“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”: trong trập trùng thế giới của huyễn tưởng

Quờ tay vào huyễn mộng- thấy đong đầy thuyền mơ...
Quờ tay vào huyễn mộng- thơ đong đầy thuyền mơ…

Bộ phim Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh cố ghi nhận những chuyển biến tuổi phơi mặt chìa tay mưa nắng thời đói nghèo chưa xa ở nông thôn miền Trung; dĩ nhiên, câu chuyện thật thơ trên cảnh sắc Việt Nam ấy thừa gợi hứng về chủ đề ghét bỏ, bảo bọc và cạnh tranh khi yêu thương vơi đầy mơ hồ trong tâm tưởng nhân loại lúc người ta còn nhỏ dại.

Đứng trước viễn cảnh huyễn mộng giã từ, khán giả ít nhiều dễ nhận ra cái phong cách rập khuôn điện ảnh Hollywood, lối diễn xuất Hàn quốc và kiểu kể chuyện hiện đại tin rằng không khó để thỏa mãn xu hướng hội nhập toàn cầu. Mặt khác, chúng mình cũng nhanh chóng bắt mắt bởi thế giới của vô vàn huyễn tưởng mà các nhân vật nhí lớn lên không ngừng được dựng xây từ sách vở, chuyện kể truyền miệng, lịch sử vùng đất duyên hải, văn hóa cổ xưa, tập tục gia đình, thảm trạng kinh tế nghèo đói. Đấy là tình thương yêu, các mối quan hệ gắn bó thân mật, nỗi niềm chia ly hụt hẫng, giai đoạn quá độ mất mát, khủng hoảng và biến cố đời sống.

Bộ phim về tuổi bé tí song có vẻ dành ưu tiên cho những ai lớn rồi mà vẫn muốn nhấm nháp trở lại ý vị những rung động đầu đời. Vì lối dàn dựng đôi khi khá phô nghiêng truyền hình, chèn vô quá háo hức ước muốn đặc tả chi tiết bầu không khí sinh hoạt nông thôn tháng năm lam lũ đói khát với bài hát Thằng Cuội, ngôi trường sập xệ, tiếng trống thùng thình và ánh đèn Trung thu tự tạo diệu kỳ cho nên rốt ráo, yếu tố huyễn mộng mông lung buông chùng thiếu thuyết phục, và dấu ấn chuyển đổi nửa cuối phim cơ chừng hụt hơi, giảm sút chất hư cấu đáng giá khiến lần nữa mộng mị đâm ra rã rời hơi vội trước ánh sáng đời thường trần trụi.

Bị bỏ rơi là thứ cảm xúc đầu đời con trẻ. Không đơn giản chứa chan ý nghĩ khát khao mãi cứ chưa thôi, huyễn mộng tự thân nó dính dáng cả quá khứ lẫn vọng tưởng tới tương lai. Như người trưởng thành, ta không có khả năng, xét từ khía cạnh kỹ thuật, bị bỏ rơi (trừ khi bị phụ thuộc thuốc, chẳng hạn); lý do là người trưởng thành lành mạnh về mặt tinh thần, ta đích thực không bị bỏ rơi trong cảm nhận thời thơ ấu. Cảm giác diễn ra thuở đầu đời đó thường liên quan với quãng thời gian bị người lớn hoặc bố mẹ bỏ rơi; ấy là thứ cảm xúc thoái lùi, điều kéo mình quay về thời thơ ấu hoặc trạng thái cảm xúc bé con.

Vậy đối đáp sao với ý kiến bảo rằng người mê xem TV hoặc ghiền điện ảnh thì đa phần là kẻ giết thời gian vô bổ, chẳng bù lỗ bao nhiêu tính cách, rằng các fan hâm mộ truyện dài cũng như thích xem trình diễn e cùng lắm chỉ là sự mê mải vô hại? Không đơn giản thế.

Tại sao chúng ta thích xem các bộ phim lãng mạn, chuyện tình sướt mướt, éo le ngăn trở…? Tại sao quan tâm chú mục vào vụ việc lãng mạn ai đó khi ta biết nó không đích thị lãng mạn chút nào? Bởi vì những gì chúng ta cơ chừng đang thực hiện không phải thứ mình đang tiến hành. Những thứ mình thực sự làm khi theo đuổi một câu chuyện tựa như bộ phim đang bàn tạm bó vào hai loại: 1) giả lập các trải nghiệm ấy cho chính bản thân, và 2) bước ra ngoài các trải nghiệm rồi tự hỏi bản thân mình có thể học hỏi hoặc dần dần hiểu thấu tốt hơn hẳn thông qua việc suy ngẫm chúng. Người hâm mộ từ từ tỏ tường vài ba kiến thức quan yếu, các bài học dính với điểm 1) vừa nêu ở chỗ ta cảm thấy mình trải nghiệm ít nhiều các sự kiện ở đời đi cùng các nhân vật trong truyện; khi dấn sâu điểm 2) là rời ra để nhìn ngó từ góc nhìn khác thì mình có thể thêm lớp trầm tư cho lớp thuộc trải nghiệm.

Dạng thức truyện, phim hư cấu cho phép người ta tưởng tượng bản ngã hòa với các hoàn cảnh của tha nhân; họ mở rộng mức độ nhất định cảm nhận về chính mình. Khi độc giả, khán giả thả lỏng lơi là nhân cách để thâm nhập tương tự tính cách nhân vật, hoặc khi họ bước vào các tình huống về mặt tâm trí so với những ai họ quen thuộc, họ thay đổi để dần trở thành chính mình hơn.

