Nhận ra điểm khác biệt giữa hiệu năng và sự học hỏi

Thực tế trêu ngươi là dù tiến trình học hỏi có vẻ được hiểu kỹ càng lắm rồi, thế mà chúng ta vẫn thất bại trong việc vận dụng những gì mình đã biết.

Khi thấu tỏ học hỏi là chi, và hiệu năng thể hiện khác biệt như nào với việc học hỏi, các bậc phụ huynh dễ phát hiện một điều nghịch lý rằng, đứa cháu gái mình đạt 100% tất cả các lịch biểu học tập đề ra hàng ngày lại trở thành điều tồi tệ.

Tưởng tượng có câu chuyện về hai lớp học.

Lớp đầu tiên tuy không quá đặc biệt song nó khác với hầu hết lớp học trẻ con chúng ta quen thuộc. Trong lớp này, giáo viên phát tận tay mỗi em lịch biểu công việc học tập riêng tự bản thân tiến hành, không nhờ ai giúp đỡ cả. Một nữ sinh giả dụ tên là Lan, liếc xéo tờ lịch biểu học tập; nó dưới tầm của cô bé và cơ bản hơn, gây phiền phức cho dịp được nghỉ ngơi ở nhà của Lan. Cỡ mười phút sau, Lan đã làm xong nên cô bé ngó mông lung lên trần nhà chờ bạn bè còn đang loay hoay. Cô bé đang học hỏi rằng thành công đến với mình không phải do mình chăm chỉ ra sao mà chỉ bởi vì mình giỏi giang hơn hẳn bạn bè.

Trong khi đó, cậu bé Dũng ngồi bên cạnh Lan lại đang trầy trật với câu hỏi. Cậu chàng nhìn chăm chăm vào tờ giấy và bóp đầ,u vắt trán cho tới khi lời giải lóe lên. Dù nỗ lực gắng sức hoàn thành xong lịch biểu bài tập, Dũng vẫn cảm thấy tồi tệ vì e rằng có đôi câu hỏi trả lời sai và tốn nhiều thời gian so với Lan. Cậu nghĩ thầm tại sao mình không giỏi giống như Lan.

Lúc này, Hoa ngồi kế bên Dũng, lại úp mặt xuống bàn. Cô bé không hiểu tờ lịch biểu công việc này. Hoa mơ hồ về nó có thể vì hồi đêm ngủ không đủ giấc, bị chuyển tới đây học kỳ rồi, hoặc đang buồn thiu do không được chẩn đoán là gặp khó khăn trong học tập. Chẩn đoán bất thường về cô bé (do bạn cùng lớp và cả giáo viên đánh giá) là lười biếng và không thông minh cho lắm, và cô bé thật may mắn lắm thì mới theo kịp chương trình. Tỷ dụ, Hoa hình dung sẽ thế nào nếu em ngỏ lời nhờ Lan hoăc Dũng bày vẽ, giúp đỡ mà điều đó thì trái với nguyên tắc, quy định. Vả lại, gì đi nữa, cô bé Hoa biết rằng mình sẽ luôn là kẻ đội sổ lớp dù có cố gắng hay không; vậy thì quan tâm, lo lắng để làm gì cơ chứ…

Bây giờ, chúng ta chuyển sang một lớp khác: một lớp học về bơi lội. Ngôi trường này chú trọng dạy các bài học bơi với từng em hơn là bài học bơi chung cho cả nhóm. Mỗi giáo viên hướng dẫn không chỉ bơi lội giỏi mà còn hiểu biết về các tiến trình cũng như giai đoạn học sinh thường trải qua từ trình độ sơ cơ cho đến thành vận động viên tiềm năng. Vượt trên các kỹ năng vật lý của việc bơi lội, các hướng dẫn viên này có các hiểu biết thực tế về khả năng của mỗi em trong việc phối hợp các động tác cơ thể, lưu giữ chú ý, cũng như điều kiện và sức chịu đựng… Họ biết các điều ấy vì họ luôn giám sát và lượng giá đều đặn tiến bộ ở từng học sinh. Các giáo viên dạy bơi chỉ ra ngay lập tức và nhắc nhở liên tục về những thành công và vấn đề đủ cho một học sinh có vô vàn cơ hội cải thiện với từng bài học trong 30 phút.

Ấn tượng nhất là cách các hướng dẫn viên ở đây hết sức tránh việc huấn luyện kỹ năng thành lão luyện. Khi một học sinh đạt khả năng cơ bản để dùng như một kỹ năng thì người hướng dẫn tạo ra điều mới mẻ mang tính thách thức hơn chút. Chỉ cần một học sinh đã học cách đập chân ở kiểu bơi tự do (còn hơi khó khăn) thì em này đã sẵn sàng để được bày các nguyên tắc cơ bản cho kiểu bơi bướm. Sau khi thiết lập kỹ năng cơ bản, việc ôn luyện sẽ diễn ra vài tuần để kỹ năng đó ngày càng thuần thục hơn song không bao giờ để nó thành việc học gạo, diễn ra đều đều mỗi ngày. Các huấn luyện viên ‘đòi hỏi’ học sinh vươn xa hơn khả năng các em có thể đạt được, ngay cả khi việc đòi hỏi ấy tạo nên ‘sai sót’ tầm 50- 75%, vì mục tiêu là nhắm vào tạo lập các cải thiện nho nhỏ mỗi lần… Trẻ bị thách thức, động viên và đề nghị dấn thân. Bố mẹ các em ngạc nhiên biết bao bởi sau một thời gian ngắn, con em họ đã tiến bộ trông thấy.

Có hàng tá khác biệt quan trọng giữa hai kịch bản nêu trên, song ở đây chỉ muốn nhấn mạnh duy nhất một thứ. Trong lớp học truyền thống, thành công được đo bởi việc thể hiện sự giỏi giang, lão luyện, thuần thục và chính xác: một dạng thức đo lường cho hiệu năng tiến hành. Đo lường hiệu năng không xấu, song nếu chúng ta mải mê với sự kiện rằng hiệu năng là cái đợi mình sau chặng đường dài của cái gọi là ‘học hỏi’ thì rồi mình sẽ dễ thành người như bé Lan (thường học tập không cần mấy cố gắng, và không biết làm sao khi gặp chuyện khó nhằn), hoặc như Dũng (dù không ngừng học hỏi song lại cảm thấy kém cỏi vì không đạt mức hiệu năng cao như Lan), hoặc là Hoa (bị đẩy ngồi vượt cao hơn trình độ song không ai phản hồi hoặc giúp đỡ và do đó, bị tổn thương đến độ dễ thấy mình tuyệt vọng, không học tập nổi).

Cho dù chuyện hướng dẫn cá nhân cho mỗi một em học sinh là điều không thực tế lắm, vẫn tin rằng những gì các huấn luyện viên bơi lội biết rõ và thực hành xứng đáng đem vào từng lớp học. Những học sinh tài năng như Lan cần hiểu rằng tài năng của các em không phải là thứ vé ưu tiên để vào cửa hàng bánh kẹo ăn uống thoải mái, và rằng có thể các em thừa khả năng học hỏi mà không cần gắng sức bao nhiêu khi còn bé, song trừ khi các em trở nên thành thạo trong ứng dụng các kỹ năng từ chất liệu học hỏi nằm bên ngoài vòng tay nắm bắt của mình, bằng không các em sẽ khuyết tật về mặt học thuật ngay khi tốt nghiệp, rời nghế nhà trường phổ thông hoặc đại học. Tất cả học sinh tựa bạn Dũng, những người học hành chăm chỉ song thất vọng với bản thân đến độ ngóng trông sang các học sinh tài năng bay bổng nhẹ nhàng mà cóc thèm đầu tư bao nhiêu, cần biết rằng đâu là điều mà những người học hỏi thực sự đang tiến hành.

