Bố mẹ dễ ly dị khi con mắc Tự kỷ?

Thực tế, hầu hết bố mẹ có con mắc rối loạn phổ tự kỷ (TK) đều ý thức sâu sắc về những vấn đề kéo theo sau chẩn đoán cũng như mức độ căng thẳng tinh thần (stress) ảnh hưởng tới cuộc sống hôn nhân- gia đình; thậm chí, nhiều cặp vợ chồng cơm không lành, canh không ngọt trước đó rồi thì TK càng dễ khiến họ lo ngại đây là yếu tố dễ gây căng thẳng thêm và làm đổ sụp mọi thứ, v.v…

Cho dẫu chẩn đoán con cái mắc TK thể hiện biến cố đời sống lớn lao như bất kỳ chuyện gì khác xảy đến thì việc con cái mắc TK là sự kiện không ngừng thách thức bố mẹ trẻ cũng như toàn thể gia đình. Nên chi, nếu một cuộc hôn nhân mà vững bền thì cặp vợ chồng cùng nhau vượt qua cơn bão tố và làm cho gia đình thêm củng cố. Song với các cặp đã gặp trục trặc sẵn rồi thì TK là tác nhân gây stress đủ có thể trở thành điều làm oặt ẹo, gãy đổ; và với các cặp này, TK là lý do khác để ly dị.

Không ít người trong cuộc nhận ra rằng ly dị có thể tạo nên hệ quả tích cực cho con cái, tức điều ấy có tác dụng tích cực với bố mẹ. Nếu bố mẹ hạnh phúc thì có thể họ càng giỏi giang hơn trong việc tập trung vào các chiến lược và cách can thiệp giúp con cái mắc TK. Nghiên cứu cho thấy, không có sự tăng lên tỷ lệ ly dị: 64% trẻ mắc TK sống với bố mẹ kết hôn hoặc bố mẹ nhận con nuôi so với tỷ lệ 65% trẻ không bị chẩn đoán mắc TK.

Một số bài học có thể rút ra từ trường hợp bố mẹ đã ly dị có con mắc TK.

– Chẩn đoán con mắc TK gây nên stress trong nhiều cách khác nhau mà không phải luôn rõ ràng, và stress có thể là nghiêm trọng. Ngoài ra, con mắc TK thường làm thay đổi toàn bộ sinh hoạt gia đình chứ không chỉ liên quan đến mỗi cuộc sống hôn nhân mà thôi; bởi nó có thể thay đổi quan hệ với bạn bè, gia đình nội ngoại hai bên và cả đồng nghiệp nữa. Chuyện này diễn ra nhiều tháng, đôi cả cả năm trời rồi người ta mới chấp nhận được cũng như dần họ mới thích nghi với mức độ stress mới thường đi kèm với chẩn đoán TK.

– Nếu mình biết stress do chẩn đoán TK đem lại có thể khiến chuyện ly dị xảy ra thì có lẽ mình cần học cách để điều chỉnh và làm dịu bớt stress và tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao các sức mạnh của cuộc sống hôn nhân. Nếu mình biết cách stress tác động đến người kia và bằng những cách nào thì mình có thể đoán trước và làm giảm nhẹ tác động của stress.

– Tiếp xúc với các tổ chức hỗ trợ gia đình có con mắc TK và nói chuyện với bố mẹ cùng hoàn cảnh để tâm sự rồi lắng nghe cách họ đương đầu với stress.

– Chẩn đoán con mắc TK không đồng nghĩa rằng cuộc hôn nhân sẽ thất bại, đổ vỡ nhưng stress đích thị là yếu tố với nhiều cặp vợ chồng. Trong mỗi cuộc hôn nhân đều tồn tại những nền tảng cho ly di; mẹo ở đây là tìm ra, và tiếp tục tìm ra, nền tảng cho hôn nhân bền vững.

