Tự tin

Sự kiện trọng đại là tuần lễ đón chào các nguyên thủ quốc gia hàng đầu thế giới tới Đà Nẵng nay mai đang đến rất gần lắm rồi. Sáng qua phố Quang Trung thì bất ngờ bị chặn lại một lúc để nhường đường ưu tiên cho đoàn xe mang biển APEC màu xanh từ Trung tâm Hành Chính rồng rắn về hướng bờ sông Hàn. Hai vị công an làm nhiệm vụ trông hơi ẻo lả và khá thiếu dứt khoát trong động tác điều khiển giao thông; có thể hiểu sự lấy lệ qua loa trong cử chỉ phất tay thế bộc lộ nét vẻ thân thiện, gần gũi song cũng khả thể phản ánh hình ảnh kém chuyên nghiệp, chưa đẹp mắt của lực lượng cảnh sát quê nhà.

Thực tế, hàng ngày ngay bên vỉa hè đây đó ở thủ đô, không quá xa lạ cảnh tượng các chiến sĩ mặc quân phục quen thuộc ấy khá thoải mái nên chẳng hề cần thiết lập ranh giới an toàn, cấm ai xâm phạm gì khi giữ vai trò bảo vệ cho các ngân hàng chuyển thùng tiền lên, xuống xe công vụ.

Tự tin được hiểu như niềm tin vào khả năng thành công. Mức độ học hỏi đặng cảm nhận và cho rằng mình có khả năng đạt kết quả tích cực rõ ràng không đồng nghĩa hoàn toàn với lòng tự trọng, bởi vì lòng tự trọng liên quan tới các cảm nhận chung về bản thân. Tuỳ ta thôi; chấp nhận mình có thể tác động tới kết quả tạo nên cảm nhận về sự kiểm soát và làm nảy sinh sự tự tin.

Chúng ta có thể đưa ra các điểm suy diễn chính xác về loại trải nghệm và kiểu ứng xử mà những cá nhân thể hiện sự tự tin từng kinh qua. Như hồi đêm chứng kiến con bé cô chủ quán đã rút phắt ngay túi nilon đựng hai cái bánh mì treo trên giỏ xe máy khi thấy khách bước vào… Việc nhường lại với mục tiêu kiếm thêm tiền vốn hết sức cần thiết này cơ chừng chẳng toát lên chút điệu đàng, đạo đức giả hoặc xung đột nội tâm chi. Hẳn cô gái ấy hiểu rõ hoàn cảnh gia đình mình và thuận tình cùng mẹ chăm lo, đỡ đần kinh tế eo hẹp.

Nghiên cứu mới đăng tải tìm hiểu phương thức lựa chọn mà người tự tin đưa ra nhằm đạt được kết quả tốt lành. Giả định là sự tự tin tăng lên khi tiến trình đưa ra lựa chọn phù hợp và nhất quán với các lựa chọn mà họ quyết định. Kết quả nghiên cứu xác nhận rằng khi lựa chọn dễ dàng đưa ra hơn thì chúng ta không chỉ tin vào nó mà còn nghĩ rằng những người khác cũng sẽ đi đến kết luận tương tự.

‘Tự tin’ (confidence) trong Anh ngữ khởi nguồn từ nghĩa Latin là ‘fidere’/ ‘tin tưởng’ (trust). Tin chính mình, đặc biệt là tin ở khả năng của bản thân đủ để tiến hành thành công hoặc chí ít sát hợp với thế giới. Vượt qua thách thức, nắm bắt cơ hội, đương đầu tình huống khó khăn và sẵn sàng chịu trách nhiệm nếu sự vụ trở nên tồi tệ, bất ưng; hy vọng kẻ tự tin thừa thắng xông lên, vô hình trung, tiếp chạm với trạng thái bất trắc đòi buộc bộc lộ lòng dũng cảm vô song.

‘Biết dùng lời rất khó để mà nói rõ… ôi biết nói gì…’ (2)

Yêu người bởi tại thương ta, điều hay nhẽ dở làm ra cuộc đời...
Yêu người bởi tại thương ta, điều hay nhẽ dở làm ra cuộc đời…

Dĩ nhiên, I- Love- You là thứ ma thuật dễ nghe và đầy mê muội quen được sử dụng trong phim ảnh lãng mạn kẹp cùng đủ trò đùa tếu; thậm chí, bi hài không kém, nó được coi trọng rất rất nhiều nữa cơ với các mối quan hệ đời thực.

Về mặt văn hóa, dùng ILY được ghi nhận chỉ tăng lên từ đầu thế kỷ XX. “I love you” không phổ quát ở Hoa Kỳ cho mãi tới khi các sự kiện thay đổi xã hội khởi sự tán dương lối biểu đạt cảm xúc mãnh liệt hơn, với lưu ý về phong trào nữ quyền tăng cao và sự vẫy gọi réo gào “tự do luyến ái” những năm 1960.

Nghiên cứu cho biết, người Mỹ thường nói ra thành lời về người họ yêu thương so với các quốc gia khác. Họ dễ bộc bạch tận đáy lòng lớp nhân cách và thể hiện khá cao việc tự bộc lộ bản thân, trong khi các văn hóa tại quốc gia khác ngược lại hẳn vì đặc trưng chỉ bày tỏ lớp nhân cách phía ngoài; điều ấy hàm nghĩa, người Mỹ rất thoải mái giao tiếp thành lời các cảm xúc mà các nền văn hóa khác xem là chuyện riêng tư, như tình yêu.

“I love you” không phải luôn mang nghĩa theo ta vẫn hiểu về nó.  Giới chuyên gia cho biết, Anh ngữ có một từ chỉ “love” (yêu); với tiếng Phạn có 96 từ mô tả yêu với nhiều hình thức khác nhau; nên chẳng quá đáng nếu dùng Anh ngữ thì nghĩa của “I love you” thường dễ bị diễn dịch sai lạc. Phần diễn giải phụ thuộc bối cảnh, chẳng hạn, thông thường là bị ngờ vực nếu ai đó nói “I love you” trước khi làm tình lần đầu tiên. Như từng giới thiệu, sau lần làm chuyện ấy mà nói ILY thì là chỉ báo tốt hơn về cách họ đang thực sự cảm nhận, không hề có mơ hồ nào rằng họ làm điều gì ám muội khi thổ lộ thế. Nhắc không thừa rằng, dĩ nhiên, “I love you” chẳng phải ám chỉ là chiêu trò mồm mép; vấn đề nằm ở bối cảnh. Bởi vì xã hội quá chú trọng vào biểu đạt thân mật này, lần đầu đã tuyên bố rồi qua lại, càng dễ dẫn tới cảm nhận nó liên quan mạnh mẽ với sự cam kết về mặt cảm xúc.

Trường hợp lưu tâm: điều tra cho thấy lâu rồi các cặp ngừng nói ILY, ngay cả là họ vẫn tiếp tục chăm sóc nhau. Tầm 50% trong 2.071 người trưởng thành ở Anh đang quan hệ từ 2 đến 5 năm nói ILY mỗi ngày. Song chỉ 33% các cặp còn sống với nhau trên 10 năm nói ILY thường xuyên, và con số tụt xuống 18% với các cặp bên nhau trên 50 năm.

Trong lĩnh vực lãng mạn, tiến thoái lưỡng nan là người ta có khao khát một tình yêu lâu bền kéo dài suốt đời hay với nhiều mối quan hệ ngắn ngủi, mãnh liệt. Lựa chọn một tình yêu se sắt cơ chừng đáng tin cậy, tình yêu sâu xa da diết ấy bao gồm thỏa mãn đầy tràn các nhu cầu cơ bản của đối tác và khuyến khích cả hai cùng làm phồn thịnh mỗi cá nhân. Một tình yêu như thế có nhiều lợi lạc vô bờ, được tiếp nhiên liệu từ tình bồ tèo dài hạn và các hoạt động nối kết với nhau. Như người chồng  nọ thổ lộ: “Sống với vợ trên 25 năm rồi. Chúng tôi có 2 cháu. Tôi yêu thương cô ấy mỗi ngày hơn mọi điều mình có. Ý nghĩ đầu bạc răng long, trọn đời mãn kiếp với cô ấy khiến tôi cảm thấy được an ủi. Vâng, tình yêu có thể tồn còn, sống sót và phát triển!“.