Thói quen áp dụng năng lực tập trung chú ý và chuyên cần, chăm chỉ hình như bắt đầu đã được ít nhiều đánh giá cao hơn các điểm số bài thi và bằng cấp. Và vì các em như Hoa ở đời, những học sinh sẽ bị vứt xuống đáy tháp tức khắc nếu không sẵn sàng, cần biết rằng không có khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó chẳng phải là lời buộc tội, nó đúng hơn là dấu chỉ để kiếm tìm nguồn cơn của vấn đề và truy cầu một cách thức vòng qua trở ngại để học hỏi.

Nếu chúng ta xác định việc học hỏi quan trọng hơn hiệu năng thể hiện thì rồi tôi tin, chúng ta sẽ được nhìn thấy ở trong các ngôi trường hiện nay trên khắp đất nước còn vô vàn khó khăn này những gì từng chứng kiến ở lớp học bơi: cam kết đầy hứa hẹn, nhiệt tình năng động, và tiến bộ không ngừng vượt xa mọi kỳ vọng, mong chờ của chúng ta.

Công việc cho người đang trong giai đoạn lờ đờ

Thay cho chuyện luôn luôn cố gắng hết sức để làm tốt nhất, chúng ta có thể tiến hành hay hơn nhờ sắp đặt bản thân hướng tới sự thành công khi mình cảm thấy đang ‘chết não’.

Hai trong vô số huyền thoai đắng ngắt thiên hạ thích nuốt là ‘nhiều năng lượng’ và ‘cải thiện sự tập trung’. Có thể mấy thứ này đáng giá, song thật dễ dàng biến chúng thành cực đoan. Các lợi lạc vặt vãnh do tự trợ hoặc thiếu vắng những mong đợi thực tế rồi ra sẽ dẫn đưa ta hướng về mục tiêu sai lầm của trạng thái ‘luôn luôn bừng sáng’ hoặc ‘tốc độ 100%’.

Thực tế, hiếm khi đạt 100% và đôi khi đòi buộc trong bóng tối cần nghỉ ngơi nhằm phục hồi, chúng ta cũng tiêu hàng giờ ‘tích cực’ khó thoát khỏi việc chú ý quá mức và mê đắm ngập tràn.

Quan sát, hỏi chuyện dân viết code và lập trình giúp nhận ra nhu cầu rất cần mã lực tinh thần hơn bất kỳ thứ việc nào tôi từng biết. Ngồi trước một chương trình trục trặc đâu đó để cố gắng phát hiện lỗi sai rồi tìm cách chỉnh sửa quả nhọc nhằn chẳng kém gì chuyện tham gia kỳ thi toán nâng cao. Nếu 8 giờ sáng khởi động thì rệu rã vào giờ trưa, sau đó làm tiếp thì khả năng cao bắt gặp mình lúc đêm khuya tin rằng có gì không ổn ở đây do mọi thứ thôi còn trơn tru, lăn êm tròn trịa như trước.

Chẳng mấy chốc, người trong cuộc học hỏi được rằng nên có một thời gian hàng ngày hạn chế sự tập trung chú ý. Cơ chừng dân lập trình ngần ngại và khó chịu với việc chấp nhận các giới hạn rất người tồn tại trong họ; nhìn nhận khách quan vén lộ cả loạt chiến lược cần tiến hành lấp hố đất khai quật lại với công việc kéo dài hơn tám tiếng mỗi ngày để chỉ nên theo đuổi, chú tâm cao đội tầm ba giờ thôi.

Nếu tin xấu là chúng ta đã văng ra ít nhiều khỏi trò chơi hoặc thậm chí ‘chết não’ vì ngày làm việc quá nhiều, tin tốt là chúng ta không nhất thiết đứng đầu trò chơi đặng duy trì đôi chút tiến bộ. Bên ngoài công sở và văn phòng, hầu hết người lao động phải giải quyết khéo léo vô vàn sự vụ. Một số đòi hỏi nhiều chú ý, một số khác thì it hơn. Trang bị một bảng kiểm công việc toàn diện đi kèm vài ba hiểu biết về các yêu cầu liên quan mỗi một nhiệm vụ thì có thể giúp các năng lực bản thân xứng hợp với yêu cầu công việc.

Một trở ngại đối với cách tiếp cận ‘chết não song vẫn năng sản’ là niềm tin rằng chỉ làm việc chăm chỉ thì mới đích thị là làm việc. Sự thật ‘làm việc chăm chỉ’, gồm cả công việc sáng tạo đòi hỏi tư duy độc đáo, được xây dựng trên sống lưng của lủ khủ nỗ lực tầm thường. Mỗi đầu bếp giỏi giang biết thừa rằng giữ bếp núc sạch sẽ và mọi thứ đặt để trật tự cho phép họ vận hành công việc trơn tru, ngon nghẻ. Với thế giới phát triển phần mềm, thực hành viết code giỏi không chỉ đòi hỏi phân tích sâu và trực giác tốt mà còn cả chuyện ‘giữ gìn nhà cửa ngăn nắp’ gồm bảo quản bộ tài liệu, xử lý các điều kiệu mắc lỗi hay gặp, định dạng code dễ đọc hơn nữa… Từng công việc kiểu dân lập trình và phát triển phần mềm thế thì không thuần túy chỉ cực nhọc ghê gớm mà hầu như chẳng bao giờ đáng tưởng thưởng ngay lập tức, chưa nói gây nhiều hụt hẫng, đau đầu và gia công lại,..

Vượt trên yêu cầu không ngừng nhận ra các dạng kiểu công việc khác nhau đòi hỏi năng lượng tinh thần khác nhau, những nhiệm vụ năng lượng thấp cần thiết được cài đặt đặc thù nhằm tạo nên sự sẵn sàng ứng phó với trạng thái lờ đờ, thiếu sinh khí. Công việc dễ trở nên khó nhằn hơn hoặc bất khả thực hiện nếu các cứ liệu, vật tư chưa bày biện phù hợp. Người ta dễ kinh hãi và tránh dọn dẹp, lau chùi nhà cửa nếu trước đó họ cảm thấy thiếu nguồn cung cấp cần thiết và đặt chúng nơi gần nhất họ quen sử dụng.

Các công việc lờ đờ, vật vờ thì khá quen thuộc. Nếu muốn một công việc có khả năng tiến hành khi chết não, cần đoan chắc thực hiện nó cùng cách thức đời thường. Nhịp điệu đều đặn cất bỏ bất kỳ điểm mấu chốt quyết định nào mà nó sẽ hút cạn sức lực ghê gớm song lại không thể biểu tỏ nổi khi ta khô héo tinh thần. Nhặt lấy rác rưởi, thứ phẩm vô giá trị cùng một nơi chốn thực thi ấy. Chẳng mấy chốc hành động vun vén, quét dọn sạch sẽ thành thói quen và khởi sự chuỗi liên tiếp sẽ dễ mang mình dọc theo vụ việc cho đến lúc hoàn mãn, chung cuộc.

Các bản ngã lờ đờ, thiếu sinh khí của ta không bắt đầu nhiệm vụ trừ khi có cú lẩy chuyên biệt để khơi mào chúng chuyển động. Ai hâm mộ loạt phim xác chết biết đi tất sẽ nhận ra nhanh chóng rằng chúng tụ lại bầy đàn nhờ đủ kiểu loại tiếng ồn, nhất là các cú súng bắn ầm ĩ. Về mặt biểu tượng, chúng ta cần được phép bắt tay ngay để hoàn thành công việc theo thông lệ. Đôi khi, điều đó hàm ý cần kiểm định các nhiệm vụ vật vờ diễn ra với quan điểm thoải mái, hoặc bố trí các thứ cần trong tầm nhìn, kiểu cái chổi và khay đựng rác đặt cạnh máy giặt vậy.

