Làm sao trợ giúp bạn mình đang mắc Trầm cảm?

Thật khó khăn khi phải trông chừng ai đó mình quan tâm đang trải qua giai đoạn nặng nề vì mắc trầm cảm, thậm chí nảy sinh dự tính tự sát, trong khi mình có thể là người duy nhất được tin tưởng.

Có thể nảy sinh cảm giác dính dáng sâu xa như thể mình là người còn lại bên đời, hoặc mình phải có trách nhiệm với bạn. Dẫu khá hay ho là bạn còn tiếp tục muốn trò chuyện, song mình lại càng cảm thấy bất lực với cơn trầm cảm đặc hiệu và ước muốn chết đi.

Dễ căng thẳng ghê gớm để giữ vai trò chăm nom cho ai đó đang trải qua các trục trặc về thể xác hoặc tinh thần. Nhằm ngăn ngừa sự kiệt sức hoặc tâm trạng phẫn uất, mình nên tìm thấy các cơ hội nghỉ dưỡng, tạo niềm vui vẻ và giao lưu cùng nhiều người đỡ đần phần nào cho mình.

Trầm cảm có thể là dạng rối loạn gây tác động không chỉ cho người đang kinh qua mà cả những ai chăm sóc họ nữa. Thường khi người yêu, bạn thân hoặc thành viên gia đình chống chọi với trầm cảm thì dễ khiến chúng ta cảm thấy trách nhiệm cần giúp họ bất kỳ cách nào khả dĩ. Một trong những điều mình có thể quên là tự chăm sóc chính bản thân mình; tuy thế, quan trọng là nhớ mình không thể chăm sóc tốt cho ai nếu trước hết mình chẳng biết lo cho mình đã… Tốt lành, thực tế, tự chăm sóc là thành phần sinh động của việc trợ giúp người khác; theo cách xa lạ, mình dễ tạo nên nhiều cố chấp, gay go nếu mình thuộc dạng khá ích kỷ.

Dưới đây là vài nguyên tắc cơ bản trong việc trợ giúp:

Chia sẻ điều lành mạnh

Nghĩa là đừng dừng các việc mình đang tiến hành cần thiết vốn đảm bảo vui vẻ và sức khỏe. Duy trì sinh hoạt thường ngày, ăn uống ngủ nghỉ, tập thể dục và tuân thủ thời khóa biểu. Một cách giúp bạn là rủ đi cùng mình lúc thích hợp, với vài vận động ngoài trời. Điều gì tốt cho mình có thể cũng tốt cho bạn: ngồi ăn cùng nhau, tập thể hình một chỗ, làm điều bản thân thích thú.

Biết giới hạn của chính mình

Giúp đỡ và hàn gắn là hai chuyện khác nhau lắm. Biết rằng mình không thể hàn gắn cô ấy; hiểu là cô ấy, và chỉ cô ấy thôi, đích thị mới kiển soát thành tựu liên quan đến tình huống cô ấy đang trải qua. Mình không thể ngăn cô ấy không cảm thấy trầm uất, cũng không thể dừng việc cô ấy tự gây hại cho bản thân. Nếu cô ấy dần ước muốn chết hoặc làm thân thể đau đớn thì mình có thể giúp bằng cách tiếp xúc với những ai cần nắm biết chuyện này: bố mẹ, thầy cô giáo, cảnh sát, hoặc người có thể tìm ra phương thức điều trị cô ấy cần; điều đó cũng hàm ý, biết khi nào vượt quá khả năng của mình.

Trợ giúp và nâng đỡ là điều tốt nhất chúng ta có thể làm. Thường mình dễ khởi sinh cảm giác tội lỗi và muốn bản thân chịu trách nhiệm cho các hành động của người khác. Cẩn thận đừng để bị rơi vào cái bẫy của những niềm tin phi lý.

