Tầm quan trọng của nhu cầu được đáp ứng và triển nở về mặt tâm lý

Trên mạng xã hội tối qua loan tin về một bà mẹ trẻ vừa mới mất đột ngột. Thấy nhiều ấm áp cả lời lẫn hình chia sẻ tiếc thương, bồi hồi quý mến, ghi nhớ kỷ niệm, thông cảm nỗi niềm với một sự lựa chọn cuối cùng đã đi về nơi xa ấy…

Mình chắc biết thỏa mãn nhu cầu tâm lý là yếu tính cho trạng thái thân- tâm an lạc, và rằng nó nên là một trong các ưu tiên hàng đầu trong đời rồi chăng?

Y cứ lý thuyết tự quyết (Self- determination theory) thì con người ta có ba nhu cầu tâm lý căn bản: tự trị, cạnh tranh, và kết nối với nhau.

Nghiên cứu xuyên văn hóa cho thấy, thỏa mãn nhu cầu là điều cần thiết để tất cả chúng ta lành mạnh cả về sự phát triển, dấn thân, động cơ, và thân- tâm an lạc nói chung. Thỏa mãn nhu cầu thậm chí còn liên quan tới việc thành tựu tốt hơn trong công việc, giảm bớt stress, và giảm bớt hẳn các dự tính lung tung xèng; chưa nói, khi các nhu cầu không được đáp ứng (gây trở ngại), nảy sinh nhiều hậu quả tâm lý hết sức tiêu cực.

Qua các cứ liệu ghi nhận được từ nhiều nền văn hóa và bối cảnh khác nhau, lý thuyết chuyên biệt được rằng con người ta tiến hóa thay vì học hỏi các nhu cầu; nói khác đi, các nhu cầu mang tính phổ quát. Lý thuyết tự quyết xác định sự tự trị như lối hành xử do cảm nhận thuộc ý nguyện, sự tán thành, ước ao và lựa chọn; năng lực cạnh tranh  là việc lão luyện về môi trường, còn tính kết nối với nhau tựa cảm nhận liên quan với những kẻ khác theo một cách nọ kia.

Đến thời điểm này, chúng ta biết ít nhiều về bản chất của các nhu cầu tâm lý; và nên tìm ra nhiều cách thức dễ dàng hơn để thỏa mãn chúng. Thỏa mãn nhu cầu nên là một trong các ưu tiên nhằm tận dụng hiệu quả tác dụng của nó tới trạng thái an lạc thân- tâm.

Mỗi một chúng ta dễ chừng từng trải nghiệm cách thức các nhu cầu bị gây trở ngại hoặc được thỏa mãn như nào. Tỷ dụ, một số quan hệ không ngừng chịu sự kiểm soát trong khi một số khác lại mang tính nâng đỡ và tự trị. Một số trải nghiệm giảm thiểu các cảm xúc cạnh tranh, trong khi một số làm tăng thêm sự tự tin. Một số tình huống khiến nỗi niềm cô đơn lên cao, trong khi số khác kích thích cảm xúc gắn kết với nhau.

Hết thảy minh họa vừa nêu chứng tỏ tầm quan trọng của môi trường xã hội với việc thỏa mãn nhu cầu, trạng thái an lạc thân- tâm và sự phát triển bản thân:

Nếu đặt cái hom lê con vào một chậu đất, nó sẽ thành một cây lê, bởi vì đó là bản chất tất yếu của cây… [Song để điều ấy xảy ra] chúng cần ánh sáng mặt trời; cần nước tưới; và cần nhiệt độ thích hợp. Các thành phần này không trực tiếp khiến cây lớn lên, nhưng đấy là các chất dinh dưỡng cần  thiết để lê thực hiện những gì cần làm một cách tự nhiên. (tr. 98)

Quyết định đầu năm: tính sao giữ được?

Căng tròn mộng xuân tình, linh tinh đời hóng hớt...
Căng tròn mộng xuân tình, linh tinh đời hóng hớt…

Theo thói quen hí hửng trong bầu không khí khởi sự tưng bừng đầu năm mới, thiên hạ thường hay đưa ra các lời hứa, quyết định đầy tâm huyết.

Bất chấp thực tế là rất nhiều dự tính chỉ hoàn công cốc, tầm một nửa (46%) số người tuyên bố quyết tâm đầu năm đã thành tựu trái quả tốt lành xoay quanh việc thay đổi hành vi lành mạnh như mong muốn.

Nghiên cứu từ thập niên trước phát hiện ra 5 chiến lược tiến hành triển khai các quyết tâm đầu năm đạt kết quả tích cực; cụ thể:

1. Ý chí

Không có gì đáng ngạc nhiên là những ai đạt được các lời hứa đầu năm ở mốc 6 tháng thì đều nói tới vai trò của ý chí.

2. Duy trì sự phấn khích

Người thành công thường để ý làm sao cho các đồ vật ở xung quanh nhắc nhở mình lưu tâm tới điều đã tuyên bố. Đây cũng là lý do tại sao dán các mảnh giấy, minh họa be bé ở tủ lạnh, đầu giường, góc tường hoặc trong nhà vệ sinh chứng tỏ hữu hiệu.

3. Né tránh

Đôi khi đơn giản là không đưa mình vào các tình huống dễ làm đổ vỡ lời hứa, kiểu muốn bỏ thuốc lá thì không tới khu vực các tay ghiền hay phì phèo. Thay vì thử thách ý chí bản thân, vấn đề sẽ được giải quyết nhờ việc lờ đi.

4. Trông chừng chuyện củng cố

Bí quyết nằm ở chỗ dùng vài ba phần thưởng nhỏ nhặt để củng cố thêm hành vi chắc vững hơn lên.

5. Suy nghĩ tích cực

Người nào giữ được quyết định đầu năm thì thường tỏ thái độ tích cực về năng lực bản thân và ước ao thay đổi các hành vi mình không ưng thích kéo dài nữa.

Nghiên cứu thượng dẫn cũng cho thấy các chiến lược khiến nhiều người thất bại, bỏ dở lời đã xác lập đầu năm mới, trong đó họ nêu bật việc tự đổ lỗi và lối tư duy dạng ước gì, giá như…

Câu hỏi làm thế nào để vận dụng tâm trí tốt nhất cho việc đạt được các lời hứa đầu năm còn chỉ ra một số mẹo mực thực hiện rất sáng giá và dẫn tới kết quả ngoạn mục. Chẳng hạn, có thể kể 5 chiêu thức cơ bản dưới đây.

1. Theo đuổi mục tiêu thôi là chưa đủ

Tâm lý học động cơ, dưới cái nhìn truyền thống, nhắm vào việc thúc đẩy người ta theo đuổi mãnh liệt các mục tiêu đã cam kết.  Nó giả định rằng người ta trông nom sao cho càng bám thật chặt các mục tiêu đã tuyên thì khả năng rất cao họ dễ chạm đến được các mục tiêu ấy.

Tuy vậy, trong 15- 20 năm gần đây, các nhà nghiên cứu khẳng định, người ta có thể làm nhiều hơn việc chỉ theo đuổi mục tiêu thôi; họ có thể dùng tâm trí để cải thiện một cách chiến lược trên tiến trình nỗ lực chiếm lấy các mục tiêu.

2. Hướng việc lập kế hoạch cho mục tiêu thành lập kế hoạch hành động dạng “nếu- thì”

Lập kế hoạch là điều tiên quyết nếu muốn đat được các quyết tâm đầu năm. Bẻ gãy hoặc kiến tạo các thói quen như bỏ thuốc lá và bắt đầu tập thể dục hàng ngày hoặc bất kỳ mục tiêu nào mình có thể tưởng tượng. Hàng trăm nghiên cứu hỗ trợ ý tưởng việc lập kế hoạch dạng ‘nếu- thì”, tức việc thực hiện và triển khai các dự tính (pp.162- 185), cũng là dạng lập kế hoạch có thể làm cho các cơ hội thành công tăng gấp đôi, gấp ba.

Khi kết nối ‘lúc nào’ với ‘ở đâu’ để biết cách vận dụng câu dạng “nếu- thì” thì mình sẽ dễ đạt được các hiệu ứng như mong đợi. Tỷ dụ, nếu muốn giảm cân, kế hoạch nếu- thì có thể là: Nếu tối muộn ở nhà tôi thấy thèm đồ ngọt thì tôi sẽ có sẵn một tách trà nóng thư thái pha với chút thìa mật ong.

3. Tạo ra hầu hết các kế hoạch dạng “nếu- thì” thể hiện sự trái ngược về tinh thần

Hình thức triển khai các dự tính tốt nhất, thông qua việc dùng một phương pháp gọi là đối lập tinh thần nhằm tìm ra các tình huống nào căn bản rồi gắn chúng với các đáp ứng mang tính công cụ tập trung vào mục tiêu.

4. Động cơ và cảm xúc làm xảy đến mọi điều

Động cơ cần có mặt đúng chỗ, nếu không việc lập kế hoạch “nếu- thì”không hiệu quả. Các mục tiêu kéo dài cả năm đòi hỏi mình phải theo dõi sát sao và không thể thiếu được động cơ thúc đẩy, tiếp thêm nhiên liệu. Tương tự, cảm xúc tích hợp trong vòng quay động cơ có thể gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới các kế hoạch “nếu- thì”, gắn với mục tiêu. Ví dụ, người phụ nữ muốn phàn nàn với quản lý về việc cô ta không muốn bị đuổi việc, vì vậy cần đảm bảo sự vụ không bị đẩy đi quá xa.

5. Nhận ra việc dùng các mục tiêu tự định hình bản thân

Dạng muốn thấy mình là ông bố tốt hoặc nhà khoa học tài ba, và với các mục tiêu này khi mô tả với người khác những gì dự tính thực hiện hoặc cần đạt được thì động cơ có thể bị hạ thấp.

Hiểu biết về nhận thức xã hội giúp mình dễ tìm cách truyền thông các dự tính mà để rồi sẽ có thể tạo nên cảm nhận hoàn thành song lại không đe dọa động cơ.

Sự yếu đuối của ý chí có thể được xử lý, điều chỉnh trên tiến trình đạt được các quyết định đầu năm; góp phần giúp người ta thànhh tựu tích cực nhờ trực tiếp nhắm vào các thách thức và cơ hội…

Chẳng có chi phải lo ngại khi không nói gì…

Khi nhất thiết phải mở mồm và cất tiếng thì quả thật khó khăn biết bao nếu chẳng nói gì cả. Kỹ năng bộc lộ được đẩy mạnh thêm nhờ sự cho phép không cất lời chính là câu chuyện của kiểm soát, như một vấn đề thuộc quyền lực.

Thực tế, tình huống trị liệu từ ban đầu đã bất công; tuy nhiên, thấm thía với tư cách là nhà tham vấn tâm lý cho thân chủ quyền lực để điều hướng tiến trình của riêng họ, mình buộc phải nhận ra rằng đang nắm giữ tất cả kiến thức về tình huống, các chuẩn mực và ranh giới thuộc văn hóa trị liệu, và những kỳ vọng lẫn trải nghiệm cá nhân. Cảm xúc nắm giữ hết thẩy thế của nhà trị liệu dễ khiến một số thân chủ nảy sinh trạng thái bất an, và họ có thể muốn giữ rịt các câu chuyện cho riêng mình để bám chặt một vài kiểm soát nhất định.