Kể quãng đời thơ ấu của bộ ba Thiều- Tường- Mận, đạo diễn bộ phim cho thấy sức hút mãnh liệt của cây đa, giếng nước, sân đình, bãi biển, bờ ruộng, làng xóm đã không ngừng nuôi dưỡng, vun bồi tâm hồn bao thế hệ. Các huyễn tưởng chẳng hề phù phiếm; chúng chẳng những có thể dùng để giải trí, phân tâm, đáng sợ, thậm chí kích thích mà còn tạo điều kiện khởi phát sáng tạo và giúp ta lập kế hoạch cho tương lai. Chừng nào mình không lầm lỗi đánh đồng các huyễn tưởng với thực tế (như trong rối loạn loạn thần hoặc tâm thần phân liệt) hoặc để mặc chúng trở nên quá chấp thì chúng có thể cung cấp một bước trốn thoát khỏi ở- đây- và- ngay- bây- giờ, vì các huyễn tưởng cho mình trải nghiệm trong đời thực những thứ mình không thể hoặc chẳng thèm muốn nổi: viếng thăm sao Hỏa, khám phá kho báu, sống vào năm 1900s, là tên trộm xuất chúng hàng đầu thế giới, hoặc có các trải nghiệm tình dục khác biệt; các huyễn tưởng là cách thức kéo căng sự tưởng tượng và cho mình thành kẻ nắm bắt nguy cơ song lại không buộc phải đối diện với bất kỳ nguy cơ đích thực nào, chưa nói khi mình huyễn tưởng, mình tiếp nạp năng lượng cho mọi thứ, mình có đủ đầy khả năng kiểm soát, tức là chẳng có chi nguy hiểm hoặc giới hạn vì nếu khó chịu lắm thì mình có thể luôn luôn dừng ngắt hoặc xác định huyễn tưởng…

Ngoài tí chút tiếc nuối với những bức hoạt hình dễ thương ghê gớm trước khi kết thúc, có vẻ bộ phim trập trùng huyễn mộng do đầu tư trau chuốt cảnh quay, và suy đoán, cơn đói khủng khiếp nhất trên thế giới ta ba này đang mở ra trước màn ảnh, hôm nay, là tình yêu; và những người đàn ông, phụ nữ, trai gái khổ sở bất chấp bao tiện nghi hiện đại thụ hưởng. Cảm giác bồng bềnh bồi hồi tuổi thơ mà bộ phim nếu tiết chế kỹ càng e sẽ lây lan mãnh liệt hơn phản ánh nhu cầu tội nghiệp của chúng ta thuộc về tình yêu, tình yêu đích thực, tình yêu không vị kỷ, thứ tình yêu tự bộc lộ nó trong hành động phục vụ và quên đi chính bản thân mình.

Chỉ là các khung hình…

Tôi đang ngồi trong rạp chiếu bóng. Nhưng tôi không biết.

Tôi lạc vào các câu chuyện diễn ra trước mắt, xoay quanh đôi tai.

Tôi vùi mình, hoàn toàn chìm sâu vào trong câu chuyện phim. Tôi không biết mình đang nơi nao, tôi tin mình hiện ở… trên màn hình, một phần của bộ phim, thuộc về bộ phim. Đây là tôi, ngay đó thôi, trong phim. Tôi chẳng thể nhìn ra thêm gì khác, không nghe thấy gì khác cả.

Vài nhân vật trong chuyện nói với tôi. Anh ta bảo, nhớ điều này nhé: những gì cậu thấy chẳng phải là cậu đâu. Nhớ đấy! Tập trung định lực và nhìn thật kỹ càng vào! Cậu cũng sẽ nhận ra điều đó. Đừng quên, nhớ nhìn.

Nhân vật này kỳ lạ, giọng anh ta nghe thôi miên như câu chuyện phim, không bao giờ kết thúc phim, lệ ứa theo diễn tiến câu chuyện. Tôi hóng anh ta. Anh ta có vẻ sống ngoài thế giới này. Liệu tôi có nên thử?

Sự mê hoặc làm tôi muốn xem xem anh ta có lý… Tôi đích thị đang ở đâu đây?

Vì vậy, tôi nhớ để nhớ.

“Hình ảnh câu chuyện này không phải là tôi. Không liên quan. Không thuộc về tôi.”

“Âm thanh câu chuyện này không phải là tôi. Không liên quan. Không thuộc về tôi.”

………………

“Ý tứ câu chuyện này không phải là tôi. Không liên quan. Không thuộc về tôi.”

“Âm thanh này là vô thường. Âm thanh kia là vô thường. Màu phim đó, hình ảnh phim đó, tiếng động phim này”.

Ồ, quá chừng lạ lẫm.

Điều gì đó kỳ kỳ bắt đầu xuất hiện.

Vẻ quyến rũ- sự mê hoặc hấp dẫn và quyến rũ khi vào phim giờ nhòe mờ dần đi. Tại sao nhỉ?

Wow, tôi không cho phép bản thân mình theo sau câu chuyện thêm như trước đây nữa. Quá đủ rồi, song tại sao mọi thứ chợt khác biệt thế?

Tôi lại quên mất cần phải nhớ rồi. Tôi thử cố nhớ nhiều hơn. Nhớ nhắm vào trải nghiệm của bản thân về bộ phim thay vì theo kịch bản. Thay vì đua xe, lái máy bay, người vợ thổn thức, đứa con trai khiếp đảm, người bạn đang dần chết đi…

Giờ tôi nhìn thấy, nhìn thấy… một bức ảnh, ồ không, đây là một bức ảnh. Một cái khung hình!

“Đây không phải là tôi. Đây không phải bản thân. Điều này không còn thuộc về tôi nữa”.

Và tôi bắt đầu nhìn thấy khung hình của bộ phim này. Có ánh sáng và các bóng râm. Và các màu sắc và tiếng vọng lại.

Tôi đang ngồi! Trên một chiếc ghế! Thật phi thường làm sao!

Đêm tối vây quanh tôi, và một màn ảnh phía trước.

