gian. Chuông trong đêm khác biệt hẳn so với ban ngày, dù cả hai thời khắc nó đều câm lặng. Danh sách các việc cần làm luôn kéo dài thêm đi kèm thời gian rơi rớt… Song lúc ngừng bặt giữa đêm, có thể nghe thấy các ý nghĩ bám lấy những gì nhất thiết hoàn thành; với mỗi dính bám, các điều thứ dần rõ ràng và ta biết cách thức cùng thời điểm cũng như khi nào lại pha lẫn vào tĩnh lặng của vương quốc bóng đêm.

Nếu cho phép các đồng vọng của nghi hoặc lên ngôi, ta sẽ tiêu hết cả đời trong trôi băng mơ mộng dĩ vãng hoặc ước ao đạt đến ở vị lai. Nắm chặt khoảnh khắc đang có ít ỏi để hành động, và thời gian đó luôn là ở đây và ngay bây giờ.

Thời gian để bay. Đó là thời gian vượt trên việc bán hàng và đầu tư cho bản thân. Nhỡ nhớ nhung hàng họ thì luôn có sẵn các tờ bướm quảng cáo hứa hẹn nhiều hơn về cùng một điều đã rõ. Không đòi hỏi phiếu thưởng hiện vật.

Thi thoảng đôi ngày thấy mọi vật rối rắm hết thảy. Điều giản đơn trở nên quá phức tạp khi ta nghĩ, suy nghĩ lại và suy nghĩ mãi. Tốn lắm thời gian suy tư nên làm gì, suy nghĩ quá mức hiếm khi tạo tác hay ho điều chi ngoài trạng thái rối rắm nguyên thủy khó lường định độ dây dưa. Khi đầu óc sáng tỏ, dễ dàng phát hiện mình đã bị tống ngoài đường đúng trong vài khoảnh khắc bé tẹo. Đơn giản.

Khuyết tật, trục trặc, thiếu hụt, khó khăn, và một nửa của sự hòa hợp: điều có thể hiểu không hề đơn giản ngay cả khi đã thấy sờ sờ trước mặt…

Lòng thôi tơ tưởng, sông trôi muôn hướng...
Lòng thôi tơ tưởng, sông trôi muôn hướng…

Trạng thái khuyết tật (disability) cùng vô vàn biểu hiện trục trặc, thiếu hụt, rắc rối, khó khăn, bất ổn, … là chủ đề quá dễ khiến thiên hạ chú ý nếu truyền thông cố tình khai thác. Hai vụ đình đám gần đây ở trong nướcngoại quốc càng khiến công luận bàng hoàng về những ví dụ dính dáng sâu xa tới trạng thái định kiến, phân biệt đối xử và mẫu rập khuôn.

Từ “khuyết tật” trỏ điều rõ ràng như chuyện di chuyển khó khăn hay trục trặc cảm quan kiểu bị  câm điếc, mù lòa chẳng hạn; song thực tế, khuyết tật còn bao gồm cả bệnh tiểu đường, nghe kém, rối loạn giấc ngủ, đau mạn tính hoặc viêm khớp, và kể cả rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) bởi vì tất cả các trạng thái ấy có thể quấy nhiễu, phá vỡ các hoạt động hàng ngày. Mình có thể gặp một sinh viên mắc khó khăn về đọc (learning disability) cần thêm thời gian làm bài kiểm tra đủ khiến mình tự hỏi chẳng rõ khái niệm ‘khuyết tật’ có hợp pháp không đây. Sinh viên gặp khó khăn học đường này dễ trải nghiệm mức độ hụt hẫng rất cao và kết quả học tập khá tệ nhưng lại cứ mang giả định rằng năng lực bản thân vốn thấp tè thế thôi. Một người mới tiến triển trục trặc về khả năng nghe có thể đề nghị mọi người nói to lên hoặc lặp lại câu cú song người này không kết nối với trải nghiệm là mình đang mắc mội khuyết tật; người ấy cho rằng ấy chỉ là biến thể trong lắng nghe thôi hoặc nghĩ do môi trường khiến việc nghe khó khăn…

Nếu họ chưa bộc lộ, nào ai dám chắc kẻ đấy bị một khuyết tật vô hình. Với nhiều định kiến và phân biệt đối xử ghê gớm, quyết định bộc lộ một khuyết tật vô hình với tha nhân e sẽ đè nặng tâm trí rất kinh khủng, khiến nảy sinh nhiều thách thức ghê gớm về mặt xã hội lẫn công việc; chuyện che đậy gây ảnh hưởng tiêu cực về sức khỏe  thể chất và tinh thần; ngược lại, thái độ cởi mởi giúp người trong cuộc tìm thấy rồi phát triển mạng lưới hỗ trợ xã hội với đối tượng cùng hoàn cảnh hoặc trải nghiệm.