Thường người thực hành tâm lý được dạy rằng phiên đầu tiên dành cho các thủ tục ký tá nọ kia, phiên thứ hai mới khởi sự nói về ‘vấn đề đích thực’ nên cũng dễ xảy ra chuyện nếu được phép ngấm ngầm, như dấu chỉ chân thành của lòng tôn trọng từ nhà tham vấn, để bộc lộ toàn bộ tình huống của họ ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ.

Quan điểm trị liệu ẩn bên dưới thông điệp vừa nêu rõ ràng khẳng định rằng thân chủ nợ nhà tham vấn việc cung cấp thông tin, trong đó thổ lộ tự thân nó là mục tiêu, có vẻ là sự dựa cậy quyền lực chẳng mấy hữu ích. Ở đâu bất công về quyền lực, ở đấy sẽ là xung đột. Thiển nghĩ, ý tưởng thân chủ cần ‘đưa cho’ nhà tham vấn câu chuyện đời mình hoặc các cái tôi để nhà tham vấn ‘làm điều gì đó’ với chúng nào khác gì hơn nỗi sợ hợp pháp mà thân chủ có thể sở hữu, điều nhà tham vấn có thể nỗ lực xua đi dứt khoát xuyên suốt phiên làm việc đầu tiên.

Bất kể thân chủ đến với ước muốn chân tình đi thẳng vào ‘vấn đề’ hoặc họ không cảm thấy an toàn để làm điều đó và cần xây dựng sự tin tưởng trước đã, trường hợp nào thì phiên đầu tiên là cơ hội để cả hai bên để ý lẫn nhau rồi thương lượng công việc tương lai dưa trên nên tảng công bằng nhất khả dĩ. Công việc giá trị có thể cũng hoàn thành ngay ở đây và bây giờ giữa thân chủ và nhà trị liệu hoặc trong lòng thân chủ mà không nhất thiết đang nhắc đến ‘câu chuyện’ hay ‘vấn đề’.

Kiểu phiên làm việc như này cũng chứa đựng thông điệp rằng đúng cả khi nói hoặc không cất tiếng gì cả. Nhiều nhiều vấn đề hay ho mang tầm quan trọng sống động có thể đã không hề được thảo luận. Song các thân chủ, một khi họ cảm thấy an toàn, được tự do dùng không gian và các mối quan hệ như họ muốn. Họ không nợ nhà trị liệu điều chi, và nhà trị liệu không hề nghĩ mình bị chơi khăm nếu họ nhận ra tất cả những gì là sự kiện và cảm xúc thích hợp, liên quan.

Bài học nằm ở chuyện tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để không gây áp lực thúc đẩy những người khác bộc lộ, và truyền thông sự vắng bóng áp lực hết sức rõ ràng âu là công cụ hữu ích cho mọi kiểu dạng quan hệ; gợi nhớ ví dụ mẹ liên tục hỏi con kể cho bà nghe những gì xảy ra ở trường trong thời gian đi học xa nhà, hoặc tình huống cô vợ rập khuôn khẩn khoản chồng nói cho mình hay về cảm xúc trong lòng cậu ấy…

Khi cảm thấy được chấp nhận bất kể mình là ai, nói nhiều ít tùy thích, rồi thường hơn là cảm giác an toàn cùng tin tưởng tạo lập nên trong quan hệ, và mình có thể nói nhiều như mình cần thiết và mong muốn bộc lộ. Mình được thoải mái chọn lựa. Và sự chấp nhận tự thân nó đủ xúc tiến, làm tăng lên trạng thái triển nở và thân- tâm an lạc.

Sự bộc lộ trong tham vấn tâm lý

Việc bộc lộ (disclosure) là vấn đề gây tranh cãi khi xem xét các ranh giới của nhà tham vấn tâm lý.

Ranh giới (boundaries) là khía cạnh thiết yếu của bất kỳ quan hệ hiệu quả nào giữa thân chủ (client) và nhà tham vấn (counselor). Chúng đặt để cấu trúc mối quan hệ và cung cấp một khung làm việc nhất quán trong tiến trình tham vấn. Một số đường kẻ, lối bậc của ranh giới là rõ ràng. Hầu hết các nhà tham vấn tất rồi sẽ biết rằng điều ấy thuộc vấn đề đạo đức hành nghề, tỷ dụ, khi tham vấn cho nguồi yêu cũ vì mối quan hệ từng quen biết dễ làm hạn chế tính khách quan và khó phục vụ đủ đầy cho yêu cầu của mối quan hệ nghề nghiệp. Nếu các tình huống tương tự vừa nêu đích thị có vấn đề thì vượt ra ngoài các giới hạn cơ bản như thế lại hiện diện vô số tình huống chẳng rõ ràng ngay liền khi phác thảo các rannh giới. Các tình huống ấy rơi ngoài mặc định quy chuẩn của đạo đức song lại nằm đâu đó ở vùng xám mù mờ. Những gì thiết lập nên ranh giới, tại sao chúng ta cần đến chúng; các nguyên tắc của ranh giới mang tính đạo đức hành nghề (Từ tâm, không ác ý, tự trị, công bằng và trung thực); tôn trọng thân chủ; trách nhiệm của nhà tham vấn, v.v… tuy quan trọng, đáng tìm hiểu song không bàn ở đây.

Có hai vấn đề khi xem xét sự bộc lộ. Thứ nhất, sự bộc lộ của nhà tham vấn và mức độ tin cậy. Thứ hai, sự bộc lộ của nhà tham vấn (chẳng hạn, một nhà tham vấn bộc lộ đến đâu cuộc sống riêng với thân chủ của mình?). Một số nhà tham vấn tán đồng tắp lự bất kể thích hợp hay không (dù khá mơ hồ), một số khác thì nhìn nhận chuyện ấy theo kiểu không nên bộc lộ gì cả; tuy thế, thực tế có một sự cân bằng.

Trước hết cần biết, khi thân chủ nhất trí bước vào tiến trình tham vấn, họ thường cầm chắc, yên trí rằng những gì riêng tư đời mình (bên trong các giới hạn) sẽ được bảo mật với sự tôn trọng. Điều này khuyến khích sự thành thật từ thân chủ và cung cấp hiểu biết về tính an toàn rằng các thông tin hết sức riêng tư của họ sẽ không được tiết lộ cho những cá nhân chẳng dính dáng và thích hợp.

Thân chủ cũng phải được biết rõ là nhà tham vấn của mình có thể bị buộc ra hầu tòa để cung cấp bằng chứng cho việc xét xử, và nếu nhà tham vấn lựa chọn việc giữ kín thông tin nghe được, hậu quả có thể là nhà tham vấn bị đánh giá là miệt thị luật pháp tại tòa.

Với những ai đang hy vọng tìm thấy một số hướng dẫn cho mức độ bộc lộ của bản thân mình, giới học giả nghiên cứu chuyên sâu khuyên rằng kỹ năng là thấu biết gì nên bộc lộ, khi nào thì thích hợp và bộc lộ đến như nào. Các nhà tham vấn chưa từng trải, thiếu kinh nghiệm hay ước ao phải làm điều đúng hướng về thân chủ và vì vậy, hành xử rất cứng nhắc theo quy định hành nghề, thường đánh mất kiểu thể hiện bản thân trong nỗ lực nhằm gìn giữ tính chuyên nghiệp. Ở đây, Corey giải thích rằng các các nhà tham vấn còn chưa già dặn do ước muốn đạt hiệu quả đã thường trở nên thụ động, lắng nghe và phản hồi không khớp sát với hiểu biết và trực giác của chính họ; từ đấy, các nhà tham vấn này cũng bỏ lỡ, đánh mất nhiều cơ hội xây dựng mối quan hệ hòa hợp, tốt đẹp rồi thậm chí, dễ gây cho thân chủ cảm nhận rằng mình không thể thấu cảm với thân chủ được.

Giải thích cho thái cực kia của phổ bộc lộ, nhiều nhà tham vấn có thể quá háo hức chứng tỏ tinh thần nhân văn của họ đối với thân chủ, họ kể quá nhiều với thân chủ về chính mình, thay vì để trị liệu nhắm vào thân chủ thì lại chuyển sang nói về bản thân. Điểm căn cốt cần ghi nhớ là việc bộc lộ nên làm sao khuyến khích thân chủ đào sâu hơn mức độ họ tự khám phá bản thân hoặc củng cố thêm mối quan hệ trị liệu.

Nhà tham vấn bộc lộ quá mức dễ tạo cảm nhận đang thỏa mãn các nhu cầu cá nhân, chứ không phải nhu cầu của thân chủ. Tác động của việc bộc lộ thái quá của nhà tham vấn có thể gây hại thân chủ. Những thân chủ có thể cảm thấy thấu cảm với nhà tham vấn, khốn khổ vì hứng chịu sự chuyển di hoặc đơn giản bị sốc bởi điều ấy lại có thể xảy đến với nhà tham vấn của mình. Mặt khác, thân chủ có thể cảm thấy rằng những mối quan tâm ủa họ đang bị tầm thường hóa nếu các trải nghiệm của nhà tham vấn cũng tương tự, và thậm chí còn dung tục hơn họ nữa.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích (2)

Việc điều trị trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn là việc dễ tiếp tục gây tranh cãi, đặc biệt với việc sử dụng thuốc (chẳng hạn) và cách tiếp cận đa phần dựa trên mô hình y khoa.

Thực hành lâm sàng thường khác biệt so với bằng chứng nghiên cứu; lý do cho điều này có thể là vì thực hành lâm sàng luôn đi trước các phát hiện trong nghiên cứu hoặc, có thể vì chẳng dễ dàng để thiết lập được tính hiệu quả của một số cách can thiệp tâm lý trị liệu. Một yếu tố liên quan cũng cần tham khảo là các nhu cầu phức tạp ở trẻ em và tuổi mới lớn khi có nhu cầu thăm khám, tham vấn/ trị liệu không khít khớp với các chẩn đoán hoặc phân loại nghiên cứu đặc thù. Người mới lớn gặp khó khăn trong học tập cũng thấy nảy sinh vấn đề khi tiếp cận các dịch vụ sức khỏe tâm thần sao cho thật thích đáng và thường là các nhu cầu sức khỏe tâm thần đã không được đáp ứng phù hợp, tương xứng.

1. Trị liệu nhận thức – hành vi (CBT) phát triển như cách can thiệp hàng đầu khi xử lý trầm cảm, với ngày càng nhiều bằng chứng rằng đây là một cách điều trị hiệu quả cả cá nhân hoặc nhóm (Wood et al. 1996, Lewinsohn & Clarke 1999, Pfeffer et al. 2002, Nelson et al. 2003, Duldey et al. 2005, David-Ferdon & Kaslow 2008).

