Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…

Nghiện ngập và lạm dụng: “Làm gì khi bố thường xuyên đánh mẹ?”

Khi giải quyết chuyện bố, mẹ nghiện rượu thì điều chính yếu của việc đón nhận nguồn lực trợ giúp là biết mình mong đợi chi và cần ứng xử ra sao:

Giờ tụi em đã lớn và tự lập hết nhưng bố thậm chí còn quá quắt hơn. Không có nguyên nhân gì đáng để bố đánh đập mẹ cả, toàn những chuyện nhỏ nhặt hoặc là khơi lại chuyện ngày xưa nghịch ngợm của các con. Bố ngày càng nhậu nhiều hơn, tần suất đánh đập mẹ cũng nhiều hơn, còn luôn giữ con dao nhỏ trong người. Em đã khuyên mẹ ly hôn nhưng mẹ nói tụi em còn chưa ổn định nên mẹ không muốn. Tụi em đều ở xa và không biết chuyện gì sẽ xảy ra với mẹ. Xin hãy cho em lời khuyên trong tình cảnh này. Em có thể thay mẹ viết đơn khiếu nại được không? Gửi đến những cơ quan nào?(Yến)

 ………

Cái bất hạnh của mẹ bạn là không biết cách ứng xử với người say rượu. Người say rượu rất thích mọi người kính trọng họ và có lời nói nhẹ nhàng. Nếu không được đối xử như vậy, cái tức tối sẽ được cài vào não ở tần số tự động hóa, nên cứ uống đến độ nhất định thì hình ảnh xấu của người can thiệp lúc họ say trước đây sống lại và họ càng cáu càng tức khi gặp mặt. Mẹ của bạn đã để lại trong não bố bạn ở tần số say rượu những điều làm ông uất ức nên cứ say đến độ đấy là xuất hiện “đe dọa và làm hung dữ”. Bây giờ sửa lại khó lắm vì nó ăn sâu vào vỏ não mất rồi.

Có lẽ bạn chưa hiểu nguyên nhân từ xưa, lúc cha mẹ bạn còn trẻ và những ngày đầu ông uống rượu. Bạn hỏi mẹ bạn xem những ngày bố mẹ bạn mới cưới có chuyện gì không. Đây cũng là sự tế nhị nên bạn cần khéo léo. Nếu hiểu được lý do bố bạn uống rượu lúc đầu và cách ứng xử của mẹ bạn thì mới có thể “điều trị tâm lý” cho bố bạn được.

……..

Cho dẫu bất đồng với cách lý giải hời hợt trên, sự thật không may là các trường hợp tương tự xảy đến với các gia đình Việt Nam chẳng phải hiếm gặp, và thường nảy sinh một số cảm xúc đặc thù ở con cái.

Tôi tin, ngay cả khi không thấy kể gì về chuyện mấy người con có giáng đòn xuống ông bố nghiện rượu về thể lý hoặc cảm xúc, tổn thương họ phải gánh chịu từ bé thế đến giờ vẫn khó nguôi ngoai sớm chiều. Vấn đề là tình huống sẽ không được cải thiện (thậm chí càng làm tồi tệ hơn) cũng như hữu ích cho bất cứ ai, bởi việc gây đau đớn. Cô gái cùng anh, chị em mình cần tìm cách thức thật xây dựng để xử lý với các cơn tức giận và nỗi niềm bất mãn ở trong chính lòng họ. Ngoài việc học hỏi các cách thức đối phó mới, cũng khá tốt để đi đến nhận diện chính xác những gì đang diễn ra và hiểu rằng, nghiện ngập có thể chỉ là một loại bệnh đơn lập.

Như mấy người con này nhận ra ít nhiều, yêu thương và tha thứ cho ai đó không bảo vệ cho chúng ta khỏi việc định dạng người đó là ai, cách họ ứng xử, và bất kỳ hiểm nguy nào họ đặt để lên chúng ta. Các người con và bà mẹ có quyền tự bảo vệ bản thân khỏi sự lạm dụng về thể xác, lời nói và tinh thần, bất luận cách người bố lạm dụng liên quan ra sao.

Người ta tiến hành các chiến lược khác nhau với tình huống đang bàn. Một ví dụ là tách khỏi người cha và hành vi lạm dụng của ông, nhận thức rõ ràng là ông ta vẫn tiếp tục làm hại lòng tự trọng của con cái cũng như ông ấy có thể không ngừng đầu tư nhằm củng cố thêm vai trò, quyền lợi của bản thân hơn là lo lắng, quan tâm đến sức khỏe cảm xúc của vợ con.

Một chiến lược có thể là giữ ông bố ở khoảng cách an toàn, giống như giữ một con hổ bé, chúng ta yêu nó song vẫn đặt trong cũi cạnh nhà; quan tâm khả năng gây hại cho bản thân và người xung quanh. Khoảng cách an toàn được thực hiện khi cả mấy anh chị em cùng rủ nhau ghé nhà thăm bố hoặc nhân sự kiện gia đình, không có các cuộc tiếp xúc cá nhân: mọi sự tình cờ, kết thúc trao đổi rồi rời đi khi các lời mắng chửi của ông bố phủ lên, và tạo nên tâm thế xác định rằng cô gái chẳng còn ngâm tăm im lặng chịu đựng trước hành vi ấy nữa.