Thực tế rõ ràng là người quản lý, thầy cô giáo, và nhiều tầng lớp khác nên nhận ra các thách thức đặc trưng liên quan với dạng thức khuyết tật vô hình. Với nhiều khuyết tật vô hình hay gặp,  thực tế đối tượng cũng chẳng hề tự quan sát thấy các triệu chứng tâm lý hoặc thể chất họ đang trải nghiệm.

Câu chuyện về người đàn ông 32 tuổi đang có vợ con Nick Vujicic chỉ ra rằng bị khuyết tật thúc đẩy chúng ta nhanh chóng thành thật với chính các cảm xúc của bản thân; vì thế,  đó lá lý do mọi người e sợ… Phải cởi mở, nỗ lực tiến hành một bước đi đặc biệt. Ấy không phải sự khiếm khuyết của người ấy biểu tỏ mà chính bản thân con người ấy đích thị thể hiện vậy.

Thái độ bảo thủ chính trị duy trì như một dạng điên nhẹ?

Đội ngũ những người quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội ở Việt Nam tỏ ra chê bai trình độ dân trí nước nhà ngày càng đông đảo; nhiều tuyên bố lạ lùng và lắm phát ngôn trên nghị trường gây sốc khủng khiếp đối với công luận, không ít tuổi tên chính trị gia bị gắn với tục danh mang tính dè bỉu lẫn khinh bỉ; vô số hành động xử lý, ra quyết định chẳng hề giống ai, xa lạ quá chừng thế giới văn minh, v.v…

Chủ đề chính trị và bệnh tâm thần có thể được minh họa lịch sử từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, bởi vì nó làm cho tinh thần quốc gia thêm cường tráng, song với nhiều người tham gia thì niềm vui trở thành cơn mê sảng (delirium).

Theo nghiên cứu, chủ nghĩa bảo thủ là một dạng điên khùng (insanity) nhẹ. Một phân tích gộp chọn từ 88 mẫu ở 12 quốc gia với 22.818 đối tượng đã vén lộ “nhiều biến số tâm lý dự báo chủ nghĩa bảo thủ về chính trị”. Các biến gồm: sợ chết, hệ thống bất ổn, giáo điều về sự nhập nhằng, tâm trí nhỏ hẹp, thiếu khoan dung về trạng thái không chắc chắn, nhu cầu cao về tính thứ bậc (bộc lộ nhận thức), cấu trúc, phức hợp thống nhất thấp, lo hãi bị đe dọa và mất mát, và kém tự tin. Nhóm tác giả kết luận khá chua chát rằng “ý thức hệ căn cốt của chủ nghĩa bảo thủ nhấn mạnh việc kháng cự với thay đổi và biện hộ cho sự bất bình đẳng”.

Không những chẳng hay ho gì lắm, người ta đang nói tới ai đó đầy sợ hãi, với cảm quan cái tôi nghèo nàn, và vắng thiếu tinh thần linh hoạt. Khoan dung với mơ hồ, nhập nhằng là điểm tâm lý đặc biệt sáng giá ở người trưởng thành vì thế giới nào chỉ có hai màu đen, trắng. Theo nghiên cứu trên, người bảo thủ sở hữu cơ bản phẩm tính ngược lại: không khoan dung với mơ hồ và không có khả năng giải quyết điều phức tạp.