Các niềm tin căn cốt, giả định và suy tư tự động tiêu cực chúng ta nắm giữ trong mình được kiểm tra trong tiến trình CBT nhằm giúp trẻ em và tuổi mới lớn thách thức rồi đi đến định hình các suy tư của chúng đặng giúp bản thân chúng suy tư khác hẳn đi và cảm thấy tốt hơn về chính bản thân mình.

Tuổi một đứa trẻ có thể tham gia CBT gây tranh cãi, dù Stallard (2002) khẳng định điều này nên tùy thuộc vào thời gian một đứa trẻ đạt tới thời điểm thao tác cụ thể của sự phát triển nhận thức (khoảng trong tầm 7- 12 tuổi). CBT nên được thích ứng khi dùng với trẻ em, thực hiện việc sử dụng các kích thích thị giác nư các quả bóng tư duy, từ điển cảm xúc, bảng theo dõi cảm xúc, cũng như các cách tiếp cận sáng tạo như tự thầm nhắc tích cực, các trò chơi, búp bê và kể chuyện. Trẻ còn bé dễ gặp khó khăn trong phân biệt giữa các cảm xúc khởi từ sự kiện bên ngoài với các suy tư nội tại, và nhu cầu đơn giản và các hướng dẫn sáng rõ nếu chúng tham gia CBT.

Khá ít bằng chứng về những can thiệp tâm lý trị liệu với trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm đồng thời gặp khó khăn trong học tập, tuy dẫu có một số cho thấy mức độ hiệu quả nhất định ỏ nguwoif trưởng thành (Lindsay et al. 1993, Dagnan & Chadwick 1997, Lindsay 1999). Để CBT tỏ ra hiệu quả, trẻ cần bày tỏ nhu cầu sẵn sàng và bố mẹ thường nên tham gia vào (Stallard 2005). CBT có thể được tiến hành bởi một nhà trị liệu được đào tạo hoặc thông qua các loại hướng dẫn tự mình giúp mình. Curry & Reiecke (2003) dùng cách tiếp ận trị liệu theo module với người trẻ; Dummett & Williams (2008) phác thảo một cách tiếp cận vào 5 lĩnh vực đời sống (đáp ứng thể lý; các suy nghĩ; các cảm xúc; hành vi; và các vấn đề thuộc môi trường) nhằm vượt qua trầm cảm tuổi mới lớn,

2. Tâm lý trị liệu liên nhân cách (IPT) được thích ứng với việc sử dụng trên trẻ em (Weissman et al. 1979); đây là cách can thiệp ngắn gọn, có cấu trúc chặt chẽ, hạn chế thời gian. Có ràng buộc điều trị ở đây là người trẻ chấp nhận mình đang đau ốm và cần trợ giúp tựa như khi chúng mắc một bệnh thực thể vậy.

Xuyên suốt giai đoạn tiếp xúc rồi khởi sự ban đầu, người trẻ được tạo một tổng thuật về các mối quan hệ và chức năng xã hội hiện tại (bảng kiểm liên nhân cách). Nhà trị liệu phát triển một công thức liên nhân cách, nối kết trầm cảm với một trong bốn lĩnh vực liên nhân cách đang gặp trục trặc: nỗi tiếc thương, tranh cãi vai trò liên nhân cách, những quá độ khi chuyển đổi vai trò và những thiếu hụt liên nhân cách. IPT nhấn mạnh ở đây và ngay bây giờ; các vấn đề xảy đến trong hiện tại. IPA là một nỗ lực đặng hợp nhất các mục tiêu trị liệu đạt được nhờ người trẻ tạo ra (Frombone 1998, Weissman et al. 2000, Mufson et al. 2004, Coleman 2006).

3. Việc dùng thuốc cho trẻ quả là rất đáng nhìn nhận thấu đáo. Các cách tếp cận trong điều trị y khoa đối với trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn là các loại thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs), nhóm thuốc ức chế tái hấp thụ có chọn lọc serotonin (SSRIs) hoặc ức chế tái hấp thụ serotonin (SRIs). Nói chung, TCAs không nên được chỉ định khi chúng chẳng tỏ ra hiệu quả bao nhiêu so với giả dược (placebo) trong điều trị trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn (Hazell et al. 1995, 2002, Kutcher 1997, Geller et al. 1999). Không chỉ vì vô tích sự, chúng còn có thể gây ra một số phản ứng phụ không hay ho như khô miệng, đổ mồ hôi và táo bón cũng như tạo tác tiềm năng tim mạch nguy hiểm (Birmaher el al. 1998). Tương tự, các loại thuốc ức chế MAOIs không được chứng thực tính hiệu quả ở trẻ em và tuổi mới lớn, và ít bằng chứng hỗ trợ cho việc sử dụng (Heyman & Santosh 2005).

Việc dùng các loại thuốc chống trầm cảm cho trẻ em và tuổi mới lớn đang tăng lên (Zito et al. 2003, Mitchell et al. 2008). Năm 2007, ước tính khoảng 50.000 trẻ em Anh quốc được chỉ định thuốc chống trầm cảm và việc chỉ định càng tăng (Hansard 2007). Bằng chứng về tính hiệu quả của SSRIs là hạn chế, tuy vậy, chúng vẫn thứ thông dụng chỉ định; điều này gây lo ngại về các nguy cơ lớn hơn cho hành vi tự sát ở trẻ và tuổi mới lớn hơn là so với người trưởng thành dùng SSRIs (Stone et al. 2009). Shearer & Bermingham (2008) khẳng định rằng có các vấn đề đạo đức khi chỉ định SSRIs cho trẻ và tuổi mới lớn, bất kể thuốc chống trầm ảm hiệu quả hơn giả dược như nào, và các hiệu ứng ngắn hạn lẫn dài hạn lên sự phát triển tâm lý và thể lý của những ai được chỉ định thuốc. Jureidini (2009) đề nghị cách tiếp cận gồm “đợi theo dõi sát sao” và chú ý tới các nhu cầu thể lý và cảm xúc của trẻ có thể là giải pháp thay thế thuốc. Rất nhiều tuyên bố về tính hiệu quả của việc sử dụng thuốc chống trầm cảm, song có vẻ cẩn trọng và giám sát nghiêm ngặt kèm với các can thiệp tâm lý nên được cố gắng trước tiên.

4. Các cách trị liệu dựa trên nền tảng tâm động (psychodynamics) từng bị bỏ rơi trước sự tràn ngập của CBT và các cách trị liệu dựa trên sổ tay hướng dẫn, chí ít bởi vì chúng được cho là quá đắt đỏ, đòi hỏi lao động cực nhọc và tốn nhiều thời gian.

Tuy thế, điều quan trọng là nhận ra rằng người mới lớn được chẩn đoán trầm cảm có thể gặp nhiều vấn đề phức tạp mà chỉ có thể lưu ý sâu xa với trị liệu dài hạn.Các cách tiếp cận nhận thức có thể phù hợp với một số vấn đề nhẹ và trung bình, song các tác động dài hạn của trầm cảm tự chúng đòi hỏi một giải pháp dài hạn. Trong một phân tích meta-analysis theo cách tiếp cận nhận thức và không nhận thức (cả điều trị theo tâm động), Weisz và cs. (2006) không phát hiện thấy sự khác biệt giữa các dạng tâm lý trị liệu này, thể hiện ở việc cả hai cách đều tạo ra các hiệu ứng khiêm tốn trong điều trị trầm cảm. Trowell và cs. (2007) nhận ra rằng tâm lý trị liệu tâm động hiệu quả trong điều trị trẻ mắc trầm cảm và tính khí bất ổn (dysthymia) với 74,3% người mới lớn hồi phục, và tuổi mới lớn này tiếp tục cải thiện với 100% cho thấy không còn triệu chứng trầm cảm về sau.

Làm việc trong bối cảnh của mối quan hệ trị liệu dài hạn có thể đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn, nhất là trẻ khổ sở bởi các sang chấn. Các cách tiếp cận tâm động theo nhóm cũng được dùng với tuổi mới lớn và bối cảnh của một chương trình ban ngày định hướng tâm động có thể đem lại lợi lạc cho tuổi này. Có rất ít nghiên cứu về tâm lý trị liệu theo tâm động, chẳng hạn Watanabe và cs. (2007) chỉ thấy trong 27 nghiên cứu chỉ có duy nhất một nghiên cứu dùng cách tiếp cận tâm động.

5. Các cách tiếp cận khác có thể kể đến là các can thiệp kỹ năng xã hội, trợ giúp trẻ hoặc tuổi mới lớn ở trường học. Nhắm vào các mối quan hệ bạn bè cùng trang lứa có thể hữu ích. Điều trị nội trú có thể hữu ích đặc biệt với người có dự tính tự sát, trong khi điều trị ban ngày lại hỗ trợ cho người trẻ giải quyết các vướng mắc về sự tách biệt xã hội. Các can thiệp nhóm có thể giúp người trẻ nhận ra các ý nghĩa trong trục trặc gặp phải, giảm thiểu cảm nhận về sự cô độc và năng cao các mạng lưới xã hội trợ giúp hiệu quả.

Các trị liệu trần thuật cũng đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm, các dạng trị liệu gây tò mò so với các các trị liệu truyền thống vốn được nhìn nhận như dạng trị liệu chắc chắn (Amundson et al. 1993). Các trị liệu trần thuật sử dụng cách kể chuyện, và thường gồm các kỹ thuật tâm kịch. Trị liệu nhắm vào giải pháp đang tang lên và được người thực hành nìn nhận như cách tiếp cận hữu ích, dù bằng chứng cho tính hiệu quả với trẻ em và tuổi mới lớn chưa được thiết lập. Trị liệu âm nhạc cũng được dùng điều trị trầm cảm cho trẻ mới lớn (Hendricks & Bradeley 2005). Các lĩnh vực khác cũng được xem xét như là chế độ ăn uống, luyện tập thể dục và chế độ sinh hoạt hàng ngày tất thảy đều đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp người trẻ hồi phục từ cơn trầm cảm.

6. Có một đứa con mắc trầm cảm có thể là nỗi lo lắng khôn nguôn của các thành viên trong gia đình.

Thường người ta đổ lỗi cho chính họ và tìm cách giải thích hành vi cũng như chức năng của mình. Để giúp các gia đình, họ cần hiểu biết thấu đáo về rối loạn và ý nghĩa của trầm cảm. Giáo dục về các dấu hiệu, triệu chứng có thể giúp gia đình hiểu trầm cảm trong mối liên hệ với đứa trẻ nhà họ, điều này sẽ gồm cả việc thảo luận và nhận ra ý nghĩa trong hành vi của đứa trẻ hoặc người mới lớn, ví dụ nằm lỳ trên giường đến 2 giờ chiều là dấu hiệu của trầm cảm hay đó chỉ là hành vi bình thường của tuổi mới lớn? Liệu một đứa trẻ không ngừng lo lắng về thành tích học tập ở trường có mắc trầm cảm? Thảo luận những việc này và các vấn đề khác nữa với bố mẹ có thể làm tình hình sáng tỏ hơn và giúp bố mẹ có các mong đợi bình thường cho đứa con của mình. Một số gia đình hưởng lợi từ giáo dụ, một số từ sự trợ giúp gia đình và một số khác thì từ trị liệu gia đình. Trị liệu gia đình hệ thống cá nhân được khuyến cáo khi các dạng kết hợp bên trên chứng tỏ không hiệu quả.