Một sự lựa chọn khác là nhận ra ông bố có thể mang tính cách lạm dụng; chuyện thuộc bản thân ông ấy, chứ không liên quan đến cô gái hay anh chị em… Các cá nhân như thế thường tỏ ra:

  1. không chịu chấp nhận trách nhiệm trước hành vi của bản thân,
  2. cảm quan khó tin nổi về việc cho mình có quyền và cần được tôn trọng dù đích thị không xứng đáng, và
  3. hầu như ích kỷ trong các quan hệ với mọi người xung quanh.

Nếu cô gái thừa tự tin, thử chọn cách tiếp cận này, kiểu giống các nhân viên làm việc ở nhà tù biết đồng nghiệp lạm dụng song họ lờ đi. Nếu độ trọng thị bản thân chưa cao lắm, đừng dùng nó vì bố cô gái sẽ dày vò con về mặt cảm xúc khi cô gái không duy trì sự tách biệt và nhận ra ông bố là kẻ lạm dụng dây dưa.

Khuyến cáo sử dụng bất kỳ cách tiếp cận nào tốt nhất với cô gái. Lưu ý rằng kẻ khác có phát biểu riêng họ. Nhiều người đưa ra lời khuyên tuyệt vời cho những tình huống không liên quan với họ, đó là cách họ nghĩ bản thân sẽ giải quyết được nó. Sự thật, cô gái nên làm những gì người bình thường khỏe mạnh cần làm là nhận ra bố mình lạm dụng, gây nguy hại về sức khỏe tinh thần cho mình, và cô gái cần phát triển một chiến lược xử lý tình huống. Nếu thế, cô gái đi đúng hướng.

.. Là kẻ nghiện ngập, ông bố có thể lo sợ người vợ bỏ rơi mình. Đàn ông bê tha lè nhè thế không nhiều bằng hữu thực sự. Dễ tưởng tượng người vợ làm mọi thứ: bếp núc, giặt giũ, dọn dẹp, nhà cửa v.v… Ông bố không tìm được ai gắn bó với mình thế và ước ao bà vợ hy sinh cuộc đời cho sự ích kỷ của ông ta.

Ông bố đang đe dọa tính mạng và hành hạ bà mẹ. Rời bỏ tình huống tương tự tạm gọi là ‘kế hoạch vượt thoát’. Làm bảng kiểm các nguồn lực: bà con, nơi nào tạm cho tá túc, ai hỗ trợ tài chính, v.v… thậm chí, xem xét cả các nguồn lực đang hiện diện ở cả nơi bà mẹ đang cư trú nữa: nhà mở, các tổ chức, đoàn hội trợ giúp. Cô gái cần giúp mẹ nhờ cơ quan pháp luật can thiệp…

Bất hạnh thay, tình huống như gia đình cô gái đang phải gánh chịu rất thông thường ở khía cạnh lạm dụng. Kẻ quấy rối đủ mọi dạng kiểu dùng nhiều vũ khí tâm lý cực kỳ hiệu quả để diễn kịch, bày vẽ chiêu trò, hăm dọa, và giữ người ta dưới sự kiểm soát, khống chế. Cũng đặc trưng việc nạn nhân hay đưa mình vào tình huống chối bỏ, giảm thiểu thấp nhất hậu quả, hợp lý hóa; thêm nữa, các nạn nhân thường bị tẩy não siêu tuyệt để tự họ nghĩ rằng mọi sự là do lỗi của họ, duyên phận không may mắn. Chưa nói, ở tầng mức vô thức sâu thẳm, họ biết rằng họ bị tổn thương khủng khiếp nhất  khi họ không tán đồng với những mệnh lệnh của kẻ trấn áp (một tỷ lệ nạn nhân tử vong xảy ra khi họ đi đến quyết định kết thúc quan hệ). Vì vậy, họ tự hoang tưởng cho rằng mọi chuyện đã an bài, sắp đặt sẵn rồi và họ an toàn hơn nhiều khi dấn sâu theo các mệnh lệnh, điều khiển của kẻ lạm dụng tài ba.

Các nạn nhân không khởi sự suy nghĩ thấu đáo và sáng suốt được trừ khi họ được dịp ít nhiều thoát ra khỏi tình huống lạm dụng. Thậm chí, nếu kẻ lạm dụng siêu giỏi về các chiêu trò như gây đau đớn thì nạn nhân dễ cảm thấy áy náy nếu tiến hành cắt đứt mối dây gắn bó. Song với việc trợ giúp kịp thời và đúng đắn, các nạn nhân có thể hồi phục một viễn tượng đời sống cân bằng và khởi sự làm lại…

Yếu tố quan yếu nhất trong trợ giụp nạn nhân thoát khỏi kẻ trấn áp là có một kế hoạch rất an toàn và mạng lưới hỗ trợ tốt. Không ở một mình và cần có các kế hoạch cụ thể phù hợp để giúp giải cứu một cách an toàn. Những kẻ lạm dụng không thích và để yên khi thấy uy lực và khả năng đe dọa của họ bị lung lay. Song khi cảm thấy họ  đối đầu với cả lực lượng hỗ trợ hùng hậu khác với một con người cô lẻ bị họ hành hạ bấy nhiêu năm trời khốn khổ, chuyện sẽ khác.

Cũng cần giúp cho các nạn nhân bị lạm dụng cảm nhận mức độ nhất định về năng lực kiểm soát. Họ không thể bị thúc đẩy hành động nếu e ngại. Nên rất giá trị khi họ nhận ra rằng có gia đình, bạn bè, và nhiều nguồn trợ giúp khác quan tâm, đứng bên và sẵn sàng ứng cứu khi bà sẵn sàng tiến hành các bước tái xác lập cuộc đời của chính mình.

