Câu trả lời đúng cho sự bất toàn hoàn hảo và bí mật nhất

Luôn luôn và mãi mãi, kiểu giật tiêu đề ghê gớm tựa cụm từ kêu vang như thế cứ nhấn chìm đời ta xuống tận cùng của bực bõ.

Dĩ nhiên, khá là phức tạp; có quá nhiều điều thôi thúc hành vi: dĩ vãng, tính cách, và những trùng khớp ngẫu nhiên xảy đến, tất thảy, đều tác động tới tiến trình ra quyết định. Hầu hết chúng mình học hỏi đúng từ sai, bất luận vấn đề ra sao, và biết khi nao nên nói ‘không’ ngay cả khi chẳng hề mong muốn tẹo nào.

Ra quyết định thì khó khăn, cóc ai nghi ngờ điều đó. Một số dễ dàng tán đồng ‘vâng’ hơn; chỉ việc ưng thuận rồi tiến lên, nhận được nó, nói vâng với điều đó có thể hoặc không tốt lành cho mình, thậm chí e nguy hơn thêm. Mình tán đồng với hành động chống lại việc trơ ỳ, không làm gì. Hầu như chẳng bao giờ cũng cứ chọn ‘D’, không thuộc lựa chọn nào kể trên cả. Không phải luôn luôn có nghĩa là cóc sao cả.

Và thi thoảng vâng nghĩa là chối từ và không nhất trí rằng vâng thuận. Vâng để không ăn uống nhiều hơn và ta sẽ không làm thế. Loại củng cố tích cực và tiêu cực; cả hai kết thúc tại cùng một nơi chốn song khác đường đi. Song luôn luôn nói vâng, hoặc luôn luôn nói không chẳng bao giờ để mình đến được nơi cần thiết. Những viên kẹo ngọt, bánh kem ứa nước miếng, ly bia đầy khát khao và còn vô vàn thứ mới nhắc tới tên thôi đã là tội lỗi.

Ta đâu phải lúc nào cũng nhận ra chúng khác nhau. Và nếu có ai làm thế, họ cũng không nói gì. Chúng khá đồng đều màu sắc, cùng kích cỡ; trong bóng tối đấy là một sự hòa hợp tuyệt cú mèo. Song giữa ánh sáng ban ngày thì khác biệt hẳn; chúng là sự cặp lại cưỡng ép của hai chiếc tất vốn không thuộc về nhau.

Đôi khi ta nghĩ rằng mình có một cặp hoàn hảo. Mọi thứ nhỏ nhặt, thường nhật, cứ đi qua ào ạt hoặc lặng lẽ; ta đi qua, quên lãng, hiếm khi dừng lại xem xét các lựa chọn, và quen cho rằng giả định của mình là đúng. Vấn đề chơi xỏ ở chỗ đôi khi những thứ không hoàn hảo cho ta cơ hội nhìn ngó kỹ càng và sâu sát.

Hẳn là chúng ta sống trong một thế giới đầy ắp những lựa chọn bất toàn; dường như đúng, dường như sai, cho tới lúc bụp phát, nó đích thị nỏ phải thế. Chúng ta đi dưới mưa nắng, đầu đội mũ hoặc ngồi trong xe có mui trần cùng thông tin đang sở hữu  rồi đi tiếp thôi, bất kể thông tin đúng hay sai. Điều cười mím chi mình là kẻ duy nhất biết thế, ngay cả khi nó không hoàn hảo. Mặc dù thật khó so sánh, song đôi tất ấy là tất cả những gì từng có giúp mình đệm bước, lo thấm mồ hôi, và chăm sóc phần da chân khá nhạy cảm không bị trầy xước vì lên đường nhiều. Mình còn mong đợi, đòi hỏi gì hơn.

… Giời lại tiếp tục mưa, đêm nay cái lạnh chắc sẽ kéo dài từ Nam ra Bắc. Ai đó có thể đang lặng lẽ vá sửa chiếc áo khoác thiên thần. Theo mỗi bước chân, trong tiếng vỗ tay, hoặc giữa thinh lặng vô vàn, chúng ta nhớ nhung vì nước mắt có thể là niềm vui cho ai đó sống cuộc đời riêng có, và đạt được tất cả những gì nguyện ước. Một cuộc sống đáng sống, mà không có ta, vẻ lấp lánh rất người đôi khi chẳng còn ánh lên được nữa.