… Vài chia sẻ cùng cô gái nhỏ. Bạn trai cô có thể đang phát triển cảm xúc dâng trào nhanh hơn cô và khi điều ấy xảy đến, cậu ta ‘đang yêu’ còn cô thì thuộc giai đoạn ‘bạn tốt’. Các mối quan hệ vị thành niên cũng dễ gây bối rối vì cả hai nói và nghe mấy từ ILY í lần đầu tiên, đôi khi chẳng thấu hiểu đủ đầy nghĩa nó mang chứa. Đúng như cô để ý, cảm xúc của chúng ta với ai đó có liên quan với việc họ là ai và cách họ đối xử với chúng ta, đồng thời với cả trạng thái cảm xúc, sự tung tẩy và phản ứng do bị va chạm, thậm chí đời sống gia đình chúng ta nữa. Giải pháp: nhận ra sự khác biệt giữa việc cắt đứt và giảm thiểu mối quan hệ ít căng thẳng hơn. Mức độ I- Love- You thì khá nặng nề như cô gái kể; bảo với cậu ta là cô còn đi học, nhiều dự tính trong tương lai và thời điểm này chưa sẵn sàng với kiểu quan hệ mãnh liệt thế.

Nhiều người nhìn mức độ ILY như là tăng cường trách nhiệm, bổn phận, ngay cả các ngăn cấm nọ kia. Đấy không phải chỗ dễ dàng lướt qua và nếu cô chưa sẵn sàng thì đừng ghé tới. Đưa cho cậu ta mức độ ít căng thẳng hơn kiểu ‘hẹn hò’ thay vì ‘yêu đương’. Nếu cậu ta chống kháng hoặc chối từ chấp nhận tình huống, khả năng cao là cậu ta quá thích kiểm soát việc khởi sự và rằng ILY dễ kéo theo nhiều ngăn cấm, hạn chế. Cô gái không nhất thiết trải qua năm tháng học phổ thông với chàng Mãnh Liệt. Ghi nhớ rằng, nếu mình cảm thấy không thoải mái điều gì đó thì luôn có một lý do tốt lành ẩn bên dưới. Không phải là lỗi lầm gì lớn lao cho cam để tránh một mối quan hệ  hoặc tình huống khiến bản thân thấy khó chịu. Khi một mối quan hệ là đúng đắn, dùng ba từ ấy sẽ dường như thật tự nhiên và thích hợp. Cô gái không ở trong tình huống này. Xin hãy cẩn trọng.

Lời cuối. Lắng lại với clip be bé cả về thanh âm và trường độ.

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…

Vấn đề liên quan đến hình ảnh bản thân con người ta

Tất thảy chúng ta thường đều nghĩ chúng mình ổn và những người khác cũng xoắn khít. Tiếc rằng sự thật lại nằm ở đâu đó khoảng giữa. Thiên hạ có khiếm khuyết của thiên hạ, chúng ta có vấn đề của chúng ta.

Hình ảnh bản thân (self-image) là cách thức khái niệm hóa chúng ta thiết lập trong tâm trí về kiểu dạng mình là người như nào. Chúng ta đều vẽ bức tranh tâm thần về bản thân mình, và nó là bức tranh mang hơi hướng duy trì khá ổn định theo thời gian, trừ khi chúng ta cân nhắc các bước để thay đổi nó. Một số nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ ‘sơ cấu bản ngã’ (self-schema), (với thuật ngữ ‘schema’ nhắm trỏ một khung, mẫu hoặc sự trình diễn một lý thuyết) khi nghiên cứu về hình ảnh bản thân và cách thức làm sao tạo lập nó.

Có bằng chứng hình ảnh chính mình chúng ta phát triển là dựa trên phần lớn sự đo lường của những gì chúng ta học hỏi được từ môi trường, như điều người khác bảo về bản thân ta và cách họ có vẻ đáp ứng lại với ta. Song, dĩ nhiên, hình ảnh bản thân cũng khởi lên do chính cách mình phản ứng, những diễn giải đặc thù của chúng ta về các sự kiện, và nhất là phương thức chúng ta đánh giá cả bản thân lẫn bản chất các tương tác với người khác. Rất nhiều bằng chứng khẳng định, cách chúng ta nhìn nhận bản thân mình mới đích thị là vấn đề. Hình ảnh bản thân quan trọng do đủ lý do song cơ bản, vì ở tầm mức nào đó nó tác động hết sức chính xác và nghiêm trọng tới tổng thể an lạc tâm lý và đặc trưng trong các quan hệ của chúng ta.

Hình ảnh bản thân của người ta có thể bị bóp méo, mất cân bằng hoặc chẳng hề lành mạnh với cả loạt lý do. Khi còn bé, chúng ta đặc biệt nhạy cảm với những đánh giá bởi bố mẹ mình, các nhân vật quyền thế, những ai có ảnh hướng tới chúng ta, và nhất là bạn bè cùng trang lứa. Nếu những đánh giá đó quá thường xuyên và/ hoặc rất tiêu cực, gây căng thẳng thì chúng ta dễ nội tâm hóa thành quan niệm về bản thân càng thêm phần tiêu cực. Song các tính cách nguyên sơ của chúng ta cũng giữ vai trò thiết yếu trong sự phát triển hình ảnh bản thân mình nữa. Một số người cực kỳ nhạy với sự phê bình và đẩy lên thái quá khi diễn giải về sự việc hoặc hành động gây tiêu cực cho họ. Một số khác lại có xu hướng đặt áp lực khủng khiếp lên bản thân để thành người ‘hoàn hảo’ khiến các sự việc bé tí và nhỏ nhặt mấy cũng minh chứng cho sự vô dụng và thất bại của chính họ. Thiết lập hình ảnh bản thân tiêu cực không chỉ là dạng vấn đề thuộc tự hiểu biết bản thân mà nó còn trở nên bị bóp méo thường xuyên gây trục trặc trong chiều hướng nhìn nhận. Trẻ em quen việc đón nhận được khen ngợi và chú ý quá lố đến tài năng, ngoại hình hoặc năng lực xã hội của chúng có thể đề cao cực đoan việc đánh giá tích cực và lòng tự trọng của chính bản thân chúng.

Căn cốt đối với một hình ảnh bản thân thật lành mạnh bao gồm cả việc cảm nhận, ý thức và sự cân nhắc, cân bằng đúng đắn.

Thường thì, vấn đề trong quan hệ không chỉ do đối tác mà còn phụ thuộc chính bản thân họ nữa. Mỗi người sẽ chỉ điểm người kia như tính cách gây phiền phức ghê gớm trong quan hệ trong khi mình đang tự biểu lộ bản thân như dạng khá ‘rối nhiễu’, đa phần phụ thuộc và rủi ro thành nạn nhân; mỗi người dường như gây rắc rối cho người khác đồng thời cũng gây rắc rối với chính bản thân mình.