Trong khi đa phần các gia đình hỗ trợ cho con em mình, một số có thể gây bất lợi cho sự phát triển của một đứa trẻ, nên việc hỗ trợ cho bố mẹ/ người chăm sóc nằm trong kế hoạch tổng thể nên được xem xét trước tiên. Lượng giá các quan điểm của gia đình về việc điều trị như thảo luận về chuyện dùng thuốc hoặc vai trò của tâm lý trị liệu có thể giữ vai trò quan trọng. Trả lời các câu hỏi từ giai đoạn khởi sự trị liệu và bước vào một cuộc đối thoại mang tinh thần hợp tác với bố mẹ trẻ có thể giúp công việc trị liệu tiến triển rất khả quan.

7. Tóm lại, trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng có thể để lại nhiều tác hại tiêu cực dài hạn đối với sự phát triển của trẻ em và tuổi mới lớn.

Nhận thức sớm về trầm cảm nên được chú trọng trong các chiến dịch phòng ngừa và nâng cao sức khỏe, đi kèm với việc hiểu biết sâu xa hơn về chuyện dùng thuốc quá mức cho trẻ và tuổi mới lớn có ảnh hưởng ra sao tới sức khỏe tâm trí của chúng, nhất là việc chỉ định thuốc chống trầm cảm cho trẻ ở độ tuổi còn nhỏ.

Hiểu biết trẻ mắc trầm cảm là khó khăn, bởi vì như đã thấy, có hàng loạt các ‘triệu chứng’ trầm cảm quá dễ gây nhầm lẫn với các hành vi khác ở trẻ và người mới lớn. Phát triển các cách can thiệp thích hợp sao cho hiệu quả và khuyến khích chúng phát hiện các giải pháp can thiệp riêng đối với những vấn đề thuộc cảm xúc sẽ giúp chúng thật hữu hiệu sau này khi lớn lên. Dùng một cách tiếp cận có cân nhắc thấu đáo, bình tĩnh trông chừng và giám sát chặt chẽ đồng thời hiểu biết toàn thể bối cảnh liên quan đến cuộc sống của trẻ và tuổi mới lớn có thể là điểm khởi đầu tốt lành. Đừng quên, thực tế thì một số giải pháp với chuyện chúng mắc trầm cảm có thể tạo nên các đáp ứng mang hơi hướng xã hội và chính trị chứ không chỉ định vị riêng trong tính cá nhân.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích

 

Gợi hứng từ cách tiếp cận vấn đề, đặt tên và đoạn kết trong bài viết của nữ bác sĩ Nhi khoa, tôi thử lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích.

Tổ chức WHO lưu tâm đứa bé trầm cảm ấy, bởi đó cũng là dạng vấn đề liên quan đến sức khỏe trẻ em và vị thành niên vốn được giới chuyên môn hành nghề ưu tiên nghiên cứu từ lâu.

Theo thông lệ mô hình y khoa và tâm bệnh học, thuật ngữ “trầm cảm” (depression) có thể được dùng để chỉ một dãy rộng các hành vi, đặc tính và triệu chứng; việc sử dụng thuật ngữ rộng và không chính xác này tạo nên vấn đề trong chuyện tài liệu văn bản, kết quả là nhiều nghiên cứu dùng cùng thuật ngữ căn bản để mô tả nhiều khía cạnh hết sức khác biệt thuộc chức năng hành vi và cảm xúc. Ba cách dùng thông dụng của thuật ngữ ‘trầm cảm’ từng được Cantwell (1990) ghi nhận: trầm cảm như một triệu chứng, như một hội chứng, và bên trong bối cảnh của một rối loạn mang tính chất trầm cảm (Merrell, 2003).

Cụ thể, khi xét như một triệu chứng (symptom) thì trầm cảm thể hiện trạng thái khó chịu: cảm thấy bất hạnh hoặc buồn bã, như thể ‘bị rơi bịch xuống đất’, cảm thấy khốn khổ hoặc âu sầu. Các trạng thái chủ quan này chỉ là một phần bé nhỏ của hội chứng hoặc rối loạn trầm cảm. Các triệu chứng trầm cảm thường hay diễn ra xuyên suốt đời người ta, thoáng qua và không thuộc rối loạn hay vấn đề quá nghiêm trọng. Cũng có khả năng là các triệu chứng trầm cảm tồn tại như thành phần của các rối loạn khác. Chỉ riêng các triệu chứng trầm cảm thường không đủ tiêu chuẩn để lượng giá là mắc trầm cảm.

Thuật ngữ hội chứng (syndrome) dùng mô tả điều gì đó sâu xa hơn là một trạng thái bất mãn, khó chịu. Thuật ngữ này hay được hiểu là nhằm cho thấy sự cùng xuất hiện các triệu chứng cảm xúc và hành vi và không hề mang tính tình cờ, ngẫu nhiên. Cantwell (1990) lưu ý rằng một hội chứng trầm cảm thì thường không chỉ gồm các chuyển đổi tâm trạng mà còn biểu tỏ những biến chuyển góp vào trong chức năng tâm- vận động, thể hiện ý thức, và động cơ. Các thay đổi phụ thêm này thường xảy đến với chiều hướng tiêu cực, làm giảm thiểu năng lực vận hành của người trải nghiệm chúng. Trầm cảm như một hội chứng thì ít thấy hơn trầm cảm như một triệu chứng; nó có thể là do một số stress lối sống, đồng thời xuất hiện với các vấn đề bệnh lý y khoa khác, hoặc xảy đến kết hợp với các rối loạn tâm lý và tâm thần như là các rối loạn hành vi hay gây gổ, tâm thần phân liệt, và các rối loạn lo âu. Trầm cảm như một hội chứng cũng xảy đến như vấn đề căn cốt, không có bệnh kèm sẵn rồi. Các hội chứng trầm cảm cũng dễ là thành phần của các rối loạn trầm cảm.

Sự phân biệt các hội chứng trầm cảm và rối loạn trầm cảm không rõ ràng được như giữa triệu chứng và hội chứng trầm cảm. Dù các hội chứng trầm cảm đặc trưng thuộc rối loạn trầm cảm (depressive disorder), song người ta khi nói một rối loạn trầm cảm là hàm ý sự tồn tại hội chứng trầm cảm rồi, dù cũng nên biết rằng nói hội chứng trầm cảm xảy đến trong một khoảng thời gian có nguyên nhân bởi một mức độ trục trặc chức năng nhất định và có thành tựu đặc thù như quãng thời gian và sự đáp ứng trong điều trị trầm cảm. Cách diễn đạt rối loạn trầm cảm thường hay thấy trong bối cảnh hệ thống phân loại DSM; và ở đây cần nhấn mạnh rằng hệ thống các tiêu chí đánh giá như DSM khi dùng đánh giá các rối loạn trầm cảm có thể tỏ ra không thực sự hiệu quả và hữu dụng ở các độ tuổi khác nhau (Carlson & Garber, 1986).

Tóm tắt nhanh về bệnh nguyên (etiology) trầm cảm ở trẻ em theo Compas (1997), Miller, Bimbaum, & Durbin (1990), và Schwartz và cs. (1998) cho thấy, sự kết nối của một vài biến số tâm lý chủ yếu như ảnh hưởng từ bố mẹ, các biến cố đời sống, và mẫu hình tương tác ở gia đình có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm. Một quan hệ được phát hiện tồn tại giữa những gì hay được gọi là “mất mát’ và trầm cảm ở trẻ em, nhất là sự mất mát bố mẹ hoặc sự tách biệt khỏi gia đình. Trẻ em có bố mẹ mắc trầm cảm thường cho thấy nguy cơ cao của việc tiến triển trầm cảm và các rối loạn tâm lý khác; các tỷ lệ stress của bố mẹ và xung đột gia đình trầm trọng cũng được phát hiện là có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm; một số bằng chứng do sự kiện mang tính tiêu cực xảy đến bên ngoài bối cảnh gia đình như trường họ và trục trặc quan hệ với bạn bè cũng được quy cho việc trẻ em mắc trầm cảm.

Trẻ em mắc trầm cảm có thể làm nảy nở thêm các kiểu nhận thức kém cỏi hoặc gây trục trặc chức năng nhận thức và đi kèm thiếu hụt các kỹ năng đối phó. Mô hình học hỏi tuyệt vọng (learned helplessness), được Seligman đề xuất đầu tiên (1974) đặt để một số dạng thức trầm cảm có thể xảy đến dưới các điều kiện học hỏi mà trẻ không nhận thức được mối liên hệ giữa hành động của chúng với hậu quả từ đó. Lewinsohn (1974) đề nghị mô hình ảnh hưởng rất lớn rằng sự đổ gãy của các sự kiện khoái sướng và củng cố có thể báo hiệu trước việc một người bị mắc trầm cảm, một ý tưởng đáng xem xét khi tiến hành lượng giá trẻ em với các đặc trưng môi trường và hành vi. Ngoài ra, tâm- sinh học cũng cho thấy một số dạng thức trầm cảm ở trẻ em có liên quan với các biến số sinh học như các khu vực tương quan của di truyền gia đình và hóa chất trong não bộ (Schwart et al., 1998).

Trầm cảm được ghi nhận rộng rãi là vấn đề thường gặp ở trẻ em và vị thành niên, trái với quan điểm trước đây rằng trẻ không thể bị trầm cảm vì thiếu trưởng thành trong nhân cách (Harrington, 2005). Tuy thế, viễn tượng này không được chia sẻ bởi tất cả các nhà lâm sàng: Timimi (2004) tán đồng không có bằng chứng thuyết phục để phân biệt rõ ràng giữa trầm cảm và buồn rầu ở trẻ. Bởi vì không có các triệu chứng đặc thù thường dùng chẩn đoán trầm cảm ở trẻ, bất định về tần suất thực sự trẻ mắc trầm cảm trước giai đoạn dậy thì.