San bớt gánh nặng

Bất cứ ai ở vị trí đang trợ giúp một người bạn cần đặt để thật rõ ràng các giới hạn với bạn bè (và thậm chí với bản thân) về những gì mình có thể và không thể làm… Thường hữu ích cho người mắc trầm cảm khi mình tìm ra các nguồn lực cần thiết khác: các nhóm trợ giúp, nhà trị liệu tâm lý, bác sĩ tâm thần, tu sĩ, nói chuyện với gia đình bạn và bằng hữu về việc chia sẻ gánh nặng. Người mắc trầm cảm cần nhiều hơn một hoặc hai người có thể cung cấp. Đó không phải là sự thất bại trong chăm sóc về phần mình, chỉ là tình huống đòi hỏi thế.

Nhớ rằng khi chăm sóc người khác thì tạo nên sự thư giãn, chậm rãi, biết mình không làm được gì, và đừng cho phép tội lỗi dẫn dắt trong điều mình làm vì bạn; bởi tội lỗi dễ gây kiệt sức để rồi mình chẳng còn thể giúp ai được, ngay cả bản thân.

Cuối cùng, tiếp tục là bạn tốt: cho bạn thấy hiệu lực của bản thân, thấu cảm và nâng đỡ, lắng nghe, khuyến kích tham gia tích cực và tiến bộ trong trị liệu, và không ngừng động viên họ dấn thân vào các hoạt động. Sẽ chẳng hữu ích gì để cố gắng nói với bạn về các cảm giác của cô ấy hoặc bảo cô ấy ‘bợ đỡ’ hay ‘khắc phục’ các triệu chứng trầm cảm. Cảm giác tốt hơn khi mắc trầm cảm không hề đơn giản vậy; trầm cảm chẳng phải là điều đơn giản là ‘dừng ngay’ hay ‘vượt qua’ được liền…

Với sự trợ giúp từ giới chuyên môn và mối quan tâm, chăm sóc từ những ai nâng đỡ giống như mình, người mắc trầm cảm có thể vượt qua nỗi niềm khốn khổ, đớn đau để rồi khôi phục lại đời sống trước đây.

Cô ấy yêu người có những ý nghĩ phản xã hội

Trước hết, hãy thử mở đầu bằng việc nghe lời thoại từ nhân vật The Joker trong bộ phim Kỵ sĩ Bóng Đêm (The Dark Knight, 2008):

Mày biết tại sao tao dùng dao không? Dùng súng thì nhanh quá. Mày không kịp nhấm nháp các nỗi niềm nhỏ nhặt được. Mày hiểu chứ, trong những khoảnh khắc cuối cùng, bọn chúng sẽ cho mày thấy đích thị chúng là người ra sao. Nên theo cách nào đó, tao thấu biết đám bạn mày hơn mày rất nhiều. Mày muốn biết những đứa nào trong số đó là thằng hèn hay không?

Có thời điểm nào đó ở đời, mình dễ cảm thấy thân thiện thực sự với nhiều người và lưu giữ tất cả nét tính cách của họ trong tâm trí theo cách thức được cấu trúc và tổ chức đủ để rồi ra áp dụng phân tích mỗi một thứ về mấy người ấy. Mình đo lường các mối quan hệ xã hội dựa trên giá trị mình có thể nhận lấy, và các nguồn lực mình phải trao đưa đặng quyết định xem liệu mình nên đáng dành thời gian cùng công sức cho các mối quan hệ ấy. Mình đối xử với người như các thứ đồ và công cụ bỏ đi vì mục đích che chắn an toàn cho các ước muốn lẫn mục tiêu, thông qua những lời nói dối toàn bộ và thủ đoạn hoàn hảo.

Sự quyến rũ giả tạo

Trước khi khởi động trò chuyện với một người, mình đã quyết định chính xác hơn nửa cổ mẫu nhân cách của vị này. Từ việc phối màu trong phục sức cho tới các phụ kiện trang trí đi kèm thì tất thảy đã đóng vai trò cực quan trọng để phân tích rồi.