Tại sao cách thức chúng ta nhìn nhận bản thân tạo thành vấn đề? Chủ yếu vì chúng ta thường biến làm sao tất thảy đem lại thoải mái cho chính mình. Hầu hết các kiểu dạng tính cách là “ego-syntonic” (hành vi, giá trị, cảm xúc hài hòa hoặc chấp nhận với các nhu cầu và mục tiêu của bản ngã, hoặc nhất quán với hình ảnh lý tưởng của bản thân); ví dụ, người ta tìm ra cách để nhìn nhận mọi thứ và mọi việc mình làm đều đáng tán thành và ưa thích. Tất cả chúng ta hay nghĩ rằng chúng ta ngon lành, người khác mới rắc rối, và điều này là sự thật với các tính cách quấy động… và, nếu chúng ta sắp nhấn mạnh thật đúng đắn và chính xác lỗi lầm ở người khác, như người khôn ngoan từng nói, chúng ta phải trước tiên gỡ bỏ, cất khỏi những bóp méo trong tri nhận của bản thân đang như đám mây mù che mờ đánh giá của chính mình đã…

Dưới đây là vài ba câu hỏi có thể giúp người ta phản ánh cách họ nhìn nhận về chính bản thân mình:

  • Mình thấy gì khi soi mình trước gương?
  • Mình có thấy điều người khác thấy?
  • Mình có bị khống chế bởi điều đó?
  • Mình có thể chấp nhận sự phê bình mà không đưa ra lời phát biểu (ví dụ, ‘hết sức xây dựng’ đối lập ‘rất phá hoại’)?
  • Mình có thể sống với ý tưởng luôn có cơ hội cải thiện bản thân để thành loại người mình mong muốn trở thành?
  • Mình ít khi nghĩ ngợi cho chính bản thân đến độ mình nên cảm thấy may mắn là bất kỳ ai rồi cũng sẽ thích mình?
  • Mình nghĩ mình là người hoàn hảo và người khác nên học tập?
  • Mình biết tỏng tòng tong rằng mình chẳng là gì song thích bóp méo để gây ấn tượng với người khác thay vì tự mình lo cải thiện hình ảnh bản thân?

Cách thức chúng ta nhìn bản thân mình không chỉ nói rất nhiều về sự thích ứng tâm lý mà còn phản ánh sâu rộng về các mối quan hệ mình có. Và dĩ nhiên, khi đề cập hình ảnh bản thân, nhiệm vụ suốt một đời là làm cho nó trở nên thật đúng đắn.

Câu chuyện bị xâm hại thời thơ ấu: niềm đau chôn giấu, bí mật mang theo, và sự trợ giúp chuyên môn

Những vụ việc cưỡng hiếp cũng như tội ác xâm hại tình dục nói chung thường luôn diễn ra phức tạp và chứa nhiều sắc thái.lắm khi khó tóm bắt đủ đầy, chính xác.

Dạng trả lời phỏng vấn kiểu này khá dễ khiến thiên hạ thêm phần định kiến về chuyên môn tham vấn/ trị liệu tâm lý cũng như quá chừng thứ sinh động liên quan đến câu chuyện đang bàn không ngừng xuất hiện trong thực tế lại bị đơn giản hóa do thiếu vắng nền tảng tiếp cận bài bản.

Việc điều trị tâm lý phải hướng đến chuyện giúp các em coi chuyện bị cưỡng hiếp ấy chỉ là một kỷ niệm buồn, chứ không phải là sự kiện làm thay đổi đời em. Kỷ niệm buồn ấy có thể quên đi. Các em có thể lớn lên, lấy chồng lấy vợ bình thường, nhưng nếu cha mẹ làm không khéo thì vết thương ấy bị khoét rộng ra, làm tổn thương các em nhiều hơn. Câu chuyện sẽ được truyền từ nhà này sang nhà khác, từ người này sang người khác, cứ lan rộng ra thì các em khó có khả năng hàn gắn được vết thương.

Trước hết, có một câu hỏi cần nghiêm túc đặt ra ngay: liệu tôi có thể thoát ra khỏi các ký ức đau buồn và tồi tệ, nói khác đi, lám sao tôi có thể khít khớp bản thân trở lại mà không cần phải đi tham vấn/ trị liệu tâm lý không? Và bằng cách nào tôi phơi mở các ký ức, niềm đau chôn giấu bấy lâu rồi phát hiện thấy điều đích thực từng xảy đến với tôi?

Thực tế, nhiều kỹ thuật được chứng thực đảm bảo độ tin cậy trong việc giải quyết với những nỗi niềm khủng khiếp liên quan đến sang chấn thể lý và cảm xúc. Một trong những phương pháp hiệu quả là tiến hành những gì thôi thúc mãnh liệt phải thực hiện nó bất kể thế nào, tức là, nói ra với ai đó. Khi người ta “kể câu chuyện đời họ” bằng những câu chữ riêng tư, với nhịp điệu đặc thù và chấp nhận lắng nghe thì việc ấy không những cho họ cơ hội thoát ra mà còn là phương tiện giải mẫn cảm chính bản thân họ trước vô vàn nỗi niềm khốn khổ gắn dính với các ký ức đau thương. Tên gọi cho kỹ thuật này là “xử lý nhờ kể ra” và nó dễ biểu tỏ đàng hoàng dưới dạng ai đó ước mượn được một đôi tai không định kiến hoặc làm việc với chuyên gia. Đôi khi, mình phải kể đi kể lại câu chuyện vô số lần, tốt nhất với ai đó mình tin tưởng, nhằm giải quyết thật hữu hiệu tất cả mọi cảm xúc đeo bám để rồi cảm thấy thuyên giảm, buông bỏ được nỗi đớn đau.

Cũng nên khuyến khích người ta bước từng bước phù hợp để duy trì sự tự tin rằng mình có thể vượt qua nỗi đau chấn động. Kỹ thuật này hữu kiệu ngay cả khi không có ai mình tin tưởng hoặc người muốn nghe mình tâm sự. Điều quan trọng là kể câu chuyện và ước muốn thôi thúc nói về cái tên xấu xí cứ cứ nghẹn nơi cổ họng mình bấy lâu. Càng kể câu chuyện và cho phép bản thân thoát ra khỏi cảm xúc kết nối với nó thì mình càng tuần tự giải mẫn cảm với nỗi đau gắn chặt luôn theo cùng.

Liên quan với sự vụ này, cần biết rằng không có lĩnh vực nào của tâm lý bị trở thành đối tượng soi mói cho bằng chủ đề tiết lộ, khởi động lại ký ức kiềm nén bấy lâu.

Ký ức giấu che không phải là trạng thái mất trí nhớ (amnesia): ký ức bị thất lạc do một số hư hỏng các trung tâm ký ức ở não bộ; hơn thế, giấu che ký ức được nhìn nhận như là một dạng chiến lược phân ly nhằm tách rời, không tạo nên kết nối giữa tâm trí ý thức của người ta với điều gì đó quá khủng khiếp hoặc đớn đau nếu lưu giữ, ghi nhớ nó trong đầu.

Một số nghiên cứu cho thấy, các ký ức được “vén màn” không đáng tin cậy thường là loại được diễn ra trong tiến trình trị liệu thông qua khả năng “ám thị, gợi ý” của nhà trị liệu. Vì thế, mình không nhất thiết cần đến trị liệu để chỉ mà phơi tỏ các thứ bị kiềm nén, giấu che. Những gì cần thiết là ở trong bầu không khí cho mình cảm thấy an toàn và tin cậy đủ để kết nối với các cảm xúc và ký ức của bản thân. Mình cũng không nhất thiết cần đi trị liệu để chữa lành hoặc giải quyết với sự sút giảm bất thường tình dục sau này (nếu có). Điều mình cần tính đến là sự thành thật với chính bản thân về bản chất của các mối quan hệ và những gì mình tin tưởng phải tạo ra sự khác biệt đặng làm cho các khía cạnh về mặt tình dục, cảm xúc và thân mật lành mạnh hẳn lên.

Thực tế, nếu thời gian càng lùi xa thì khá khó khăn để phân biệt một ký ức đích thực từng bị giấu che với cái giờ đây có thể được phục hồi từ ký ức giả tạo… Rốt ráo ra, tuy thế, tham vấn/ trị liệu tâm lý vẫn có thể là ý tưởng tốt, đặc biệt khi làm việc với một chuyên gia trong lĩnh vực mình vướng mắc cần giải quyết; một nhà trị liệu được đào tạo bài bản có thể giúp mình xử lý để thoát ra khỏi những ám ảnh theo cùng năm tháng.