Thực tế, nên đơn giản hóa và sắp xếp hợp lý hóa công việc đối với mọi nhiệm vụ lớn bé, phức tạp và dễ dàng. Nếu được chọn, chắc thiên hạ không từ chối quyền có hầu hết công việc thuộc dạng ‘việc vờ vật’ khiến mình có thể hoặc không thể tiến hành lọt ra ngoài sự dõi theo của lý tính. Nhận thấy các giới hạn trong sự chú ý và lên kế hoạch để khả thể khiến nó thành công ở mức độ nhất định, bất chấp trạng thái tâm trí ra sao.

J. Soi (40): Không có Hà Nội bồi hồi trong gió và tôi

Chẳng biết đã kịp soi dáng mình và nhận thấy bóng mờ để lại hay chưa, mùa thu điệu đàng vào độ tháng Mười (Tây) này thật khẽ khàng quá đỗi.

Tôi biết Hà Nội mềm mại cùng em, từ ngõ Tạm Thương.

Thời khắc chuyển nhanh mỗi ngày càng khiến tiết trời thấm cái không khí giăng hờ sương khói. Trên tầng nhà, trông ra hồ Tây, nỗi niềm bàng bạc ấy là thứ đặc sản của biết ơn người con gái mềm môi dùng trọn hết tháng năm tuổi xuân xoay vần tay ôm dịu dàng an ủi.

Đó cũng là cữ hàng cây Yên Phụ lầm lũi trút lá bàng hoàng. Ngôi chùa Kim Liên ẩn náu mối tình vội thoáng hơi thở đêm ngân ngấn chút tâm linh sóc vọng. Những buổi sáng dạo bộ dọc theo mé nước, giữa mưa trút cản ngăn lối về, làn da ấy và khuôn mặt ấy ngời lên niềm tin yêu bình thản.

Bệnh đãng trí và mấy đận mộng mơ cuồn cuộn sương giăng khi thuyền vừa rời bến. Ấy là mùi hoa gây mùi thương nhớ tóc mây lúc ngày mờ nhòe mặt tình xa. Con lộ bé nhỏ xuyên giàn cây leo buông thả từng chùm ngây thổ lộ với đời về một nỗi niềm tiếc nuối; vị muối mặn gừng cay, tập tàng cải cúc vẫn đủ độ men nồng đắm đuối. Bờ đê xuyến chi dật dờ theo gió bơ vơ…

Trong sầu lặng thảm vàng trải dài phố Phan Đình Phùng xưa cũ khó ngờ, có một lỗ thủng nhỏ của quá khứ mãi vẫn còn đứng vậy chứng nhân, và ký ức như chợt trêu ngươi mỗi lần ghé chân ngang qua lịch sử.

Dĩ nhiên, làm sao dân ngụ cư mới hơn một thập niên thôi nắm bắt chính xác khi nào thì đàn chim nơi hoàng thành giữa ngọ bay đi muôn hướng quay về…

Tập trung vào con người mình muốn trở thành, hay nhắm tới con người mình không thích?

Một giải pháp chỉ có thể đạt được bởi người đã khuất thì chắc chắn chẳng hề khiến đớn đau hoặc nảy sinh hiều cảm xúc khủng khiếp; thoạt tiên, dường như một vài thành tựu thật dễ thương, song kỳ thực chúng không đem lại lợi lạc gì mấy.

Cách thường để cảm thấy dễ dàng hơn là lưu ý những điều mình không muốn thay vì tiến tới với chuyện mình thích làm. Khá bi hài, chúng ta quen tiêu quá nhiều thời gian nghĩ đủ thứ điều mình không muốn (ví dụ, tôi không muốn làm người xấu) mà rốt ráo. tôi không tin nó trợ giúp gì mình lắm đâu.

Lý do nêu thế vì chúng ta không thể luôn luôn thay đổi điều mình không muốn (ví dụ, trường hợp mắc các khuyết tật mãn tính) dù chúng ta có khả năng, và dần ít nhiều trở thành con người mình muốn là.

Khi tiếp chạm với điều mình thú vị, chúng ta cũng dễ thích đạt được nó. Tưởng tượng đang tiến sát gần hơn con người mình mong đợi trong quãng đời còn lại, tỷ dụ giảm thiểu nhất khoảng cách giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng.

Nếu thấy khó khăn định dạng những gì mình muốn, thử tưởng tượng tình huống sau vốn hay được gọi là câu hỏi huyền nhiệm:

“Giả tưởng điều huyền diệu xảy ra trong khi mình đi ngủ, và tất cả các vấn đề biến mất sạch, đại khái thế. Song mình không biết nó đã xảy ra, do mình đang ngủ. Khi thức dậy sáng hôm sau và sống trọn ngày, làm thế nào mình nhận biết rằng điều kỳ diệu từng xảy ra rồi? Đâu là điểm khác biệt về mình hoặc về kẻ khác? Liệu người khác khi trông thấy điều huyền diệu ấy thì sẽ mô tả những gì về chúng?” (Westbrook và cs., p.236)

Nếu định dạng được mình muốn thành con người như thế nào, hãy viết nó xuống. Giờ đây, bạn bước xa hơn trên tiến trình phát triển con người. Bạn có thể bắt đầu thay đổi cách mình nghĩ về bản thân. Nhằm tạo các kế hoạch cụ thể về cách trở thành con người mình muốn, bạn cần biết con người đó cụ thể ra sao.

Nghiên cứu chứng tỏ, người ta có xu hướng tin rằng họ rời xa khỏi các cái tôi lý tưởng của chính mình hơn, so với những kẻ khác (William & Gilovic, 2008). Dĩ nhiên, cần nỗ lực để trở thành cái tôi lý tưởng, song bạn không rời xa hơn mục tiêu so với tha nhân, ngay cả khi bạn có thể nghĩ thế thật.

Thông điệp ở đây đơn giản: chúng ta nên dành nhiều thời gian để suy tư cách thức mình có thể trở thành con người mong muốn, thay vì nghĩ về con người mình không thích. Thiển nghĩ, điều ấy cơ chừng càng giúp bản thân thêm “năng sản”.

Bạn cảm nhận chuyện này như thế nào?

J. Soi (39): Tình đời gây cảm hứng thường xuyên

Câu chuyện tác quyền biểu diễn nhạc Trịnh liên quan đến ca sĩ Khánh Ly e sẽ khiến thiên hạ nhận ra sự vụ ảnh hưởng chẳng hề đơn giản, và mức độ hâm mộ lần nữa, dẫu biểu hiện như nào thì thảy đều có điểm chung ít nhiều là đánh thức, gây cảm hứng cho chính bản thân người trong cuộc.

Hôm nay, kỷ niệm ngày vang lên tuyên ngôn sấm truyền “I have a dream“.

Với những ai say mê phấn khích và cảm hứng, tôi đoán đó là kiểu người của đam mê. và đa phần trong đời, người ta không chỉ kiếm tìm mà còn trở thành đối tượng gây được cảm hứng. Thử nghĩ về rất nhiều khoảnh khắc “huyền thoại” mà sản phẩm tạo cảm hứng của ai đó dựng lên một ấn tượng thật sâu xa và miên man trong lòng ta, khiến bản thân cảm thấy nối kết điều gì đích thực quyền lực dù khó gọi tên rõ ràng hay định nghĩa thật chuẩn xác, rạch ròi. Và chắc chắn cũng có những lúc, với nỗ lực riêng có tạo cảm hứng với tha nhân, người ta cảm nhận mối kết nối tương tự.