Nhìn chung, có thể nhận thấy rằng TK là vấn đề của gia đình, và rất nhiều khi đây là câu chuyện của ranh giới, giá trị hôn nhân- gia đình cũng như tình yêu thương của bố mẹ với con cái.

Mặt khác, nghiên cứu cho thấy có mối tương quan giữa gia đình giàu có và tỷ lệ con cái mắc TK đáng quan tâm thực sự bởi chí ít các hàm ý mà nó chỉ ra: tỷ lệ trẻ con nhà nghèo không được chẩn đoán cũng như mức độ áp lực trong đời thường mà bố mẹ chúng phải chống chọi.

Áp lực khởi tạo nên nhiều khía cạnh hết sức khác biệt. Mỗi một gia đình rồi sẽ tìm ra cách thức phù hợp để giải quyết vấn nạn. Như những gì mà các cặp vợ chồng đã ly dị cũng như bố mẹ có con mắc TK bên trên chỉ ra, tiến hành các bước đi thích hợp để làm thuyên giảm sự tác động của stress là chìa khóa căn bản, đồng thời có thể nó còn cho hôn nhân một cơ hội tốt hơn để thành tựu như ý hoặc đảm bảo mình có thể tiếp tục chịu đựng tiếp tục được.

Tính cách của nhóm ăn chay?

Chúng ta biết gì về tính cách của những người thuộc nhóm ăn chay nhỉ?

Liệu mình có thể nói chi đây về đối tượng ăn chay như một nhóm? So sánh với những người khác, đấy là nhóm người:

  • Đa phần là nữ, nhiều hơn nam
  • Có học, thậm chí đạt tới mức độ giáo dục cao hơn
  • Nhìn chung còn khá trẻ
  • Về mặt chính trị, được mô tả là yêu môi trường, thiên nhiên xanh, tự do, phái tả, hoặc người vô chính phủ, và hiếm mô tả bản thân như kẻ bảo thủ.

Tính cách ư? Cơ chừng, những người ăn chay thường thể hiện:

  • Cởi mở hơn hẳn đối với sự thay đổi, vui mừng để sẵn sàng thử điều mới mẻ, và lối nhìn ít đậm màu sắc truyền thống
  • Kém ổn định về mặt cảm xúc, nhìn nhận bản thân theo kiểu khó giải quyết thật bình thản các căng thẳng diễn ra trong đời thường
  • Dễ hòa hợp với tha nhân, ít áp chế, dẫn dắt và chẳng thèm khát việc gây ảnh hưởng tới những người xung quanh
  • Tự tin xã hội không cao, đôi khi lưu giữ các ý kiến biểu đạt hoặc không bộc lộ các yếu tố nguy cơ.

Vấn đề đặt ra: liệu người ăn chay sẽ nắm lấy bất kỳ thuận lợi nào trong bối cảnh hiện tại hay không.

“Mời phản hồi, tôi xin hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp!”

Bao nhiêu lần bạn nghe lãnh đạo hoặc đồng nghiệp đề nghị như thế?

Trên bề mặt của phát ngôn “Tôi hoan nghênh mọi góp ý” khẳng định ai đó được chấp nhận với chuyện phản hồi. Nó lắm khi đơn giản hàm ý rằng mọi người được chào đón và mời gọi chia sẻ về các vấn đề, sự vụ, mối quan tâm.

Trong bản in lần thứ 10 cuốn Social Psychology của Myers (2010) cho biết, phản hồi (feedback) thể hiện tốt nhất khi nó được trình bày dưới dạng chân thành và cụ thể. Tuy vậy, có một báo trước: ngay cả khi phản hồi được chuyển tải thật chân thành và cụ thể mấy đi nữa thì phản ứng của người tiếp nhận phản hồi có thể sẽ không luôn luôn như những gì mình mong đợi, kỳ vọng đâu.