Các nghiên cứu khác còn khẳng định, khi vắng bóng nỗ lực suy tư đầy cân nhắc thì ý thức hệ bảo thủ càng tăng lên; năng lực nhận thức và chủ nghĩa bảo thủ tương quan nghịch. Nghĩa là, nỗ lực tinh thần sút giảm thì làm tăng các niềm tin bảo thủ; tức các thuộc tính trách nhiệm cá nhân (đối lập việc nhận ra ảnh hưởng của các yếu tố tình huống), chấp nhận thang bậc và khung tham chiếu giữ nguyên trạng có thể được xem là dấu ấn của niềm tin bảo thủ.

Các phát hiện của chúng tôi khẳng định những lối tư duy bảo thủ là căn bản, bình thường và khá tự nhiên, nhóm nghiên cứu khẳng định. Các yếu tố động cơ thúc đẩy là những xác quyết chủ yếu của ý thức hệ, trợ giúp hoặc chỉnh sửa các đáp ứng ban đầu phụ thuộc vao mục tiêu, niềm tin, và giá trị của người ta…

Dù tiếp cận từ các góc độ xã hội học, phương pháp luận, thành phần cấu trúc và triết lý thì bảo thủ chính trị vẫn còn đáng xem xét thấu đáo, chẳng hạn cụ thể về khía cạnh chủ động tạo áp lực xã hội, toàn trị, v.v…

Hiểu biết về nỗi đớn đau rã rời và ứ tràn cảm xúc

Đôi khi, người ta cảm thấy không còn mấy chút hào hứng với việc nỗ lực học hỏi, và họ cũng cảm giác trống rỗng tương tự trong các cuộc thảo luận, chuyện trò liên quan đến tình cảm. Để giải quyết nỗi niềm đớn đau ẩn hiện, họ có thể sử dụng chiến lược cách ly hoặc ngủ rũ về mặt cảm xúc.

Có người thì thường xuyên cảm thấy nhu cầu thôi thúc bản thân về nỗi đớn đau này bằng cách tưởng tượng mình trong một tình huống khốn cùng (ví dụ, một cuộc chia tay buốt xé, lời tâm sự thốt lên trước lúc chết, v.v…). Khó ‘thỏa mãn’ bình thường cho đến khi khóc lóc chẳng kiểm soát được, với cơn nhói đau nơi ngực rồi ngủ thiếp đi; chỉ thấy đỡ hơn hẳn sau khi thức dậy…

Khá nhiều lý thuyết tâm lý học liên quan với vấn đề nêu trên. Nhà trị liệu theo cách tiếp cận phân tâm hoặc động năng tâm lý sẽ lý thuyết hóa rằng các xung đột nội tâm lý giải nhu cầu trải nghiệm nỗi đau cảm xúc. Từ viễn tượng tâm lý ấy, khi nhận ra chính mình dấn thân vào các hành vi mang tính phá hoại bản ngã và cơ chừng vô mục đích nghĩa là chúng ta đang muốn dứt khỏi ký ức hoặc một trạng thái cảm xúc.

Nói khác, ước ao cảm thấy đau đớn cảm xúc có thể phản ánh vô thức mình nỗ lực tạo nên sự ‘chuộc tội’ về mặt tâm lý cho các hành động, xung năng hoặc tình cảm vốn khó khăn để thấy ra hoặc chấp nhận trên bình diện ý thức. Cơ chế phòng vệ này gọi là ‘phá hủy, tháo khoán’ (undoing) hướng tới hành động trong những cách đối lập với hướng mình cảm nhận ở bình diện vô thức thẳm sâu. Có lẽ phần nào cảm thấy tội lỗi, tỷ như việc muốn sống đời vui vẻ, đến độ mình thực ‘hủy xóa’ ước ao hạnh phúc này thông qua chuyện thay thế bằng các trạng thái cảm xúc khổ sở. Nghĩa là, mình dễ tự trừng phạt chính mình một cách vô thức nhằm ngăn ngừa các cảm xúc hạnh phúc ‘không thể chấp nhận nổi’ khởi lên bề mặt.

Nhà trị liệu dùng khung tham chiếu nhận thức- hành vi sẽ giải thích não trạng và các hành động khác hẳn. Lối tiếp cận này cho rằng các nguyên nhân gốc rễ của nhiều rối loạn hành vi và cảm xúc vốn bắt nguồn từ niềm tin về bản thân chúng ta, về thế giới, và về tương lai. Bên dưới hành vi, chẳng hạn, có thể là niềm tin căn cốt ‘Tôi tồi tệ và tôi đáng bị trừng phạt’.