Ai dám chắc cái lần đầu tiên họ ngừng tin tưởng. Năm tháng trôi qua cùng những thách thức và đổi thay của các niềm tin, và rồi ra một ngày đánh mất chúng không hay biết. Ấy có thể là phó sản của một nền giáo dục.

Trên chiếc đầu gối găm sẹo hoặc bao quanh bởi bàn tay dập gãy ít nhiều, chúng ta biết ơn cuộc sống. Nhiều người sẽ không có gì. Không quà tặng, cây cối, bài hát, hoặc lời cầu nguyện. Đời sống phát triển, người nghèo khổ và cô đơn.

Sự hiện diện của điều bí mật lớn lao nhất chính là món quà chúng ta đón nhận đáng ngờ khi cố gắng khởi hành tìm kiếm câu trả lời đúng cho tất cả sự bất toàn hoàn hảo.

Tái diễn lại điều xưa cũ

Chỉ là thêm thắt chút ý tưởng mới đặng cho phiền nhiễu vừa đủ: mượn từng câu ca dao, tục ngữ rồi biểu đạt, diễn giải lại hơi dài dòng, rối rắm theo dự tính riêng tư thôi. Khởi sự đầu tiên sắp triển khai: ‘nghĩa tử là nghĩa tận’, sau đó trỏ sang ví von ‘đến đây thì ở lại đây, bao giờ bén rễ xanh cây lại về’. Tạm thế đã…

Nhắn (70): Nắm tay được gì

Cuộc đời nhờ có vô thường
hướng dương chói sáng bên đường sương phơi
rộn ràng người muốn lên đời
rau răm ở lại chợ giời lãi to
cuối năm dồn chật than tro
mùi già đeo gió lò dò tằm tang
lá rơi đỏ bến đò ngang
qua sông cõng rét cây bàng ướm xuân…–

Hy vọng, như một khái niệm tỏ mờ hư thực

Mấy đoạn bên dưới kèm tiêu đề và hình minh họa trên được soạn tròn trèm ba tháng rồi; tức trọn một kỳ tam cá nguyệt, nghĩa là cũng vừa khép xong cả quý luôn.

Trong cuốn sách gợi ý từng sáng tạo, đề nghị cho cái ngày thứ 265 của 2015 hôm nay (tức 100 ngày nữa là hết năm đó): làm sân golf ngay tại nhà riêng, thậm chí đào đủ 18 lỗ rồi rủ thêm người khác chơi cùng.

Khi mình ngồi ngắm ánh nắng ngoài kia nhảy nhót tưng tửng, với không gian yên ắng thoáng đãng phả đầy hơi mát khá lạnh song thi thoảng vẫn nghe rõ xen lẫn giọng Quảng quá chân chất nữ nhân cất tiếng vang vang thì thế giới còn tiếp tục lấp ló vô vàn bi hài nhân duyên thuận nghịch. Liếc thấy tin đưa rằng một căn nhà xây dựng lâu đời ngay giữa thủ đô bị sập bất ngờ; cứu hộ, thương vong, hoảng loạn và sợ hãi.

Và tí chút đừ người bởi cơn cảm mạo gây ứ nghẹn cổ họng khiến lòng dễ dãi chấp nhận dùng ngay quà tặng tình cảm gồm vỉ Strepsils 12 viên vị cam thảo với hộp ngậm Fisherman’s Friend bạc hà; nghe chừng thiệt lạ lẫm hay ho bởi lần sử dụng đầu tiên cái đồ gắn danh xưng ngoại quốc bay bướm, chứ quen thuộc đầy hiệu nghiệm thủy chung nghiêng về món nước pha muối truyền thống da diết.

Dọn dẹp nội tâm đặng tìm đủ không gian thúc ta nhúc nhích tương tác vào những khoảnh khắc biếng lười e chẳng quá khó, vì mẹo nhỏ sẵn bày: để khơi lên dopamine thì nên đưa liền một dự đoán, cóc buộc nhất thiết phải lớn lao mà chỉ cần thu hút tới trạng thái tập trung chú ý hoặc gia thêm tẹo năng lượng; tỷ dụ, cậu bạn đang làm công chức chắc kẹt việc đột xuất, hay cuộc gặp của các vị khởi nghiệp chắc chắn thành công, hoặc mai mấy giờ thì máy báo có thư điện tử, v.v…

Như thế, khiêm cung tự tại chẳng hề lùng bùng với lối biểu đạt hào hứng, tâm thế sống đời tri ân càng giúp bản thân thoải mái chịu đựng, và rốt ráo, vô vàn rào chắn hay ranh giới cảm xúc nỏ ngăn nổi khả năng nhìn thấu tỏ tính quan yếu điệp tô lòng cao cả tỏa rạng nơi chính tha nhân.