Lượng giá trầm cảm như một rối loạn ở trẻ em và vị thành niên đòi hỏi sự quan tâm, kỹ năng, và lưu ý rất đặc biệt. Chẩn đoán trầm cảm ỏ trẻ em là phức tạp. Trẻ có thể gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa các cảm xúc như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001) và trong việc nhận ra quãng thời gian diễn tiến vấn đề, vì thế chúng không giỏi mô tả cách chúng trải nghiệm bao lâu các cảm xúc đặc thù ấy. Khi dùng các định nghĩa người lớn áp vào con trẻ, trầm cảm trước đây chẩn đoán mà không có sự hiện diện của các triệu chứng trầm cảm cơ bản ở người trưởng thành. Các triệu chứng trầm cảm khó phát hiện ở trẻ em vì chúng có thể bị khoác dưới các hiện tượng như ám sợ (phobia), hành vi phạm pháp (delinquencies), đái dầm (enuresis) và các triệu chứng thực thể khác (Glaser 1967, Bschor 2002). Cơn đau bụng được xem là triệu chứng tiềm năng hoặc cùng xuất hiện với trầm cảm (Dowrick et al. 2005). Tuy thế, như Goodman & Scott (2005) khẳng định, trầm cảm không nên được chẩn đoán trừ khi có sự xuất hiện các triệu chứng cảm xúc. Quyết định một người trẻ mắc hay không rối loạn trầm cảm hay đơn giản chỉ đang trải nghiệm các triệu chứng trầm cảm là một thách thức.

Một khó khăn của chẩn đoán trầm cảm ở trẻ nhỏ và người mới lớn là các cảm xúc, hành vi và tình cảm hàng ngày có thể được diễn dịch như dấu hiệu của ‘bênh tật hoặc đau ốm’ (disease/ illness). Việc y khoa hóa (medicalisation) hành vi và cảm xúc trẻ em đã được thảo luận rộng rãi đó đây (Blum 2007, Conrad 2007, Timimi 2007); tuy thế, điều căn bản là chí ít, chúng ta nhận ra các quan điểm khác nhau về việc xác định và chẩn đoán trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên.

Trầm cảm trước đây quen được nhìn như vấn đề nội sinh (xảy ra từ bên trong, có nguyên nhân sinh học) hoặc phản ứng (kết nối giữa các sự kiện bên ngoài gây stress với một sự tổn thương dẫn tới trầm cảm). Kể từ DSM- III, trầm cảm được phân loại như một dãy liên tuc từ trầm cảm nhẹ đến trầm cảm điển hình; quan điểm y khoa hóa các cảm xúc hàng ngày này tạo nên cả loạt thách thức cho người trẻ mà các thế hệ trước chưa từng trải nghiệm. Trầm cảm được xem là chưa được nhìn nhận thấu đáo trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và các triệu chứng trầm cảm bị bỏ qua (Weller & Weiller 2000).

Tuy thế, nếu trầm cảm bị chẩn đoán quá mức thì sự phát triển của các trẻ và vị thành niên này có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là sự phục hồi của chúng. Horwitz & Wakefield (2007) phân tích sự gia tăng trong chẩn đoán trầm cảm xuyên suốt mọi lứa tuổi và đề nghị rằng sự buồn rầu thông thường có thể bị lẫn lộn với trầm cảm; rằng các trải nghiệm bình thường của mất mát và bất hạnh đã bị diễn dịch lại như là bệnh tật; họ khẳng định ảnh hưởng mạnh mẽ của các tiêu chí chẩn đoán trong DSM- IV về trầm cảm đã trở nên quá mức. Horwitz & Wakefield (2007) nhìn thấy một loạt các yếu tố ảnh hưởng tới quan điểm của chúng ta về trầm cảm từ một loại bệnh khá hiếm hoi 30 năm qua trở thành thứ hết sức thường gặp. Bối cảnh sự buồn bã của người ta thường bị lờ đi khi xem xét ai đó có bị mắc trầm cảm hay không. Bối cảnh là quan trọng bởi vì không có nó, các yếu tố khác gây ảnh hưởng tới tâm trạng người ta như mất mát, không được ngó ngàng tới. Hai tác giả vừa nêu khẳng định các tiêu chí DSM-IV trong khi tỏ ra hữu dụng trong thực hành lâm sàng lại quen được dùng như khung tham chiếu để chẩn đoán trầm cảm trong cộng đồng; điều này dẫn đến việc thừa nhận hoặc ước tính quá mức trầm cảm ở cả trẻ em và tuổi mới lớn. Khẳng định này quan trọng bởi vì trẻ em và tuổi mới lớn rốt ráo nhận lấy điều trị y khoa cho một thứ được xem là bệnh (perceived illness) mà có thể thực tế là một vấn đề hiện sinh, một vấn đề thuộc tồn tại người. Thay vì y khoa hóa các vấn đề như thế, người trẻ cần được tạo cơ hội để vượt qua và quản lý phiền não của chúng (Claveirole & Gaughan, 2011).

Liên quan tới việc biểu đạt một cơn dịch trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn. Costello và cs. (2006) tổng thuật bằng chứng và khẳng định rằng trong khi các nhà lâm sàng đang gia tăng ghi nhận về trầm cảm thì tỷ lệ đích thị vẫn duy trì tương tự 30 năm trước đây. Điều tra sức khỏe tâm thần vị thành niên 1999 ở Anh quốc (Ford et al. 2004) thấy tỷ lệ dịch tễ khoảng 0,9% cho mọi loại trầm cảm và 0,6% cho trầm cảm điển hình ở trẻ em trong độ tuổi 5- 15. Hàng loạt nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dịch tễ dao động 4- 6% ở người trẻ (Kessler et al. 2001), trong khi một nghiên cứu học sinh trung học cơ sở ở Edinburgh có tỷ lệ 8,4% (Moor et al. 2007). Trẻ gặp khó khăn trong học tập có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn (Emerson & Hatton 2007, Tonge & Einfeld 2003, Tonge 2007), dù một số nghiên cứu phát hiện thấy khác biệt nhỏ ở dạng trầm cảm điển hình giữa trẻ gặp khó khăn trong học tập và trẻ không mắc nó (Stevenson & Rommey 1984). Khả năng các tiêu chí của ICD-10 và DSM-IV nhằm định dạng các khó khăn tâm lý ở trẻ em và tuổi mới lớn cần được đặt thành vấn đề về độ tin cậy quá mức vào việc truyền thông bằng lời; điều này đặc biệt khổ sở với trẻ em và tuổi mới lớn gặp khó khăn trong học tập.

Khi lượng giá một người trẻ, điều quan trọng là cần xem xét thông tin từ các nguồn khác nhau, vì trẻ thường hành xử phụ thuộc vào bối cảnh. Bố mẹ chắc chắn là nguồn thông tin đáng giá: họ có thể giải thích tại sao họ tin có vấn đề và tại sao lúc này. Khi phỏng vấn trẻ, hiểu biết về sự phát triển của trẻ em, nhất là về sự phát triển ngôn ngữ, cảm xúc và nhận thức là căn bản vì trẻ có hiểu biết khác nhau và cách khác nhau trong miêu tả mọi thứ phụ thuộc vào tuổi của chúng. Lưu ý các ảnh hưởng hoặc lời giải thích khác, và có cách tiếp cận tổng thể. Khi điều tra được thực hiện trong bối cảnh có những sự kiện môi trường khác nhau, trẻ em có thể khu biệt các cảm xúc cơ bản như buồn rầu hoặc cáu gắt; tuy thế, khi vắng mặt một bối cảnh, trẻ có thể chối bỏ các cảm xúc cơ bản như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001, Martin et al. 2010). Bố mẹ có thể hiểu biết ít ỏi về thế giới nội tâm của con em mình; một nghiên cứu của Puura et al. (1998) cho thấy trong khi bố mẹ và thầy cô giáo sẵn sàng nhìn nhận các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em, họ nói chung không giống nhau trong việc tìm kiếm trợ giúp cho đứa trẻ. Một nghiên cứu ở bốn trường trung học cơ sở ở Edinburgh phát hiện, các thầy cô giáo không ngang nhau trong việc nhận ra trầm cảm ở trẻ nhằm đón nhận đào tạo chuyên biệt việc nhận diện trầm cảm (Moor et al. 2007).

Các cuộc phỏng vấn thường dùng để lượng giá và có thể là có cấu trúc, bán cấu trúc hoặc không; một số phương pháp lượng giá khác bao gồm bảng hỏi, như Beck Depression Inventory (Beck et al. 1961), thang đo Child Assessment Scale (Hodges et al. 1982), v.v… Các bảng hỏi và bảng kiểm tuy hữu ích song không nên là toàn bộ phương pháp lượng giá, đứa trẻ hoặc tuổi mới lớn nên luôn luôn được phỏng vấn hoặc quan sát. Các cách tiếp cận trị liệu trò chơi (play therapy) là kỹ thuật quan trọng khi làm việc với trẻ nhỏ; các cách tiếp cận sáng tạo trong lượng giá sử dụng các kỹ thuật như nội tâm hóa vấn đề hoặc cho trầm cảm một cái tên có thể tỏ ra hữu dụng. Nylund & Ceske (1997) mô tả cách tiếp cận kể chuyện để hiểu trầm cảm ở bé gái mới lớn, một số trẻ và thiếu nữ đáp ứng khá tốt với cách này.

Những lĩnh vực phức tạp trong chức năng của trẻ và tuổi mới lớn cần được cân nhắc. Một số triệu chứng trầm cảm như xuống tinh thần, thu mình hoặc mất khẩu vị rất nên được đánh giá ngay; những thay đổi trong cách nói năng hoặc hành xử cũng nên được lưu tâm. Tuy thế, có nhiều sự kiện và trải nghiệm khiến trẻ cảm thấy buồn rầu. Điều quan trọng là người lớn đừng vội vàng kết luận theo cách giải thích y khoa với các sự kiện đời sống mang tới sự buồn rầu cho trẻ. Lượng giá các vấn đề cảm xúc ở trẻ gặp khó khăn trong học tập là một thách thức thực sự.

Nguy cơ tự sát hoặc nỗ lực tự sát tăng lên ở trẻ khi chúng lớn thêm lên; có một sự liên hệ rõ ràng giữa trầm cảm và tự sát, với một phát hiện tổng thuật là 49% và 64% ở người mới lớn đã có ý định tự sát đồng thời cũng mắc trầm cảm rồi (Gould et al. 2003). Mối quan tâm vấn đề tự sát ở trẻ dưới 12 tuổi đang tăng lên (Tishler et al. 2007). Mặc dù các ý nghĩ tự sát là rất thông thường ở tuổi mới lớn, không nên đánh giá thấp trẻ em vì một số trẻ có các ý nghĩ tự sát và hành động dựa trên các ý nghi này. Không rõ ràng ở độ tuổi nào thì trẻ có thể hiểu được hậu quả các hành động của bản thân, ví dụ các hành động của chúng có thể dẫn đến cái chết và cái chết là gì.