Một nhà trị liệu nhận thức sẽ trợ giúp trong việc định dạng, và thay đổi hệ thống niềm tin góp phần hình thành nhu cầu đớn đau về mặt cảm xúc. Nhà trị liệu có thể giúp thân chủ nhận ra các nỗi sợ liên quan tới hành vi hủy hoại bản thân. Nếu các niềm tin nằm bên dưới là nguyên nhân khiến mình ngại ngần rời bỏ niềm vui và hạnh phúc chẳng hạn, nhà trị liệu sẽ giúp khớp khít với các nỗi sợ, khám phá nguồn gốc của chúng, rồi tái cấu trúc những niềm tin và suy tư liên quan đến nỗi sợ làm mình bị tắc ứ.

Một nhà trị liệu cần làm việc sát hợp với thân chủ nhằm xác quyết các gốc rễ trong nhu cầu đớn đau về mặt cảm xúc. Trước hết, nhà trị liệu sẽ muốn hiểu điều gì đem lại khoái sướng nhờ lui tới với các trạng thái đớn đau về mặt cảm xúc. Liệu tự thân trạng thái đớn đau cảm xúc đem lại niềm vui hoặc đúng ra là sự phóng thích về mặt tâm lý nhờ khóc lóc? Cảm thấy lo lắng khi tiếp nhận tâm trạng đớn đau về mặt cảm xúc, hay ngược hẳn lại, cảm thấy lo lắng nếu mình bị ngăn chặn không tiếp cận được các tâm trạng nêu trên? Một nhà trị liệu từng trải chắc sẽ dành thời gian đánh giá thân chủ và tình huống của thân chủ nhằm tích lũy thêm hiểu biết sáng rõ khía cạnh tâm lý của thân chủ. Nhờ làm thế, nhà trị liệu sẽ thêm khả năng trị liệu thân chủ và vấn đề như thân chủ mô tả. Tìm kiếm nhà trị liệu phù hợp và thoải mái giúp mình cảm thấy nhiều kết nối hơn về mặt cảm xúc và phóng thích tối đa các gánh nặng tâm lý.

Lại có thân chủ lớn lên với một người cha nghiện rượu, tuy không lạm dụng thể lý song lại hành hạ bằng lời nói; ngay từ bé, thân chủ đã ước mình bị hiếp: không phải để vui sướng mà có lẽ vì quá buồn đau. Quen nghĩ tới các kịch bản về một đời sống gia đình khốn khổ hơn, vì thân chủ cảm thấy mình không đủ xấu xa, và muốn một điều gì đó đáng để rơi lệ…

Thường chúng ta khá ngờ vực bất kỳ ai có ‘nhu cầu’ đau đớn về mặt cảm xúc, và với nhiều người, đó là nơi chốn thoải mái. Thiên hạ hay kiếm tìm các tình huống tương tự đời sống của họ, bất luận tính chất lành mạnh hay không. Điều này có vẻ là những gì đang diễn ra với thân chủ nhắc trên; nghe như người ấy đang cưỡi trên một cơn bão cảm xúc, hoặc có thể nghĩ, đang kiếm tìm các hỗn độn cảm xúc. Hỗn độn cảm xúc xảy đến khi có một rối loạn toàn diện và rối rắm trong mớ cảm xúc ứ tràn. Người trải nghiệm điều này không chắc về cách mình cảm nhận, khả năng vì có các xung đột cảm xúc và sự ghi nhận về việc mất kiểm soát. Với đống cảm xúc cuộn xoáy bao quanh, cơ thể họ dễ rơi vào trạng thái phấn khích cao độ về mặt sinh lý. Sau khi quen sống với trạng thái hỗn độn cảm xúc thế, nhiều người chạm tới điểm cảm thấy tốt lành. Họ khởi sự vui thú với kịch tính và dần tin rằng sống trong trạng thái bình lặng là quá kỳ cục và chán chường. Do vậy, bất chấp những điều tốt lành trong đời, họ kiếm tìm sự chao đảo để mong quay về trạng thái thoải mái.