Những người sống sót sau khi bị cưỡng hiếp, nhất là trẻ em, không ngừng tìm cách để đối phó với cơ thể họ, và chuyện tình dục sau đó thường là khoảng trống mù mờ về thông tin và dịch vụ hỗ trợ. Xét về mặt giới thì hầu như tất cả nữ giới từng bị cưỡng hiếp đều thổ lộ về ảnh hưởng họ phải chịu đựng liên quan đến cơ thể họ và chuyện quan hệ tình dục sau đó. Những từ như “cô đơn”, “lạc lõng”, “xa lánh”, “bối rối” và “cách biệt” cứ lặp đi lặp lại sau các cuộc trao đổi chứng tỏ điều ấy.

Đây cũng là lúc cần hiểu biết về những sự khác biệt giữa bị cưỡng hiếp hồi thơ ấu và thời đã lớn.

Thường người ta có xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nguyên do khiến đối tượng bị cưỡng hiếp (trẻ trung, hấp dẫn, ăn mặc hở hang, trông khêu gợi, uống bia rượu ngà ngà, ở một nơi kín đáo, không tuyên bố rõ ràng hoặc bày tỏ sự tán đồng, v.v…) Tuy thế, rất khó khăn để đổ tội cho một đứa trẻ, nhất là khi cháu còn bé tí, về chuyện cưỡng hiếp vì chúng ta thường hay nhìn nhận trẻ em không phải là đối tượng quan hệ tình dục, hoặc không có đủ khả năng kiểm soát trước một số tình huống, điều kiện nhất định. Có vẻ loạt bài báo trên tờ Thanh Niên tiếp tục minh họa cho cảm giác giận dữ của người đời trước chuyện một đứa bé bị xâm hại, lạm dụng. Kẻ lạm dụng trẻ em dù dưới bất kỳ hình thức và kiểu dạng ra sao thì thảy đều bị đối xử tồi tệ ngay cả trong trại giam vì các phạm nhân trong tù cũng không ưa thích hoặc chấp nhận họ.

Có một số điều khác biệt có thể chỉ ra giữa trẻ em và người lớn. Thứ nhất, cơ thể trẻ em nhỏ bé hơn nên thường dễ bị tàn hại lớn hơn về mặt thể lý. Thứ hai, trẻ ít có trải nghiệm về thế giới và cuộc đời nên khả năng chống đỡ của chúng thấp hơn hẳn người trưởng thành. Ví dụ, nếu mình biết đa phần đàn ông là những gã tử tế và lịch sự thì mình sẽ khó mà kết luận đấy là tất cả đàn ông đều thô lỗ và bạo lực. Thứ ba, các xã hội nói chung thường tin rằng người lớn có nhiệm vụ bảo vệ trẻ em, không được làm hại chúng; do đó, cảm giác bị phản bội khi biết trẻ em bị cưỡng hiếp hiển nhiên là lớn lên rất nhiều. Cuối cùng, trẻ em không có đủ cơ hội để phát triển các kỹ năng đối phó, do đó, năng lực giải quyết các cảm xúc bản thân của chúng thấp hơn so với người lớn. Tuy thế, dẫu các khác biệt và sự kiện mọi người muốn bảo vệ trẻ em, không nhất thiết rút ra kết luận logic rằng người lớn sẽ tự vượt qua được hoặc nên biết cách để bảo vệ chính bản thân mình.

(còn tiếp, tiệp dịp viết sau)

Chụp ảnh khoe thân: người mãi còn tần ngần, mê mải mình đến bao giờ?

Lại rộ lên việc chụp ảnh khoe thân; bên sen, trong hồ nước, với áo yếm, làn da và cơ thể phụ nữ.

Đã có quá nhiều ý kiến nhặng xị. Những đắng đót, cay chua, tức giận, hả hê và buồn tủi; từ cái nhìn của dân Hà thành chính gốc chê người ngụ cư, nhiếp ảnh gia làm thuê chụp xong, lấy tiền rồi hồn nhiên thổ lộ nỗi niềm khó nói, những lập luận bảo vệ quyền phản biện vòng vo đúng sai, thẩm mỹ mí đạo đức, luân thường, tom góp cả truyền thống vào với ngổn ngang hiện đại, dạy đời làm sao tròn vành đủ chữ cho tới thấu tận tâm can gái trẻ, đàn bà lu loa. lườm nguýt tị nạnh xen lẫn chửi bới, cạnh khóe nhau nghe hay như hát…

Tôi không phản đối, cũng không đồng tình với trào lưu này nhưng chúng ta hãy nhìn sự việc một cách công bằng nhất. Có lẽ ngay từ xa xưa cổ đại, nổi bật nhất là văn hóa thời Phục hưng, vẻ đẹp của phụ nữ đã được tôn vinh bộc lộ, minh chứng là những bức tượng, bức tranh vẫn còn đến ngày nay. Ở Việt Nam điều này cũng rất rõ, có thể nhìn thấy các dấu tích giao hoan trên Thạp đồng Đào Thịnh được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia,…Những gì mà các bạn trẻ đang làm hiện nay chỉ là một chiết xuất, một sự kế thừa ít nhiều phiên bản khác đi.

Việc nhìn ngắm cơ thể phụ nữ cơ chừng trở thành nét văn hóa phổ biến toàn nhân loại, nhất là ở xã hội hiện đại thì hiện tượng bình phẩm dáng vẻ bên ngoài liên quan đến cơ thể phụ nữ xuất hiện ở mọi bối cảnh lẫn tình huống riêng, chung, thậm chí không hiếm thấy ở ngay các cuộc gặp ngoại giao, mang tính chính trị nghiêm túc.

Ngoài biểu hiện của quyền lực khi chỉ trỏ, bình phẩm ngầm ẩn hoặc trực tiếp (bởi vì người nhìn vào kẻ khác là người có quyền lực: chef, bố mẹ, bác sĩ…), câu chuyện đậm chất văn hóa đời thường này còn ít nhiều mặc định ở người nữ như đặc trưng giới, kiểu với chị em thì cả thế giới hóa ra như một cuộc trình diễn lộng lẫy, phô bày cực kỳ hấp dẫn (trang trọng và dễ thấy rõ ràng là các cuộc thi hoa hậu); vì thế, vẻ ngoài là điều quan trọng nhất. Với đàn ông, phụ nữ được mong đợi là phải xinh đẹp. Phụ nữ cũng bị đối xử hết sức khác biệt tùy vào cách chúng ta nhìn ngắm họ.

Để giải thích câu chuyện đời thường này, thiển nghĩ, cần tìm hiểu 3 vấn đề: Văn hóa ca tụng tuổi trẻ và đề cao năm tháng hưởng thụ trường thọ ở đời, nhu cầu thu hút sức chú ý, và sự thiếu hụt về tâm linh. Sự trẻ trung và tuổi thanh xuân của con người có giới hạn nhất định nên ai cũng muốn lưu lại những khoảnh khắc đẹp nhất. Không chỉ có giới trẻ, hãy đặt câu hỏi tại sao những phụ nữ trung niên vẫn hay tới spa hàng tuần và chăm chỉ luyện tập yoga, đến các dịch vụ thẩm mỹ không ngừng? Đấy là minh chứng rõ nhất cho việc tự ý thức về vẻ đẹp của bản thân mình. Dễ thấy ra ngay là do sự khác nhau về gu thẩm mĩ, về môi trường sống, và về phông trải nghiệm.

Bạn sẽ thật sung sướng nếu như một bức hình của mình đăng lên được tới hàng trăm lượt Like, đó chính là động lực thôi thúc bạn đầu tư thời gian lẫn tâm trí để lên kế hoạch, chiến lược chuẩn bị rồi tung ảnh sao cho hiệu quả, nhấp nhả với lắm tư thế để làm mới phong cách của mình. Tần suất này tăng lên sẽ dễ dẫn đến “nghiện”.

Nếu một ngày, lượng Like của bạn giảm đi, bạn sẽ tự thấy mình thiếu hụt trong cuộc sống, tự thấy mình bị bỏ rơi, và điều tất yếu bạn sẽ phải tìm cách thay đổi, không còn gì khác, đó chính là cơ thể bạn, phô ra những gì đẹp nhất của mình.

Việc chụp ảnh khoe thân liên quan chặt chẽ với quan niệm về sự tự tôn (self-esteem).