Tiện đây, cùng với các tiêu chí chẩn đoán trong DSM-IV-TR (APA 2000), cũng cần nói thêm về một số cập nhật và thay đổi quan trọng ở DSM- 5 (2013) liên quan rối loạn trầm cảm điển hình (hoặc trầm cảm lâm sàng); với việc xuất hiện hai rối loạn mới là Rối loạn Khó Điều Chỉnh Tâm trạng Gây gổ (Disruptive Mood Dysregulation Disorder, DMDD) và Rối loạn Khó ở Tiền Kinh nguyệt (Premenstrual Dysphoric Disorder, PDD). Loạn tính khí (Dysthymia) đã ra đi, thay vào là cái gọi là “rối loạn trầm cảm trường diễn” (persistent depressive disorder). Điều kiện mới bao gồm cả rối loạn trầm cảm lâm sàng mãn tính và rối loạn loạn tính khí trước đây. Theo đó, rối loạn DMDD chẳng hạn, là điều kiện mới giới thiệu ở DSM-5 nhằm nhấn mạnh các triệu chứng vốn được gán nhãn là “rối loạn lưỡng cực thời thơ ấu” (chilhood bipolar disorder); rối loạn mới này có thể được dùng để chẩn đoán trẻ tới 18 tuổi có biểu hiện cáu gắt kéo dài và tần suất các giai đoạn có biểu hiện hành vi cực đoan, mất kiểm soát.

Về các triệu chứng trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn, có 2 ngoại lệ trong chẩn đoán cần lưu ý: tâm trạng trầm uất có thể là tâm trạng cáu gắt, khó chịu (irritable mood) và việc giảm cân có thể là dấu chỉ thất bại cho việc trẻ muốn đạt được cân nặng mong đợi phù hợp với sự phát triển thể lý của chúng. ICD-10 và DSM- 5 phân loại các rối loạn trầm cảm hết sức khác biệt nên cần xem xét cả hai để bản thân người tác nghiệp quen thuộc với những khác biệt ấy.

Tuổi mới lớn có thể biểu hiện một số hoặc hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm, song cũng cho thấy sự khác biệt với trầm cảm ở người trưởng thành. Với tuổi mới lớn, tính tình cáu gắt và trạng thái thu mình về mặt xã hội rất nổi trội, mát hứng thú trong các hoạt động thì ít gặp hơn, nỗi đau đớn thân xác như một chỉ báo cho trầm cảm thì khá thường thấy như các ý nghĩ tự sát (Dowrick et al. 2005, Weller et al. 2006). Tự làm hại bản thân có thể là cách người trẻ cố quản lý các cảm xúc trầm cảm.

Có khác biệt trong dấu hiệu trầm cảm ỏ trẻ trước và sau giai đoạn dậy thì. Trẻ có thể biểu tỏ nhiều phàn nàn thực thể hơn, tính tình cáu kinh, lo âu bị xa cách, khóc lóc, không muốn đi học và đau bụng (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006). Người trẻ trải nghiệm nhiều hơn sự bơ vơ và tuyệt vọng, tội lỗi, mất khoái cảm (thiếu vắng niềm vui thích bất cứ điều gì), ngủ quá mức (hypersomnia) và dùng bia rượu, ma túy để kiểm soát các trạng thái trầm cảm (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006, Wu et al. 2006). Các ảo giác cũng có thể xuất hiện trong trầm cảm nặng (Cepeda 2000).

Giai đoạn mắc trầm cảm điển hình là vấn đề nghiêm trọng với trẻ em và tuổi mới lớn, và nếu tái phát thì có gây nên những ảnh hưởng ghê gớm với sự phát triển của người trẻ; có thể tiếp tục trải nghiệm các giai đoạn trầm cảm suốt tuổi trưởng thành. Trầm cảm liên quan với việc tăng tỷ lệ lạm dụng chất và ảnh hưởng tới các chức năng cá nhân, xã hội, nghề nghiệp và học hành (Fergusson & Woodward 2002). Trầm cảm ở người trẻ thường khởi từ tiền sử mắc rối loạn lo âu hồi nhỏ, hoặc loạn tính khí (Chavira 2004, Weisman et al. 2005). Loạn tính khí như sơ bộ đề cập bên trên, là tâm trạng đặc trưng bởi các cảm xúc trầm uất, mất hứng thú và khoái lạc, kéo dài hơn 2 năm song không đủ tiêu chí chẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình. Các cảm xúc về sự vô giá trị, đồ vứt đi có xuất hiện vào giữa giai đoạn thơ ấu, tội lỗi thì được thấy muộn hơn (Goodman & Scott 2005). Các ý nghĩ và hành vi tự làm hại bản thân thường xảy ra tầm 12- 14 tuổi song có thể phát hiện sớm hơn ở trẻ sống trong môi trường nhìn thấy những người khác tự hành hạ bản thân họ. Ollendick và cs. (2005) cho rằng các triệu chứng trầm cảm là bình thường ở trẻ em bất luận đích thị trầm cảm hay xảy đến ít nhiều mà thôi.

Nguy cơ mắc trầm cảm ở trẻ em nếu được định dạng thì rất có khả năng làm giảm thiểu trầm cảm thông qua việc phòng ngừa. Trách nhiệm của mọi người trong việc nâng cao sức khỏe tâm trí ở trẻ em và tuổi mới lớn, và việc chuyển dịch lĩnh vực của nhà chuyên môn sang công việc của mọi người là điểm then chốt của tiến trình này. Có rất nhiều công việc hàng ngày có thể làm để nâng cao sức khỏe tâm trí. Bố mẹ và trường học có thể đóng vai trò chính trong việc cải thiện chất lượng thực phẩm, dinh dưỡng và chế độ ăn uống lành mạnh. Các chiến lược chống bạo lực học đường và dẫn dắt bởi học sinh chứng tỏ thành tựu đáng khích lệ. Trẻ thể hiện sự sáng tạo và trực giác khi giải quyết vấn đề bên trong môi trường vui chơi và lớp học, vf vậy chúng ta nên xáp vào trí tuệ cảm xúc của chúng và cung cấp các cấu trúc hỗ trợ chúng. Bố mẹ có thể đưa ra các cơ hội khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động sau giờ học ở trường nhằm nâng cao sức khỏe tâm trí. Hansson và cs. (2008) sử dụng khái niệm môi trường chia sẻ và không chia sẻ; làm thế nào để mấy khái niệm này hữu ích trong việc lượng giá trầm cảm đây? Liệu mình có thể định hình các yếu tố môi trường chia sẻ và không chia sẻ làm các yếu tố phục hồi và các yếu tố gây tổn thương?

Rooney và cs. (2006) cho thấy các triệu chứng trầm cảm đã thuyên giảm và tăng lên các kiểu tư duy tích cực một cách trực tiếp sau khi các chương trình can thiệp triển khai; tuy thế, những thuyên giảm này không bền vững theo thời gian. Collins & Dozois (2008) xem lại các chương trình phòng ngừa trầm cảm và phát hiện thấy các yếu tố trong chương trình tạo nên sự khác biệt là việc cải thiện các kỹ năng nhận thức, các cách tiếp cận liên nhân cách, và sự dấn thân hòa nhập của bố mẹ vào các chương trình.

(bài tới sẽ đề cập phần cuối, đi sâu trình bày các biện pháp can thiệp và trị liệu trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn)

J. Soi (37): Quen bạn trai nào cũng đòi hỏi ‘chuyện ấy’: vấn đề lần đầu tiên gần gũi thể lý và tiếp cận sex

Những vụ việc, tình tiết và tâm trạng như này khá quen thuộc với không ít bạn trẻ mới bước vào ngưỡng cửa yêu đương, hoặc cả những ai khuyết thiếu trải nghiệm tình dục trong quan hệ lứa đôi, thân mật.

Điều đáng học hỏi chẳng kém cạnh ở đây lại thuộc về cách trả lời, bởi nó vô hình trung, chỉ ra giá trị của nền tảng bài bản, chuyên nghiệp, và hiệu quả trợ giúp khi thân chủ cố vượt thoát nỗi niềm bất an liên quan đến chuyện trai gái làm quen và hẹn hò, bắt cặp.

Em chưa nói cụ thể mức độ đòi hỏi của bạn trai là gì nên tôi chưa thể đưa ra câu trả lời cụ thể. Nếu sự gần gũi ở mức độ như quan hệ tình dục vào thời gian mới quen nhau là rất mạo hiểm. Nhưng nếu đã quen biết nhau một thời gian và đi đến quan hệ yêu đương thì cũng cần một cái nắm tay, một nụ hôn, sự ôm ấp, vuốt ve nhau cũng sẽ giúp cho tình cảm thêm gắn bó.

Qua những gì em chia sẻ, tôi nhận thấy em là một cô gái khả ái, chuẩn mực, biết giữ mình nên chắc hẳn là giành được nhiều tình cảm của người khác phái. Em đang muốn tìm kiếm một người yêu nghiêm túc, nhưng chưa nói rõ nghiêm túc theo tiêu chuẩn nào.

Đọc thư, cảm thấy các diễn biến lo lắng, xáo trộn ấy là bình thường, có thể hiểu được; cũng không quá khó lý giải cơn cớ cô gái đang cảm thấy hụt hẫng và bối rối về những nguyên nhân khả thể cho chuyện tình cảm tan hợp, lâu chóng; tuy thế, những điều cô gái nhấn mạnh khẳng định rõ ràng rằng đấy không chỉ là trường hợp lần đầu tiên tiếp cận sex mà còn bộc lộ các giả định về niềm tin, quan điểm khởi đi từ truyền thống văn hóa, gia đình, giáo dục, và trải nghiệm bản thân.

Cho dù chuyện giữ gìn trinh tiết có liên quan đến nỗi hoang mang “quen bạn trai nào cũng đòi hỏi” song đó dễ chừng là hai điều khác hẳn nhau. Đa phần, không thành vấn đề bất kể nguyên do thuần túy tâm lý hay thể lý; bởi trong hầu hết các trường hợp, những băn khoăn đều có thể thuộc về cả hai yếu tố thể lý và tâm lý. Do vậy, khá thiết thực nếu lượng giá từ người có chuyên môn để có một bức tranh chính xác.

Một vòng lặp của thất vọng, e sợ, và lảng tránh thường dễ cùng nhau dẫn tới việc đổ vỡ hết sức đau đớn; để bẻ gãy được nó, cô gái phải đoan chắc không tiếp tục dấn sâu vào các suy tư tiêu cực và kiên trì theo đuổi việc cải thiện các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách. Điều cũng quan trọng không kém là đừng vội nản lòng bởi việc thiếu vắng các câu trả lời ngay lập tức và lối thoát ra khỏi vấn đề vướng mắc; đôi khi cần dành thời gian lẫn sự kiên nhẫn đặng lắng nghe, học hỏi cho thiệt thấu đáo.

Lần nữa, làm ơn biết cho ràng những gì cô gái đang trải qua là rất bình thường và tự nhiên. Nghĩ đến việc sex lần đầu tiên có thể mang lại quá chừng các cảm xúc nặng nề, trái ngược; trải từ phấn khích, bối rối cho tới sợ hãi (thường thì tất thảy trong cùng khoảnh khắc). Với sự vụ vi tế này, lứa tuổi mới lớn còn tri nhận nhiều thông điệp xung đột không ngừng về sex từ nền văn hóa đại chúng, internet, bạn bè, bố mẹ, thầy cô giáo, các vị dẫn đạo và chỉ bày tâm linh, cũng như các yếu nhân khác trong đời người trẻ. Với vô vàn giọng điệu tranh giành đó, và với mỗi một ham muốn hòa cùng xung năng tự nhiên ấy, có thể thật khó khăn để quyết định thời điểm nào là ‘thích hợp’ để khởi sự sex.