Cảm hứng là gì, tuy chẳng dễ dàng biểu tỏ song chúng mình có thể chấp nhận vài ba cái nhìn phổ quát:

  • Tâm trí lâng lâng đối với hoạt động hoặc sự sáng tạo đặc biệt, bất thường
  • Hoàn thành sản phẩm hoặc kết quả của nỗ lực và suy tư mang tính sáng tạo
  • Một sự bùng nổ đột ngột của thấu hiểu xảy ra như thành phần cốt yếu cho tiến trình giải quyết vấn đề
  • Ảnh hưởng của một nguồn huyền thoại đặc biệt hoặc trạng thái hiện diện thần thánh trong tâm trí con người (kiểu ‘mặc khải’ trong các bản văn tôn giáo)
  • Trạng thái ngây ngất hoặc khiến người khác ngất ngay với một hành động hoặc cảm xúc đặc thù
  • Hành động hít vào; giát kéo lây lan trong không khí (đối lập với việc thở hắt hoặc hơi bốc ra)

Tất cả những cố gắng xác lập này chạm vào được một số khía cạnh của nỗi niềm cảm hứng, dù kỳ tình thì rất khó nắm bắt thấu đáo. Cơ chừng, một trong những điểm tương tự nhất của các định nghĩa là sự kiện nó bao hàm trong khái niệm của việc “nắm lấy, dụ vào’ điều gì đó. Và để gây được cảm hứng, chúng ta phải luôn luôn cởi mở và dễ tiếp thu (sẵn sàng để ‘nắm lấy, dụ vào’) các nguồn lực sáng tạo có thể truyền dẫn và tạo ảnh hưởng với chúng ta.

Bất kể đang đọc sách, xem phim, nghe nhạc hoặc lướt qua một phòng triển lãm tranh, người ta luôn tìm kiếm cảm hứng mới. Và khi họ viết lách, sáng tác, hát hò, hoặc dấn thân vào bất kỳ lĩnh vực sáng tạo khác thì luôn luôn họ không ngừng kiếm tìm cách để gây tạo cảm hứng với những kẻ khác.

Chắc chắn với một số người, cảm hứng là điều gì sâu rộng hơn là chỉ mỗi khía cạnh ‘vào’ của việc hít thở vậy; đích thị, nó như là tự thân hơi thở, vốn tuyệt đối căn cốt để đảm bảo sống còn.

E là sống một cuộc đời không cảm hứng tựa như không đích thị sống gì cả.

Ngu ngơ đi tìm bằng chứng cho Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner

Cùng với phong trào nhà nhà, người người hướng về Tây phương đặng mong cầu chỉ bày và vươn tới chuẩn mực, quá nhiều các phương pháp lẫn cách tiếp cận trên đủ các mặt trận, lĩnh vực được giới thiệu, quảng bá, chào bán,… Giờ các bậc phụ huynh hết lòng hết sức vì tương lai con em chắc hiếm ai chưa từng một lần nghe nói tới nhiều kiểu dạng trí thông minh ở bé.

Lý thuyết Đa Thông Minh của Gardner (Multiple intelligences, MI) khuyến cáo thiên hạ cải thiện không ngừng việc học hỏi: chúng ta biết một số người học hỏi thông qua tiến hành công việc, số khác lại nhờ chuyện đọc sách. v.v… Do vậy, tin rằng người đời có nhiều kiểu thông minh khác nhau, rằng những thông minh của họ như thế thật độc sáng, và rất nên đồng thuận cùng hiện tượng có nhiều phương cách học tập ở trên giảng đường và lớp học.

Nếu giờ tiếp cận vấn đề từ việc tìm kiếm bằng chứng xác thực, liệu có chăng các dạng kiểu thông minh khác nhau như MI mà Gardner xiển dương?

Lý thuyết MI lần đầu tiên được Gardner trình bày năm 1983 trong cuốn sách Frames of Mind, dù về sau thì MI trải qua nhiều chỉnh sửa, thay đổi. Ngay từ 1983, Gardner đưa ra sự tồn tại của 7 loại trí thông minh:

1. Ngôn ngữ (linguistic). 2. Âm nhạc (musical). 3. Logic- toán (logical-mathematical). 4. Không gian (spatial). 5. Cơ thể- vận động (bodily-kinesthetic). 6. Cảm nhận nội tâm (intrapersonal sense of self). 7. Lên nhân cách (interpersonal)

Trong cuốn Intelligence Reframed xuất bản sau đó 16 năm, tác giả Garner thêm một dạng khác là ‘trí thông minh tự nhiên’ (naturalistic intelligence) nhằm trỏ sự thấu cảm đối với các ngoại vật tự nhiên, và ông còn gợi ý một dạng khác: ‘trí thông minh hiện sinh’ (existential intelligence), được xem là khả năng ngập chìm tính tâm linh trong tác phẩm nghệ thuật.

Với phiên bản gần nhất năm 2004, Gardner đề nghị thêm hai dạng nữa là ‘trí thông minh rọi sáng tâm trí’ (mental searchlight intelligence) và “trí thông minh laser (laser intelligence). Gardner tuyên bố, mỗi loại trí thông minh chứa đựng nhiều tiểu dạng thông minh, và mỗi loại thông minh được kiểm soát bởi các vùng não bộ khác nhau, và ông cho biết các khoa học gia Thần kinh “đang trên tiến trình hướng đích về bản chất của các thao tác căn bản trong mỗi dạng trí thông minh“.

Lý thuyết MI của Gardner thu hút sự chú ý của giới chuyên môn, và cơ chừng MI thiếu vắng bằng chứng xác thực. Theo tổng thuật được Waterhouse thực hiện năm 2006, không thấy nêu một nghiên cứu nào hỗ trợ cho độ hiệu lực của MI; Gardner đã cố gắng đáp trả các chỉ trích này từ 2004 như sau:

Lý thuyết MI được ít người say mê trong số các nhà đo nghiệm tâm lý hoăc những đối tượng dựa trên nền tảng tâm lý học khác là bởi vì họ yêu cầu: “đo nghiệm tâm lý hoặc bằng chứng thực nghiệm phải cho phép người ta chứng tỏ sự hiện hữu của nhiều trí thông minh khác nhau”.

Ngay từ 2004, tác giả Chen (được Waterhouse dẫn trong tổng thuật nêu trên) lại thử bênh vực cho sự kiện MI thiếu sự hỗ trợ của thực nghiệm thông qua lời tuyên bố:

“Một lý thuyết tất yếu có giá trị bởi vì nó được hỗ trợ bởi các kết quả của các test thực nghiệm” và “trí thông minh không phải thứ hữu hình để mà có thể đo lường được”.

Đi sâu hơn, tác giả Chen đã chỉ ra 5 điểm gây tranh cãi cụ thể với lý thuyết MI:

  1. MI không có đủ các bằng chứng thực nghiệm thiết yếu
  2. Trí thông minh không phải là đối tượng hữu hình, có thể sờ mó được
  3. MI là các cấu trúc mới đòi hỏi các công cụ đo lường mới
  4. Lý thuyết MI xác định độ hiệu lực của nó thông qua các ứng dụng tại lớp học
  5. Lý thuyết MI mô tả sơ lược kỹ năng nhận thức tốt hơn so với các tiểu thang đo IQ.