Bởi vì hầu hết mọi người chẳng hiểu giá trị của mình nếu không đặt để ấn tượng cho họ biết mình là ai thông qua cách ta ăn mặc. Vậy nên, tủ quần áo có thể kiểm soát việc gây ấn tượng với vô vàn cơ hội xảy đến… Đó là cách quyến rũ giả tạo vì suy tư khởi đi từ ý tưởng rằng một tương tác bắt đầu bởi vấn đề bắt mắt lọt tai.

Ngôn ngữ cơ thể

Lưng thẳng, vai mở rộng thoải mái và bàn tay xuôi theo thân mình e hẳn là dấu chỉ mạnh mẽ về một người điềm tĩnh; trạng thái này phản ánh mức độ cortisol thấp và cảm giác thoải mái với xung quanh mà đến lượt nó, minh họa khả năng chiến lược hóa bất chấp áp lực khủng khiếp do các nguồn lực ngoại giới. Hơn thế, ngôn ngữ cơ thể quyền lực mang tính báo hiệu thông thường rằng quyền lực sinh ra từ dòng dõi của con người riêng có này.

Trong các loài giả nhân, con đực alpha sẽ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn các con đực khác trong nhóm. Mỗi lần một con đực alpha mới hiện diện, con đực alpha mới từng là beta của nhóm giờ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn so với phong thái trước đây. Điều này hàm ý, bất kỳ ai đều có thể biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể dễ dàng và nhanh chóng nhờ thay đổi đơn giản suy tư cũng như tư thế cơ thể ngay lập tức.

Thói cầu kỳ và quy ước mặc nhận

Khi chúng ta bắt tay, mình tiếp xúc mắt thẳng thắn để xem những người khác có muốn khởi sự quan hệ. Nếu anh ta đủ năng lực duy trì tiếp xúc mà không chớp mắt thì dễ mô tả là người quá tự tin vì anh ta buộc phải đánh giá để chống kháng với cơ xương và giọng rất mạnh mẽ của đối tác.

Chỉ tầm 5-10 phút trò chuyện, với lượng từ vựng cho tới cách phát âm, mình có thể kể rất hiều về cách tri nhận thế giới. Cơ chừng cực kỳ quyền lực ở số đàn ông sử dụng phạm vi từ vựng rộng vì anh ta đọc nhiều và thông minh; họ sẽ dùng nhiều từ nghe chừng xa lạ hoặc khó nắm biết đối với quảng đại quần chúng. Cùng lúc, họ sẽ thể hiện thông minh về mặt xã hội để cho mình quyền lực và giá trị qua một buổi trao đổi ngắn ngủi; điều này sẽ móc chặt các cảm xúc tích cực về cuộc đối thoại và làm người ta thêm ước ao đầu tư vào mối quan hệ.

Chắc bạn từng nghe nhiều lần chuyện thắc mắc tại sao phụ nữ yêu mấy gã xấu xa… Các hành vi phản xã hội như thiếu thấu cảm, vắng lòng xót thương, quyến rũ giả tạo, và mang chất mánh khóe dẫn dắt thì dễ tìm thấy trong con người đàn ông mà phụ nữ yêu.

Tiến hóa

Nếu tìm hiểu về tâm lý học tiến hóa, nhiều trong số các hành vi tích cực được xem là hấp dẫn thực sự giới nữ có thể dõi theo về chiến lược chọn lựa tính dục bên trong loài chúng ta. Tiến hóa sẽ phục vụ cho nghiên cứu hơn nữa nét tính cách duy trì sống còn trong quá khứ khiến một số đàn ông tích lũy được các nguồn tốt đảm bảo cơ hội cho sự bảo bọc con cái họ. Các nét tính cách này tiếp tục tỏ lộ ở thời hiện đại và dễ tìm thấy nơi nhiều đàn ông quyền lực, nhất là các CEOs cao cấp và trùm Mafia.