Ham muốn tình dục không phải là chuyện bẻ lái, bật công tắc có thể chuyển đổi dễ dàng sau khi vị trí ‘khóa, tắt’ nhiều năm tháng dài vị thành niên. Thuận theo lời dạy bảo của bố mẹ và các yếu nhân khác không nên quan hệ có thể gây khó khăn cho việc tiếp cận sex khi chúng ta (và người yêu của mình) cảm thấy rằng chúng mình đã sẵn sàng. Dẫu thế, mặt khác thì đôi khi sự miễn cưỡng của cơ thể khi có sex dễ là một chỉ dấu cho thấy nên lùi lại và đặt các câu hỏi thiết yếu, quan trọng cho mình và người yêu cho đến lúc cần trao đổi, thảo luận đàng hoàng.

  • Các giá trị cá nhân của mình khít khớp ra sao với chuyện sex vào lúc này (các niềm tin tôn giáo, quan điểm của gia đình, các ý tưởng về lần đầu tiên)?
  • Những nguy cơ thể lý nào mình sẽ phải gánh chịu (sử dụng biện pháp tránh thai, mang bầu ngoài ý muốn, xử lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục)?
  • Mình muốn gì từ mối quan hệ tình cảm với người yêu đây (chuyện sex sẽ làm thay đổi như nào quan hệ hiện tại, nó mang nghĩa ra sao với mối quan hệ của hai đứa)?
  • Áp lực mình cảm thấy (nếu có) từ nhóm bạn bè thân thiết (mình quan hệ vì là đứa duy nhất chưa bao giờ, muốn làm thế để gắn bó với nhau hơn, v.v…)?

Nếu cô gái và bạn trai chưa từng thảo luận các câu hỏi nêu trên, có thể hữu ích khi họ dành chút thời gian để thử nói về chúng. Còn đã trao đổi các câu hỏi liên quan với sự thoải mái của cô/ cậu rồi lại quyết định thích đưa quan hệ hai đứa lên tầm cao mới nữa thì e khả năng cao là tâm trí đôi lứa sẽ trở ngại, quấy nhiễu với áp lực có sex; nếu sự vụ xảy ra đúng thế thì khuyến cáo không nên quan hệ với nhau. Thay vào đó, dấn thân vào các hoạt động nào tạo cảm giác tốt lành cho cả hai song không vì mục tiêu là quan hệ tình dục. Cũng thế, xin hãy tự cho phép bản thân mình quyền thay đổi tâm trí; nếu khởi sự muốn tiến tới quan hệ tình dục và nó không tạo cảm giác ổn, có dấu hiệu hay câu chữ nào đó để biết rằng ‘lúc này nên dừng’…

Dành thời gian để chính mình nói nhiều hơn về ý nghĩa của sex với bạn và cách nó khít khớp với các giá trị cũng như ao ước cá nhân, riêng tư. Dành thời gian thưởng thức cùng nhau, chuẩn bị sẵn sàng cho những gì có thể xảy đến song đừng tạo áp lực bản thân để bắt buộc nó diễn ra.

Như thế, vấn đề ham muốn thật quan trọng, nhất là khi người ta yêu đương. Thực tế, có một cộng đồng tự thổ lộ là họ hiếm hoi, hoặc không bao giờ cảm giác hoặc bị thôi thúc về tình dục (vô tính ?);  thường những người này này không cảm thấy họ đánh mất điều gì vì họ luôn cảm thấy theo lối đó, vấn đề chỉ khởi lên khi người yêu của họ bất mãn do sự thiếu vắng trạng thái thân mật tình dục.

Có vẻ cô gái viết thư không phải thuộc trường hợp vắng bóng ham muốn mà cơ chừng thiếu hụt trải nghiệm hoặc độ tự tin. Dĩ nhiên, chưa từng kinh qua gì trước đây bao giờ thì sẽ dễ cảm thấy bất định và nảy sinh cảm giác lo lắng ít nhiều. Đáp ứng an toàn với một tình huống bất định hoặc lo lắng là không tiến hành làm gì cả. Không ai thích rơi vào trường hợp bị từ chối, hoặc là nguồn cơn của sự khó xử, lúng túng hoặc gây hiểu nhầm về mặt xã hội. Vì thế, dính dáng với chuyện khởi sự các dạng thức nọ kia của sự gần gũi thân xác thì lựa chọn ‘an toàn nhất’ đơn giản là không khởi sự. Rồi theo thời gian trôi qua, các cách thức liên hệ không gần gũi thân xác, thể lý có thể trở thành chuẩn tắc, hoặc mặc định hành vi; nguy cơ là bị mắc kẹt trong một mối quan hệ kiểu chỉ- là- bạn- bè- thôi.

Cách thức để xây dựng sự tự tin về mặt hành vi là thông qua trải nghiệm, học hỏi trực tiếp rằng việc khởi xướng trạng thái thân mật thể lý ban đầu rồi cho phép người yêu mình nhìn thấy cơ thể thì không giống với chuyện bị từ chối hoặc gây khó xử quá tồi tệ như mình có thể hình dung chúng trong tâm trí, khi hai người đã thiết lập quan hệ với nhau rồi. Ở một mức độ nhất định, sự tự tin này theo sau trong các mối quan hệ yêu đương, bồ bịch. Nhiều người bắt đầu tiến trình xây dựng dạng thức tự tin này xuyên suốt thời vị thành niên nên lúc lớn rồi, dường như chuyện ấy với họ trở nên dễ dàng hoặc tự nhiên hơn hẳn.

Vậy, làm thế nào để khởi sự đây? Thường khá ngạc nhiên về chuyện chúng ta hiếm hoi nghĩ về việc tạo nên một cuộc trao đổi chân tình như là giải pháp cốt lõi khi mối quan hệ gặp trục trặc. Ở trường hợp cô gái, dường như logic là nên giải thích với (các) bạn trai khi nào và ra sao mình thấy bất định để khởi sự sự gần gũi thể lý, rằng đơn giản mình chưa từng có trải nghiệm quan hệ kiểu thế… Một cuộc trao đổi chân thành nhất có thể tái đảm bảo người yêu mình rằng cái dấu hiệu dường như vô cảm của mình í không phải là do sự thiếu hụt ham muốn hoặc độ quyến rũ, hấp dẫn đâu.

Cần hiểu thấu đáo rằng những bức tường rào ngăn cách ghê gớm nhất chính là việc tiến hành trò chuyện, và khởi sự sự gần gũi thân thể hơn cho vài lần đầu tiên. Khi người yêu càng cởi mở đủ lâu để trợ giúp và các khởi sự được lĩnh hội, nắm bắt đúng đắn thì mình sẽ ngạc nhiên ngay về cách thức quá chừng nhanh chóng cho việc đạt được sự thoải mái và tự tin. Đấy sẽ là điều làm khuây khỏa, giảm nhẹ nhờ đơn giản biểu đạt tình cảm bằng cơ thể và độ quyến rũ tính dục khi nó khởi lên, hơn là mắc kẹt mãi với vô vàn phân tích trong đầu rằng nên hay không nên nhặng xị..

Trạng thái thân mật lứa đôi luyến ái thường tự chăm lo cho chính nó ổn thỏa, và khi mình chạm tới giai đoạn đó trong quan hệ thì thường các vấn đề gay cấn nhất cũng sẽ được gỡ rối, giải quyết. Khuyến cáo cô gái tập trung vào việc thiết lập quan hệ, cải thiện giao tiếp, và nâng cao các kỹ năng xã hội mình sẽ sử dụng trong một mối quan hệ yêu đương. Nếu gặp các sự cố, vấn đề quá chừng chuyên biệt, tham vấn tâm lý có thể thiết thực trợ giúp hiệu quả với các chiến lược xử lý nhắm đến các vấn đề này. Nếu cô gái đã từng tìm hiểu, hẹn hò trước đây, giờ cô cứ tiếp tục hẹn hò, tìm hiểu…

J. Soi (36): Nhắm vào động cơ nội tại; làm chi đánh thó nổi, chỉ sợ đích thị mình có gì không thôi

Được địp đồng nghiệp nhờ hỗ trợ thiết kế bộ mấy chục kỹ năng mềm theo yêu cầu của thủ trưởng đơn vị, tôi nghiêm túc ướm lời về cách xử lý công việc cơ quan. Bạn có vẻ tự hào với khả năng nhanh nhạy, việc khó mấy cũng tìm ra cách xử lý ổn thỏa; bao sân nhiều món và thừa năng lực cá nhân để vừa quán xuyến được từ cái tăm, chiếc ghế và món tráng miệng giữa buổi hội thảo cho đến chuyện kịp đúng hạn nộp bài nghiên cứu khoa học cấp nọ kia.

Cống hiến thời gian và công sức tập trung nhằm thỏa mãn các nhu cầu cả về tinh thần và thể lý đem lại cho chúng ta một sức chịu đựng, độ nhẫn nại phục vụ tha nhân, cộng đồng. Cảm giác mạnh mẽ trong đam mê và mức đồng cảm ấy có thể đẩy chúng ta cho nhiều hơn những gì mình có, kết quả dẫn tới sự mệt lả hoặc kiệt sức.

Không những cần biết cách cân bằng giữa giữa sự đồng cảm vì người với sự chú ý tới việc tự chăm sóc bản thân, bất chấp việc tăng lên thông thường của lương bổng và thu nhập, thực tế không có gì thúc đẩy chúng ta tốt hơn việc có lý do bên trong, hết sức riêng tư để thực hiện điều gì đó.

Nghiên cứu lý do đăng ký vào học của tầm 11.000 học viên trường sĩ quan West Point (Hoa Kỳ) cho thấy chẳng có gì đáng ngạc nhiên “càng mãnh liệt với các lý do nội tại (trở thành một lãnh đạo ra trò) khi vào West Point thì đó là các học viên dễ tốt nghiệp và chóng được cấp bằng sĩ quan”, so với người có động cơ ngoại giới (đạt được viễn tượng nghề nghiệp ngon lành).

Điều các nhà nghiên cứu ngạc nhiên, những học viên có cả động cơ ngoại giới và nội tại thì lại thi hành công việc kém cỏi hơn so với ai chỉ có các động cơ nội tại không thôi; những người ôm đồm cả hai loại động cơ thì ít được thăng tiến và thời gian lưu lại trong quân đội sau thời gian quy định phục vụ năm năm cũng ít hơn. Kết luận rút ra là các hoạt động nên được cấu trúc sao cho các hậu quả ngoại giới, như lương cao hơn, không nên trở thành các động cơ phấn đấu của bản thân. “Giúp đỡ người ta tập trung vào ý nghĩa và ảnh hưởng của công việc họ làm, hơn là chú mục vào chẳng hạn thu nhập tài chính mang lại, có thể là cách tốt nhất để cải thiện không những chất lượng công việc mà còn tạo thành tựu cả về mặt tài chính nữa”.