Thực tiễn hành nghề, tác nghiệm cho tôi cảm nhận khá đau đớn khi chứng kiến không ít bạn gái trẻ hoặc những người phụ nữ thành đạt, giỏi giang, mạnh mẽ, sáng tạo và tài năng đến cần trợ giúp do có xu hướng nhìn nhận họ đang sống một cuộc đời không ra gì (bởi bản thân không xinh đẹp cho lắm hoặc chưa thấy hài lòng, tự thỏa mãn). Tôi được nghe nhiều câu chuyện dài tinh tế xen lẫn phức tạp về mối quan hệ trong công việc, gia đình, yêu đương giúp hiểu thêm sâu sắc cách thức xã hội vận hành và khiến người phụ nữ suy tư, cảm nhận, chịu trách nhiệm và hành động như thế nào.  Khi các nữ thân chủ của tôi nhận ra kiểu lối họ đang chia sẻ thì họ cũng có xu hướng lưu ý đến khía cạnh guốc trượt của khái niệm tự tôn, tin tưởng vào bản thân; như một thứ chén đắng phải ngậm ngùi uống vào để đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn vậy.

Ngày nay, truyền thông với sức mạnh của mình đã khai thác quá mức cơ thể của người phụ nữ. Đến dự một sự kiện (event), người ta chỉ chú ý đến nữ ca sĩ kia hôm nay mặc gì, bộ đồ ấy hở lộ như nào những điểm nhạy cảm, … điều đó vô hình chung đã đánh giá thấp giá trị của người phụ nữ.

Mặt khác truyển thông làm cho những câu chuyện điển hình như bạn nữ sinh ở Bình Dương nhanh chóng và dễ dàng lây lan hơn. Đồng thời tạo nên tâm lí đám đông, tò mò muốn biết về chuyện người khác mà thiếu đi sự khoan dung trong cách nhìn nhận, chấp nhận sự khác biệt, chấp nhận sự đa dạng về cuộc sống, và trên hết, nhìn nhận ai đó đơn giản như một con người. Từ định kiến sẽ rất nhanh chóng dẫn đến phân biệt đối xử.

Không cứ gì trong nước, truyền thông ngoại quốc cũng tranh thủ khai thác hình thể phụ nữ ngay trong các chương trình truyền hình thể thao cuối tuần. Chưa cần nói chuyện không ít các bình luận bên dưới vô số bài viết đăng tải trên mạng thể hiện sự thô lỗ hoặc đầy kích dục thì với bài viết giới thiệu nữ khoa học gia này, bạn sinh viên nọ thì cũng phải chêm nếm, thậm chí, đa phần chú trọng đề cập phần ngoại diện, vẻ đẹp hình thể thay cho việc nhắm vào thành tích, sự nghiệp của nhân vật.

Khi một cậu trai trẻ hoặc người đàn ông lịch lãm nhận được lời khen ngợi về hình thể thì thường họ chấp nhận hoặc cười xòa rồi thôi; đó không phải là câu chuyện quá bận tâm. Song với phụ nữ thì không thế. Qua thời gian, vẻ đẹp của một người phụ nữ được xem là tiêu chí nhìn nhận về sự đáng giá của bản thân; đó là lý do tại sao hầu hết phụ nữ dành nhiều thời gian và tiền bạc để chi phí, đầu tư vào tóc tai, trang điểm và ăn mặc. Nếu phụ nữ không xinh đẹp, họ có thể trở thành đối tượng bị châm chọc, phẩm bình và bị xúc phạm phẩm giá.

Nhân tiện, tôi thích ý tưởng đọc được của ai đó hiện không nhớ tên rằng mình có thể không tán đồng với một phụ nữ song chỉ trích, phẩm bình ngoại hình của cô ấy- trái ngược với ý tưởng và hành động của cô ấy- không phải là sự thiện ý, đặc ân của bất kỳ ai. Xúc phạm đến hình thể của phụ nữ thể hiện cho sự thiếu vắng hiểu biết, chứng tỏ không có khả năng suy nghĩ ở mức độ sâu sắc. Mình có thể chê bai cô ấy xấu xí, song người khác lại dễ nghĩ mình là kẻ ngu ngốc… Chúng ta đích thị thấu biết rằng phụ nữ đạt được sự bình đẳng thực sự khi đàn ông thôi nói về cách thức phụ nữ trông như nào và lắng nghe những gì chị em chia sẻ.

Sẽ hồ đồ nếu nói người trẻ thiếu ý thức, họ chỉ coi thường nguy cơ hoặc/ và đánh giá thấp hậu quả sẽ xảy ra mà thôi. Như vụ việc ở Bình Dương xuất phát từ ý nghĩ muốn lưu lại những khoảnh khắc thăng hoa của tình yêu mà các bạn ấy đã quên đi sự phiền nhiễu sẽ đến bất cứ lúc nào.

Vụ việc của nữ sinh ở Bình Dương có thể phản ánh cho niềm tin về một tình yêu lãng mạn, rằng tự thân tình yêu thôi là đủ đầy rồi và cảm xúc lứa đôi thuộc trạng thái bất biến, không thể thay đổi.

Đối với các bạn gái trẻ muốn nâng cao, cải thiện sự tự tôn và tin tưởng vào bản thân, có thể lưu tâm đến đôi điều khá đơn giản như sau. Hãy nhìn vào tất cả sức mạnh, ưu điểm và tài năng mà bạn có. Viết xuống, nói to chúng lên. Đặt bản thân vào trung tâm của câu chuyện đời mình; bạn là nhân vật chính, người mình thực sự yêu thích và tò mò muốn biết về.

Câu chuyện chụp ảnh khoe thân nơi đầm sen hồ Tây lần nữa khẳng định, vẻ đẹp hình thể chỉ là vẻ đẹp thâm trầm của làn da mà thôi. Không có gì sai trái khi người ta tổ chức kỷ niệm, thực hiện điều gì đấy để đánh dấu khoảnh khắc đẹp đẽ, đáng nhớ trong đời. Song chắc chắn đó không phải là toàn bộ bài học kỹ năng lẫn giá trị ưu tiên định dạng ý nghĩa cần nắm bắt nhằm tránh hậu họa đáng tiếc xảy đến.

Khó chối bỏ sự thật, các câu chuyện liên quan đến việc khoe thân gây ồn ào bình phẩm còn là dấu chỉ cho tác động, ảnh hưởng nhiều chiều của việc sử dụng ngôn ngữ cũng như mặc định vai trò mà người phụ nữ đảm nhận (“làm đẹp cho đời”).

Một thoáng ngó nghiêng về sản phẩm clip Thanh Niên Chuẩn

Số lượt vào xem clip chắc chắn là một trong các chỉ báo đáng quan tâm, song trong xu hướng đương đại thì mỗi việc ấy thôi chưa đủ để đánh giá xác đáng hiện tượng.

Đại diện Trung ương Đoàn cho biết MV “Thanh niên chuẩn” được xây dựng nhằm chuyển tải các thông điệp Sống đẹp – Sống có ích, các giá trị chuẩn về văn hóa, đạo đức đến thanh niên một cách nhẹ nhàng, trẻ trung, sâu sắc. Những hành động, nghĩa cử đẹp của thanh niên được đưa vào MV nhằm phê phán thói hư tật xấu mà giới trẻ ngày nay đang mắc phải, để họ tham gia những hoạt động tích cực, cùng phấn đấu hướng đến tiêu chí Thanh niên chuẩn.

Việc tiêu thụ đủ tác động để tạo nên một ảnh hưởng tới cuộc sống chúng ta đến độ nó trở thành căn tính bản thân. Chúng ta không chỉ dùng việc tiêu thụ đặng cấu trúc các căn tính riêng có mà còn sử dụng nó để quy nạp các căn tính của những kẻ khác. Các sản phẩm diễn bày các căn tính của chính ta thông qua ý nghĩa gắn kết với chúng. Nói khác, ta dùng các sản phẩm biểu tượng hóa một vài phẩm chất nhằm gửi đi thông điệp tới tha nhân mà đồng thời chúng ta cũng sở hữu các phẩm chất ấy. Đôi khi, việc tiêu thụ có thể gây ra ảnh hưởng hết sức độc hại tới các căn tính chúng ta, do bởi khiến mình cảm thấy mặc cảm tự ti hoặc không tương xứng.