Có rất nhiều cách dẫn tới việc người ta chao đảo về mặt cảm xúc, và chuyện sống với kẻ nghiện ngập, nhất là đối tượng lạm dụng, khá sát gần đỉnh điểm đang bàn. Nghiện rượu là thứ tật kinh khiếp do lắm lý do, chứ không đơn giản là những phá hoại và tổn thương nó gây ra cho các thành viên trong gia đình.

Trẻ em sống trạng thái căng thẳng quá mức đến độ chúng có thể cảm nhận nguy hiểm và chúng lựa chọn hoặc trốn tránh hoặc đánh lạc hướng. Trẻ thường xuyên cảm thấy tức giận với bố mẹ nghiện ngập của mình song bởi vì bộc lộ sự tức giận thì không an toàn nên chúng buộc phải che giấu các cảm xúc bản thân và làm bất cứ điều gì cần thiết để sống còn. Chưa nói, trong khi con cái các bố mẹ nghiện ngập thường yêu quý bố mẹ mình, chúng không biết làm cách nào để cân bằng cảm xúc đó với sự tức giận, đau buồn và sợ hãi. Kết cục, có nhiều cảm xúc xung đột, chúng quen sống trong trạng thái sinh lý tăng cao, và ít khả năng kiểm soát; nói ngắn, chúng sống trong sự chao đảo về mặt cảm xúc.

Khi thân chủ tự hỏi đang diễn ra điều gì sai trái, nhà trị liệu đoán rằng thân chủ muốn thay đổi. Điều này có thể thực hiện tốt, nhất là nếu mình có sự trợ giúp của người làm chuyên môn được đào tạo bài bản về nghiện ngập và các hệ thống gia đình. Nhà trị liệu hầu như sẽ giúp thân chủ học hỏi cách điều chỉnh tốt hơn các cảm xúc bản thân, đặt để các ranh giới liên nhân cách, và thiết lập cảm nhận kiểm soát đời mình. Khi lốc xoáy của cơn bão cảm xúc ngừng bặt, thân chủ có thể khám phá ra rằng trạng thái ‘buồn chán’ không nhất thiết là phương thức chung sống tồi tệ.

Cô ấy yêu người có những ý nghĩ phản xã hội

Trước hết, hãy thử mở đầu bằng việc nghe lời thoại từ nhân vật The Joker trong bộ phim Kỵ sĩ Bóng Đêm (The Dark Knight, 2008):

Mày biết tại sao tao dùng dao không? Dùng súng thì nhanh quá. Mày không kịp nhấm nháp các nỗi niềm nhỏ nhặt được. Mày hiểu chứ, trong những khoảnh khắc cuối cùng, bọn chúng sẽ cho mày thấy đích thị chúng là người ra sao. Nên theo cách nào đó, tao thấu biết đám bạn mày hơn mày rất nhiều. Mày muốn biết những đứa nào trong số đó là thằng hèn hay không?

Có thời điểm nào đó ở đời, mình dễ cảm thấy thân thiện thực sự với nhiều người và lưu giữ tất cả nét tính cách của họ trong tâm trí theo cách thức được cấu trúc và tổ chức đủ để rồi ra áp dụng phân tích mỗi một thứ về mấy người ấy. Mình đo lường các mối quan hệ xã hội dựa trên giá trị mình có thể nhận lấy, và các nguồn lực mình phải trao đưa đặng quyết định xem liệu mình nên đáng dành thời gian cùng công sức cho các mối quan hệ ấy. Mình đối xử với người như các thứ đồ và công cụ bỏ đi vì mục đích che chắn an toàn cho các ước muốn lẫn mục tiêu, thông qua những lời nói dối toàn bộ và thủ đoạn hoàn hảo.

Sự quyến rũ giả tạo

Trước khi khởi động trò chuyện với một người, mình đã quyết định chính xác hơn nửa cổ mẫu nhân cách của vị này. Từ việc phối màu trong phục sức cho tới các phụ kiện trang trí đi kèm thì tất thảy đã đóng vai trò cực quan trọng để phân tích rồi.