—————————————–

Khá dễ hiểu là đa phần mọi người trong đời sống thường ngày chẳng thấy mấy khó khăn khi nói về ‘hy vọng’, dù thực tế chủ đề nghe chừng quá quen thuộc này phải sau một thời gian mới thấy xuất hiện trong y văn tâm bệnh học.

Hy vọng trở thành mối quan tâm của nhân loại băng xuyên nhiều thế kỷ và nền văn hóa. Chẳng hạn, trong thần thoại Hy Lạp, nó thuộc loại tội lỗi chứa ở hộp Pandora là quà tặng thần thánh trừng phạt con người. Theo truyền thống Do Thái- Kitô giáo trái lại, hy vọng được xem như một món quà tâm linh thiện lành Chúa trời trao ban. Nó cũng là đề mục triết học quan yếu.

Vị đầu tiên giới thiệu hy vọng như khái niệm khoa học xã hội e là Karl Menninger (1959); đưa vào Tâm thần học, quan trọng cho khởi sự thay đổi có tính trị liệu, ước ao học hỏi và trạng thái thân- tâm an lạc của cá nhân. Từ thời điểm đó, hy vọng thu hút người ta nghiên cứu làm tăng lên số lượng các bài báo xuất bản. Tổng quan xác định có 32 công cụ đo hy vọng dựa trên các bài báo đã đăng (Schrank và cs. 2008).

Nhìn chung, các lý thuyết và thang đo về hy vọng được phân nhóm: (1) các khái niệm chủ yếu dựa trên cảm xúc; (2) các khái niệm chủ yếu dựa trên nhận thức; (3) các khái niệm kết hợp cảm xúc với nhận thức; và (4) các khái niệm đa chiều kích.

Chẳng hạn, Lynch (1965) xem hy vọng là một “hiểu biết và cảm xúc căn bản cho thấy rằng có cách thức vượt khỏi sự khó khăn, có nhiều giải pháp, và rằng là con người nên chúng ta ít nhiều khả dĩ trông nom thực tế nội tâm và ngoại giới”. Tương tự, Larazus (1999) cung cấp hai lý do xem xét hy vọng như một cảm xúc: đa phần khởi lên từ ước muốn hiện diện mạnh mẽ trong tình huống khó khăn; và thứ hai, phát triển ấn tượng là điều có thể, thông qua các nỗ lực của bản thân chúng ta hoặc do các lực lượng bên ngoài. Obayuwana & Carter (1982) xem hy vọng như trạng thái tâm trí tựu thành tích cực nhờ cái tôi cường tráng, ghi nhận trợ giúp của gia đình, tôn giáo, giáo dục và các tài sản kinh tế. Hinds (1984) thì xem hy vọng ở phạm vi rất rộng mà cá nhân đoán trước tương lai; là “một cấu trúc cảm xúc cai quản bởi các quy tắc nhận thức” (Averil và cs., 1990)…

Thái độ bảo thủ chính trị duy trì như một dạng điên nhẹ?

Đội ngũ những người quản lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội ở Việt Nam tỏ ra chê bai trình độ dân trí nước nhà ngày càng đông đảo; nhiều tuyên bố lạ lùng và lắm phát ngôn trên nghị trường gây sốc khủng khiếp đối với công luận, không ít tuổi tên chính trị gia bị gắn với tục danh mang tính dè bỉu lẫn khinh bỉ; vô số hành động xử lý, ra quyết định chẳng hề giống ai, xa lạ quá chừng thế giới văn minh, v.v…

Chủ đề chính trị và bệnh tâm thần có thể được minh họa lịch sử từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, bởi vì nó làm cho tinh thần quốc gia thêm cường tráng, song với nhiều người tham gia thì niềm vui trở thành cơn mê sảng (delirium).