Nói tóm, theo cách lập luận của Chen thì có vẻ không có điểm nào  làm cho nhu cầu xác nhận lý thuyết MI là ít cần thiết cả. Dường như MI duy trì nó “đích thị là một lý thuyết” không thể công nhận là có giá trị được (validated), trừ khi các thành phần của lý thuyết được định vị, thiết lập rõ ràng. Khi Gardner tuyên bố rằng ông sẽ không định rõ các thành phần đó, lý thuyết MI khó nghiêng theo hướng đạt độ hiệu lực mong muốn.

Tác giả Chen (2004) cho rằng dẫu lý thuyết MI đạt độ hiệu lực thông qua việc ứng dụng nó, tuy thế, điều ấy không đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu với dữ liệu có cơ sở chắc chắn, vì dạng thức ứng dụng kiểu vậy không cung cấp dữ liệu đáng tin cậy. Sau rốt, không có nghiên cứu nào chứng thực rằng năng lực nhận thức được MI mô tả sơ lược tốt hơn khi dùng các tiểu thang đo IQ cả.

Chụp ảnh khoe thân: người mãi còn tần ngần, mê mải mình đến bao giờ?

Lại rộ lên việc chụp ảnh khoe thân; bên sen, trong hồ nước, với áo yếm, làn da và cơ thể phụ nữ.

Đã có quá nhiều ý kiến nhặng xị. Những đắng đót, cay chua, tức giận, hả hê và buồn tủi; từ cái nhìn của dân Hà thành chính gốc chê người ngụ cư, nhiếp ảnh gia làm thuê chụp xong, lấy tiền rồi hồn nhiên thổ lộ nỗi niềm khó nói, những lập luận bảo vệ quyền phản biện vòng vo đúng sai, thẩm mỹ mí đạo đức, luân thường, tom góp cả truyền thống vào với ngổn ngang hiện đại, dạy đời làm sao tròn vành đủ chữ cho tới thấu tận tâm can gái trẻ, đàn bà lu loa. lườm nguýt tị nạnh xen lẫn chửi bới, cạnh khóe nhau nghe hay như hát…

Tôi không phản đối, cũng không đồng tình với trào lưu này nhưng chúng ta hãy nhìn sự việc một cách công bằng nhất. Có lẽ ngay từ xa xưa cổ đại, nổi bật nhất là văn hóa thời Phục hưng, vẻ đẹp của phụ nữ đã được tôn vinh bộc lộ, minh chứng là những bức tượng, bức tranh vẫn còn đến ngày nay. Ở Việt Nam điều này cũng rất rõ, có thể nhìn thấy các dấu tích giao hoan trên Thạp đồng Đào Thịnh được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia,…Những gì mà các bạn trẻ đang làm hiện nay chỉ là một chiết xuất, một sự kế thừa ít nhiều phiên bản khác đi.

Việc nhìn ngắm cơ thể phụ nữ cơ chừng trở thành nét văn hóa phổ biến toàn nhân loại, nhất là ở xã hội hiện đại thì hiện tượng bình phẩm dáng vẻ bên ngoài liên quan đến cơ thể phụ nữ xuất hiện ở mọi bối cảnh lẫn tình huống riêng, chung, thậm chí không hiếm thấy ở ngay các cuộc gặp ngoại giao, mang tính chính trị nghiêm túc.

Ngoài biểu hiện của quyền lực khi chỉ trỏ, bình phẩm ngầm ẩn hoặc trực tiếp (bởi vì người nhìn vào kẻ khác là người có quyền lực: chef, bố mẹ, bác sĩ…), câu chuyện đậm chất văn hóa đời thường này còn ít nhiều mặc định ở người nữ như đặc trưng giới, kiểu với chị em thì cả thế giới hóa ra như một cuộc trình diễn lộng lẫy, phô bày cực kỳ hấp dẫn (trang trọng và dễ thấy rõ ràng là các cuộc thi hoa hậu); vì thế, vẻ ngoài là điều quan trọng nhất. Với đàn ông, phụ nữ được mong đợi là phải xinh đẹp. Phụ nữ cũng bị đối xử hết sức khác biệt tùy vào cách chúng ta nhìn ngắm họ.

Để giải thích câu chuyện đời thường này, thiển nghĩ, cần tìm hiểu 3 vấn đề: Văn hóa ca tụng tuổi trẻ và đề cao năm tháng hưởng thụ trường thọ ở đời, nhu cầu thu hút sức chú ý, và sự thiếu hụt về tâm linh. Sự trẻ trung và tuổi thanh xuân của con người có giới hạn nhất định nên ai cũng muốn lưu lại những khoảnh khắc đẹp nhất. Không chỉ có giới trẻ, hãy đặt câu hỏi tại sao những phụ nữ trung niên vẫn hay tới spa hàng tuần và chăm chỉ luyện tập yoga, đến các dịch vụ thẩm mỹ không ngừng? Đấy là minh chứng rõ nhất cho việc tự ý thức về vẻ đẹp của bản thân mình. Dễ thấy ra ngay là do sự khác nhau về gu thẩm mĩ, về môi trường sống, và về phông trải nghiệm.

Bạn sẽ thật sung sướng nếu như một bức hình của mình đăng lên được tới hàng trăm lượt Like, đó chính là động lực thôi thúc bạn đầu tư thời gian lẫn tâm trí để lên kế hoạch, chiến lược chuẩn bị rồi tung ảnh sao cho hiệu quả, nhấp nhả với lắm tư thế để làm mới phong cách của mình. Tần suất này tăng lên sẽ dễ dẫn đến “nghiện”.

Nếu một ngày, lượng Like của bạn giảm đi, bạn sẽ tự thấy mình thiếu hụt trong cuộc sống, tự thấy mình bị bỏ rơi, và điều tất yếu bạn sẽ phải tìm cách thay đổi, không còn gì khác, đó chính là cơ thể bạn, phô ra những gì đẹp nhất của mình.

Việc chụp ảnh khoe thân liên quan chặt chẽ với quan niệm về sự tự tôn (self-esteem).

Thực tiễn hành nghề, tác nghiệm cho tôi cảm nhận khá đau đớn khi chứng kiến không ít bạn gái trẻ hoặc những người phụ nữ thành đạt, giỏi giang, mạnh mẽ, sáng tạo và tài năng đến cần trợ giúp do có xu hướng nhìn nhận họ đang sống một cuộc đời không ra gì (bởi bản thân không xinh đẹp cho lắm hoặc chưa thấy hài lòng, tự thỏa mãn). Tôi được nghe nhiều câu chuyện dài tinh tế xen lẫn phức tạp về mối quan hệ trong công việc, gia đình, yêu đương giúp hiểu thêm sâu sắc cách thức xã hội vận hành và khiến người phụ nữ suy tư, cảm nhận, chịu trách nhiệm và hành động như thế nào.  Khi các nữ thân chủ của tôi nhận ra kiểu lối họ đang chia sẻ thì họ cũng có xu hướng lưu ý đến khía cạnh guốc trượt của khái niệm tự tôn, tin tưởng vào bản thân; như một thứ chén đắng phải ngậm ngùi uống vào để đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn vậy.

Ngày nay, truyền thông với sức mạnh của mình đã khai thác quá mức cơ thể của người phụ nữ. Đến dự một sự kiện (event), người ta chỉ chú ý đến nữ ca sĩ kia hôm nay mặc gì, bộ đồ ấy hở lộ như nào những điểm nhạy cảm, … điều đó vô hình chung đã đánh giá thấp giá trị của người phụ nữ.