Bởi vì hầu hết mọi người chẳng hiểu giá trị của mình nếu không đặt để ấn tượng cho họ biết mình là ai thông qua cách ta ăn mặc. Vậy nên, tủ quần áo có thể kiểm soát việc gây ấn tượng với vô vàn cơ hội xảy đến… Đó là cách quyến rũ giả tạo vì suy tư khởi đi từ ý tưởng rằng một tương tác bắt đầu bởi vấn đề bắt mắt lọt tai.

Ngôn ngữ cơ thể

Lưng thẳng, vai mở rộng thoải mái và bàn tay xuôi theo thân mình e hẳn là dấu chỉ mạnh mẽ về một người điềm tĩnh; trạng thái này phản ánh mức độ cortisol thấp và cảm giác thoải mái với xung quanh mà đến lượt nó, minh họa khả năng chiến lược hóa bất chấp áp lực khủng khiếp do các nguồn lực ngoại giới. Hơn thế, ngôn ngữ cơ thể quyền lực mang tính báo hiệu thông thường rằng quyền lực sinh ra từ dòng dõi của con người riêng có này.

Trong các loài giả nhân, con đực alpha sẽ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn các con đực khác trong nhóm. Mỗi lần một con đực alpha mới hiện diện, con đực alpha mới từng là beta của nhóm giờ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn so với phong thái trước đây. Điều này hàm ý, bất kỳ ai đều có thể biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể dễ dàng và nhanh chóng nhờ thay đổi đơn giản suy tư cũng như tư thế cơ thể ngay lập tức.

Thói cầu kỳ và quy ước mặc nhận

Khi chúng ta bắt tay, mình tiếp xúc mắt thẳng thắn để xem những người khác có muốn khởi sự quan hệ. Nếu anh ta đủ năng lực duy trì tiếp xúc mà không chớp mắt thì dễ mô tả là người quá tự tin vì anh ta buộc phải đánh giá để chống kháng với cơ xương và giọng rất mạnh mẽ của đối tác.

Chỉ tầm 5-10 phút trò chuyện, với lượng từ vựng cho tới cách phát âm, mình có thể kể rất hiều về cách tri nhận thế giới. Cơ chừng cực kỳ quyền lực ở số đàn ông sử dụng phạm vi từ vựng rộng vì anh ta đọc nhiều và thông minh; họ sẽ dùng nhiều từ nghe chừng xa lạ hoặc khó nắm biết đối với quảng đại quần chúng. Cùng lúc, họ sẽ thể hiện thông minh về mặt xã hội để cho mình quyền lực và giá trị qua một buổi trao đổi ngắn ngủi; điều này sẽ móc chặt các cảm xúc tích cực về cuộc đối thoại và làm người ta thêm ước ao đầu tư vào mối quan hệ.

Chắc bạn từng nghe nhiều lần chuyện thắc mắc tại sao phụ nữ yêu mấy gã xấu xa… Các hành vi phản xã hội như thiếu thấu cảm, vắng lòng xót thương, quyến rũ giả tạo, và mang chất mánh khóe dẫn dắt thì dễ tìm thấy trong con người đàn ông mà phụ nữ yêu.

Tiến hóa

Nếu tìm hiểu về tâm lý học tiến hóa, nhiều trong số các hành vi tích cực được xem là hấp dẫn thực sự giới nữ có thể dõi theo về chiến lược chọn lựa tính dục bên trong loài chúng ta. Tiến hóa sẽ phục vụ cho nghiên cứu hơn nữa nét tính cách duy trì sống còn trong quá khứ khiến một số đàn ông tích lũy được các nguồn tốt đảm bảo cơ hội cho sự bảo bọc con cái họ. Các nét tính cách này tiếp tục tỏ lộ ở thời hiện đại và dễ tìm thấy nơi nhiều đàn ông quyền lực, nhất là các CEOs cao cấp và trùm Mafia.

Mánh khóe dẫn dắt

Đa phần nghĩ về sự mánh khóe như thể là điều gì khả năng nhìn thấy ở những ai cố kiếm lợi lạc từ chúng ta. Tiếc thay, hầu như mình bị dẫn dắt bởi người quá thông minh đến độ chúng ta tin rằng dự tính và hành động của họ thật chân thành và đứng đắn. Tình thế gay go ở chỗ, người này thông minh thừa khả năng thuyết phục, dụ dỗ chúng ta để làm cho họ thêm nhiều quyền lực hơn lên.