Nghiên cứu khẳng định, các cá nhân có lòng tự tôn (self-esteem) và yêu bản thân mình (narcissism) cao độ thường dễ nghiêng theo hướng trả đũa hoặc tỏ ra xung hấn (aggression; theo Branscombe, xung hấn được hiểu là hành vi hướng trực tiếp tới mục tiêu làm hại sinh thể khác nhằm động cơ là tránh bị đối xử như vậy) đối với những ai phản hồi mà các đối tượng này tri nhận là họ đang bị chỉ trích hoặc lăng mạ, sỉ nhục.

Nói đơn giản, nếu là đồng nghiệp hoặc lãnh đạo yêu mê bản thân với lòng tự tôn cao (vâng, cao, không phải thấp; có những đối tượng tự yêu mê mình với lòng tự tôn thấp) thì mình cần rất cẩn thận với kiểu loại phản hồi (đặc biệt nếu nó dường như mang tính chỉ trích, phê bình hoặc tiêu cực) mình chia sẻ với họ.

Nếu tri nhận các bình luận hoặc phát ngôn của mình mang tính đe dọa đối với cái tôi tự mãn (các nhà nghiên cứu gọi đó là giả định “đe dọa duy ngã độc tôn”) của họ thì đây sẽ là dịp may để họ tỏ các thái độ phản ứng (thành lời hoặc hành vi) chứa chất xung hấn.

“Các cá nhân yêu mê bản thân quá với lòng tự tôn cao thường hay háo hức khống chế môi trường xã hội quanh họ và tuyên bố sự thán phục trước cảm nhận hết sức rõ ràng về quyền được phép của họ, và khi sự kêu gọi hợp tác thất bại trong tương tác với các đối tác, họ dễ quay sang hướng xung hấn” (Bushman và cộng sự, 2009).

Điều thú vị nằm ở chỗ, các nhà nghiên cứu “không phát hiện được bằng chứng hỗ trợ cho quan điểm rằng lòng tự tôn thấp là nguyên nhân dẫn đến xung hấn. Ngược lại, kẻ có lòng tự tôn thấp thường sút giảm hoặc hạn chế tác động độc lập của sự yêu mê bản thân lên sự xung hấn (Bushman và cộng sự, tlđd).

Cũng cần biết, Bushman và cộng sự giải thích rằng các cá nhân yêu mê bản thân với lòng tự tôn thấp có thể e ngại, lo lắng về mặt xã hội và không tự tin lắm, và hay bận tâm với khả năng có thể thiếu thích ứng của chính mình, song họ vẫn còn hết sức mê mải về bản thân.

Thái độ bị bêu xấu, cảm thấy nhục nhã và hiện trạng nhu cầu tìm kiếm trị liệu khi mắc các rối loạn tâm thần

Cảm thấy nhục nhã, bị bêu xấu (stigmatization) khi mắc các rối loạn tâm thần thực chất gây giảm sút chất lượng sống, khiến người ta bỏ qua nhiều cơ hội, và làm mất khả năng độc lập ở cá nhân đối tượng này.

Một nghiên cứu mới còn cho thấy, cảm nhận bị bêu xấu như thế cũng ảnh hưởng tới việc người ta quyết định chính mình có nên tìm kiếm và thời điểm cần nhờ sự trợ giúp chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Điều tra trên diện rộng ở Phần Lan đã lượng giá thái độ bị bêu xấu về bệnh tâm thần và việc sử dụng các dịch vụ sức khỏe tâm thần.

Nghiên cứu dùng bảng hỏi để tìm hiểu niềm tin của người tham gia về bệnh tâm thần. Họ được đề nghị đáp ứng “có” hoặc “không” trước các tuyên bố khác nhau, tỷ như “Trầm cảm là dấu hiệu của sự thất bại”, “Các trục trặc liên quan sức khỏe tâm thần biểu hiện cho tính yếu đuối và nhạy cảm quá”, và “Trầm cảm không phải là một rối loạn đích thực.”