Nhìn dưới góc độ sản phẩm truyền thông như thế, rõ ràng câu chuyện đòi hỏi phải tìm hiểu cả các tiêu chí lượng giá tác động đến căn tính của người tiêu thụ.

Điều ai cũng thừa biết là hành vi, ứng xử của con người là hàm số của nhân cách và môi trường, ít nhiều gợi liên tưởng quay về mối liên hệ chặt chẽ giữa việc tiêu thụ với căn tính của ai đó vậy; tức khi tiến hành đánh giá căn tính kẻ khác, các đánh giá dựa vào có thể bị ảnh hưởng bởi những gì người đó tiêu thụ, nghĩa là sản phẩm mang chứa ý nghĩa khó chối bỏ nổi. Clip ‘Thanh niên chuẩn’ cho ví dụ miễn phí về cách thiên hạ học hỏi thông qua tiếp thị và quảng cáo biểu tượng nào mang lại giá trị cho thanh niên thời đại mới và thứ gì thì không đạt được thế.

Ngoài ra, cái sự chuẩn mực chắc chắc phản ánh nền tảng phát triển, yếu tố cá nhân và mối quan hệ của người ta trên tiến trình tương tác liên nhân cách. Bởi vậy, trong một nền văn hóa xoắn bện sâu xa với sự tiêu thụ thì hiển nhiên mọi thứ chúng ta sở hữu dẫn tới việc diễn bày chúng ta như con người; thực hành này có thể chẳng hề độc hại chi song nó vẫn dễ dàng khiến chúng ta thể hiện sự khó chịu và bất mãn với các căn tính của bản thân. Tự hỏi bao nhiêu người trẻ mà clip Thanh niên chuẩn nhắm vào khi xem nó để thay đổi bản thân nhớ biết rằng điều quan trọng họ đang đề nghị phải thay đổi điều gì và tại sao. Nếu tuyệt không có điều gì sai trái hoàn toàn với những gì chúng ta đang thay đổi thì tại sao cần làm thế?

Vấn đề vừa nhắc chính là một ý nghĩa mà chúng ta học hỏi khi trẻ tuổi: những gì là căn tính cho một con người ‘đẹp’; bi hài thay, điều học hỏi này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự tiêu thụ các chân dung truyền thông về các thân hình và tính cách đẹp; câu chuyện dài kỳ như dạng phim truyền hình nhiều tập ấy đa phần là phi thực tế và khó đạt đến được, chí ít dẫn người ta đến chỗ kiến tạo các căn tính bao gồm cả các cảm nhận, quan điểm tiêu cực về độ hấp dẫn riêng có của chính bản thân mình…

Với hằng hà sa số các clip, đa phần các sản phẩm này đưa tới các câu chuyện khó bắt mắt và lưu giữ tâm trí thiên hạ kéo dài quá ba ngày; chúng thu hút sức chú ý vì truyền thông đại chúng muốn thế, chính quyền và các nhóm lợi ích cũng như mạng lưới xã hội bảo chúng nên thế. Do vậy, chúng dần nghiêng sang chiều hướng giải trí và đùa tếu so với các đối thủ cạnh tranh, bởi nếu không như vậy thì mình sẽ hoặc tri nhận chúng như là điều khẩn cấp hay thích ứng, hoặc mối quan tâm hồi đầu của mình sẽ chóng tàn tạ, tiêu tan. Clip Thanh niên chuẩn, bất chấp chức năng và lời khẩn cầu, kêu gọi của nó đã không thoát ra khỏi sự thật trần trụi của truyền thông hiện đại: chú ý tới các câu chuyện trong mỗi một phương tiện biểu đạt là thứ phù du, chốc lát mà thôi.

Clip Thanh niên chuẩn còn có thể dạy cho những ai làm truyền thông bài học cay đắng về các lỗi lầm tư duy quen phạm phải mà người trong cuộc lắm lúc khó ngờ. Tỷ dụ, việc gán nhãn mang tính định kiến: cách thức người ta gán nhãn một vị thế có thể tạo nên sự đánh giá đối tượng thành kiến về vị thế; kiểu gọi một vị thế, chức vụ “dựa trên khoa học” thì không nhất thiết việc ấy tạo nên sự thật, hoặc đối ngược lại, gọi một vị thế “thô tục” không nhất thiết làm mất được hiệu lực của nó đâu.

Lời cuối, đa dạng không thuộc trạng thái của sự khác biệt, bởi tự bản chất, nó nằm nơi tính chất động năng kìa. Song, đó là một câu chuyện khác rất dài chưa thật thuận tiện trình bày lắm ở đây…

Ước muốn thành công, lòng tự tin và sự tôn trọng bản thân

Thật ngộ nghĩnh, vì rất nhiều khi chúng ta khao khát thành công ghê gớm song lại không chịu đựng nổi cảm giác thất bại, hụt hẫng lúc chẳng đạt điều mong ước.

Vẫn biết, các chìa khóa tuyệt hảo nên có là quá trình chuẩn bị, thể hiện và lượng giá.

Tỷ như, thiên hạ khuyến cáo nên tập tành thử đến ít nhất ba lần với các bài trình bày quan trọng, mà phải nói to lên thành lời cơ; chưa kể, cần phải kèm theo trong sự chuẩn bị này cả hai đến ba mục tiêu cá nhân mình muốn đạt được, mong mỏi trải nghiệm khi trình bày nữa (các mục tiêu ấy khác biệt hoàn toàn với nội dung thông điệp muốn truyền tải qua bài trình bày).

Và nếu sự chuẩn bị đúng đắn thì hệ quả kéo theo sẽ là việc thể hiện ổn thỏa, đảm bảo tự tin xuyên suốt lúc đứng trình bày; nếu không thế, sự tự tin quá dễ lung lay và sớm biến mất (những công cụ nhắc nhở như tờ ghi chú, sổ tay, PDAs, v.v… giúp tạo cảm giác tập trung và trạng thái tiếp đất vững vàng khi trình bày).

Kết thúc rồi, hãy tự cho mình điểm theo thang bậc 1-10 về các mục tiêu riêng tư và các bài học rút ra được. Cần thiết có nhật ký ghi lại tiến trình thay đổi, tiến bộ và học hỏi liên quan đến công việc này.

… Cho dẫu không có gì sai trái khi kiếm tìm thành công thì những ai trình bày ngon lành hơn hẳn bao người cũng có thể kiếm tìm thành công với những lý do lầm lạc. Ngoài khởi tạo kế hoạch và mục tiêu để thành công, người giỏi giang cơ chừng còn phải hiểu biết tại sao họ mưu cầu thành công. Người tự ý thức hiểu động cơ tại sao họ hành động thế; nếu không hiểu động cơ thành công, khá dễ dẫn đến hỏng hóc, đổ vỡ sau khi ta đạt được nó.

Mình cảm thấy thế nào khi thành công và thất bại?

Lý do tồi tệ nhất để thành công là cảm thấy mình đáng giá như một con người. Nếu mình phải đạt được thành công nhằm cảm thấy tốt về bản thân, sự tự tôn (self-esteem) sẽ luôn luôn gắn chặt với các sự kiện bên ngoài. Một cách để xem liệu mình có rơi vào loại này không là kiểm tra phương thức mình cảm nhận sau khi thể hiện, nói chuyện hoặc gặp gỡ bất thành, không như ý. Vẫn ổn khi thất vọng, xét xem liệu mình thể hiện tốt hơn chăng và cảm thấy chút ít ủ dột. Song nếu mình phát hiện bản thân bàng hoàng, tức giận hoặc trầm uất cả một quãng thời gian theo sau bất mãn thì giá trị bản thân bị phụ thuộc vào thành công; đó là chuyện nguy hiểm và rất không lành mạnh chút nào.