Mặt khác truyển thông làm cho những câu chuyện điển hình như bạn nữ sinh ở Bình Dương nhanh chóng và dễ dàng lây lan hơn. Đồng thời tạo nên tâm lí đám đông, tò mò muốn biết về chuyện người khác mà thiếu đi sự khoan dung trong cách nhìn nhận, chấp nhận sự khác biệt, chấp nhận sự đa dạng về cuộc sống, và trên hết, nhìn nhận ai đó đơn giản như một con người. Từ định kiến sẽ rất nhanh chóng dẫn đến phân biệt đối xử.

Không cứ gì trong nước, truyền thông ngoại quốc cũng tranh thủ khai thác hình thể phụ nữ ngay trong các chương trình truyền hình thể thao cuối tuần. Chưa cần nói chuyện không ít các bình luận bên dưới vô số bài viết đăng tải trên mạng thể hiện sự thô lỗ hoặc đầy kích dục thì với bài viết giới thiệu nữ khoa học gia này, bạn sinh viên nọ thì cũng phải chêm nếm, thậm chí, đa phần chú trọng đề cập phần ngoại diện, vẻ đẹp hình thể thay cho việc nhắm vào thành tích, sự nghiệp của nhân vật.

Khi một cậu trai trẻ hoặc người đàn ông lịch lãm nhận được lời khen ngợi về hình thể thì thường họ chấp nhận hoặc cười xòa rồi thôi; đó không phải là câu chuyện quá bận tâm. Song với phụ nữ thì không thế. Qua thời gian, vẻ đẹp của một người phụ nữ được xem là tiêu chí nhìn nhận về sự đáng giá của bản thân; đó là lý do tại sao hầu hết phụ nữ dành nhiều thời gian và tiền bạc để chi phí, đầu tư vào tóc tai, trang điểm và ăn mặc. Nếu phụ nữ không xinh đẹp, họ có thể trở thành đối tượng bị châm chọc, phẩm bình và bị xúc phạm phẩm giá.

Nhân tiện, tôi thích ý tưởng đọc được của ai đó hiện không nhớ tên rằng mình có thể không tán đồng với một phụ nữ song chỉ trích, phẩm bình ngoại hình của cô ấy- trái ngược với ý tưởng và hành động của cô ấy- không phải là sự thiện ý, đặc ân của bất kỳ ai. Xúc phạm đến hình thể của phụ nữ thể hiện cho sự thiếu vắng hiểu biết, chứng tỏ không có khả năng suy nghĩ ở mức độ sâu sắc. Mình có thể chê bai cô ấy xấu xí, song người khác lại dễ nghĩ mình là kẻ ngu ngốc… Chúng ta đích thị thấu biết rằng phụ nữ đạt được sự bình đẳng thực sự khi đàn ông thôi nói về cách thức phụ nữ trông như nào và lắng nghe những gì chị em chia sẻ.

Sẽ hồ đồ nếu nói người trẻ thiếu ý thức, họ chỉ coi thường nguy cơ hoặc/ và đánh giá thấp hậu quả sẽ xảy ra mà thôi. Như vụ việc ở Bình Dương xuất phát từ ý nghĩ muốn lưu lại những khoảnh khắc thăng hoa của tình yêu mà các bạn ấy đã quên đi sự phiền nhiễu sẽ đến bất cứ lúc nào.

Vụ việc của nữ sinh ở Bình Dương có thể phản ánh cho niềm tin về một tình yêu lãng mạn, rằng tự thân tình yêu thôi là đủ đầy rồi và cảm xúc lứa đôi thuộc trạng thái bất biến, không thể thay đổi.

Đối với các bạn gái trẻ muốn nâng cao, cải thiện sự tự tôn và tin tưởng vào bản thân, có thể lưu tâm đến đôi điều khá đơn giản như sau. Hãy nhìn vào tất cả sức mạnh, ưu điểm và tài năng mà bạn có. Viết xuống, nói to chúng lên. Đặt bản thân vào trung tâm của câu chuyện đời mình; bạn là nhân vật chính, người mình thực sự yêu thích và tò mò muốn biết về.

Câu chuyện chụp ảnh khoe thân nơi đầm sen hồ Tây lần nữa khẳng định, vẻ đẹp hình thể chỉ là vẻ đẹp thâm trầm của làn da mà thôi. Không có gì sai trái khi người ta tổ chức kỷ niệm, thực hiện điều gì đấy để đánh dấu khoảnh khắc đẹp đẽ, đáng nhớ trong đời. Song chắc chắn đó không phải là toàn bộ bài học kỹ năng lẫn giá trị ưu tiên định dạng ý nghĩa cần nắm bắt nhằm tránh hậu họa đáng tiếc xảy đến.

Khó chối bỏ sự thật, các câu chuyện liên quan đến việc khoe thân gây ồn ào bình phẩm còn là dấu chỉ cho tác động, ảnh hưởng nhiều chiều của việc sử dụng ngôn ngữ cũng như mặc định vai trò mà người phụ nữ đảm nhận (“làm đẹp cho đời”).

Chuẩn bị đủ đầy cho việc chung đụng cùng thiếu thốn và bất trắc

Lâu tôi không ngó ngàng trang báo quốc nội. Mới liếc thấy ‘nỗi khổ trời đày‘: thiếu nước phục vụ ăn ở, sinh hoạt hàng ngày.

Hơn một lần trong đời chúng ta thi thoảng có thể chợt nghe ai đó mạnh mồm phán tắp lự liền đấy chẳng phải là chuyện lớn lao gì lắm mà tôi muốn diễn giải thành nghĩa rằng, thậm chí, một vụ động đất còn lửng lơ đâu đó cũng nỏ xứng đáng là mối quan tâm đáng bàn, ‘đích thực’; thậm chí, đấy là ý tưởng sầu bi quá độ, rằng nếu và khi thời điểm ấy xảy đến thì họ sẽ giải quyết được… Họ thường thêm rằng bản thân mình nhận ra ý tưởng cho việc sẵn sàng chuẩn bị các ‘kịch bản ngày đen tối’ quả là chuyện lo bò trắng răng, tiêu cực bỏ xừ luôn í…

Đa phần chẳng ai ước ao rơi vào nỗi hoáng sợ kinh hoàng song khi nghe tình huống khẩn cấp, khủng hoảng lại liên tưởng ví von: “Thiếu sự chuẩn bị là chuẩn bị cho sự thất bại”.

Để sự chuẩn bị bộc lộ ra thành hành động bên ngoài, đấy là trạng thái ý thức nội tại. Tích lũy các vật dụng và nguồn lực bổ sung cần thiết ấy là thực tế vật lý, tôi buộc phải tự vấn bản thân các câu hỏi căn cốt trong đời: tôi có gì? cần gì? những thứ nên buông bỏ? điều quan trọng nhất là chi? nói chung, vấn đề hệ trọng ở đời? cách thức mình sẽ đáp ứng? làm sao tôi quan tâm, chăm sóc gia đình và phục vụ kẻ khác khi thời điểm ấy tới? đâu là cộng đồng trợ giúp, và họ có đang sẵn sàng thế chưa?

Các biến cố tai ương liên quan đến việc sống sót đòi hỏi sự chuẩn bị thể lý, song kẻ sống sót là người học hỏi đặng nhận ra một quan điểm rộng lớn hơn hẳn. Và trong cái nhìn rộng nhất, có một số câu hỏi giống nhau chúng ta đang không ngừng tra vấn bản thân nhằm chuẩn bị trước tính phức tạp khôn lường của đời sống bất trắc ngày nay.