Mánh khóe dẫn dắt

Đa phần nghĩ về sự mánh khóe như thể là điều gì khả năng nhìn thấy ở những ai cố kiếm lợi lạc từ chúng ta. Tiếc thay, hầu như mình bị dẫn dắt bởi người quá thông minh đến độ chúng ta tin rằng dự tính và hành động của họ thật chân thành và đứng đắn. Tình thế gay go ở chỗ, người này thông minh thừa khả năng thuyết phục, dụ dỗ chúng ta để làm cho họ thêm nhiều quyền lực hơn lên.

Thiếu sự thấu cảm

Lần nữa, thiếu sự thấu cảm không nhất thiết nghĩa là kẻ mánh khóe sẽ không thể hiện mối quan tâm tới cảnh ngộ của bạn. Thực tế, nếu mình đem lại nhiều lợi lạc phục vụ cho sự truy cầu của kẻ phản xã hội này, anh ta sẽ có khả năng biểu đạt sự thấu cảm với bạn một cách giả tạo nhằm chiếm được lòng tin; nhờ sự thay đổi thế, bạn sẽ cởi mở với các ý kiến rồi dần dễ dàng rung cảm với những mời mọc, mệnh lệnh của anh ta. Hầu như bạn sẽ còn chẳng đủ khả năng để kể ra những kết nối thiếu vắng cảm xúc của anh ta.

Cực kỳ quyến rũ

Nếu từng gặp một gã quyến rũ thôi rồi và mồm mép khỏi nói trong thói cầu kỳ lẫn quy ước mặc nhận của anh ta thì khả năng anh ta sẽ là một kẻ có vấn đề; các nét tính cách độc đáo đến nỗi họ thật xuất chúng và bật sáng về mặt trí năng xã hội.

Chẳng hạn, nếu anh ta có thể duy trì đối thoại rất tốt với các nhóm lớn, giữ tiếp xúc mắt với nhiều khu vực khác nhau trong đám đông, thoải mái với mọi người, nói bằng thứ ngôn ngữ hoa lá cành dù không cóc cần tuân thủ quy tắc ngữ pháp song vẫn đảm bảo sáng rõ để hiểu thì đấy là một vài dấu hiệu đáng dè dặt. Kỳ cùng, hầu hết mấy kẻ ấy vô cùng thành đạt trong bậc thang thăng tiến lãnh đạo công ty hoặc kết thúc trong nhà tù, vì không kiểm soát nổi các hành vi nguy cơ của bản thân.

Họ không bao giờ nói về chính mình

Một trong những nét tính cách tồi tệ chúng ta tin tưởng làm kẻ khác nghe theo là nói năng và thuyết phục. Thực tế, đấy đích thị cách tồi tệ để thuyết phục hoặc khiến ai đó tin tưởng. Hay nhất là cho phép người khác bộc lộ ra ngoài các ý kiến, quan điểm và cảm xúc dạt dào sẻ chia. Càng nhiều câu chuyện đậm màu cảm xúc được chia sẻ, cô ấy càng thêm phần gắn bó với sự hiện diện của anh ta. Ban thưởng tinh tế như gật đầu nhẹ hay sờ chạm nhằm củng cố các hành vi này đến mức tạo nên vòng xoáy trôn ốc đi lên của việc đầu tư thêm cảm xúc. Tuy nhiên, khi họ cất lời, nói chung nghĩa là sự chiếm đoạt ngắn gọn, sắc bén, chính xác và gây chú ý ghê gớm.

Sau rốt, dù không phải cốt thể hiện chẩn đoán hoặc phân tích chính thống về các hành vi thái nhân cách (sociopath), dường như hầu hết di truyền của mình hóa trang nhất quán bộ ba nét tính cách đen tối này. Thực sự đối xử với hầu khắp con người ta như dạng thức thực nghiệm xã hội thì tự thân nó đã tố cáo dấu chỉ của hành vi mang tính thái nhân cách rồi, dẫu khá là thành thật rằng mối quan hệ của chúng ta sẽ luôn hưởng lợi lại qua, xét từ quan điểm logic và rất hữu lý.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Nghiện ngập và lạm dụng: “Làm gì khi bố thường xuyên đánh mẹ?”