Thiếu sự thấu cảm

Lần nữa, thiếu sự thấu cảm không nhất thiết nghĩa là kẻ mánh khóe sẽ không thể hiện mối quan tâm tới cảnh ngộ của bạn. Thực tế, nếu mình đem lại nhiều lợi lạc phục vụ cho sự truy cầu của kẻ phản xã hội này, anh ta sẽ có khả năng biểu đạt sự thấu cảm với bạn một cách giả tạo nhằm chiếm được lòng tin; nhờ sự thay đổi thế, bạn sẽ cởi mở với các ý kiến rồi dần dễ dàng rung cảm với những mời mọc, mệnh lệnh của anh ta. Hầu như bạn sẽ còn chẳng đủ khả năng để kể ra những kết nối thiếu vắng cảm xúc của anh ta.

Cực kỳ quyến rũ

Nếu từng gặp một gã quyến rũ thôi rồi và mồm mép khỏi nói trong thói cầu kỳ lẫn quy ước mặc nhận của anh ta thì khả năng anh ta sẽ là một kẻ có vấn đề; các nét tính cách độc đáo đến nỗi họ thật xuất chúng và bật sáng về mặt trí năng xã hội.

Chẳng hạn, nếu anh ta có thể duy trì đối thoại rất tốt với các nhóm lớn, giữ tiếp xúc mắt với nhiều khu vực khác nhau trong đám đông, thoải mái với mọi người, nói bằng thứ ngôn ngữ hoa lá cành dù không cóc cần tuân thủ quy tắc ngữ pháp song vẫn đảm bảo sáng rõ để hiểu thì đấy là một vài dấu hiệu đáng dè dặt. Kỳ cùng, hầu hết mấy kẻ ấy vô cùng thành đạt trong bậc thang thăng tiến lãnh đạo công ty hoặc kết thúc trong nhà tù, vì không kiểm soát nổi các hành vi nguy cơ của bản thân.

Họ không bao giờ nói về chính mình

Một trong những nét tính cách tồi tệ chúng ta tin tưởng làm kẻ khác nghe theo là nói năng và thuyết phục. Thực tế, đấy đích thị cách tồi tệ để thuyết phục hoặc khiến ai đó tin tưởng. Hay nhất là cho phép người khác bộc lộ ra ngoài các ý kiến, quan điểm và cảm xúc dạt dào sẻ chia. Càng nhiều câu chuyện đậm màu cảm xúc được chia sẻ, cô ấy càng thêm phần gắn bó với sự hiện diện của anh ta. Ban thưởng tinh tế như gật đầu nhẹ hay sờ chạm nhằm củng cố các hành vi này đến mức tạo nên vòng xoáy trôn ốc đi lên của việc đầu tư thêm cảm xúc. Tuy nhiên, khi họ cất lời, nói chung nghĩa là sự chiếm đoạt ngắn gọn, sắc bén, chính xác và gây chú ý ghê gớm.

Sau rốt, dù không phải cốt thể hiện chẩn đoán hoặc phân tích chính thống về các hành vi thái nhân cách (sociopath), dường như hầu hết di truyền của mình hóa trang nhất quán bộ ba nét tính cách đen tối này. Thực sự đối xử với hầu khắp con người ta như dạng thức thực nghiệm xã hội thì tự thân nó đã tố cáo dấu chỉ của hành vi mang tính thái nhân cách rồi, dẫu khá là thành thật rằng mối quan hệ của chúng ta sẽ luôn hưởng lợi lại qua, xét từ quan điểm logic và rất hữu lý.

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Tên giết người, kẻ cười biếm và sự chế nhạo tế vi sinh tử: trong nỗi khổ đau chung đụng

Thế giới của những chỉ trích lại qua cao độ càng dễ làm tăng thêm mức nguy hiểm âm ỉ từ nỗi niềm hận thù tích chứa khó lường trong lòng. Vụ thảm sát ở Paris vừa qua chắc khó khiến người ta ngoác miệng nhìn nhau hỉ hả được, bất chấp tranh luận trong ngoài hiện vẫn còn tiếp diễn dây dưa…

Ai quan tâm tìm hiểu văn học- nghệ thuật Pháp chẳng khó nắm bắt các sắc thái châm biếm, trào phúng khác nhau qua các thời đại, với phong vị Rabelaisian hay khí chất kiểu Voltairean. Khởi từ thời nổi loạn ấn tượng 5- 6.1969, các bức tranh biếm họa của tờ báo ra hàng tuần Charlie Hebdo mang cả lối đả kích chính trị hồi Charles de Gaulle trộn lẫn kiểu minh họa dung dị Charlie Brown.