Đây là thời điểm tích hợp không- thời gian tăng tốc trong tiến hóa nhân loại, lúc mà tầm mức tai ương và sự sụt giá, của sự phá hủy và tái thiết trong mọi điều (chính trị, kinh doanh, sinh thái, quan hệ giới, công nghệ, tập tục xã hội) đã làm chúng ta đau thương không ngớt. Ỏ đây, ngày mai là điều bất định, và tuy thế, nhất thiết chúng ta phải biết rằng không có điều gì nhìn trông giống như quá khứ, hôm qua. Làm thế nào chúng ta giải quyết với tinh thần mong đợi đầy lạc quan được đặt lên trên các thực tế đe dọa chết chóc ấy? Và làm sao chúng ta trở nên là người quản gia xác đáng với thời điểm ấn tượng trong tiến trình phát triển nhân loại như vậy?

Đáp ứng tương hợp là sự thu gặt tiềm tàng từ các trạng thái nội tại của chúng ta: các năng lực thể lý, tinh thần, tâm lý và tâm linh sống động trong lòng mình. Hầu hết người sáng tạo nhất là những kẻ phấn khích, mê hoặc trước các hang động chứa chất thuộc tâm trí họ chứ không hề đơn giản “nghĩ” bằng lời hoặc nhìn bằng mắt mà thông qua tất cả mọi cảm quan, bằng hành động hình thể, một cách trực giác, và mang tính thực nghiệm; họ tiếp cận các thế giới bên dưới bề mặt ý thức suốt dọc dài thời gian đằng đẵng.

Nếu chúng ta gặt hái tiềm năng con người đặng giải quyết với tính phức hợp của thời đại ngày nay, cần thiết lập các điều kiện thật đúng đắn cho việc gieo hạt sáng tạo nảy nở hoàn mãn.

Bây giờ đích thị đúng là thời điểm vun bồi các trạng thái ý thức nội tại:

  1. Tiếp xúc với các nguồn lực trong lòng. Cho phép điều gì đó lớn lao hơn mình được băng vượt, thông sang, chuyển chỗ và như là bản thân mình vậy.
  2. Thế giới quan xác quyết nào mình đã làm cho tinh tế sẽ mang theo? Lưu ý các điều cần thiết chuẩn bị thêm.
  3. Nhắm vào những gì đích thực quan trọng nhất- các mối quan hệ hài hòa.
  4. Đơn giản hóa đời sống hiện tại. Cởi bỏ những gì gây lộn xộn, rối rắm, kéo gây cho mình nặng nề, trì trệ: cảm xúc, tinh thần, thể chất.
  5. Thiết lập các ưu tiên sống còn: tri ân, từ bi, dũng cảm, ý thức, chấp nhận, đáp ứng nhanh nhạy.
  6. Chăm sóc sức khỏe và trạng thái thân- tâm an lạc.
  7. Củng cố, nuôi dưỡng một cộng đồng nâng đỡ, trợ giúp. Tất cả đều đang cùng trên một chiếc thuyền.
  8. Tiếp tục tiến tới với các mục tiêu và cảm hứng. Chuẩn bị cho điều xấu nhất xảy đến và đoán biết trước điều tốt lành sẽ thành tựu.
  9. Nhớ rằng (các) niềm tin không tạo nên thực tế, chúng khiến (những) lầm lạc về thực tế. Thực tế chỉ có thể được tiếp xúc trong hiện thời. Duy trì sự có mặt, hiện diện với ý thức nội tại.
  10. Thực hành, luyện tập thói quen tỉnh thức (mindfulness) và kiến tạo hòa bình.

Nàng Bạch Tuyết: đẹp, xấu, và quãng đời sống thực ở giữa

Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?
Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?

Câu chuyện cổ tích Grim về nàng Bạch Tuyết từ thời thơ ấu xa lơ xa lắc giờ lại sống dậy bàng hoàng, với một chiều kích và ánh sáng khác, khi dịp cuối tuần gần một tháng trước ghé sang Viện Goethe xem phim.

Nghĩ về một trường hợp muốn ly hôn song cũng chưa thôi mong đợi làm sao có thể níu kéo và nữ thân chủ hy vọng, với việc kiếm ra tiền nhiều hơn thì dễ khiến ông chồng thôi còn lăng nhăng mà sẽ ghi nhận nỗ lực phấn đấu của vợ để rồi thủy chung quay lại.

Gợi khái niệm ‘hệ thống sống còn’ mà việc hiểu biết đầy kịch tính về nó có thể sử dụng câu chuyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết (Snow White), không phải với phiên bản Disney mà câu chuyện tìm thấy trong Truyện Cổ Grim sau lần xuất bản lần đầu tiên vào 1812.

Trước hết ý tưởng cơ bản liên quan khái niệm này là trẻ em cần người lớn để đảm bảo sống còn và trong một số trường hợp trẻ em đặt qua bên nhu cầu riêng tư và thích nghi với nhu cầu bất thường, thiếu ổn định, mang tính mệnh lệnh của bố mẹ hoặc một thành viên gia đình khác. Những sự thích ứng này, như các hệ thống sống còn, trình bày các mẫu hình đầy quyền năng về hành vi, thái độ và niềm tin chức năng nguyên ủy vốn nhằm duy trì cảm giác an toàn cũng như tiếp tục gắn bó với người lớn trong thế giới của trẻ nhỏ. Hình thành từ thời thơ ấu và nền tảng dựa trên suy tư cụ thể và phàm tục của một đứa trẻ, dần về sau chúng cho ra các hành vi thất sách của kẻ vị thành niên và người trưởng thành.

Giờ quay lại phiên bản đầu tiên của truyện cổ tích Grim. Phiên bản Tiểu Bạch Tuyết ấy tuân thủ truyền thống mà động năng và cốt truyện của loại văn chương truyền khẩu vốn chú trọng mô tả ‘con người bình thường’. Theo đó, cô bé mới 7 tuổi khi thấy dung nhan mình trong chiếc gương thần như là ‘người đẹp nhất giữa thế gian’. Mẹ Bạch Tuyết không chết khi sinh ra cô, bà sống thọ và là chủ nhân thực sự của chiếc gương thần. Việc bà mẹ ruột bị chuyển thành bà mẹ kế độc ác bắt đầu từ bản in 1819 trở về sau; sự chuyển dịch thế được tìm thấy trong các chuyện cổ tích khác, biểu tỏ nhu cầu của anh em nhà Grim muốn lý tưởng hóa Bà Mẹ như biểu tượng quan trọng của các giá trị Đức quốc.

Cụ thể hơn, theo truyện, sau khi dung nhan Bạch Tuyết xuất hiện trong chiếc gương thần, cô bé trải qua các cuộc tấn công của bà mẹ sôi máu điên cuồng vì ganh tỵ: bảo người tiều phu đưa cô vào rừng thủ tiêu, và ba lần hãm hại khác do chính bà mẹ hóa thân thành bà lão tiến hành ở nơi mà gương thần mách bảo chỗ trú ngụ của Bạch Tuyết (dải lụa thắt chặt đủ để mất ý thức, cái lược tẩm độc cũng làm nạn nhân mê man, và cuối cùng là quả táo thêm độc dược); tiếp đó, phần còn lại là Bạch Tuyết nằm mãi trong quan tài cho đến ngày được chàng hoàng tử giải cứu, rồi họ sống ‘hạnh phúc bên nhau mãi mãi’.

Đổi đoạn kết của chuyện cổ tích vào việc người ta giải quyết thực tế và anh thư có thể là một phụ nữ trẻ trung bị tàn hoại khủng khiếp bởi các trải nghiệm trong đời. Cô có thể đau đớn bởi rối loạn stress sau sang chấn, ám sợ dây ren, dải buộc, lược, táo, và các quý bà rồi đau đớn do mắc rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng cũng như dạng phản ứng lo âu lan tỏa. Đây rõ ràng không phải là cá nhân sống ‘hạnh phúc mãi mãi về sau’.