Theo nghiên cứu, chủ nghĩa bảo thủ là một dạng điên khùng (insanity) nhẹ. Một phân tích gộp chọn từ 88 mẫu ở 12 quốc gia với 22.818 đối tượng đã vén lộ “nhiều biến số tâm lý dự báo chủ nghĩa bảo thủ về chính trị”. Các biến gồm: sợ chết, hệ thống bất ổn, giáo điều về sự nhập nhằng, tâm trí nhỏ hẹp, thiếu khoan dung về trạng thái không chắc chắn, nhu cầu cao về tính thứ bậc (bộc lộ nhận thức), cấu trúc, phức hợp thống nhất thấp, lo hãi bị đe dọa và mất mát, và kém tự tin. Nhóm tác giả kết luận khá chua chát rằng “ý thức hệ căn cốt của chủ nghĩa bảo thủ nhấn mạnh việc kháng cự với thay đổi và biện hộ cho sự bất bình đẳng”.

Không những chẳng hay ho gì lắm, người ta đang nói tới ai đó đầy sợ hãi, với cảm quan cái tôi nghèo nàn, và vắng thiếu tinh thần linh hoạt. Khoan dung với mơ hồ, nhập nhằng là điểm tâm lý đặc biệt sáng giá ở người trưởng thành vì thế giới nào chỉ có hai màu đen, trắng. Theo nghiên cứu trên, người bảo thủ sở hữu cơ bản phẩm tính ngược lại: không khoan dung với mơ hồ và không có khả năng giải quyết điều phức tạp.

Các nghiên cứu khác còn khẳng định, khi vắng bóng nỗ lực suy tư đầy cân nhắc thì ý thức hệ bảo thủ càng tăng lên; năng lực nhận thức và chủ nghĩa bảo thủ tương quan nghịch. Nghĩa là, nỗ lực tinh thần sút giảm thì làm tăng các niềm tin bảo thủ; tức các thuộc tính trách nhiệm cá nhân (đối lập việc nhận ra ảnh hưởng của các yếu tố tình huống), chấp nhận thang bậc và khung tham chiếu giữ nguyên trạng có thể được xem là dấu ấn của niềm tin bảo thủ.

Các phát hiện của chúng tôi khẳng định những lối tư duy bảo thủ là căn bản, bình thường và khá tự nhiên, nhóm nghiên cứu khẳng định. Các yếu tố động cơ thúc đẩy là những xác quyết chủ yếu của ý thức hệ, trợ giúp hoặc chỉnh sửa các đáp ứng ban đầu phụ thuộc vao mục tiêu, niềm tin, và giá trị của người ta…

Dù tiếp cận từ các góc độ xã hội học, phương pháp luận, thành phần cấu trúc và triết lý thì bảo thủ chính trị vẫn còn đáng xem xét thấu đáo, chẳng hạn cụ thể về khía cạnh chủ động tạo áp lực xã hội, toàn trị, v.v…

Tầm quan trọng của nhu cầu được đáp ứng và triển nở về mặt tâm lý

Trên mạng xã hội tối qua loan tin về một bà mẹ trẻ vừa mới mất đột ngột. Thấy nhiều ấm áp cả lời lẫn hình chia sẻ tiếc thương, bồi hồi quý mến, ghi nhớ kỷ niệm, thông cảm nỗi niềm với một sự lựa chọn cuối cùng đã đi về nơi xa ấy…

Mình chắc biết thỏa mãn nhu cầu tâm lý là yếu tính cho trạng thái thân- tâm an lạc, và rằng nó nên là một trong các ưu tiên hàng đầu trong đời rồi chăng?

Y cứ lý thuyết tự quyết (Self- determination theory) thì con người ta có ba nhu cầu tâm lý căn bản: tự trị, cạnh tranh, và kết nối với nhau.

Nghiên cứu xuyên văn hóa cho thấy, thỏa mãn nhu cầu là điều cần thiết để tất cả chúng ta lành mạnh cả về sự phát triển, dấn thân, động cơ, và thân- tâm an lạc nói chung. Thỏa mãn nhu cầu thậm chí còn liên quan tới việc thành tựu tốt hơn trong công việc, giảm bớt stress, và giảm bớt hẳn các dự tính lung tung xèng; chưa nói, khi các nhu cầu không được đáp ứng (gây trở ngại), nảy sinh nhiều hậu quả tâm lý hết sức tiêu cực.

Qua các cứ liệu ghi nhận được từ nhiều nền văn hóa và bối cảnh khác nhau, lý thuyết chuyên biệt được rằng con người ta tiến hóa thay vì học hỏi các nhu cầu; nói khác đi, các nhu cầu mang tính phổ quát. Lý thuyết tự quyết xác định sự tự trị như lối hành xử do cảm nhận thuộc ý nguyện, sự tán thành, ước ao và lựa chọn; năng lực cạnh tranh  là việc lão luyện về môi trường, còn tính kết nối với nhau tựa cảm nhận liên quan với những kẻ khác theo một cách nọ kia.