Giờ đây, nhận ra nhiều thứ trong thực tế, tôi cảm thấy khoảng cách lạ lùng đối với các bức tranh và âm thanh trong câu chuyện. Mình vẫn đang nhìn mọi thứ, nghe hết thảy…. song khoảng cách này là sao nhỉ? Có phải vì tôi biết tốt hơn những gì đang đích thị diễn tiến? Tôi cảm thấy khinh an nhẹ nhàng hẳn, phóng thích áp lực về bản chất nghiêm túc của bộ phim, không còn nhiều hạn độ như trước đây với cảm xúc đánh thức tác động tới câu chuyện phủ lên mình.

Làm sao tôi nhận ra mình quả đúng là đang trong một bộ phim?

Vâng, đã có nhân vật trong câu chuyện bảo tôi đừng chú mục vào câu chuyện (kể cả anh ta, thiệt lạ lùng) mà để ý vào trải nghiệm về bộ phim. Anh ta nói tôi không ngừng ghi nhớ và tập trung định lực vào tự thân trải nghiệm, chứ không phải nội dung của nó.

Chỉ có thế thôi. Song khó khăn ghê.

Giờ tôi đang ở đây, song tôi không hiện diện.

Tôi tiết chế song cũng thoải mái.

Một ngày nào đó, liệu tôi vượt thoát khỏi sự thống trị của bộ phim này đến độ chỉ việc đứng lên rồi bỏ đi thôi? Không buộc phải xem thêm bản phim khác, do thành phần tất cả các bản thảy đều giống nhau. Kỳ cùng, dường như tôi không thể ngăn dừng tiến trình tỉnh thức nổi. Ngày càng nhiều các mảnh của câu đố dần lộ diện…

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

Cùng nhau chung đụng phận này

Kêu gọi ‘đừng thương người’ không những bất nhẫn mà còn đích thị thể hiện thái độ đáp ứng thiếu trách nhiệm cũng như ít nhiều xiển dương cho lựa chọn vô cảm: chối bỏ nhu cầu yêu thương của chính mình và của những người xung quanh. Cần thể hiện đúng đắn và thấm lòng từ bi đối với người ăn xin, vì ‘ăn mày là ai; ăn mày là ta… đói cơm rách áo hóa ra ăn mày”.

Tùy hoàn cảnh sống và trải nghiệm cá nhân, đa phần chúng ta ái ngại, thường né tránh một số đối tượng nào đó chí ít vì bản thân cảm thấy tuyệt vọng hoặc chẳng biết phải làm gì mới phải. Trong tâm trạng chân thật, đều khá dễ nảy sinh cảm giác không thoải mái lắm khi đối diện, nhìn thấy và/ hoặc ứng xử với người ăn xin.

Gọi ai đó là ‘ăn xin’ để trỏ người xin tiền hoặc thức ăn nhằm đảm bảo nhu cầu sống còn. Trong các thành phố lớn, ở nơi công cộng, người ăn xin thường sống vạ vật đầu đường xó chợ, góc phố, trước cửa nhà đóng chặt về đêm.

Thực tế, dù biết họ thật đáng xót thương, song chúng ta lại không biết cách tốt nhất để thể hiện lòng từ bi sâu xa trước cảnh ngộ của đồng loại. Chúng ta nên đối xử như nào đối với người ăn xin và những ai trải qua đời sống lang thang, không chốn nương thân?

Dưới đây là vài ba chỉ dẫn cơ bản mong được lưu tâm.

1. Chào hỏi

Tuy khó thừa nhận song sự thật là hầu hết chúng ta thậm chí không nhìn người ăn xin như một con người. Chúng ta đã bị điều kiện hóa về thái độ thiếu tôn trọng và chẳng thèm quan tâm tới người ăn xin tình cờ bắt gặp đến độ mà các chất hóa sinh trong não bộ chúng ta không hề đáp ứng với họ như một con người đích thực.

Đây đó, bạo lực hướng tới người ăn xin và kẻ vô gia cư tiếp tục âm thầm gia tăng. Sau khi đã đặt câu hỏi chất vấn bản thân với thái độ khiêm cung một cách nghiêm trang thì thử tiếp xúc mắt đơn giản rồi mỉm cười với một người đang vạ vật trên đường. Nhờ nỗ lực tiến hành cử chỉ thân thiện như thế, chúng ta sẽ nhận ra rằng lý do để lòng mình nảy sinh cảm giác khó chịu lúc bắt gặp người ăn xin và kẻ vô gia cư là vì họ nhắc nhở chúng ta về những đặc quyền và lắm thứ lợi lạc mình đang được thụ hưởng. Mình không phải ngủ ngoài đường, không phải ngửa tay xin tiền ai đó để mua được bữa ăn ấm bụng.

Vấn đề là đặc ân mình được thụ hưởng không quan trọng hơn nhân tính ở người ăn xin. Nhìn vào mắt họ, gật đầu chào, mỉm cười ý nhị, chúc một ngày may mắn và làm bất kỳ điều chi đối với một đồng loại.

2. Trao tặng (nếu mình có thể)

Người ta đi ăn xin vì có lý do. Bất luận họ đã hành xử ra sao trước đây, hiện tại họ không đáp ứng nổi các nhu cầu sống căn bản như ăn, mặc, chỗ ngủ…

Trong khi truyền thông đưa tin về một số câu chuyện giả danh, lợi dụng lòng tốt để trục lợi cá nhân, thậm chí hình thành cả ‘công nghệ ăn mày’ thì đấy chỉ là mảng xám không đại diện cho đa số người đang chịu đựng bệnh tật, đói rét ở ngoài kia, trên đường phố. Đừng để một thiểu số kẻ dối trá lừa bịp ngăn chặn chúng ta trao tặng biểu hiện thương yêu cho rất nhiều người đang rất cần trợ giúp hàng ngày.