Khi giải quyết chuyện bố, mẹ nghiện rượu thì điều chính yếu của việc đón nhận nguồn lực trợ giúp là biết mình mong đợi chi và cần ứng xử ra sao:

Giờ tụi em đã lớn và tự lập hết nhưng bố thậm chí còn quá quắt hơn. Không có nguyên nhân gì đáng để bố đánh đập mẹ cả, toàn những chuyện nhỏ nhặt hoặc là khơi lại chuyện ngày xưa nghịch ngợm của các con. Bố ngày càng nhậu nhiều hơn, tần suất đánh đập mẹ cũng nhiều hơn, còn luôn giữ con dao nhỏ trong người. Em đã khuyên mẹ ly hôn nhưng mẹ nói tụi em còn chưa ổn định nên mẹ không muốn. Tụi em đều ở xa và không biết chuyện gì sẽ xảy ra với mẹ. Xin hãy cho em lời khuyên trong tình cảnh này. Em có thể thay mẹ viết đơn khiếu nại được không? Gửi đến những cơ quan nào?(Yến)

 ………

Cái bất hạnh của mẹ bạn là không biết cách ứng xử với người say rượu. Người say rượu rất thích mọi người kính trọng họ và có lời nói nhẹ nhàng. Nếu không được đối xử như vậy, cái tức tối sẽ được cài vào não ở tần số tự động hóa, nên cứ uống đến độ nhất định thì hình ảnh xấu của người can thiệp lúc họ say trước đây sống lại và họ càng cáu càng tức khi gặp mặt. Mẹ của bạn đã để lại trong não bố bạn ở tần số say rượu những điều làm ông uất ức nên cứ say đến độ đấy là xuất hiện “đe dọa và làm hung dữ”. Bây giờ sửa lại khó lắm vì nó ăn sâu vào vỏ não mất rồi.

Có lẽ bạn chưa hiểu nguyên nhân từ xưa, lúc cha mẹ bạn còn trẻ và những ngày đầu ông uống rượu. Bạn hỏi mẹ bạn xem những ngày bố mẹ bạn mới cưới có chuyện gì không. Đây cũng là sự tế nhị nên bạn cần khéo léo. Nếu hiểu được lý do bố bạn uống rượu lúc đầu và cách ứng xử của mẹ bạn thì mới có thể “điều trị tâm lý” cho bố bạn được.

……..

Cho dẫu bất đồng với cách lý giải hời hợt trên, sự thật không may là các trường hợp tương tự xảy đến với các gia đình Việt Nam chẳng phải hiếm gặp, và thường nảy sinh một số cảm xúc đặc thù ở con cái.

Tôi tin, ngay cả khi không thấy kể gì về chuyện mấy người con có giáng đòn xuống ông bố nghiện rượu về thể lý hoặc cảm xúc, tổn thương họ phải gánh chịu từ bé thế đến giờ vẫn khó nguôi ngoai sớm chiều. Vấn đề là tình huống sẽ không được cải thiện (thậm chí càng làm tồi tệ hơn) cũng như hữu ích cho bất cứ ai, bởi việc gây đau đớn. Cô gái cùng anh, chị em mình cần tìm cách thức thật xây dựng để xử lý với các cơn tức giận và nỗi niềm bất mãn ở trong chính lòng họ. Ngoài việc học hỏi các cách thức đối phó mới, cũng khá tốt để đi đến nhận diện chính xác những gì đang diễn ra và hiểu rằng, nghiện ngập có thể chỉ là một loại bệnh đơn lập.

Như mấy người con này nhận ra ít nhiều, yêu thương và tha thứ cho ai đó không bảo vệ cho chúng ta khỏi việc định dạng người đó là ai, cách họ ứng xử, và bất kỳ hiểm nguy nào họ đặt để lên chúng ta. Các người con và bà mẹ có quyền tự bảo vệ bản thân khỏi sự lạm dụng về thể xác, lời nói và tinh thần, bất luận cách người bố lạm dụng liên quan ra sao.