Các câu hỏi khác phản ánh ao ước của người tham gia cuộc điều tra không bị ngăn cách xã hội, kể cả thái độ đối với việc dùng thuốc chống trầm cảm. Đối tượng tham gia còn thuật lại những trải nghiệm riêng khi mắc trầm cảm. Gần 5.200 người trong độ tuổi 15- 80 đã hoàn tất cuộc điều tra này.

Bị bêu xấu, nhục nhã là khái niệm phức tạp mà thường thì nó có thể được xếp vào ba dạng: tri nhận về việc bị bêu xấu công khai (niềm tin nói chung ở người mắc rối loạn tâm thần cảm thấy bị xã hội bêu xấu), bị bêu xấu cá nhân (niềm tin cá nhân về bệnh tâm thần), và tự mình bêu xấu bản thân (quan điểm cá nhân về bệnh tâm thần của anh, chị ta). Các thái độ và niềm tin này gắn kết chặt chẽ với hiểu biết và sự giáo dục của người ta về sức khỏe tâm thần, việc điều trị và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Nhìn chung, người mắc trầm cảm cho thấy sự khoan dung, chịu đựng nhiều hơn về mặt xã hội về bệnh tâm thần và cũng lưu giữ niềm tin tích cực hơn trong việc dùng thuốc chống trầm cảm– so với người không mắc trầm cảm. Người mắc trầm cảm càng nặng thì càng dễ tìm kiếm trợ giúp chăm sóc– so với các trường hợp mắc trầm cảm nhẹ và trung bình thôi. Nghiên cứu chỉ ra rằng, thái độ bị bêu xấu không ngăn chặn hành vi kiếm tìm sự trợ giúp trong số đối tượng mắc trầm cảm, nhưng mắc trầm cảm phải quá nghiêm trọng đến độ cần vượt qua luôn cả sự bêu xấu của xã hội lẫn thái độ tự mình cảm thấy nhục nhã.

Tại các quốc gia công nghiệp hóa, chỉ 1/3 người mắc trầm cảm điển hình truy cầu sự trợ giúp, và nhiều người đã hết sức vội vã từ bỏ việc điều trị. Các yếu tố như tuổi tác, giới, giáo dục, thu nhập, bảo hiểm, và sự phù hợp của các loại hình dịch vụ có tác động tới quyết định tìm kiếm điều trị, song các phẩm chất này không giải thích đầy đủ thái độ kiếm tìm việc điều trị.  Chi phí và lợi ích của việc điều trị tác động tới quyết định này, và bị bêu xấu là thứ phí tổn đáng kể đối với nhiều người.

Cảm thấy nhục nhã không liên quan duy mỗi trầm cảm mà còn được tìm thấy ở nhiều cộng đồng dân số và các chẩn đoán khác: người trẻ và người già, quân nhân và dân sự, nông thôn và thành thị, thậm chí ở chính cả đối tượng hành nghề chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Giống bệnh tâm thần, sự bêu xấu, cảm thấy nhục nhã không hề có biểu hiện phân biệt đối xử. Các nỗ lực đa chiều kích có thể cần thiết tiến hành nhằm lướt thắng được thái độ bị bêu xấu khi mắc bệnh tâm thần; bao gồm, những thay đổi trong ban hành pháp luật, sửa đổi cách giới truyền thông mô tả về bệnh tâm thần, không thể không chú ý tới những chương trình điều trị tại nhà, và cải thiện việc giáo dục rộng rãi.

Tin tốt lành tỏ lộ trong nghiên cứu hiện nay là sự bêu xấu, cảm thấy nhục nhã không cản người mắc bệnh trầm cảm tìm kiếm phương thức trị liệu.

Những sự vụ làm nản lòng, tuy vậy, chính là việc bệnh tật đã trở nên nghiêm trọng trước khi đối tượng kiếm tìm sự trợ giúp.

Thực tế, không ai đợi cho tới lúc căn bệnh ung thư hoặc tim mạch biến chứng “nguy hiểm tính mạng” thì mới bắt đầu nhờ chữa chạy hoặc bắt đầu điều trị.