Nhiều người ngần ngại cho tiền vì sợ người ăn xin sẽ dùng vào việc ăn chơi, hút chích, bài bạc,… Nỗi sợ ấy là thái quá vì theo một nghiên cứu công bố tại San Francisco (Hoa Kỳ) vào tháng 3.2013, 94% người được hỏi cho biết họ dùng số tiền xin được cho việc mua thức ăn; chưa tới một nửa số người được hỏi tiêu vào ma túy hoặc rượu bia. Khi trao tiền hoặc thức ăn trực tiếp cho những người này, chúng ta đang trao quyền cho họ để đưa ra lựa chọn, và mình phải tin tưởng rằng tự họ đưa ra được lựa chọn tốt nhất trong hoàn cảnh sống khốn cùng như thế.

Có rất nhiều nhu yếu phẩm và dịch vụ khác mà người ăn xin và kẻ vô gia cư cần đến, dù các tổ chức và cơ quan chức năng đã trợ giúp không ít. Nếu mình vẫn không muốn cho tiền thì thử hỏi trực tiếp họ cần gì để xem mình có thể đáp ứng được không…

3. Dấn thân hoạt động từ thiện

Vậy là mình đã vượt qua não trạng hạ thấp nhân phẩm con người, và cũng đem lại cho một số người cảm giác được an ủi và no ấm trong ngắn hạn. Vậy làm sao dấn bước sâu xa hơn nữa?

Làm từ thiện. Tham gia các tổ chức ở ngay địa phương đang sinh sống để ngăn chặn và làm tiêu trừ hiện tượng ăn xin là cách thể hiện lớn lao cả cho cộng đồng nói chung cũng như với bản thân người ăn xin. Hỏi các tổ chức khi nào và điều họ cần; vận dụng tài nghệ xoay sở và kỹ năng riêng có của bản thân để trợ giúp các tổ chức này. Với từng vị trí và công việc, hãy tham gia giáo dục cộng đồng về các nguyên nhân dẫn đến ăn xin cũng như không ngừng nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để làm trong sạch và lành mạnh hóa môi trường xã hội.

… Đọc loat bài cùng chủ đề lòng lại tự nhủ lòng: tay nâng bát cơm, nhớ công của bao người sẻ chia, giúp đỡ không ngừng để cho mình cơ hội sống qua cơn khốn khó mỗi ngày. Và vì muốn thành đạo nghiệp nên mới thọ nhận thức ăn này.

“Và chúng mình yêu nhau bắt đầu từ độ ấy”…

Yêu thương nở tại vườn tâm...
Yêu thương nở tại vườn tâm…

Một trong những nghèo nàn nhất khi biểu đạt bằng Anh ngữ là chỉ có mỗi động từ ‘love’ để diễn tả các thang bậc và chiều kích cùng sắc thái đa dạng của sự yêu thương; một từ mà định phủ trùm hết thảy đủ thứ cảm xúc rất người này, ngay dù nhiều cách thức và hình tướng của yêu thương.

Chứa toàn bộ điên rồ khi biết mình phải hy sinh bản thân cho con cái, để chăm cả cháu chắt hoặc bất cứ đứa trẻ nào máu mủ ruột rà. Làm thế nào chúng ta kiểm soát hết sức kiên định để luôn phải lòng với những sinh linh chẳng ngừng leo trèo, quậy phá, la hét ỏm tỏi và sẵn sàng nằm vạ khóc tu tu khủng khiếp nếu trái ý bất mãn để rồi chúng vắt kiệt chúng ta về mặt tài chính, thể lý, và cảm xúc? Đó hầu như là dạng kiên định nhất về tính điên rồ rất người.

Đã hết đâu… Còn có tình yêu lãng mạn, và sự thuộc về vốn là dạng điên khùng khác.

Chúng ta cũng thôi thúc phải tìm kiếm tình yêu thuần tinh thần với bạn bè thấu hiểu mình, những người yêu quý và chiều chuộng mình ngay cả khi chúng ta giống đứa trẻ, làm bộ làm tịch và bần tiện đáng khinh lại còn phát ngôn đủ thứ lố lăng nữa.

Và dĩ nhiên, khởi nguyên thì chúng ta xoắn bện với nhu cầu được đón nhận tình yêu thương của bố mẹ và người chăm nom, nuôi dưỡng. Khi thiếu hụt điều ấy từ những năm đầu đời, nó trở thành yếu tính khiến chúng ta ngụy trang để sống còn.

Tình yêu mang tính trị liệu tâm lý là sự kết nối của tất cả ba dạng ấy: tình yêu lãng mạn, tình yêu phụ mẫu, và đôi khi tình yêu ngớ ngẩn thật trẻ con. Các nhà trị liệu hiếm khi nhận ra sâu sắc sự kiện này vì nỗi e sợ thoát khỏi thân chủ và buộc phải sát gần với thực tiễn hành nghề. “Yêu thương”, cái từ mù mờ và mang tính hồi quang khó nắm bắt này mang quá nhiều ý nghĩa thật khác biệt với ai đó không giống nhau; nó không thể bị ném lung tung và buông thả. Vì vậy, chúng ta nói về nó, đôi lúc dùng thuật ngữ lâm sàng là “gắn bó” hoặc “chuyển dịch”, và khi khác đơn giản là “kết nối” hoăc “ràng buộc”.

Thực tế, khá sáo rỗng về chuyện phải lòng với nhà trị liệu. Cái mà văn hóa quần chúng hay lờ đi là sự kiện rằng các nhà trị liệu cũng phải lòng thân chủ của mình. Nếu bạn đang ở trong giai đoạn cần đến trị liệu, tôi cá là nhà trị liệu của bạn đang yêu bạn. Nhà trị liệu yêu đến rồ dại mỗi thân chủ, nếu giả sử hiếm hoi mình không yêu, điều gì đó thật là sai trái lắm. Các nhà trị liệu cũng mong đợi bạn phải lòng. Cần biết rõ, phải lòng nhà trị liệu không hề yếu đuối hoặc tội lỗi hay ngu ngốc hay dở hơi; nó là dấu hiệu đích thực cho các kỹ năng quan hệ và sức khỏe tinh thần tốt lành, đúng đắn.