Khi hỏi một đứa trẻ rằng nàng Bạch Tuyết cần làm gì, với tư duy cụ thể, nó trả lời rằng: ‘Chị í cần rời khỏi cái gương’. Vậy rồi sau đó cô í cần làm thế nào nữa?  ‘Chị í cần phải xấu xí’; càng xấu xí thì cô í càng không phải bị bà mẹ ái kỷ quá độ hành hạ. Chuyển thể Nàng Bạch Tuyết nhằm tránh rơi vào vòng cạnh tranh, đối đầu thảm khốc đầy tai ương với bà mẹ, dạng thức cốt lõi của hệ thống sống còn của nàng, là ‘phải nhất thiết xấu xí’. ‘Nhu cầu’ ấy có thể tự thân biểu hiện trên nhiều cách thức, tỷ dụ, trở nên thừa cân và béo phì. Cô gái trẻ, người sống sót và thoát khỏi nỗi ghen ghét, tị nạnh của bà mẹ nhờ mập ú, là một sự đánh mất để hiểu ra tại sao khi lớn lên cô không thể giảm cân, bất luận dù có cố gắng đến thế nào. Cô không hiểu rằng các hệ thống sống còn nảy sinh từ thời thơ ấu vẫn không dễ dàng thả bỏ quyền năng tác oai tác quái của chúng.

Các hệ thống sống còn này có thể diễn biến dưới nhiều dạng kiểu. Nếu bà mẹ hỏi: “Ai là người thông minh nhất trong chúng ta?”, nàng Bạch Tuyết e sẽ là kẻ đần độn. Nếu một người cha ướm lời: “Ai là người cần thiết nhất trong chúng ta?”, cậu con trai e sẽ là đứa phụ thuộc kém cỏi. Nếu anh cả được ưu ái nói: “Ai là người thành công nhất trong nhà mình?”, cậu út ít e sẽ đóng vai kẻ thất bại. Nếu đứa trẻ tin thật nguy hiểm khi vén lộ các bí mật gia đình, nó sẽ trở thành “đứa trẻ lặng câm”. Trong khi tất cả các chiến lược thành công giúp một đứa trẻ giải quyết với môi trường rối rắm và tiềm tàng hiểm nguy thì chúng lại không có được các đáp ứng lành mạnh hoặc đúng đắn khi trở thành người lớn trưởng thành.

Khi tuổi thơ của chúng ta trải qua cảm giác bị tước đoạt, mất mát về mặt cảm xúc thì dạng thức thiếu vắng không nghĩ mình là người quan trọng hoặc đáng yêu đủ kéo dài trong khi trưởng thành như một kiểu ‘não trạng mất mát”. Chúng ta có thể ước gì mình có thể có đủ đầy những thứ mình cần; cảm giác bất an này dễ làm băng hoại, tàn phá các quan hệ thân mật. Chúng ta thậm chí mong đợi những người yêu thương mình bỏ rơi, hắt hủi mình, không bao giờ biểu tỏ các nhu cầu bản thân một cách trực tiếp hoặc lựa chọn tình nhân cặp đôi là những người lảng tránh, ngại cam kết gắn bó, không thích thân mật, gần gũi. Cảm xúc thiếu vắng, mất mát các nguồn lực quan trọng như tình yêu, thực phẩm, tiền bạc, hoặc thời gian có thể dẫn ta tới nỗi sợ hãi hoặc tức giận. Chúng ta có thể ám ảnh bởi những thứ mình thiếu thốn, hoặc có thể cảm thấy nhu cầu thao tác, vận hành trong mô thức khẩn cấp: bủn xỉn, hà tiện hoặc lên gấp gáp kế hoạch từng giây phút một trong đời.

Ngoài lầm lạc liên quan đến việc quản lý và nhận biết về thời gian, não trạng mất mát và thiếu vắng trên còn dễ khiến ta đưa ra các quyết định vội vàng, ngắn hạn để rồi sẽ làm tăng thêm khó khăn, rắc rối cho những khoảng thời gian dài hơi hơn; chưa hết, não trạng ấy còn quấy nhiễu ta về mặt động cơ, làm mình dấn vào những sự quyến rũ, cám dỗ và thử thách mà khả năng cao là bị tổn thương… Điều nên làm để thay đổi là hình thành thái độ biết ơn; không so sánh bản thân với người khác; ngừng hẳn ám ảnh; sử  dụng các công cụ đo lường ưu tiên (lên danh sách những việc cần làm, lập kế hoạch, v.v…); đừng tham lam, thèm khát quá…

Thực tế, hầu hết bố mẹ không giống với bà mẹ độc ác trong truyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết. Nhiều người có thể trải qua môi trường hồi tuổi thơ đầy rối rắm, trục trặc hoặc khốn khó và có khả năng đã phát triển các hệ thống sống còn phù hợp với thân phận của riêng họ. Điều quan trọng là người cha có thể nhìn vào nền tảng gia đình sinh học đặng thấy ra mình có mắc mứu với một môi trường cạnh tranh cực độ thế không; khả năng khác là ông hãy còn vướng vào nhu cầu sống còn xưa cũ để cảm thấy mình nhất thiết tồn tại, hay ông muốn làm ‘người cha hoàn hảo’ bởi vì mình dính dáng với một hệ thống sống còn đòi hỏi phải làm người hoàn hảo.

Càng thấu hiểu lịch sử chính mình và đạt được một khoảng cách tốt nhất với quyền lực của các hệ thống sống còn đặc thù, chúng ta càng tìm thấy nhiều khả năng để cống hiến, đưa lại và tạo lập cho con cái mình một môi trường cho phép chúng phát triển nhân cách, tài năng và những tiềm tàng riêng có.

“Thơ không làm ra bánh mì…”

Câu thơ dịch từ tiếng nước ngoài đọc trên tờ báo giấy cũ xì đã tròm trèm 30 năm giờ vẫn còn thuộc: “nhưng thơ làm cho bánh mì ngon hơn một tí”.

Hôm nay Ngày Thơ Quốc tế thường niên, thử thả vội đôi dòng tái xác nhận lần nữa về giá trị của thi ca, khi người ta được cứu vớt bằng một bài thơ, và nhấn mạnh đúng tầm phương cách của thứ nghệ thuật trị liệu, chữa lành đầy quyền năng và huyền bí.

Tổ chức UNESCO cho rằng, thi ca khẳng định tiếp tục tính con người thân quen thông qua việc vén lộ với chúng ta rằng các cá nhân ở khắp mọi nơi trên toàn cầu này đều chia sẻ cùng cảm xúc và vấn đề tương tự nhau. Thi ca là dòng chủ lưu của văn chương truyền khẩu, và vượt qua bao thế kỷ, thi ca có thể truyền thông các giá trị hầu như đáng giá nhất trong các nền văn hóa đa dạng.

Như một biểu đạt sâu thẳm của tâm trí con người đồng thời thuộc thứ nghệ thuật phổ quát, thi ca là công cụ đối thoại và sự thiết lập bang giao trở lại. Việc phổ biến thi ca góp phần nâng cao cuộc trao đổi giữa các nền văn hóa và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, bởi vì thi ca tạo điều kiện tiếp cận với lối diễn bày xác thực, đúng đắn của ngôn ngữ.

Bởi vì ngôn ngữ khởi thủy của đứa trẻ là ngôn ngữ thi ca. Âm điệu của một bài thơ phản ánh nguyên ủy nhịp đập của trái tim chúng ta nghe thấy khi nằm trong bụng mẹ.