Nếu biếm họa quả là một truyền thống Pháp thì càng dễ hiểu cơn cớ người ta cố bảo vệ quyền tự do biểu đạt, và tính cách ấy góp phần lý giải tại sao cần gìn giữ khả năng gây sốc của nghệ thuật.

Vấn đề đáng tìm hiểu nghiêm túc: liệu các biếm họa mang quyền năng hơn hẳn nghệ thuật đích thực? Và thật phi lý khi giới truyền thông toàn cầu lờ các vụ thảm sát ở lục địa đen Phi châu và sẵn lòng hừng hực đương đầu khi sự cố chết người xảy đến ở châu Âu già cỗi? Lần cuối cùng một nghệ sĩ thị giác bị giết bởi một tác phẩm gây tranh cãi là khi nào, hay các điểm khác biệt giữa nghệ thuật bình dân với hội họa, mỹ thuật?

Không chỉ tranh biếm họa, phim ảnh cũng từng trở thành đối tượng để các kẻ cực đoan sát hại tác giả. Và lần nữa, lich sử nghệ thuật vẫn sẵn có ví dụ về sắp đặt được mua với giá $20.000 và ngay cả khi bị cho là ‘gớm chết’ thì khi khởi kiện, phía Bảo tàng vẫn thắng, bất chấp đề tài chạm tới các biểu tượng tôn kính của Công giáo La Mã.

Dĩ nhiên, đó không phải là câu chuyện nhắm tới ý khoan dung tôn giáo; kỳ thực, người làm chuyên môn có thể nảy sinh nhu cầu phân biệt giữa biếm họa và mỹ thuật. Kiểu biếm họa (cartoon) thì vẽ liền ngay, dễ xem, và thường được khởi thảo để trêu tức, khiêu khích; nghệ thuật (art) thì thường dự tính, mang ý định tạo vết cắt buốt chầm chậm về sau, nó đề xuất nhiều vấn đề và câu trả lời. Các nhà vẽ tranh biếm họa biết họ dễ bị đưa lên giá chữ thập:

Vẽ tranh biếm họa là tay cực tối giản, và những kẻ chuyên quyền, bạo chúa cũng tối giản đâu kém… Vì thế, họ hiểu quyền lực của biếm họa. Những người vẽ biếm họa thường rất giỏi chuyện chưng cất, tinh luyện, họ đánh thức theo cách hết sức dễ hiểu… và đó là lý do tại sao các bức tranh thật đáng sợ.

Và sự sinh, sinh sự nên tất xuất hiện ý kiến “tự do báo chi không có nghĩa thoát khỏi mọi phê bình” đi kèm với nhận định rằng nghệ thuật không coi trọng quá tính thiêng.

Thực tiễn nhân loại chỉ ra, duy mỗi con người trong các tạo vật trần gian mới có thể suy tư, nói năng, và làm ra các tác phẩm; trầm tư rồi nhận thấy tính Vô hạn; rằng nghệ thuật nhân loại, như nghệ thuật thần thánh bao gồm cả hai mặt của các khía cạnh định rõ và không xác lập nổi, cả cần thiết lẫn tự do, gồm trạng thái run rẩy lẫn niềm vui thú.

Nghệ thuật thế tục do vậy, được phân biệt với nghệ thuật của tính thiêng: trong nghệ thuật tính thiêng (sacred art) những gì đặt định sẵn vượt qua mọi thứ là nội dung và việc sử dụng tác phẩm, còn với nghệ thuật thế tục (profane art) những cái đó chỉ là cớ cho việc nảy nở niềm vui sáng tạo…

Chắc chắn, đấy là cuộc chung đụng bất khả chối bỏ, chẳng ít tai ương và đầy đau khổ.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…