Phòng trị liệu là nơi chốn ấp ủ tình yêu. Chúng ta có thể thực hành yêu thương ở phòng trị liệu bởi vì cấu trúc bao bọc nó đảm bảo an toàn cho việc này. Các phiên trị liệu khởi đầu và kết thúc đều đặn mỗi tuần. Độ bảo mật và sự thân tín cùng các quy điều đạo đức và pháp luật ngăn cấm nhà trị liệu thiết lập một quan hệ tay đôi (như kiểu bằng hữu, đối tác làm ăn, hoặc bạn tình) với một thân chủ. Chúng ta gọi cấu trúc đó là “khung trị liệu” và nó được đặt để đủ cho bạn thoải mái có bất kỳ và hết thảy cảm xúc của con người, bao gồm yêu thương và hận thù, nộ khí và tri ân, bên trong bốn bức tường yên bình ấy. Phòng trị liệu là phòng thực hành, và điều chúng ta thực hành hầu như kiên định là cảm xúc và các kỹ năng yêu thương.

Chúc Mừng Năm Mới đầy tràn hoan hỉ và an lạc, với tình yêu nhà trị liệu dành cho; mình tốt đẹp, mạnh mẽ, và cực kỳ rất dễ phải lòng.

Nhắn (66): Một mùa Xuân lại gần để nhân quần yêu thương mãi…

Danh sắc còn trên vô thường rất khẽ, ngồi yên an thật mới đón chào xuân.
Danh sắc còn trên vô thường rất khẽ, ngồi yên an thở nhẹ đón chào xuân.

Tất niên Giáp Ngọ bó sát mặt, ngựa vẫn chồn chân, tẩy trần bốn phương chưa chứng đắc;
Khai xuân Ất Mùi nùi sừng chắc, dê khéo cần lao, tạo hứng chúng sinh thành sự nghiệp.

#########

Năm mới Ất Mùi vừa sang

tặng nhau hiện diện đàng hoàng tâm- thân;

đào hồng nương ánh thanh tân

tháng ngày bình thản tri ân người đời…

Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

Tên giết người, kẻ cười biếm và sự chế nhạo tế vi sinh tử: trong nỗi khổ đau chung đụng

Thế giới của những chỉ trích lại qua cao độ càng dễ làm tăng thêm mức nguy hiểm âm ỉ từ nỗi niềm hận thù tích chứa khó lường trong lòng. Vụ thảm sát ở Paris vừa qua chắc khó khiến người ta ngoác miệng nhìn nhau hỉ hả được, bất chấp tranh luận trong ngoài hiện vẫn còn tiếp diễn dây dưa…

Ai quan tâm tìm hiểu văn học- nghệ thuật Pháp chẳng khó nắm bắt các sắc thái châm biếm, trào phúng khác nhau qua các thời đại, với phong vị Rabelaisian hay khí chất kiểu Voltairean. Khởi từ thời nổi loạn ấn tượng 5- 6.1969, các bức tranh biếm họa của tờ báo ra hàng tuần Charlie Hebdo mang cả lối đả kích chính trị hồi Charles de Gaulle trộn lẫn kiểu minh họa dung dị Charlie Brown.

Nếu biếm họa quả là một truyền thống Pháp thì càng dễ hiểu cơn cớ người ta cố bảo vệ quyền tự do biểu đạt, và tính cách ấy góp phần lý giải tại sao cần gìn giữ khả năng gây sốc của nghệ thuật.

Vấn đề đáng tìm hiểu nghiêm túc: liệu các biếm họa mang quyền năng hơn hẳn nghệ thuật đích thực? Và thật phi lý khi giới truyền thông toàn cầu lờ các vụ thảm sát ở lục địa đen Phi châu và sẵn lòng hừng hực đương đầu khi sự cố chết người xảy đến ở châu Âu già cỗi? Lần cuối cùng một nghệ sĩ thị giác bị giết bởi một tác phẩm gây tranh cãi là khi nào, hay các điểm khác biệt giữa nghệ thuật bình dân với hội họa, mỹ thuật?

Không chỉ tranh biếm họa, phim ảnh cũng từng trở thành đối tượng để các kẻ cực đoan sát hại tác giả. Và lần nữa, lich sử nghệ thuật vẫn sẵn có ví dụ về sắp đặt được mua với giá $20.000 và ngay cả khi bị cho là ‘gớm chết’ thì khi khởi kiện, phía Bảo tàng vẫn thắng, bất chấp đề tài chạm tới các biểu tượng tôn kính của Công giáo La Mã.

Dĩ nhiên, đó không phải là câu chuyện nhắm tới ý khoan dung tôn giáo; kỳ thực, người làm chuyên môn có thể nảy sinh nhu cầu phân biệt giữa biếm họa và mỹ thuật. Kiểu biếm họa (cartoon) thì vẽ liền ngay, dễ xem, và thường được khởi thảo để trêu tức, khiêu khích; nghệ thuật (art) thì thường dự tính, mang ý định tạo vết cắt buốt chầm chậm về sau, nó đề xuất nhiều vấn đề và câu trả lời. Các nhà vẽ tranh biếm họa biết họ dễ bị đưa lên giá chữ thập:

Vẽ tranh biếm họa là tay cực tối giản, và những kẻ chuyên quyền, bạo chúa cũng tối giản đâu kém… Vì thế, họ hiểu quyền lực của biếm họa. Những người vẽ biếm họa thường rất giỏi chuyện chưng cất, tinh luyện, họ đánh thức theo cách hết sức dễ hiểu… và đó là lý do tại sao các bức tranh thật đáng sợ.