Đến thời điểm này, chúng ta biết ít nhiều về bản chất của các nhu cầu tâm lý; và nên tìm ra nhiều cách thức dễ dàng hơn để thỏa mãn chúng. Thỏa mãn nhu cầu nên là một trong các ưu tiên nhằm tận dụng hiệu quả tác dụng của nó tới trạng thái an lạc thân- tâm.

Mỗi một chúng ta dễ chừng từng trải nghiệm cách thức các nhu cầu bị gây trở ngại hoặc được thỏa mãn như nào. Tỷ dụ, một số quan hệ không ngừng chịu sự kiểm soát trong khi một số khác lại mang tính nâng đỡ và tự trị. Một số trải nghiệm giảm thiểu các cảm xúc cạnh tranh, trong khi một số làm tăng thêm sự tự tin. Một số tình huống khiến nỗi niềm cô đơn lên cao, trong khi số khác kích thích cảm xúc gắn kết với nhau.

Hết thảy minh họa vừa nêu chứng tỏ tầm quan trọng của môi trường xã hội với việc thỏa mãn nhu cầu, trạng thái an lạc thân- tâm và sự phát triển bản thân:

Nếu đặt cái hom lê con vào một chậu đất, nó sẽ thành một cây lê, bởi vì đó là bản chất tất yếu của cây… [Song để điều ấy xảy ra] chúng cần ánh sáng mặt trời; cần nước tưới; và cần nhiệt độ thích hợp. Các thành phần này không trực tiếp khiến cây lớn lên, nhưng đấy là các chất dinh dưỡng cần  thiết để lê thực hiện những gì cần làm một cách tự nhiên. (tr. 98)

‘Cái tôi’: sự lừa dối trên tiến trình nhận thức

Rằm tháng Giêng rồi, nhân Ngày Thơ quốc gia, lượn lờ tình cờ mà đọc được đôi câu treo trong khuôn viên Văn Miếu- Quốc Tử Giám của một cậu trai 8X khiếm thị: “Ngoài trời còn có trời cao, trong tôi biết có tôi nào tôi hơn” (Nguyễn Việt Anh, 1982, Hà Nội).

Ai thích Toán hoặc quan tâm thống kê chắc biết luật Benford. Phần phấn khích trong câu chuyện nhỏ này là cách thức nó sát gần cũng như giải pháp nêu ra lại dính kết tới ý tưởng về ‘cái tôi’ (self) mà theo đạo Phật thì chẳng khác chi trò ảo thuật lừa mị: được tạo ra như phó sản của ‘tiến trình xử lý ký hiệu tinh thần’. Đây có vẻ giải thích luật Benford thấu tỏ nhất. Theo tiến sĩ Steven Smith, hơn 70 năm qua luật Benford đã đạt đỉnh điểm của sự sùng bái; nó mạnh mẽ tuyên bố chứng thực một số bí mật hoặc thuộc tính khá bất thường của vũ trụ.

So sánh điều ấy với cuộc đấu tranh triền miên của con người nhằm định vị ‘cái tôi bên trong hoặc ở ngoài bản thân mình, trong khi con người không ngừng nhìn/ xử lý sáu giác quan. Rõ ràng, phải có một cái tôi, self, ego, một ta phỏng ạ? Tôi có thể thấy nó. Song nó đến từ đâu rứa? Và nó là cái chi chi? Câu trả lời của Phật đối với ‘vấn đề’ mà ngài tóm tắt thành ‘avijja‘ hoặc ‘sự ngu dốt/ thiếu khôn ngoan/ vô minh’, một ảo tưởng, liệu tương tự với trả lời chúng ta có thể tìm thấy với bài toán ‘bí hiểm’ này (tức thuộc vấn đề tinh thần/ logic)?