Thực tế, tại Việt Nam, hiện có không ít các tổ chức, trung tâm chuyên sâu hoạt động can thiệp và trợ giúp nạn nhân trong các trường hợp bị bạo hành, lạm dụng.

‘Tại sao kẻ kia không thấy ra vấn đề họ đang làm gì thế nhỉ?’

Quá nhiều nạn nhân trong vô vàn mối quan hệ bị lạm dụng, nhất là những ai giao kết thân thiết với các tính cách lươn lẹo chiêu trò, thường dành quá nhiều thời gian và công sức để khiến đối tác ‘nhìn ra’ các khía cạnh giời ơi, sai trái trong lối sống. Cố gắng ghê gớm trong nỗ lực buộc kẻ kia hiểu ra vấn đề, bi kịch thay, đưa nạn nhân đến trạng thái tức giận, cảm thấy hụt hẫng, và rồi sau rốt trầm uất, thất bại, tiêu tan mọi hy vọng. Họ luôn tự dằn vặt bản thân: ‘Tại sao kẻ kia không thấy ra vấn đề họ đang làm gì thế nhỉ?’

Thực tế, câu trả lời rất đắng đót: họ đã biết nhưng họ khó chịu. Ý là, hầu như các tính cách quấy nhiễu trong đời bạn từng nghe những điều tương tự liên quan đến hành vi có vấn đề của họ lần này tới lần khác từ nhiều nguồn nọ kia. Họ thường hiểu đúng ngay lập tức và chính xác những gì mình muốn họ thay đổi, các chuẩn mực và nguyên tắc chúng ta thích họ chấp nhận.

Vấn đề thực chất do đó, không phải chẳng nhìn ra mà đích thị họ không có quyết định thừa nhận, chấp thuận tiêu chuẩn. Họ bào chữa về cách họ thích tiến hành mọi chuyện hơn, đổ tội cho những người khác khiến họ làm thế, hoặc dùng đủ chiêu mẹo để tránh né việc chấp nhận nhu cầu cần thay đổi. trong khi vào cuộc rất nhanh và lập tức gắng hết sức mình khả dĩ để trông chừng ấn tượng của những người khác về họ.

Điều này lý giải tại sao các nhân cách quấy nhiễu và gây rắc rối cho cảm giác có vẻ họ không học hỏi hoặc hưởng lợi được chi từ trải nghiệm. Kỳ thực, họ tom góp, tích lũy nhiều lắm. Song họ không chịu học hỏi những gì chúng ta muốn họ tiếp thu. Chúng ta muốn họ nhận ra rằng đấy không phải là lợi lạc dài hạn tốt nhất cho họ và mối quan tâm của người khác muốn họ bỏ đi các niềm tin căn cốt cũng như mẫu hình ứng xử để rồi định dạng hoặc thay thế bằng những lối suy tư, hành động mà nhiều người cho là đáng được thích ứng nhất.

Chấp thuận một nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn ứng xử, thành thật nhận lấy, rồi nội tâm hóa nó là hành động sâu xa của sự phục tùng và lòng hy sinh bản thân. Các kiểu tính cách xung hấn, như dạng buông thả (chống đối xã hội), trấn lột và lợi dụng (bệnh lý) thường có một sự thay đổi nội tại đột ngột bằng hành vi bất kỳ thậm chí nhìn bề ngoài như động tác phục tùng, phản ánh đơn giản là họ không thể ‘đào sâu’ vào vấn đề, bất luận ngay cả khi trải nghiệm dạy cho họ rằng sẽ tốt hơn về lâu về dài nếu họ làm thế. Còn các dạng tính cách ái kỷ quá mức lại nuôi dưỡng các cảm xúc tự cao tự đại và cho mình cái quyền không buộc phải hạn chế các quy tắc ứng xử, tự tung tự tác. Các tính cách gây rối này chối bỏ tiếng gọi lương tâm và tâm trí lành mạnh với các kỳ vọng mà đa phần chúng ta đều thoải mái chấp nhận.

Để xử lý thật hiệu quả người thể hiện thiếu hụt tính cách ấy, cần đầu tư thời gian và năng lượng vào nơi mình tạo được quyền lực. Chúng ta không thể kiểm soát kẻ khác, nơi chốn, sự vụ… Và chúng ta không nên dùng quyền lực để bắt ai đó phải ‘nhìn ra’. Những gì chúng ta có thể thực hiện là đặt để các ‘cam kết’ với bất kỳ sự vụ mình muốn giải quyết với những người khác, bao gồm cả những kẻ chà đạp và giẫm lên các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của chúng ta. Chúng ta có quyền lực để sắp xếp các giới hạn, củng cố các ranh giới, tạo ra rõ ràng các mong đợi, và trên hết thảy quyết định bối cảnh nào mình sẽ giải quyết sự vụ với các kẻ khác.

Những hành động kiên quyết và thể hiện nguyên tắc thế chuyển gửi thông điệp mạnh mẽ vượt trên mọi lời nói năng. Theo thời gian, chúng có thể bẻ gãy vòng tròn phá hoại của những kẻ tạo tác hành vi gây tổn thương và bộc lộ thái độ không tôn trọng chúng ta. Khi điều ấy xảy đến đủ nhất quán thông qua các tình huống và kiểu người khác nhau, ngay cả với những kẻ mang tính cách gây rối vốn đã thấy song cứ không chịu tán đồng, có thể tìm được một vài giá trị thực tiễn trong nỗ lực làm các thứ theo cách thức mới mẻ khác hẳn trước đây.