Cũng cần để tâm xem mình có sử dụng thành công như sự đền bù?

Rất nhiều người thành đạt lèo lái mình bởi một nhu cầu đền bù cho cảm giác tri nhận họ là kẻ yếu kém. Họ có thể lớn lên trong hoàn cảnh bần hàn, đói nghèo và quyết định họ sẽ không bao giờ thiếu thốn tiền bạc lúc đi làm, khởi nghiệp. Họ có thể học tập cực nhọc ở trường và bị cho là ngu dốt, kém thông minh; kết quả, họ thề sẽ kiếm nhiều tiền gấp bội những ‘kẻ thông minh’ kia, bất chấp cách thức họ đạt tới sự thịnh vượng. Một số cảm thấy họ không mấy hấp dẫn, quyến rũ và nhất thiết ước ao cảm thấy đang thèm muốn việc trở thành nhân vật quyền lực, giàu có. Một số khác lại không hề thoải mái với hình ảnh cơ thể và rơi vào các rối loạn ăn uống khi dấn bước trên con đường tới vinh quang. Một danh sách dài các điều bất an thôi thúc không ít người thành đạt.

Vậy, đâu là sự khác biệt giữa lòng tự tin (self-confident) và sự tôn trọng bản thân? [Mong lượng thứ; tạm dừng ở đây, sẽ viết tiếp khi thuận tiện.]

@ Cập nhật, 21.11.2013: Vượt qua sự thất vọng, có một lối thoát. Mình không nhất thiết phải săn đón thành công để rồi chỉ để duy trì miên man cảm giác không thỏa mãn. Bí quyết thưởng thức thành công mà không bị nó thống trị là hiểu ra nền tảng khác biệt giữa sự tự tin và lòng tôn trọng bản thân.

Tự tin sẽ khác với những gì dựa trên thành công. Thật tự nhiên khi mang tâm trạng vui tươi hơn chút do thành công rồi (so với thất bại). Cũng ổn để cảm thấy chút xuống tinh thần sau một lần trình bày thất vọng. Song người thể hiện lành mạnh thì luôn sắp xếp ranh giới tự tin qua loa, vừa phải thôi; chẳng hạn, nếu tự tin được xếp theo thang đo 0-100 thì mình không nên là 20 sau thất vọng và 90 sau thành công.

Như đã nói, nếu mình cạnh tranh với mức độ đúng đắn, phù hợp với các năng lực của bản thân và mình chuẩn bị thật thích đáng thì tất mình có quyền cảm thấy tự tin– bất chấp thành quả ra sao. Mình không vui sướng với thất bại hay mất mát song nó không tàn phá sự tự tin ẩn bên dưới, cho dẫu mọi thứ chẳng hề diễn ra như kế hoạch dự tính.

Nếu đang trải nghiệm cả dãy dài rộng biến thể của sự tự tin dựa trên thành công hay thất bại, mình rất dễ cảm thấy bối rối và lẫn lộn ghê gớm giữa lòng tự tin và sự tôn trọng bản thân.

Tôn trọng bản thân dựa trên cách thức mình cảm thấy chính mình như một con người. Liệu mình là một người cha, người mẹ, người anh, người chị hay người bạn ra sao? Hành vi, ứng xử của mình được thúc đẩy bởi các giá trị và nguyên tắc đạo đức nào? Mình có tin vào điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình?

Nếu cơ bản mình cảm thấy bản thân tốt đẹp thì sẽ không khác biệt gì lớn lắm, hay cần dựa vào thành tựu của một sự thể hiện nào đó. Nếu lòng tự tin của mình đích thị thay đổi, điều ấy hàm nghĩa mình cho sự thành tựu của bất kỳ sự thể hiện nào quyền lực để quyết định cách thức cảm thấy chính bản thân mình như một con người. Sự thành công của mình xác quyết sự tôn trọng bản thân; đấy là lý do giải thích tại sao lỗ hổng trong tâm hồn mãi chẳng bao giờ lấp đầy được. Càng thành công thì càng là cái thúc đẩy miên man để mình cảm thấy bản thân tốt đẹp hơn, mà điều ấy thì chẳng bao giờ đủ cả và thường khiến mình đuổi bắt bất kỳ phương tiện cần thiết nào.

Không có gì sai trái với ước ao cháy bỏng và việc theo đuổi, rượt bắt thành công. Sự nguy hiểm nằm ở chỗ là nhất thiết phải thành công nhằm cảm thấy bản thân tốt đẹp. Theo đuổi sự tuyệt hảo cho những lý do đúng đắn và rồi thành công sẽ đến thôi!

Học hỏi từ một trường hợp tư vấn tâm lý trên báo mạng

Một câu chuyện tình trên trung bình
Một bài học lành tính từ câu chuyện tình trên trung bình

Bá vơ thế nào, tự nhiên đọc thấy ở tờ Tàu Nhanh trình bày trường hợp tư vấn “Yêu bạn trai nhỏ hơn 9 tuổi“.

Trước hết xét về lý thì rõ ràng không có điều luật nào quy định về chênh lệch tuổi tác trong tình yêu. Vì vậy chuyện bạn có tình yêu với chàng trai nhỏ hơn mình 9-10 tuổi cũng là bình thường không có gì phải băn khoăn.

Tuy nhiên, xét về khía cạnh “tình”, thì sẽ có rất nhiều rắc rối nảy sinh từ mối tình “nàng già, chàng trẻ” này. Trước hết, như bạn nói bạn 27 tuổi, độ tuổi tương đối chín của người phụ nữ. Còn đối tác của bạn, 18 tuổi, chỉ là chàng trai vừa mới chập chững vào đời, liệu rằng anh ta có một tình yêu thực sự hay chỉ chút xao lòng trước mẫu phụ nữ nữ tính như bạn.

Cá nhân tôi, lâu nay không để ý mấy cái mục này lắm; thường thói quen đọc báo mạng là lướt qua nhanh chùm tin tức mới cập nhật, chứ hiếm khi di chuột để nhìn xuống các phần phía dưới.

Chịu khó hỏi Google chút; tên của chuyên viên tư vấn nổi như cồn, có cả clip trả lời phỏng vấn đài HTV, gợi ý nghĩ như người này giữ chuyên mục vậy bởi mật độ xuất hiện đều đặn, thường xuyên.

Âu nhân duyên cũng ngộ thiệt, tự đoán ít nhiều dính dáng tới cơn mưa sầm sập chiều tối qua và thư mời sáng nay tham dự Tọa đàm “Sáng tạo và Phát triển” của CTS ; một dịp học hỏi bất ngờ đủ nhắc nhở mình luyện tập kỹ càng hơn cả kiến thức, kỹ năng lẫn phẩm chất hành nghề, tác nghiệp.

Wow, những gì sắp trả lời bên dưới được gõ xuống dựa trên một số suy tư căn bản rằng những câu chuyện yêu đương tương tự thế chạm mó khả năng ứng dụng ba chủ đề như này.

Thứ nhất, các quan hệ tình ái lãng mạn thường liên quan rất trực tiếp với các cơ hội nảy sinh trong đời, bao gồm các tình huống, nhân cách, tổn thương cảm xúc của mỗi người, v.v…

Thứ hai, vụ việc chất chứa cảm xúc ‘tình thương mến thương’ thường xảy đến ở chỗ làm việc, nhà thờ, là hàng xóm láng giềng với nhau; bất kỳ nơi nào mà người ta có một cơ hội để chia sẻ các cảm xúc. Thực tế, một số phát triển thành quan hệ tình dục, và một số thì không thế.

Thứ ba, nhiều khi chúng ta bị mê hoặc bởi ai đó theo cách họ tạo cho mình cảm nhận bắt mắt, ấn tượng. Người ít tuổi thường khiến ta “cảm thấy” bản thân trẻ trung hơn, trong khi bồ bịch già (mình trẻ) làm chúng ta cảm thấy mình trưởng thành hẳn. Người yêu xinh đẹp, quyến rũ quá lại dễ dàng khiến chúng ta cảm thấy mình thật thèm muốn, ham hố.