Người ta tiến hành các chiến lược khác nhau với tình huống đang bàn. Một ví dụ là tách khỏi người cha và hành vi lạm dụng của ông, nhận thức rõ ràng là ông ta vẫn tiếp tục làm hại lòng tự trọng của con cái cũng như ông ấy có thể không ngừng đầu tư nhằm củng cố thêm vai trò, quyền lợi của bản thân hơn là lo lắng, quan tâm đến sức khỏe cảm xúc của vợ con.

Một chiến lược có thể là giữ ông bố ở khoảng cách an toàn, giống như giữ một con hổ bé, chúng ta yêu nó song vẫn đặt trong cũi cạnh nhà; quan tâm khả năng gây hại cho bản thân và người xung quanh. Khoảng cách an toàn được thực hiện khi cả mấy anh chị em cùng rủ nhau ghé nhà thăm bố hoặc nhân sự kiện gia đình, không có các cuộc tiếp xúc cá nhân: mọi sự tình cờ, kết thúc trao đổi rồi rời đi khi các lời mắng chửi của ông bố phủ lên, và tạo nên tâm thế xác định rằng cô gái chẳng còn ngâm tăm im lặng chịu đựng trước hành vi ấy nữa.

Một sự lựa chọn khác là nhận ra ông bố có thể mang tính cách lạm dụng; chuyện thuộc bản thân ông ấy, chứ không liên quan đến cô gái hay anh chị em… Các cá nhân như thế thường tỏ ra:

  1. không chịu chấp nhận trách nhiệm trước hành vi của bản thân,
  2. cảm quan khó tin nổi về việc cho mình có quyền và cần được tôn trọng dù đích thị không xứng đáng, và
  3. hầu như ích kỷ trong các quan hệ với mọi người xung quanh.

Nếu cô gái thừa tự tin, thử chọn cách tiếp cận này, kiểu giống các nhân viên làm việc ở nhà tù biết đồng nghiệp lạm dụng song họ lờ đi. Nếu độ trọng thị bản thân chưa cao lắm, đừng dùng nó vì bố cô gái sẽ dày vò con về mặt cảm xúc khi cô gái không duy trì sự tách biệt và nhận ra ông bố là kẻ lạm dụng dây dưa.

Khuyến cáo sử dụng bất kỳ cách tiếp cận nào tốt nhất với cô gái. Lưu ý rằng kẻ khác có phát biểu riêng họ. Nhiều người đưa ra lời khuyên tuyệt vời cho những tình huống không liên quan với họ, đó là cách họ nghĩ bản thân sẽ giải quyết được nó. Sự thật, cô gái nên làm những gì người bình thường khỏe mạnh cần làm là nhận ra bố mình lạm dụng, gây nguy hại về sức khỏe tinh thần cho mình, và cô gái cần phát triển một chiến lược xử lý tình huống. Nếu thế, cô gái đi đúng hướng.

.. Là kẻ nghiện ngập, ông bố có thể lo sợ người vợ bỏ rơi mình. Đàn ông bê tha lè nhè thế không nhiều bằng hữu thực sự. Dễ tưởng tượng người vợ làm mọi thứ: bếp núc, giặt giũ, dọn dẹp, nhà cửa v.v… Ông bố không tìm được ai gắn bó với mình thế và ước ao bà vợ hy sinh cuộc đời cho sự ích kỷ của ông ta.