… Dường như trải qua thời gian dài của chủ nghĩa đại khái về mặt đạo đức kèm trạng thái chấp nhận rỗng không các hệ hình liên quan đến bản chất con người đã không còn đúng đắn, nhiều người đơn giản đánh mất năng lực lượng giá thật chính xác và công bằng tính cách của các kẻ khác. Đấy là lý do tại sao nhiều người lãnh nhận hậu quả đau thương khi thiết lập các mối quan hệ trục trặc, bị lợi dụng, hoặc nguy hiểm cả thời gian dài rồi mới phát hiện sự thật.

Vẫn luôn nảy nòi ở đâu đó còn chưa bị/ được báo chí, mạng xã hội khai thác, phát hiện về hành vi vô đạo đức, lăng nhục, không còn liêm sỉ. Liên quan đến ứng xử vô trách nhiệm, có cả trường dài rộng, mênh mông và sâu thẳm các tính cách bất chính, hiểm ác đang nhiễu nhương ngoài kia. Và vì số lượng ấy không hề ít ỏi, quả thật gây bối rối cho bản thân khi đưa ra các đánh giá đơn giản về tính cách một con người. Tôi không hề nghĩ ngợi nhiều lắm về các tên tuổi đình đám xuất hiện gây bàn cãi trên các mạng mà chính các phương tiện truyền thông cũng dính dáng trách nhiệm xiển dương ít nhiều.

Không phải là quan tòa để tha thứ hay luận tội. Đây là cách tôi thử nhìn nhận: nếu chúng ta không nhận ra vấn đề đích thực hiện diện và mức độ trở thành nghiêm trọng thì làm thế nào thế giới sẽ nhìn ra rõ ràng cách chúng ta đang cứu chữa nó? Bước đầu tiên là minh bạch, sáng tỏ tâm trí các khái niệm lầm lạc đang phủ mờ đánh giá của chúng ta về tính cách. Và có một số nguyên tắc khá thẳng thắn mà hầu hết mọi người có thể đánh giá công bằng và đúng đắn về ai đó. Không ai hoàn hảo. Song khi một người có chí ít mức độ dối lừa tối thiểu trong lòng, và họ làm gì đó thực sự sai trái, họ chịu trách nhiệm vì điều đó, chấp nhận các hậu quả do hành động gây ra, và thiện ý cam kết làm tốt hơn lần tới. Xã hội có thể đặt để các ranh giới và giới hạn nó muốn. Song ước ao tôn trọng các ranh giới và giới hạn này lại là câu chuyện nỗ lực, gắng sức thuộc về mỗi một cá nhân.

Lần nữa, khi nghe nói về các vụ việc và nhân vật ì xèo, tôi nghĩ, tính cách đích thực là vấn đề. Và xã hội chắc chắn suy tàn, tồi tệ khi chúng ta lãng quên điều đó.

Con số tính cách quấy nhiễu, thiếu hụt và đáp ứng không đúng đắn đang tăng lên trong cộng đồng chúng ta; và có nhiều yếu tố văn hóa theo thời gian chịu trách nhiệm thực trạng này. Chúng ta đã cảm thấy mệt mỏi với các tính cách và vụ việc gây tai tiếng như cơm bữa chưa? Và đã đến lúc đủ để làm điều gì đó về nó?

J. Soi (41): Khởi đi từ nơi chốn nào…

Như những con người, chúng ta có ao ước từ thuở ban sơ là thuộc về. Ai đó thì có thể gọi đấy là trạng thái lãnh thổ, địa hạt; một cảm giác sở hữu, hoặc kiểm soát…

Mình bước vào giường và nằm ở tư thế quen thuộc, hoặc dàn xếp một chỗ ngồi ưa thích nơi góc phòng rồi nảy sinh cảm nhận “Mình (cho là) đang ở đây”; cái gì đấy rất thoải mái và yên an về thứ cảm nhận kiểu vậy. Mình ở đúng nơi cần thiết và thích thú có mặt, đích thị thuộc về chốn đấy.

Và dù mọi quan hệ đều trống không tự bản chất, người ta thường đi tham vấn để chia sẻ cảm giác bơ vơ của sự cô đơn, không chỉ cảm giác chẳng ai xung quanh mà sự lẻ loi mang tính hiện sinh, cảm giác ‘mình rốt ráo đơn chiếc trên cuộc đời này’… Dĩ nhiên, có nhiều cách biểu đạt và cảm nhận: do hiểu biết sai lạc, vì chia ly, từ việc lớn lên; tất thảy chúng ta đều bắt gặp ít nhiều khoảnh khắc ngậm ngùi pha chút thảng thốt ấy, ngay cả bao quanh là cả trăm người yêu thương thì cũng vẫn cứ cảm nhận tựa vậy.

Nếu đúng là người ta cảm thấy cô đơn mọi lúc, và đơn giản vì sự kiện ấy thì nó là ý tưởng xứng đáng được nhấn mạnh đúng mức. Lý trí quả là điều đẹp đẽ, có một phương thức quỷ quái về cái khó tưởng bàn cặn kẽ song chúng ta có thể chia sẻ nó.

Wow, làm sao đương đầu với cảm giác cô đơn đó đây? Một ý tưởng ứng dụng thiết thực: vun bồi, hoặc quay về, hướng tới các nơi chốn mình cảm thấy thuộc về. Cảm nhận về nơi chốn dễ tạo nên quyền năng lớn lao. Tỷ dụ, chỉ cần cân nhắc khác biệt giữa ngôi nhà của người bạn và tổ ấm của riêng mình. Hoặc đỉnh núi cao thân quen so với vỉa hè chung đụng đầy người xa lạ. Các nơi chốn rót đổ vào lòng chúng ta nguồn năng lượng sinh động, tưởng tượng năng lượng mình có thể đón nhận từ một nơi chốn mình thực sự như ở nhà.