Cũng cần biết, thuật ngữ “gerontophilia” mang nghĩa là “yêu người lớn tuổi”; trạng thái này được xem là có vấn đề nếu một người bị thôi thúc thiết lập các quan hệ thân mật với những người đích thị già hơn mình mà nó chính là nguyên nhân khiến bản thân họ và những người khác căng thẳng và bị quấy nhiễu, phiền phức khi thực hiện, giao dịch với các quan hệ khác, phù hợp với tuổi tác hơn.

Người ta bị hấp dẫn bởi người khác do nhiều lý do nọ kia. Đôi khi, sự hấp dẫn chỉ thuần túy thể chất; đôi khi, đối tượng của sự hấp dẫn thực sự làm đầy tràn một nhu cầu cảm xúc chưa được thỏa mãn (ví dụ, tìm kiếm một “người mẹ như ý” chẳng hạn) mà do lắm lý do không thể đáp ứng trong những cách thức khá tương thích khác được. Nếu biết người thân quen đủ nghĩ rằng họ đang khởi sự dấn thân vào vụ này chỉ bởi vì một số hành lý cảm xúc kéo theo vẫn chưa được giải quyết lâu nay thì mình có thể muốn khuyến cáo họ tìm kiếm hình thức tham vấn thích hợp.

Dường như cô gái trong câu chuyện này chưa sẵn sàng cho một mối quan hệ bền vững, Chậm lại, và dành thời gian để “suy nghĩ” về đời mình, các nhu cầu, ham muốn và hy vọng cho một mối quan hệ. Dành nhiều thời gian hơn để phản ánh tính cách riêng cũng như kiểu người mình muốn có trong một mối quan hệ thân mật, gần gũi.

Một đời sống bị khống chế bởi các cảm xúc và xung năng của khoảnh khắc là một đời sống không được kiểm soát rốt ráo. Sự bối rối của cô ấy là hoàn toàn có thể hiểu được, bên dưới các hoàn cảnh đã nêu. Thật tự nhiên khi cô ấy không thực sự chắc chắn nơi cô ấy muốn đến, bạn phối ngẫu muốn kết hợp và những gì đang làm trong đời. Nghe thật ngộ, song cô ấy cần nghĩ nghiêm túc và thấu đáo hơn trước khi hành động. Một vài vấn đề cũng cần được làm rõ ràng nhất có thể.

Và thú vị khi cô ấy biểu lộ rằng mình có một số huyễn tưởng về việc được âu yếm, chăm sóc và quan tâm hoặc có một “đứa bé thay thế” như mình vào vai một bà mẹ (các huyễn tưởng này có sức lôi cuốn với cô ấy).

Dĩ nhiên, còn có nhiều lý do khả thể khác từ “vấn đề em bé” như tiền định sẵn khiến cô gái có một mối quan tâm lớn lao hơn đến một cậu trai trẻ trung, nhỏ tuổi.  Đàn ông và đàn bà được xem là khác biệt hẳn nhau trong các mức độ lẫn nhịp điệu trưởng thành. Khả năng trong câu chuyện này có nhiều lý do khiến cô gái cảm nhận một mức độ tương thích khá lớn với cậu trai nhỏ tuổi mà cô ấy hẹn hò.

Một số phụ nữ nhận ra chính họ bị hấp dẫn bởi vài ba đặc tính thể chất ở người con trai nhỏ tuổi, trẻ trung hơn họ nhiều. Điều này không nhất thiết là vấn đề trừ khi sự hấp dẫn, quyến rũ đặc thù quá mãnh liệt hoặc không thể thích nghi, uyển chuyển đến độ tạo thiếu sót, trục trặc cho việc đưa ra các đánh giá đúng đắn khi quyết định tạo lập quan hệ và gây trở ngại với năng lực đảm bảo những sự dấn thân cặp đôi đầy ý nghĩa và hạnh phúc.

Như có thể thấy, không hề có câu trả lời đơn giản cho thắc mắc, băn khoăn của cô gái 27 tuổi. Chắc chắn là một ý tưởng tốt khi khuyến cáo cô ấy gặp một nhà tham vấn hoặc trị liệu tâm lý, nhất là người chuyên làm việc với các vấn đề nảy sinh trong quan hệ lứa đôi, thân mật.

J. Soi (27): Trẻ nhỏ, trường học và lòng từ bi

Từ bi là em từ tốn đi, không vội vã chạy ngay, khi có ai đấy cần bạn đồng hành bên cạnh.
Từ bi là em từ tốn bước đi cùng, không vội vã chạy ngay, khi có ai đấy cần bạn đồng hành bên cạnh.

Đọc loạt bài về giáo dục đạo đức, thực trạng lối sống và nhân cách học sinh khá mệt mỏi; chả biết bản thân ước muốn thư giãn đến độ quá lớn lao mà lại bỗng nảy sinh ý nghĩ nghịch ngợm rằng trả lời ra sao đây nhỉ, nếu có cháu nhỏ viết thư hỏi như nội dung tương tự bên dưới.

Thưa bác, cháu có chút chuyện muốn nhờ bác chỉ dạy. Ở lớp cháu có một bạn cứ hay hỏi bài hoài, còn đòi cháu kèm cặp tận tình mỗi khi đến gần kỳ kiểm tra nữa. Cậu ấy lười lắm í; ngồi trên lớp, chẳng chịu tập trung nghe cô giáo giảng bài.

Cháu cảm thấy mình ích kỷ và không thoải mái chút nào mỗi lúc đưa ra các câu trả lời cho bạn í, vì cháu nghĩ mình đã phải cực nhọc, dành nhiều thời gian mới phát hiện được lời giải.

Liệu như vậy cháu có thiếu lòng từ bi không hả bác?

Ờ, hỏi thế thì đố dám cao đàm khoát luận, nói toàn những ý tứ cao siêu (“dân chạy theo không kịp”, nguyên văn từ một cán bộ Học viện Phụ nữ), bàn chuyện Đông Tây kim cổ, trên trời dưới đất, dẫn lời các bậc tổ sư, trích học thuyết Âu Mỹ tân tiến đủ cả.

Trước khi hắng giọng hồi đáp, nói ngay là con bé thể hiện tâm tình dễ thương quá (hoặc thậm chí có thể tưởng tượng phụ huynh chắc dễ thương không kém, bởi ai biết đâu, bố mẹ cháu muốn mượn vai này đặng xem xem bác ấy đối đáp như nào chăng.)

… Cháu gái à, sự thật là, ngay cả khi cậu bạn cùng lớp tỏ ra lười biếng kia có sao chép bài tập về nhà của cháu liên tục đến mấy thì cậu ấy có thể chẳng bao giờ bộc lộ sự giỏi giang hơn trong dài hạn đâu; vì sự lười biếng ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ tới tính cách, việc ôn tập, niềm say mê học hành, năng lực làm bài kiểm tra, và chắc chắn cả tương lai công việc khi vào đời nữa.

Do đó, khó xảy ra chuyện điểm số của bạn í vượt cao hơn điểm số của cháu được. Cơ chừng cháu có thể đệm sẵn nỗi niềm thầm kín vừa nêu trong cách cháu dùng từ ngữ đối đáp để chia sẻ bài vở với bạn í, vào cách thức mình đích thị làm người phụ đạo trợ giúp bạn í học tốt hơn và đạt điểm cao hơn.

Thật hay để bảo cho cậu ấy biết rằng dù cháu không nỡ nào ghét bỏ hoàn toàn, song thú thiệt là mình chẳng thích thú chia sẻ tất tật mọi lời giải cho bạn í.

Chuyện là, nếu cậu ấy bí với một số câu hỏi đặc biệt nào đó, liệu mình có ổn thỏa đặng tận tình đưa ra các câu trả lời tương ứng không nhỉ? Đây há chẳng phải là sự uyển chuyển mềm mượt, thiện xảo đó sao? (tra từ điển tiếng Việt nếu không hiểu nghĩa cháu nhé!).