Lần nữa, theo tác giả Steven Smith, đừng phí thời gian đặng cố thấu hiểu các ý tưởng ấy; chúng hoàn toàn đi theo vết sai lạc hẳn rồi. Không có ‘thuộc tính vũ trụ’ nào và hiện tượng này chẳng liên quan gì với các ‘đơn vị’ (units) cả. Chung cuộc, chúng ta sẽ nhận ra rằng luật Benford trông giống với một cuộc biểu diễn ảo thuật thật ngoạn mục hon là như một thuộc tính bị giấu kín của vũ trụ. Nói gọn, mẫu hình logarithm của việc dẫn dắt các con số đến từ chiêu trò thể hiện của dữ liệu (data), và không có liên quan với các mẫu hình trong các con số được xem xét…Rằng việc này làm thay đổi theo một mẫu hình dựa vào các khả năng của số 10, ví dụ thế, là phản logarithm. Không hề nhận ra rằng bộ não mình đã bí mật biểu diễn dữ liệu, mình quy mẫu hình logarithm này cho một số dấu hiệu ẩn kín nào đó của các con số độc đáo.

Từ quan điểm Phật giáo hoặc thiền định thấu tỏ, điều gì đó tương tự cũng xảy đến với tâm trí. Việc xử lý ký hiệu hoặc trải nghiệm nhận thức của tâm trí tạo nên tri giác, ý thức về cái tôi, là ‘kết quả’ của tiến trình (phó sản hoang đường) đã không hề được tìm thấy trong nội tại tiến trình cũng như là ‘yếu tính’ rốt ráo. Do vậy, ý thức, như đức Phật ghi nhận, đúng là trò lừa của ảo thuật gia:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm Thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, Thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong Thức được?

Với cái nhìn này, đạt được Niết Bàn (Nirvana) sẽ mang nghĩa kết thúc rốt ráo công việc nhà của người ta. Giải quyết phương trình luân hồi đòi hỏi nhiều việc phải làm (cần đọc bài viết của tiến sĩ Smith hoặc đơn giản hành thiền vài năm), mà việc thức nhận đoạn kết sẽ là một thứ ngắn gọn và sâu xa, và sẽ không nằm trong lĩnh vực của sáu giác quan. Như trường hợp giải quyết luật Benford, nó hàm ý một số hình thức bước ra khỏi rồi xem xét lại vấn đề từ quan điểm trung lập, chắc chắn người ta không quên việc tính đến tiến trình nhận thức riêng tư hơn là rơi vào các diễn giải khác nhau mà tâm trí thường hay nảy nở, tăng nhanh đưa thêm…

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Làm thế nào nói ra chuyện bắt nạt và sức hút chú ý tiêu cực

Nhận được câu hỏi đặt thẳng vấn đề: Các bước nhà tham vấn tâm lý tiến hành để một bé học sinh nói ra chuyện bị bắt nạt? Anh làm sao để trẻ trải lòng?

Trả lời: Đầu tiên các nhà tham vấn thiết lập mối quan hệ nâng đỡ, thấu hiểu, và trên hết, thật an toàn. Trẻ bị bắt nạt không chỉ kinh sợ việc bị bắt nạt mà còn kinh sợ các bước bố mẹ, nhà tham vấn và thầy, cô giáo có thể thực hiện nhằm chỉnh sửa tình huống. Trẻ sợ rằng sự can thiệp của người lớn có thể khiến tình huống tệ hại thêm. Dùng nhiều mưu kế liên quan tình huống để cho trẻ cảm thấy an toàn. Các ông bố thường to tiếng ra lệnh “Con nói bố nghe bạn nào đánh con để bố đến gặp bố bạn kia nói chuyện cho ra nhẽ!”; nghe tê hơn cả chuyện bị bắt nạt. Hãy giúp trẻ biết các hành vi của cô/ cậu bé chính là biểu hiện đang bị bắt nạt và tình huống đó khá thông thường khi đi học; cũng cho trẻ biết rằng có nhiều cách giải quyết tình hình và giải pháp đang tìm kiếm không gây nên thêm chuyện nữa.

Làm việc với trẻ bị bắt nạt, quan trọng cần nhớ rằng trẻ có thể không nhận ra đây là điều hay gặp ở trường lớp, hồi còn nhỏ. Chúng có thể cảm thấy cô độc, vì chẳng có giải pháp nào khả dĩ… Khi trẻ cảm thấy an toàn đủ để kể lại tình hình, đảm bảo với chúng đây là chuyện thường thôi và các chiến lược xử lý có thể sẽ triển khai tiếp theo.