Không ác cảm cũng chẳng dính bám với bất kỳ thứ gì, nơi chốn nào thái quá. Bởi há chẳng phải mối quan tâm chủ yếu của chúng ta là dẫm chân, đặt thân vững vàng trong thực tế, vào những gì chúng ta có thể nhìn thấy, nhận ra. Chúng ta khó thỏa mãn với kiểu dạy dỗ các nguyên tắc căn bản không những vô tri mà còn chẳng thể tưởng bàn được. Đấy là lý do tại sao chúng ta vun bồi sự hài lòng: đơn giản sống hạnh phúc cùng những gì đang là, ở đây và ngay bây giờ. Dựa vào thực tế của hiện tại, không vào tương lai tưởng nghĩ nào đó. Nếu học hỏi để hài lòng ngay lúc này, mình có thể mang theo cùng nó đến bất cứ chốn nao.

Nghiên cứu gần đây nhất vén lộ chút bí mật về cội nguồn của các tế bào đầu tiên hàng tỉ năm về trước thông qua tìm hiểu quá trình trao đổi chất: sự sống cơ chừng khởi đi từ chỗ không có gì.

Đâu là nơi, bạn và tôi, chúng ta thuộc về?

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Stress, trí nhớ có vấn đề, hay trạng thái phân ly?

Suốt một ngày dài bình thường làm việc miệt mài, chúng ta tham gia cả đống các hoạt động và dấn mình cùng vô vàn suy nghĩ; hầu hết chúng khá nhỏ nhặt, quen thuộc đến độ bộ não không nhất thiết ghi nhận thật chính xác. Vào lúc kết thúc và đóng cửa văn phòng, bao nhiêu công tắc mình bật tắt? Mấy người ta chào hỏi ở nơi giao dịch công cộng?

Cảm thấy thời gian trôi quá nhanh và đôi lúc, ngồi hồi tưởng cũng khó hình dung rõ ràng… Trải nghiệm đang cảm nhận là bình thường. Năng lực của người khác nhắc nhở làm đào sâu các ký ức trong ngày cũng bình thường. Tỷ dụ, chúng ta chắc không thể nhớ tất cả tên tuổi những ai mình đã chuyện trò ngày đó, song nếu có người nhắc về lần gặp gỡ với họ, não bộ dễ gợi lại dịp tiếp xúc…

Song nếu mình cảm thấy cao hơn mức độ trung bình các khó khăn với vấn đề hồi nhớ, stress có thể là thủ phạm, chẳng phải rối loạn định dạng phân ly. Stress có tác động vào hóa sinh của não bộ, ảnh hưởng đến các chức năng chú ý và trí nhớ. Người mắc trong tình huống và môi trường stress hay thấy thổ lộ những chuyện liên quan cả việc chú ý lẫn hồi nhớ ký ức. Khi stress, bộ não vận hành rất nhanh và dính líu sâu xa với các sự vụ stress đến độ không ghi nhận tốt các sự kiện thông thường. Một bộ não bị stress cũng không giám sát ổn thỏa các hoạt động, làm nảy sinh sự quên lãng và cảm nhận mình đang rơi vào trạng thái ‘đãng trí’: quên chìa khóa nhà, không tìm thấy cốc café hay uống, đánh mất USB, v.v…

Phân ly (dissociation) thuộc vô thức và nói chung là tình huống không dự kiến làm đứt gãy, ngắt quãng sự kết nối bình thường giữa các suy tư, ký ức, cảm xúc, hành động hoặc cảm nhận về bản dạng cá nhân. Một số, chắc chắn không phải tất cả, ví dụ về phân ly có liên quan đến các giai đoạn mất trí nhớ (amnesia). Dù người ta trải nghiệm các trạng thái phân ly với nhiều dạng kiểu khác nhau song thường có tiền sử việc bị lạm dụng sâu sắc hoặc/ và gặp sang chấn; các tình huống và tác nhân gây stress khác có thể cũng đào sâu các giai đoạn phân ly.

Phân ly cơ bản có thể được xem như một cơ chế phòng vệ nguyên thủy chống kháng với nỗi đau đớn cảm xúc. Dù nó có thể hiệu quả đặc biệt trong việc cung cấp vài ba lượng định tách biệt nhằm kháng cự với sang chấn trong ngắn hạn, nó tự thân là vấn đề đáng lo khi lạm dụng thái quá như cách để ai đó cách ly mình khỏi nỗi đau đớn cảm xúc, và nó còn có thể đặt để nhiều vấn đề buộc cá nhân nỗ lực học hỏi đặng hiểu biết phương thức đương đầu với các stress đời sống và công việc xảy đến vào các thời điểm khó khăn trong các quan hệ liên nhân cách.

Một số biểu hiện phân ly hay gặp như quên bẵng thời gian, không nhớ về sự kiện, cảm giác tan rã nhân cách và mất đi cảm nhận bình thường về cái tôi có thể gây phiền nhiễu cho chính bản thân đối tượng trải nghiệm.