Thời gian cộng tác ngắn cũng khiến tôi kịp liên tưởng tới việc khởi nghiệp. Rằng khi các người khởi nghiệp tìm kiếm nhà đầu tư, điều căn cốt là công ty nhắm vào các ý tưởng tốt nhất chứ không phải tốn thời gian hoàn thành việc bảo vệ ý tưởng hợp pháp nhằm ngăn ngừa các nhà đầu tư đánh thó ý tưởng của họ đem về. Đáng chú ý, cả nhà đầu tư lẫn các công ty mới khởi sự thường ít thích các ý tưởng điều chỉnh theo ý của thị trường, thay vào đó, tự kiểm soát phù hợp, các công ty mới gia nhập có thể bảo vệ các ý tưởng riêng có và tăng tốc kinh doanh thêm lên… Như lời trích dẫn trong bài báo “nguy cơ tiến chậm thì đáng lo ngại hơn là nguy cơ bị sao nhái ý tưởng”.

Lời cảnh tỉnh từ ngoại quốc thật thiết thực, quá chừng đúng đắn và sống động giữa thời buổi giao thời, nhiễu nhương.

Đau đầu xe cộ ồn ào sẽ càng cào sâu bất ổn

Đêm về khuya ở ngoài đường sẽ dễ chứng kiến hai điều: khuôn mặt mệt mỏi của đa phần mọi người, và những đống rác tú ụ được các gia đình sống trên phố đổ thải ra.

Trong chớp choáng lập lòe ánh sáng chói mắt và xe cộ lại qua xen kẽ còi bóp inh ỏi vẫn còn tấp nập làm điếc cả tai, xuất hiện ý nghĩ liệu tiếng ồn đối với người này có là âm nhạc của kẻ khác?

Tiếng ồn được xem là một dạng ô nhiễm vì nó là dạng kích thích không mong muốn cứ ấn bừa vào môi trường người ta, dù khá khó xác định một cách khách quan. Tính chủ quan bất biến của nó nằm ở chỗ tiếng ồn là thứ âm thanh người ta chẳng muốn nghe (tham khảo).

Một số nghiên cứu khẳng định trải nghiệm của bản thân người ta về tiếng ồn (ví dụ, sự phiền quấy) không phải do tự thân tiếng ồn, là yếu tố quan trọng đối với sức khỏe. Nhiều nghiên cứu xem xét sự biểu lộ stress kéo dài dây dưa (xác định khách quan qua đo độ decibel) trên các mẫu tương đối lớn.

Tuy nhiên, tác động của tiếng ồn còn do một số nguyên nhân khác như nhân cách và sự có ý nghĩa của tiếng ồn; trạng thái phiền quấy do tiếng ồn gây nên đa phần được xác định do mức độ ồn ào, do vậy cả hai yếu tố là không hề độc lập lẫn nhau.

Vậy liệu chúng ta quen với tiếng ồn?

Các báo cáo vén lộ sự thật là người ta bắt đầu ngủ ngon hơn khi họ quen với tiếng ốn ào do các phương tiện giao thông tạo ra, phản ánh cho cái gọi là tiến trình quen dần. Dẫu thế,  các cuộc kiểm tra nhờ máy ghi tim vật lý (polygraph) cho thấy não của họ không hề có dấu hiệu thay đổi nào khi họ “dần quen với’ tiếng ồn.

Thực tế, phơi nhiễm tiếng ồn như thế đôi khi dễ làm tăng độ nhạy cảm với tiếng ồn. Dường như một số cá nhân quen với tiếng ồn, một số khác thì không thể. Cách người ta thích ứng cơ chừng phụ thuộc vào nhân cách và độ nhạy của bản thân họ.

Tính có thể dự đoán trước và triển vọng của việc kiểm soát tiếng ồn không mong muốn được xác minh là làm giảm nhận thức sau các tác động do phơi nhiễm với tiếng ồn; hơn nữa, các thực nghiệm stress cũng khẳng định kiểm soát là yếu tố quan trọng trong điều chỉnh các phản ứng stress dưới khía cạnh sinh lý của người ta.

Nói chung, tiếng ồn ảnh hưởng tới chúng ta theo hai con đường riêng biệt.

Cụ thể, mô hình phản ứng với tiếng ồn cho rằng tiếng ồn kích hoạt cơ thể người ta hoặc trực tiếp hoặc bằng con đường gián tiếp. Con đường trực tiếp được xác định bằng tương tác ngay lập tức của thần kinh thính giác với các cấu trúc thuộc hệ thần kinh trung ương, mà đến lượt nó khiến tăng thêm stress sinh lý.

Tác giả Babisch và cộng sự còn nhìn nhận mô hình gián tiếp hướng tới việc nhận ra sự ý thức tiếng ồn, và nó liên quan với mức tăng stess cảm xúc. Cả hai đường này kích hoạt hệ thần kinh tự chủ và hệ nội tiết, và sự kích hoạt kéo dài quá mức của các hệ thống này có thể gây nên các vấn đề sức khỏe trầm trọng

Ở Hà Nội, Saigon hoặc các thành phố lớn tại Việt Nam khác, chúng ta có vẻ đã quen với tiếng ổn và sống ổn thỏa trong chung đụng này, bất chấp thực tế cách mà phơi nhiễm tiếng ồn thế thực tế ảnh hưởng tới chúng ta cả về mặt tâm lý lẫn thể lý. Các phương thức không hay ấy có thể sẽ được trình bày vào một hôm rỗi rãi và êm đềm khác, ngay cả khi giời đất không rỉ rả mưa rơi như đêm nay.

Khi nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu khóc…

Nhìn người đổ lệ trong các phiên tham vấn/ trị liệu tâm lý quả là hiện tương gợi thương cảm song thường thấy, thậm chí, mặc định ngầm ẩn rằng tốt thôi: một cơ hội chứng tỏ thân chủ tin tưởng chia sẻ, được thấu hiểu và nhờ thế họ cảm thấy vơi đi nỗi sầu đau.

Một bài báo trên trang BBC dẫn nghiên cứu tại San Diego, California (Hoa Kỳ) cho thấy ba phần tư nhà trị liệu bật khóc khi tác nghiệp và 30% trong số đó, đã đổ lệ tầm bốn tuần lễ gần nhất.

Một nhà trị liệu lo lắng hiệu ứng của việc mình khóc tác động đến thân chủ. “Tôi lo nhất mình đã gây hại cho cô ấy, hoặc cô ấy sẽ nghĩ người này có thể xử lý những gì mình đang chia sẻ không đây? Rồi tôi còn lo mình đã tỏ ra không chuyên nghiệp”.

Một thân chủ được phỏng vấn đã phát biểu. “Nếu nhà trị liệu của tôi khóc, tôi không bao giờ đến tham vấn nữa. Tôi cần một nhà trị liệu biết kiểm soát cảm xúc… lúc khởi sự, tôi nhất định phải cảm thấy nhà trị liệu là siêu nhân có thể hàn gắn đổ vỡ giúp tôi nên chi, nhìn thấy bất kỳ dao động nào sẽ phá hủy niềm tin của tôi vào họ. Tôi khiếp hãi mớ cảm xúc của bản thân, tôi nghĩ mình sẽ cảm thấy tội lỗi kinh khủng là mình đã khiến họ đau buồn.”

Liệu nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu có nên khóc cùng thân chủ không?

Là người trong cuộc, tôi có thể nhìn thấy cả hai mặt của lập luận gây tranh cãi này. Tôi có thể hiểu những thời điểm dễ rơi lệ cùng thân chủ và cũng hiểu tại sao một số đồng nghiệp tin rằng điều ấy không thích hợp. Không ít nhà trị liệu xem nó thiếu chuyên nghiệp và là một dấu hiệu bất ổn về mặt cảm xúc nếu bộc lộ nó ra; một số khác thì nhìn đấy là biểu tỏ của sự thấu cảm. Tự hỏi phải chăng khác biệt về giới khiến đàn ông quen được dạy rằng khóc là dấu hiệu yếu đuối, còn đàn bà thì nằm lòng đấy là cử chỉ quan tâm, chăm sóc.

Bản thân, tôi khó nói mình chưa từng đổ lệ; không thể bảo mình không khóc bao giờ. Song tôi không nhìn nhận đấy như một tiêu chuẩn. Tôi rất muốn tìm biết thấu đáo lý do nào khiến mình bật khóc. Vì quan tâm đến quyền lợi của thân chủ? Các lý do cá nhân nào khiến tôi cho phép bản thân làm điều này? Để cho họ thấy mình là một người từ bi? Để đáp ứng với con người đang là của họ? Ảnh hưởng như nào đến họ khi tôi bắt đầu khóc? Liệu họ sẽ thôi bộc lộ cảm xúc để làm tôi thoải mái? Họ sẽ chấm dứt việc gặp để khỏi làm tôi “tổn thương”‘?

Nếu 3/4 nhà trị liệu khóc với thân chủ và 30% trong số đó đã khóc tầm một tháng trở lại thì tôi rất muốn biết họ đang suy nghĩ gì; mức độ như thế cao với tôi và gây lo lắng. Thấu cảm không đòi hỏi tôi cảm thấy đồng cùng mà chỉ là tôi hiểu và có lòng từ bi với cách thức bạn đang cảm nhận.

Đây là câu hỏi suy ngẫm: “Nếu ai đó đang chết đuối, mình làm gì để cứu họ?” Không nên nhảy ùm xuống nước với họ, vì trong cơn hoảng sợ họ có thể túm níu và kéo bạn cùng chết chìm. Để cứu một người chết đuối, mình cần thật vững vàng chỗ đứng trên bờ rồi kéo họ lên trên bờ.

Đó là đặc thù lối nhìn của bản thân. Tôi muốn cảm thấy các thân chủ hiện như nào và thấu cảm với những gì đang xảy ra trong họ, song tôi không lãng quên công việc: điều chỉnh, hòa điệu cùng và nhận thức về họ, không về chính mình… Điều ấy không có nghĩa mình chưa từng bao giờ nhận ra sự sai trái khi khóc với thân chủ, song tôi thấy cho dẫu thế điều ấy cũng thích đáng và buộc tự hỏi việc khóc là vì thân chủ hay cho chính nhà trị liệu?

Lời cuối. Cần xác quyết rằng nhà trị liệu không phải siêu nhân hàn gắn mọi đổ vỡ của con người. Chúng tôi không miễn nhiễm với rối loạn tâm thần, sự nghiện ngập, hoặc trục trặc chức năng. Thực tế, nhiều người lựa chọn ngành rồi hành nghề tâm lý học nhằm hiểu biết sâu sắc hơn những trục trặc xảy đến với gia đình gốc hoặc với chính bản thân họ. Nếu may mắn, bạn sẽ tìm thấy nhà trị liệu giúp bạn thay đổi đời mình, song đừng mù quáng mặc định rằng họ sẽ hết sức lớn lao. Làm ơn hỏi han, thắc mắc với một nhà trị liệu mình định muốn nhờ trợ giúp, làm việc cùng.