Đừng quên các cậu trai bắt nhạt và hăm dọa về mặt thân xác, các cô gái thì dùng chiêu trò công kích ‘quan hệ’. Các cô gái cũng bắt nạt không kém song theo cách lây lan tin đồn, nhục mạ bằng lời nói, cho ze khỏi nhóm chơi, làm mọi người xa lánh, và bắt nạt về mặt cảm xúc các nữ sinh khác. Bé ở giai đoạn vị thành niên thường nảy sinh triệu chứng trầm cảm và các rối loạn lo âu khi bị bắt nạt. Khi phát hiện các dấu hiệu căng thẳng và bất an, cần nhấn mạnh các dấu hiệu này rồi dần tìm cách tiếp cận vấn đề khả dĩ bị bắt nạt khi trẻ cảm thấy an toàn với mình.

————-

Nếu đang kiếm tìm nguyên nhân sâu xa của hành vi sai trái ở trẻ, thu hút chú ý là điều giải thích dễ nghĩ tới. Không phải mỗi ví dụ trẻ nhỏ hành động đích thực là tiếng kêu khóc muốn được chú ý, nhiều tình huống quả vậy. Về sau, người ta sẽ cảm thấy bị đe dọa hoặc dự tính tự sát theo nỗ lực có cân nhắc để được nghe thấy.

Biết các dấu hiệu thu hút tiêu cực là một chuyện, song làm gì khi chuyện đó nhắm vào chính bản thân mình đây? Có 3 con đường lựa chọn. Thú nhất, và rất quen thuộc, trừng phạt hành động sai trái. Bố mẹ nhận ra quyền lực thúc đẩy chấp thuận và tuân thủ nhanh chóng sẽ tàn dần khi trẻ lớn lên rồi đạt được khả năng lẫn sự tự quản lý bản thân. Lờ đi tính tự trị vì nó mang lại nhiều cơ hội được chú ý nhiều hơn, trẻ có thể minh họa việc lặp đi lặp lại hành động sai trái. Với các vụ bạo hành nghiêm trọng, trừng phạt có thể là lựa chọn hợp lý.

Có thể bố mẹ trẻ bảo con cái làm ngơ chuyện bắt nạt rồi sẽ êm xuôi thôi. Chí ít, về nguyên tắc không sai. Khi mục tiêu là chú ý, lờ đi những lăng nhục nọ kia là cách khác để giảm thiểu vụ bắt nạt nếu không trừ tiệt được hành vi kiếm tìm sự chú ý; xét dưới góc độ kỹ thuật, làm hành vi xấu biến đi thông qua việc làm phần thưởng biến đi gọi là ‘tiêu hủy tất cả’. Không phải lựa chọn dễ. Trước hết, phải từ bỏ nhu cầu về công bằng, chính trực và thậm chí, trả đũa lại; thứ đến, tiến hành cái gọi là ‘cho nổ tung tanh bành hết luôn’ khiến những kẻ bắt nạt hiểu là các chiêu trò không còn tác dụng nữa, rồi chúng sẽ ôm giữ trò chơi đến lúc đủ sức tung chiêu hiệu quả lại. Chiến lược ‘thiêu hủy toàn bộ’ có thể gây phản tác dụng, và bất kỳ mất mát trong xử lý sẽ củng cố hành vi mãnh liệt hơn hẳn, và trẻ sẽ có kết cục tệ hai chứ không như mơ tưởng lúc khởi phát kế hoạch.

Con đường cuối thách đố nhất: cho kẻ gây rối điều nó muốn. Nếu muốn được chú ý thì được chú ý, dĩ nhiên, nếu cho liền sự chú ý sau các hành động tồi tệ rồi mình có thể mong chờ hành vi không tiếp diễn nữa. Chiến lược rõ ràng tỏ ra tốt hơn với một số tình huống nhất định: bạn bè và người thân gia đình nhờ đáp ứng nhu cầu chú ý là cách hay để phát triển tốt đẹp các mối quan hệ. Và khi nhu cầu chú ý được thỏa mãn, giờ đây mình sở hữu năng lực xã hội đủ để mình dạy phần, người tương tự đòi hỏi những gì chúng muốn theo cách tích cực.

Khi rành luật chơi như sự chú ý tiêu cực, hành vi từ sàn tập lên sân khấu chính sẽ cực kỳ thách thức. Nhận ra hành động đòi hỏi sự chú ý, mình có thể dùng điều đã biết để trừng phát kẻ phạm lỗi, hoặc thỏa mãn nhu cầu trong khi kến tạo một kênh giao tiếp tốt lành hơn cho những đòi hỏi trong tương lai.

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.