Phơi lộ và làm việc thông qua các xung đột cảm xúc chưa được giải quyết là những gì trị liệu tâm lý quan tâm nhắm đến. Song lắm lúc, đối diện và trải nghiệm lại các vấn đề gây stress vừa phải thôi cũng đủ kích hoạt các phòng vệ. Dù các cảm nhận và trải nghiệm là căng thẳng, phiền phức thì chúng không hề nguy hiểm và nên làm tiêu tan đúng lúc khi đương đầu rồi giải quyết với các tình huống gây sợ hãi. Nhịp điệu thích hợp là điều cần để tâm trong tiến trình phải đương đầu với các vấn đề nan giải, theo một cách thức không quá mức gây ra stress khủng khiếp cho thân chủ. Ghi chú các kiểu dạng stress xuất hiện lúc gợi lên các phản ứng phân ly là cách hay trong trợ giúp và xác lập các vấn đề cần thiết dành sự quan tâm nhất.

Vấn đề liên quan đến hình ảnh bản thân con người ta

Tất thảy chúng ta thường đều nghĩ chúng mình ổn và những người khác cũng xoắn khít. Tiếc rằng sự thật lại nằm ở đâu đó khoảng giữa. Thiên hạ có khiếm khuyết của thiên hạ, chúng ta có vấn đề của chúng ta.

Hình ảnh bản thân (self-image) là cách thức khái niệm hóa chúng ta thiết lập trong tâm trí về kiểu dạng mình là người như nào. Chúng ta đều vẽ bức tranh tâm thần về bản thân mình, và nó là bức tranh mang hơi hướng duy trì khá ổn định theo thời gian, trừ khi chúng ta cân nhắc các bước để thay đổi nó. Một số nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ ‘sơ cấu bản ngã’ (self-schema), (với thuật ngữ ‘schema’ nhắm trỏ một khung, mẫu hoặc sự trình diễn một lý thuyết) khi nghiên cứu về hình ảnh bản thân và cách thức làm sao tạo lập nó.

Có bằng chứng hình ảnh chính mình chúng ta phát triển là dựa trên phần lớn sự đo lường của những gì chúng ta học hỏi được từ môi trường, như điều người khác bảo về bản thân ta và cách họ có vẻ đáp ứng lại với ta. Song, dĩ nhiên, hình ảnh bản thân cũng khởi lên do chính cách mình phản ứng, những diễn giải đặc thù của chúng ta về các sự kiện, và nhất là phương thức chúng ta đánh giá cả bản thân lẫn bản chất các tương tác với người khác. Rất nhiều bằng chứng khẳng định, cách chúng ta nhìn nhận bản thân mình mới đích thị là vấn đề. Hình ảnh bản thân quan trọng do đủ lý do song cơ bản, vì ở tầm mức nào đó nó tác động hết sức chính xác và nghiêm trọng tới tổng thể an lạc tâm lý và đặc trưng trong các quan hệ của chúng ta.

Hình ảnh bản thân của người ta có thể bị bóp méo, mất cân bằng hoặc chẳng hề lành mạnh với cả loạt lý do. Khi còn bé, chúng ta đặc biệt nhạy cảm với những đánh giá bởi bố mẹ mình, các nhân vật quyền thế, những ai có ảnh hướng tới chúng ta, và nhất là bạn bè cùng trang lứa. Nếu những đánh giá đó quá thường xuyên và/ hoặc rất tiêu cực, gây căng thẳng thì chúng ta dễ nội tâm hóa thành quan niệm về bản thân càng thêm phần tiêu cực. Song các tính cách nguyên sơ của chúng ta cũng giữ vai trò thiết yếu trong sự phát triển hình ảnh bản thân mình nữa. Một số người cực kỳ nhạy với sự phê bình và đẩy lên thái quá khi diễn giải về sự việc hoặc hành động gây tiêu cực cho họ. Một số khác lại có xu hướng đặt áp lực khủng khiếp lên bản thân để thành người ‘hoàn hảo’ khiến các sự việc bé tí và nhỏ nhặt mấy cũng minh chứng cho sự vô dụng và thất bại của chính họ. Thiết lập hình ảnh bản thân tiêu cực không chỉ là dạng vấn đề thuộc tự hiểu biết bản thân mà nó còn trở nên bị bóp méo thường xuyên gây trục trặc trong chiều hướng nhìn nhận. Trẻ em quen việc đón nhận được khen ngợi và chú ý quá lố đến tài năng, ngoại hình hoặc năng lực xã hội của chúng có thể đề cao cực đoan việc đánh giá tích cực và lòng tự trọng của chính bản thân chúng.

Căn cốt đối với một hình ảnh bản thân thật lành mạnh bao gồm cả việc cảm nhận, ý thức và sự cân nhắc, cân bằng đúng đắn.

Thường thì, vấn đề trong quan hệ không chỉ do đối tác mà còn phụ thuộc chính bản thân họ nữa. Mỗi người sẽ chỉ điểm người kia như tính cách gây phiền phức ghê gớm trong quan hệ trong khi mình đang tự biểu lộ bản thân như dạng khá ‘rối nhiễu’, đa phần phụ thuộc và rủi ro thành nạn nhân; mỗi người dường như gây rắc rối cho người khác đồng thời cũng gây rắc rối với chính bản thân mình.