Tự hỏi, khi nào thì bệnh tâm thần cũng được nhìn nhận theo cách thức tương tự đây?

Con cái của những bố mẹ mắc trầm cảm: liệu chúng có đảm bảo hạnh phúc không nhỉ?

Ồ vâng, một câu hỏi nghe hơi chút ngây ngô; tôi chấp nhận thế, bởi vì nó khởi đi từ dạo nào chính mình đã ngỏ lời

Xuyên suốt lịch sử tâm bệnh học, hầu hết các suy tư mang chất học thuật và triết lý về trầm cảm (depression) đều chú mục vào sự buồn bã, âu sầu (sad).

Tỷ dụ, đa phần các can thiệp chuyện trầm cảm cốt tủy nhắm tới làm giảm thiểu những hành vi và ý nghĩ khiến chúng ta đau buồn; cũng như thế, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu các yếu tố tạo cho thiên hạ cảm thấy tồi tệ hoặc ‘khó chịu’ (‘dysphoric’).

Dẫu thế đi nữa, một số nghiên cứu đang chạm tới cùng một kết luận: khi dẫn tới trầm cảm, sự thiếu vắng hạnh phúc (happiness) thậm chí còn quan trọng hơn hẳn so với nỗi sầu buồn.

Tôi đơn cử giới thiệu nghiên cứu này: nhóm tác giả xem xét sự phát triển của tác động tích cực (ví dụ, hạnh phúc) và tác động tiêu cực (chẳng hạn, sầu buồn) với trên 200 trẻ có nguy cơ mắc trầm cảm tương tự nhau và nhóm đồng đẳng nguy cơ thấp (low-risk peers) khác chúng.

Số em này có nguy cơ trầm cảm tương tự nhau, vì chí ít một trong hai bố mẹ chúng mang tiền sử mắc trầm cảm. Các tác giả nghiên cứu trên đánh giá đối tượng trẻ nguy cơ cao vì dưới góc nhìn thống kê, chúng gợi ý hết sức mạnh mẽ hơn nhóm bạn đồng đẳng về khả năng phát triển trầm cảm.

Thực tế, tầm 40-50% trẻ có bố mẹ từng mắc trầm cảm điển hình sẽ thể hiện trầm cảm vào những năm cuối thời kỳ vị thành niên.

Vậy, một khi các trẻ ấy mang nguy cơ cao sẽ tiến triển trầm cảm, nếu tìm xem bằng cách nào chúng khác với bạn cùng trang lứa có lẽ sẽ giúp ta hiểu những yếu tố nào góp phần làm trầm cảm nảy sinh, tiến triển?

Nhóm nghiên cứu có thể phát hiện chẳng hạn, các trẻ này có một biến thể gene đặc thù mà nhóm đồng đẳng kia không hề sở hữu; do đó, họ có thể suy đoán rằng biến thể gene như thế e là đã tham gia tạo nên trầm cảm ở trẻ.

Nhưng trong dự tính nghiên cứu, nhóm tác giả đã không tập trung nhìn vào các gene mà muốn thấy quỹ đạo phát triển tự nhiên của tác động tích cực và tiêu cực trong suốt giai đoạn đầu và giữa thời thơ ấu.

Tức là, họ muốn xem xét những thay đổi do tác động tích cực và tiêu cực gây nên ở tuổi còn bé. Nhóm nghiên cứu biết rằng, chẳng hạn, sự tăng lên của tác động tích cực từ lúc nhỏ tí sang đầu giai đoạn vị thành niên; ngược lại, tác động tiêu cực giảm dần từ ấu thơ sang giai đoạn đầu vị thành niên.

Điều này, đều tương tự ở hầu hết các bố mẹ. Xin thử nghĩ về tần suất ‘kêu khóc’ mà con cái bạn bộc lộ suốt những năm tháng chào đời. Bé gái nhà đằng ấy thường khóc thế nào khi mới 6 tháng tuổi? Còn vào năm thứ 2? Cháu ra sao hồi lên 7?