Và sự sinh, sinh sự nên tất xuất hiện ý kiến “tự do báo chi không có nghĩa thoát khỏi mọi phê bình” đi kèm với nhận định rằng nghệ thuật không coi trọng quá tính thiêng.

Thực tiễn nhân loại chỉ ra, duy mỗi con người trong các tạo vật trần gian mới có thể suy tư, nói năng, và làm ra các tác phẩm; trầm tư rồi nhận thấy tính Vô hạn; rằng nghệ thuật nhân loại, như nghệ thuật thần thánh bao gồm cả hai mặt của các khía cạnh định rõ và không xác lập nổi, cả cần thiết lẫn tự do, gồm trạng thái run rẩy lẫn niềm vui thú.

Nghệ thuật thế tục do vậy, được phân biệt với nghệ thuật của tính thiêng: trong nghệ thuật tính thiêng (sacred art) những gì đặt định sẵn vượt qua mọi thứ là nội dung và việc sử dụng tác phẩm, còn với nghệ thuật thế tục (profane art) những cái đó chỉ là cớ cho việc nảy nở niềm vui sáng tạo…

Chắc chắn, đấy là cuộc chung đụng bất khả chối bỏ, chẳng ít tai ương và đầy đau khổ.

Nhận ra điểm khác biệt giữa hiệu năng và sự học hỏi

Thực tế trêu ngươi là dù tiến trình học hỏi có vẻ được hiểu kỹ càng lắm rồi, thế mà chúng ta vẫn thất bại trong việc vận dụng những gì mình đã biết.

Khi thấu tỏ học hỏi là chi, và hiệu năng thể hiện khác biệt như nào với việc học hỏi, các bậc phụ huynh dễ phát hiện một điều nghịch lý rằng, đứa cháu gái mình đạt 100% tất cả các lịch biểu học tập đề ra hàng ngày lại trở thành điều tồi tệ.

Tưởng tượng có câu chuyện về hai lớp học.

Lớp đầu tiên tuy không quá đặc biệt song nó khác với hầu hết lớp học trẻ con chúng ta quen thuộc. Trong lớp này, giáo viên phát tận tay mỗi em lịch biểu công việc học tập riêng tự bản thân tiến hành, không nhờ ai giúp đỡ cả. Một nữ sinh giả dụ tên là Lan, liếc xéo tờ lịch biểu học tập; nó dưới tầm của cô bé và cơ bản hơn, gây phiền phức cho dịp được nghỉ ngơi ở nhà của Lan. Cỡ mười phút sau, Lan đã làm xong nên cô bé ngó mông lung lên trần nhà chờ bạn bè còn đang loay hoay. Cô bé đang học hỏi rằng thành công đến với mình không phải do mình chăm chỉ ra sao mà chỉ bởi vì mình giỏi giang hơn hẳn bạn bè.

Trong khi đó, cậu bé Dũng ngồi bên cạnh Lan lại đang trầy trật với câu hỏi. Cậu chàng nhìn chăm chăm vào tờ giấy và bóp đầ,u vắt trán cho tới khi lời giải lóe lên. Dù nỗ lực gắng sức hoàn thành xong lịch biểu bài tập, Dũng vẫn cảm thấy tồi tệ vì e rằng có đôi câu hỏi trả lời sai và tốn nhiều thời gian so với Lan. Cậu nghĩ thầm tại sao mình không giỏi giống như Lan.

Lúc này, Hoa ngồi kế bên Dũng, lại úp mặt xuống bàn. Cô bé không hiểu tờ lịch biểu công việc này. Hoa mơ hồ về nó có thể vì hồi đêm ngủ không đủ giấc, bị chuyển tới đây học kỳ rồi, hoặc đang buồn thiu do không được chẩn đoán là gặp khó khăn trong học tập. Chẩn đoán bất thường về cô bé (do bạn cùng lớp và cả giáo viên đánh giá) là lười biếng và không thông minh cho lắm, và cô bé thật may mắn lắm thì mới theo kịp chương trình. Tỷ dụ, Hoa hình dung sẽ thế nào nếu em ngỏ lời nhờ Lan hoăc Dũng bày vẽ, giúp đỡ mà điều đó thì trái với nguyên tắc, quy định. Vả lại, gì đi nữa, cô bé Hoa biết rằng mình sẽ luôn là kẻ đội sổ lớp dù có cố gắng hay không; vậy thì quan tâm, lo lắng để làm gì cơ chứ…

Bây giờ, chúng ta chuyển sang một lớp khác: một lớp học về bơi lội. Ngôi trường này chú trọng dạy các bài học bơi với từng em hơn là bài học bơi chung cho cả nhóm. Mỗi giáo viên hướng dẫn không chỉ bơi lội giỏi mà còn hiểu biết về các tiến trình cũng như giai đoạn học sinh thường trải qua từ trình độ sơ cơ cho đến thành vận động viên tiềm năng. Vượt trên các kỹ năng vật lý của việc bơi lội, các hướng dẫn viên này có các hiểu biết thực tế về khả năng của mỗi em trong việc phối hợp các động tác cơ thể, lưu giữ chú ý, cũng như điều kiện và sức chịu đựng… Họ biết các điều ấy vì họ luôn giám sát và lượng giá đều đặn tiến bộ ở từng học sinh. Các giáo viên dạy bơi chỉ ra ngay lập tức và nhắc nhở liên tục về những thành công và vấn đề đủ cho một học sinh có vô vàn cơ hội cải thiện với từng bài học trong 30 phút.