Tại sao cách thức chúng ta nhìn nhận bản thân tạo thành vấn đề? Chủ yếu vì chúng ta thường biến làm sao tất thảy đem lại thoải mái cho chính mình. Hầu hết các kiểu dạng tính cách là “ego-syntonic” (hành vi, giá trị, cảm xúc hài hòa hoặc chấp nhận với các nhu cầu và mục tiêu của bản ngã, hoặc nhất quán với hình ảnh lý tưởng của bản thân); ví dụ, người ta tìm ra cách để nhìn nhận mọi thứ và mọi việc mình làm đều đáng tán thành và ưa thích. Tất cả chúng ta hay nghĩ rằng chúng ta ngon lành, người khác mới rắc rối, và điều này là sự thật với các tính cách quấy động… và, nếu chúng ta sắp nhấn mạnh thật đúng đắn và chính xác lỗi lầm ở người khác, như người khôn ngoan từng nói, chúng ta phải trước tiên gỡ bỏ, cất khỏi những bóp méo trong tri nhận của bản thân đang như đám mây mù che mờ đánh giá của chính mình đã…

Dưới đây là vài ba câu hỏi có thể giúp người ta phản ánh cách họ nhìn nhận về chính bản thân mình:

  • Mình thấy gì khi soi mình trước gương?
  • Mình có thấy điều người khác thấy?
  • Mình có bị khống chế bởi điều đó?
  • Mình có thể chấp nhận sự phê bình mà không đưa ra lời phát biểu (ví dụ, ‘hết sức xây dựng’ đối lập ‘rất phá hoại’)?
  • Mình có thể sống với ý tưởng luôn có cơ hội cải thiện bản thân để thành loại người mình mong muốn trở thành?
  • Mình ít khi nghĩ ngợi cho chính bản thân đến độ mình nên cảm thấy may mắn là bất kỳ ai rồi cũng sẽ thích mình?
  • Mình nghĩ mình là người hoàn hảo và người khác nên học tập?
  • Mình biết tỏng tòng tong rằng mình chẳng là gì song thích bóp méo để gây ấn tượng với người khác thay vì tự mình lo cải thiện hình ảnh bản thân?

Cách thức chúng ta nhìn bản thân mình không chỉ nói rất nhiều về sự thích ứng tâm lý mà còn phản ánh sâu rộng về các mối quan hệ mình có. Và dĩ nhiên, khi đề cập hình ảnh bản thân, nhiệm vụ suốt một đời là làm cho nó trở nên thật đúng đắn.

Về một sự nghiện ngập mềm dịu

Thường nhắc đến sự nghiện ngập, đa phần chúng ta nghĩ về các chất như cocaine, heroin, và bia rượu. Những thứ này là loại nghiện ngập chắc cứng. Song quá nhiều người không hề cho rằng các hành vi mềm dịu mang tính nghiện ngập có thể tạo nên vô vàn rắc rối cũng như gây ra nhiều phiền nhiễu khiến chúng ta mất đi bản tính cao quý.

Các loại nghiện ngập mềm dịu có thể là hành vi như lướt mạng, chơi game, xem TV, đọc sách, mua sắm, làm việc bất kể ngày đêm, phàn nàn, buôn dưa, trì hoãn lần lữa, và nhiều thứ khác mà chúng ta hay thực hiện quá mức.

Tất cả chúng ta lao mình vào các dạng nghiện ngập mềm dịu với sắc thái, tầng mức khác nhau, thậm chí một số chúng là tích cực; một số thứ là lớn lao song mặt khác nếu tiến hành trong trạng thái cưỡng bức, cực đoan thì có thể tàn phá chúng ta.

Lực thúc đẩy đằng sau mọi nghiện ngập, kể cả nghiện ngập mềm dịu, là sự truy cầu để tê liệt, lờ đi, vượt thoát, hoặc đè nén các suy tư lẫn cảm xúc khó chịu. Rồi chúng ta dùng các hoạt động này một cách xung hấn, lặp đi lặp lại không ngừng để khiến chính mình bị xao nhãng hoặc lảng tránh các cảm xúc, suy tư vô thức/ ý thức. Điều này có thể mang lại một cảm nhận phấn khích, gây phóng thích chất endorphin, và tạo ra một sự sự trốn thoát tạm thời nỗi đau đớn trong lòng.

Song ở tầm mức nhất định, hành vi như thế làm đời sống càng khó khăn hơn, tạo nên kháng cự và chi phối, phá hủy và thỏa hiệp với nhiều khía cạnh khác nhau trong đời; bao gồm công việc, các mối quan hệ, và trạng thái thân- tâm an lạc, cũng như các hoạt động khác và một cuộc sống xác quyết đầy niềm vui, hoan lạc. Chúng ta trả giá cho các dạng nghiện ngập bằng tiền bạc và thời gian, làm chết điếng đời sống nội tâm, và khóa tắt luôn ý thức của bản thân. Đặc biệt, đáng chú ý không kém, các hành vi nghiện ngập kéo chúng ta ra khỏi việc sống hoàn mãn, tràn đầy như nó vốn có.

Điều hữu ích nhất mình có thể tiến hành khi đang đương đầu với bất kỳ loại nghiện ngập nào là thấu biết đời sống nội tâm chính mình: nhận ra và sống cùng với các suy tư, cảm xúc của bản thân. Với một số người, đấy có thể là chuyện khá khủng khiếp, đe dọa họ khi thoáng nhìn mù mờ về đời sống nội tâm bí ẩn cùng với mớ rối rắm của các suy tư, ý nghĩ hỗn độn.

Để thấu hiểu sâu sắc các cảm xúc lẫn suy tư ẩn bên dưới đã dẫn dắt hành vi nghiện ngập, cần định hình và làm việc không ngừng nghỉ với thói quen lập trình cá nhân đang níu giữ, giam hãm mình; được thế, chắc chắn sẽ tạo nên một bước tiến bộ vượt bậc.