[Đa phần trẻ nhỏ chắc chắn khóc suốt lúc 6 tháng, ‘chỉ’ nhiều lần mỗi tuần hồi 2 tuổi và khá hiếm hoi khi lên 7.]

Vấn đề nhóm nghiên cứu xem xét liên quan việc bọn trẻ mang nguy cơ cao trầm cảm khác biệt với những đứa cùng lứa về tác động tích cực và tiêu cực.

Các tác giả tưởng rằng, các bé gặp nguy cơ sẽ bộc lộ nhiều tác động tiêu cực và ít tác động tiêu cực hơn so với nhóm đồng đẳng; nhất là, họ nghĩ, ở đối tượng gặp nguy cơ trầm cảm thì tác động tích cực không hề tỏ ra tăng lên hoặc tác động tiêu cực sẽ giảm đi cùng năm tháng– khác điều mà họ quan sát thấy ở những trẻ phát triển bình thường.

Và họ đã sai. Chí ít thì họ cũng đã sai phần nào.

Thực tế, nhóm nghiên cứu cho biết– trước sự ngạc nhiên của họ– các trẻ nguy cơ chứng tỏ cùng giống “các xu hướng phát triển” như nhóm bạn đồng đẳng. Đáng chú ý, tác động tiêu cực ở chúng giảm theo thời gian tựa điều mong đợi ở hầu hết bé nguy cơ thấp. Cũng rất đáng ngạc nhiên, mức độ tác động tiêu cực thuộc vào bất kỳ năm tháng đang nói tới không hề thấy khác nhau giữa trẻ nguy cơ cao và trẻ ít nguy cơ.

Nên chi, tác động tiêu cực ở trẻ nguy cơ cao giảm theo thời gian trong một kiểu cách ‘đặc thù’, và các bé ấy không hề ‘sầu buồn hơn’ bạn cùng trang lứa nguy cơ mắc trầm cảm thấp.

Song, họ đã thấy một sự khác biệt hẳn hoi khi nhìn vào tác động tích cực. Trẻ nguy cơ cao có vẻ giống với bạn cùng trang lứa ở những mức độ tác động tích cực theo thời gian. Mỗi năm, trẻ nguy cơ cho thấy tác động tích cực ngày càng nhiều tựa như mong đợi ở trẻ nguy cơ thấp. Chuyện cần lưu tâm là, tại bất kỳ năm tháng ấy, trẻ nguy cơ cao cho thấy tác động tích cực giảm hết sức đáng kể so với trẻ nguy cơ thấp.

Như thế là, dù mức độ hạnh phúc của chúng tăng lên theo thời gian thì trẻ nguy cơ cao lại giảm đáng kể mức độ hạnh phúc so với bạn đồng đẳng.

Nhóm tác giả nghiên cứu tin rằng, mức độ nhiều sầu buồn không hề đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển trầm cảm ở nhóm các trẻ mang nguy cơ cao; thay vào đó, mức độ hạnh phúc thấp e mới là tác nhân đã tạo nên trầm cảm ở chúng.

Wow, hàm ý khuyến cáo rõ ràng đối với các bậc làm cha làm mẹ: nên lưu tâm đúng mực tới niềm hạnh phúc của trẻ nhiều ngang mức chú ý chu đáo tới nỗi sầu buồn ở chúng.

Lần nữa. Con cái mình dầu có thể không sầu buồn song chắc gì đảm bảo chúng hạnh phúc, nhỉ?

Vợ mang thai rồi con khóc dai khá dễ làm cha trầm cảm

Tiếp nối nguồn mạch khám phá vai trò sức khỏe tâm thần ở người bố vốn thường bị lãng quên đối với sự phát triển của trẻ nhỏ, bài báo trình bày phát hiện xem xét mối dích dắc giữa việc trầm cảm của ông bố và chuyện đứa con cứ khóc hay đau bụng quá mức.

Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả quan tâm các yếu tố có thể liên quan với hiện tượng trẻ sơ sinh khóc dai dẳng.

Đặc biệt, dù sự trầm cảm của người mẹ (trước và sau sinh) dính dáng chuyện đau bụng, người ta còn ít biết về sự trầm cảm của người cha. Đây là điều hết sức quan trọng bởi nhiều nghiên cứu mới nhất khẳng định, số lượng người cha mắc trầm cảm trong suốt thời gian vợ mang thai và sau khi sinh nở chiếm tỷ lệ đáng kể– so với các bà mẹ.

Cụ thể hơn, công trình trên là một phần thuộc Nghiên cứu Generation R, một cuộc điều tra rộng lớn, dài hơi dựa vào quần thể dân số về sự phát triển của trẻ em; bao gồm 7.654 đối tượng, sinh từ 2002 tới 2006.

Nhóm tác giả tiến hành lượng giá trầm cảm của bố và mẹ tới tuần thai thứ 20. Việc khóc lóc nhì nhằng của trẻ được ghi nhận qua bảng hỏi bố mẹ 2 tháng sau sinh.

Kết quả:

  1. Trẻ khóc dai dẳng quá mức là khi cháu khóc hơn 3 giờ/ngày và trên 3 ngày/tuần; thực hiện quan sát ở 110 trẻ, chiếm 2,5% mẫu.
  2. Việc trầm cảm của mẹ không liên quan với chuyện trẻ khóc; tuy vậy,
  3. đáng chú ý, trẻ nào khóc quá mức thì thường dễ làm cho bố mình mắc trầm cảm hơn hẳn so với bố của các bạn còn lại trong nhóm.
  4. Hiệu ứng của việc ông bố mắc trầm cảm còn rất đáng lưu tâm ngay cả khi đối chứng với người mẹ mắc trầm cảm và với các biến chú giải khác.

Nghiên cứu lâu nay bị chỉ trích bởi chuyện thu thập toàn bộ thông tin từ cùng một nguồn. Chẳng hạn, các ông bố được đề nghị nói về hành vi của con cũng như của chính mình; như thế, kết quả thường tạo nên “định kiến báo cáo” khiến việc kể lể của ông bố không những về hành vi của trẻ có thể chẳng đạt độ chính xác mà còn tác động tới cả việc kể về hành vi của bản thân họ nữa.

Nghiên cứu đang giới thiệu có một số ưu điểm giúp giảm thiểu tiềm năng gây định kiến khi báo cáo; chưa nói, đây là dạng hồi cứu: bố mẹ cho biết về sự trầm cảm của mình suốt thời kỳ mang thai rồi cho biết về việc trẻ khóc những tháng sau đó.

Rõ ràng, thao tác nghiên cứu kiểu này ngăn chặn cơ hội kể về việc con mình khóc của bố mẹ sẽ chịu ảnh hưởng bởi trạng thái cảm xúc bản thân vào thời điểm phát ngôn. Ngoài ra, bản chất hồi cứu của đề tài phục vụ cho việc đối chứng về tác động của trẻ tới bố mẹ; nghĩa là, việc trẻ cứ khóc suốt càng dễ làm bố mẹ căng thẳng tinh thần dẫn đến khả năng có thể mắc trầm cảm.

Cho dẫu thế, do nghiên cứu này chỉ ra việc bố mẹ trầm cảm xảy ra trước khi sinh em bé có liên quan với việc cháu khóc nhiều quá, nên sự cáu gắt, khó chịu của trẻ dường như không phải là nguyên nhân gây trầm cảm ở bố mẹ (chí ít, trải nghiệm trầm cảm trước khi sinh).

Rốt ráo, nghiên cứu đã dẫn cung cấp thêm bằng chứng cho thấy rằng, sức khỏe tâm thần của người bố khi vợ mang thai và thời kỳ bé mới chào đời có một tác động lớn lao tới sự phát triển của trẻ nhỏ.