Ấn tượng nhất là cách các hướng dẫn viên ở đây hết sức tránh việc huấn luyện kỹ năng thành lão luyện. Khi một học sinh đạt khả năng cơ bản để dùng như một kỹ năng thì người hướng dẫn tạo ra điều mới mẻ mang tính thách thức hơn chút. Chỉ cần một học sinh đã học cách đập chân ở kiểu bơi tự do (còn hơi khó khăn) thì em này đã sẵn sàng để được bày các nguyên tắc cơ bản cho kiểu bơi bướm. Sau khi thiết lập kỹ năng cơ bản, việc ôn luyện sẽ diễn ra vài tuần để kỹ năng đó ngày càng thuần thục hơn song không bao giờ để nó thành việc học gạo, diễn ra đều đều mỗi ngày. Các huấn luyện viên ‘đòi hỏi’ học sinh vươn xa hơn khả năng các em có thể đạt được, ngay cả khi việc đòi hỏi ấy tạo nên ‘sai sót’ tầm 50- 75%, vì mục tiêu là nhắm vào tạo lập các cải thiện nho nhỏ mỗi lần… Trẻ bị thách thức, động viên và đề nghị dấn thân. Bố mẹ các em ngạc nhiên biết bao bởi sau một thời gian ngắn, con em họ đã tiến bộ trông thấy.

Có hàng tá khác biệt quan trọng giữa hai kịch bản nêu trên, song ở đây chỉ muốn nhấn mạnh duy nhất một thứ. Trong lớp học truyền thống, thành công được đo bởi việc thể hiện sự giỏi giang, lão luyện, thuần thục và chính xác: một dạng thức đo lường cho hiệu năng tiến hành. Đo lường hiệu năng không xấu, song nếu chúng ta mải mê với sự kiện rằng hiệu năng là cái đợi mình sau chặng đường dài của cái gọi là ‘học hỏi’ thì rồi mình sẽ dễ thành người như bé Lan (thường học tập không cần mấy cố gắng, và không biết làm sao khi gặp chuyện khó nhằn), hoặc như Dũng (dù không ngừng học hỏi song lại cảm thấy kém cỏi vì không đạt mức hiệu năng cao như Lan), hoặc là Hoa (bị đẩy ngồi vượt cao hơn trình độ song không ai phản hồi hoặc giúp đỡ và do đó, bị tổn thương đến độ dễ thấy mình tuyệt vọng, không học tập nổi).

Cho dù chuyện hướng dẫn cá nhân cho mỗi một em học sinh là điều không thực tế lắm, vẫn tin rằng những gì các huấn luyện viên bơi lội biết rõ và thực hành xứng đáng đem vào từng lớp học. Những học sinh tài năng như Lan cần hiểu rằng tài năng của các em không phải là thứ vé ưu tiên để vào cửa hàng bánh kẹo ăn uống thoải mái, và rằng có thể các em thừa khả năng học hỏi mà không cần gắng sức bao nhiêu khi còn bé, song trừ khi các em trở nên thành thạo trong ứng dụng các kỹ năng từ chất liệu học hỏi nằm bên ngoài vòng tay nắm bắt của mình, bằng không các em sẽ khuyết tật về mặt học thuật ngay khi tốt nghiệp, rời nghế nhà trường phổ thông hoặc đại học. Tất cả học sinh tựa bạn Dũng, những người học hành chăm chỉ song thất vọng với bản thân đến độ ngóng trông sang các học sinh tài năng bay bổng nhẹ nhàng mà cóc thèm đầu tư bao nhiêu, cần biết rằng đâu là điều mà những người học hỏi thực sự đang tiến hành.

Thói quen áp dụng năng lực tập trung chú ý và chuyên cần, chăm chỉ hình như bắt đầu đã được ít nhiều đánh giá cao hơn các điểm số bài thi và bằng cấp. Và vì các em như Hoa ở đời, những học sinh sẽ bị vứt xuống đáy tháp tức khắc nếu không sẵn sàng, cần biết rằng không có khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó chẳng phải là lời buộc tội, nó đúng hơn là dấu chỉ để kiếm tìm nguồn cơn của vấn đề và truy cầu một cách thức vòng qua trở ngại để học hỏi.

Nếu chúng ta xác định việc học hỏi quan trọng hơn hiệu năng thể hiện thì rồi tôi tin, chúng ta sẽ được nhìn thấy ở trong các ngôi trường hiện nay trên khắp đất nước còn vô vàn khó khăn này những gì từng chứng kiến ở lớp học bơi: cam kết đầy hứa hẹn, nhiệt tình năng động, và tiến bộ không ngừng vượt xa mọi kỳ vọng, mong chờ của chúng ta.

Công việc cho người đang trong giai đoạn lờ đờ

Thay cho chuyện luôn luôn cố gắng hết sức để làm tốt nhất, chúng ta có thể tiến hành hay hơn nhờ sắp đặt bản thân hướng tới sự thành công khi mình cảm thấy đang ‘chết não’.

Hai trong vô số huyền thoai đắng ngắt thiên hạ thích nuốt là ‘nhiều năng lượng’ và ‘cải thiện sự tập trung’. Có thể mấy thứ này đáng giá, song thật dễ dàng biến chúng thành cực đoan. Các lợi lạc vặt vãnh do tự trợ hoặc thiếu vắng những mong đợi thực tế rồi ra sẽ dẫn đưa ta hướng về mục tiêu sai lầm của trạng thái ‘luôn luôn bừng sáng’ hoặc ‘tốc độ 100%’.

Thực tế, hiếm khi đạt 100% và đôi khi đòi buộc trong bóng tối cần nghỉ ngơi nhằm phục hồi, chúng ta cũng tiêu hàng giờ ‘tích cực’ khó thoát khỏi việc chú ý quá mức và mê đắm ngập tràn.

Quan sát, hỏi chuyện dân viết code và lập trình giúp nhận ra nhu cầu rất cần mã lực tinh thần hơn bất kỳ thứ việc nào tôi từng biết. Ngồi trước một chương trình trục trặc đâu đó để cố gắng phát hiện lỗi sai rồi tìm cách chỉnh sửa quả nhọc nhằn chẳng kém gì chuyện tham gia kỳ thi toán nâng cao. Nếu 8 giờ sáng khởi động thì rệu rã vào giờ trưa, sau đó làm tiếp thì khả năng cao bắt gặp mình lúc đêm khuya tin rằng có gì không ổn ở đây do mọi thứ thôi còn trơn tru, lăn êm tròn trịa như trước.