Có rất nhiều nguồn lực trợ giúp chúng ta trên tiến trình. Huấn luyện, hướng đạo, tâm lý trị liệu, các chương trình 12 bước, thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation), chữa lành năng lượng, và các loại sách tự trợ (self-help books)…

Trị liệu và tiêu chí chẩn đoán các rối loạn tâm thần

Cả khi tiếp xúc mặt đối mặt lẫn trong thực hành trực tuyến trên mạng, cá nhân tôi chẳng hề nghĩ mình luôn luôn nên đối xử với thân chủ thông qua những biểu lộ của một hoặc nhiều các rối loạn tâm thần nhất thiết cần phải khít khớp với cách tiếp cận y khoa bệnh lý.

Không ai chỉ thuần là trường hợp của rối loạn lưỡng cực hoặc chán ăn tâm thần, một dạng ám ảnh- cưỡng bức, hoặc người mắc tâm thần phân liệt paranoia. Theo quan điểm riêng, các phân loại chẩn đoán chính thức nắm giữ vài giá trị của thông tin mang tính bối cảnh, nhưng chúng đóng vai trò ít nhiều quan trọng hơn là các hoàn cảnh đặc thù của ai đó. Nếu là thân chủ, điều trước tiên và hầu như bạn chính là cá nhân duy nhất, đặc biệt. Mang kèm theo bất kỳ nhãn mác chẩn đoán nào không nói với tôi nhiều nhất có thể về bạn và trải nghiệm bạn khả dĩ… Nó chắc chắn không kể cho tôi nghe những gì bạn ‘cần’ như ‘điều trị’ (treatment).

Dẫu sao, trải nghiệm riêng tư khi làm việc với các thân chủ từng nhận các chẩn đoán tâm thần chính thống từ các chuyên gia khác, tôi thường nhận thấy các thân chủ của mình cảm nhận là họ thiếu thông tin thích đáng mà các nhãn mác chẩn đoán kiểu đấy đích thị thể hiện ý nghĩa.

Bài này nhắm mục đích cung cấp các sự kiện cơ bản liên quan các nhãn mác chẩn đoán khác nhau ấy. Lưu ý, thông tin chẩn đoán cung cấp ở đây chỉ phục vụ các mục tiêu giáo dục và không thể thay thế lời khuyên việc dặn của một chuyên gia sức khỏe tâm thần đủ tư cách hành nghề tác nghiệp.

Dưới mô hình y khoa quen thuộc đối với đa số các nước phương Tây, khái niệm ‘chẩn đoán’ (diagnosis) hay nhắm chỉ việc định dạng bản chất và nguyên nhân của một bệnh lý, vết thương hoặc lệch lạc khác khỏi chức năng vận hành bình thường. Các đánh giá đặc trưng, trực tiếp về mặt thể lý được tiến hành nhằm thu hẹp các nguyên nhân khả thể (chẩn đoán phân biệt) giúp lý giải các triệu chứng (symptoms) quan sát thấy bởi vị bác sĩ hoặc nhờ bệnh nhân báo cáo, kể lại. Căn cốt, điều này nghĩa là một chẩn đoán y khoa không thuần túy chỉ là tập hợp các triệu chứng; một chẩn đoán y khoa thêm thông tin mới vào bức tranh lâm sàng mà nó không chắc xứng hợp từ việc gom góp các triệu chứng đặt sẵn rồi. Nó thêm thông tin mới về tính nhân quả, việc điều trị, tiên lượng bệnh lý, các biến chứng xảy đến, và phức tạp hơn nữa…

Giờ bàn tới các rối loạn tâm thần. Việc ‘chẩn đoán’ được làm rõ cùng sự hiện diện hoặc vắng bóng các triệu chứng đã quy định. Không như trường hợp các dạng tiểu đường, ví dụ vậy, không có test đường huyết đơn giản nào cho rối loạn trầm cảm hoặc chán ăn tâm thần hay rối loạn tâm thần khác. Tự định nghĩa, để mắc trầm cảm thì không phải có các dấu hiệu nào đó về mặt cơ thể; theo định nghĩa, mắc trầm cảm là chuyện ai đó trải nghiệm rất đặc trưng thông qua các mô tả tập hợp triệu chứng cụ thể (cũng thế, các test tầm soát trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác chỉ đếm kiểm một loạt các triệu chứng). Vậy một ‘chẩn đoán’ rối loạn lưỡng cực, chẳng hạn, không nói với ta điều gì mới mẻ, vượt qua và vươn ra khỏi sự hiện diện của các triệu chứng đặc thù được định sẵn trong danh sách. Đối lập, một chẩn đoán các dạng tiểu đường hoặc cường tuyến giáp cho ta biết một cái lớn lao hơn là tập hợp các triệu chứng có thể được bệnh nhân trải nghiệm.

Ý cuối, các chẩn đoán tâm thần là rỗng không về mặt lý giải, vì thế, chúng đặt để rất đúng đắn trong một lĩnh vực cực kỳ khác biệt của khoa học hơn là chẩn đoán ‘thực’ (y khoa phương Tây). Chúng có thể giúp thân chủ (và nhà trị liệu) hiểu biết bối cảnh, và chúng đưa ra các chỉ báo phù hợp mang ý nghĩa thống kê về việc có thể sử dụng các điều trị bằng thuốc, song chúng không hề giống các tiêu chí chẩn đoán chuẩn mực của y khoa phương Tây.

Nhân tiện, mời tham khảo thêm quan niệm ‘chẩn đoán’ theo cách tiếp cận của Con người- Trọng tâm trị liệu (person-centered therapy).