Chẳng mấy chốc, người trong cuộc học hỏi được rằng nên có một thời gian hàng ngày hạn chế sự tập trung chú ý. Cơ chừng dân lập trình ngần ngại và khó chịu với việc chấp nhận các giới hạn rất người tồn tại trong họ; nhìn nhận khách quan vén lộ cả loạt chiến lược cần tiến hành lấp hố đất khai quật lại với công việc kéo dài hơn tám tiếng mỗi ngày để chỉ nên theo đuổi, chú tâm cao đội tầm ba giờ thôi.

Nếu tin xấu là chúng ta đã văng ra ít nhiều khỏi trò chơi hoặc thậm chí ‘chết não’ vì ngày làm việc quá nhiều, tin tốt là chúng ta không nhất thiết đứng đầu trò chơi đặng duy trì đôi chút tiến bộ. Bên ngoài công sở và văn phòng, hầu hết người lao động phải giải quyết khéo léo vô vàn sự vụ. Một số đòi hỏi nhiều chú ý, một số khác thì it hơn. Trang bị một bảng kiểm công việc toàn diện đi kèm vài ba hiểu biết về các yêu cầu liên quan mỗi một nhiệm vụ thì có thể giúp các năng lực bản thân xứng hợp với yêu cầu công việc.

Một trở ngại đối với cách tiếp cận ‘chết não song vẫn năng sản’ là niềm tin rằng chỉ làm việc chăm chỉ thì mới đích thị là làm việc. Sự thật ‘làm việc chăm chỉ’, gồm cả công việc sáng tạo đòi hỏi tư duy độc đáo, được xây dựng trên sống lưng của lủ khủ nỗ lực tầm thường. Mỗi đầu bếp giỏi giang biết thừa rằng giữ bếp núc sạch sẽ và mọi thứ đặt để trật tự cho phép họ vận hành công việc trơn tru, ngon nghẻ. Với thế giới phát triển phần mềm, thực hành viết code giỏi không chỉ đòi hỏi phân tích sâu và trực giác tốt mà còn cả chuyện ‘giữ gìn nhà cửa ngăn nắp’ gồm bảo quản bộ tài liệu, xử lý các điều kiệu mắc lỗi hay gặp, định dạng code dễ đọc hơn nữa… Từng công việc kiểu dân lập trình và phát triển phần mềm thế thì không thuần túy chỉ cực nhọc ghê gớm mà hầu như chẳng bao giờ đáng tưởng thưởng ngay lập tức, chưa nói gây nhiều hụt hẫng, đau đầu và gia công lại,..

Vượt trên yêu cầu không ngừng nhận ra các dạng kiểu công việc khác nhau đòi hỏi năng lượng tinh thần khác nhau, những nhiệm vụ năng lượng thấp cần thiết được cài đặt đặc thù nhằm tạo nên sự sẵn sàng ứng phó với trạng thái lờ đờ, thiếu sinh khí. Công việc dễ trở nên khó nhằn hơn hoặc bất khả thực hiện nếu các cứ liệu, vật tư chưa bày biện phù hợp. Người ta dễ kinh hãi và tránh dọn dẹp, lau chùi nhà cửa nếu trước đó họ cảm thấy thiếu nguồn cung cấp cần thiết và đặt chúng nơi gần nhất họ quen sử dụng.

Các công việc lờ đờ, vật vờ thì khá quen thuộc. Nếu muốn một công việc có khả năng tiến hành khi chết não, cần đoan chắc thực hiện nó cùng cách thức đời thường. Nhịp điệu đều đặn cất bỏ bất kỳ điểm mấu chốt quyết định nào mà nó sẽ hút cạn sức lực ghê gớm song lại không thể biểu tỏ nổi khi ta khô héo tinh thần. Nhặt lấy rác rưởi, thứ phẩm vô giá trị cùng một nơi chốn thực thi ấy. Chẳng mấy chốc hành động vun vén, quét dọn sạch sẽ thành thói quen và khởi sự chuỗi liên tiếp sẽ dễ mang mình dọc theo vụ việc cho đến lúc hoàn mãn, chung cuộc.

Các bản ngã lờ đờ, thiếu sinh khí của ta không bắt đầu nhiệm vụ trừ khi có cú lẩy chuyên biệt để khơi mào chúng chuyển động. Ai hâm mộ loạt phim xác chết biết đi tất sẽ nhận ra nhanh chóng rằng chúng tụ lại bầy đàn nhờ đủ kiểu loại tiếng ồn, nhất là các cú súng bắn ầm ĩ. Về mặt biểu tượng, chúng ta cần được phép bắt tay ngay để hoàn thành công việc theo thông lệ. Đôi khi, điều đó hàm ý cần kiểm định các nhiệm vụ vật vờ diễn ra với quan điểm thoải mái, hoặc bố trí các thứ cần trong tầm nhìn, kiểu cái chổi và khay đựng rác đặt cạnh máy giặt vậy.

Thực tế, nên đơn giản hóa và sắp xếp hợp lý hóa công việc đối với mọi nhiệm vụ lớn bé, phức tạp và dễ dàng. Nếu được chọn, chắc thiên hạ không từ chối quyền có hầu hết công việc thuộc dạng ‘việc vờ vật’ khiến mình có thể hoặc không thể tiến hành lọt ra ngoài sự dõi theo của lý tính. Nhận thấy các giới hạn trong sự chú ý và lên kế hoạch để khả thể khiến nó thành công ở mức độ nhất định, bất chấp trạng thái tâm trí ra sao.