Ông bố đang đe dọa tính mạng và hành hạ bà mẹ. Rời bỏ tình huống tương tự tạm gọi là ‘kế hoạch vượt thoát’. Làm bảng kiểm các nguồn lực: bà con, nơi nào tạm cho tá túc, ai hỗ trợ tài chính, v.v… thậm chí, xem xét cả các nguồn lực đang hiện diện ở cả nơi bà mẹ đang cư trú nữa: nhà mở, các tổ chức, đoàn hội trợ giúp. Cô gái cần giúp mẹ nhờ cơ quan pháp luật can thiệp…

Bất hạnh thay, tình huống như gia đình cô gái đang phải gánh chịu rất thông thường ở khía cạnh lạm dụng. Kẻ quấy rối đủ mọi dạng kiểu dùng nhiều vũ khí tâm lý cực kỳ hiệu quả để diễn kịch, bày vẽ chiêu trò, hăm dọa, và giữ người ta dưới sự kiểm soát, khống chế. Cũng đặc trưng việc nạn nhân hay đưa mình vào tình huống chối bỏ, giảm thiểu thấp nhất hậu quả, hợp lý hóa; thêm nữa, các nạn nhân thường bị tẩy não siêu tuyệt để tự họ nghĩ rằng mọi sự là do lỗi của họ, duyên phận không may mắn. Chưa nói, ở tầng mức vô thức sâu thẳm, họ biết rằng họ bị tổn thương khủng khiếp nhất  khi họ không tán đồng với những mệnh lệnh của kẻ trấn áp (một tỷ lệ nạn nhân tử vong xảy ra khi họ đi đến quyết định kết thúc quan hệ). Vì vậy, họ tự hoang tưởng cho rằng mọi chuyện đã an bài, sắp đặt sẵn rồi và họ an toàn hơn nhiều khi dấn sâu theo các mệnh lệnh, điều khiển của kẻ lạm dụng tài ba.

Các nạn nhân không khởi sự suy nghĩ thấu đáo và sáng suốt được trừ khi họ được dịp ít nhiều thoát ra khỏi tình huống lạm dụng. Thậm chí, nếu kẻ lạm dụng siêu giỏi về các chiêu trò như gây đau đớn thì nạn nhân dễ cảm thấy áy náy nếu tiến hành cắt đứt mối dây gắn bó. Song với việc trợ giúp kịp thời và đúng đắn, các nạn nhân có thể hồi phục một viễn tượng đời sống cân bằng và khởi sự làm lại…

Yếu tố quan yếu nhất trong trợ giụp nạn nhân thoát khỏi kẻ trấn áp là có một kế hoạch rất an toàn và mạng lưới hỗ trợ tốt. Không ở một mình và cần có các kế hoạch cụ thể phù hợp để giúp giải cứu một cách an toàn. Những kẻ lạm dụng không thích và để yên khi thấy uy lực và khả năng đe dọa của họ bị lung lay. Song khi cảm thấy họ  đối đầu với cả lực lượng hỗ trợ hùng hậu khác với một con người cô lẻ bị họ hành hạ bấy nhiêu năm trời khốn khổ, chuyện sẽ khác.

Cũng cần giúp cho các nạn nhân bị lạm dụng cảm nhận mức độ nhất định về năng lực kiểm soát. Họ không thể bị thúc đẩy hành động nếu e ngại. Nên rất giá trị khi họ nhận ra rằng có gia đình, bạn bè, và nhiều nguồn trợ giúp khác quan tâm, đứng bên và sẵn sàng ứng cứu khi bà sẵn sàng tiến hành các bước tái xác lập cuộc đời của chính mình.

Thực tế, tại Việt Nam, hiện có không ít các tổ chức, trung tâm chuyên sâu hoạt động can thiệp và trợ giúp nạn nhân trong các trường hợp bị bạo hành, lạm dụng.

‘Tại sao kẻ kia không thấy ra vấn đề họ đang làm gì thế nhỉ?’

Quá nhiều nạn nhân trong vô vàn mối quan hệ bị lạm dụng, nhất là những ai giao kết thân thiết với các tính cách lươn lẹo chiêu trò, thường dành quá nhiều thời gian và công sức để khiến đối tác ‘nhìn ra’ các khía cạnh giời ơi, sai trái trong lối sống. Cố gắng ghê gớm trong nỗ lực buộc kẻ kia hiểu ra vấn đề, bi kịch thay, đưa nạn nhân đến trạng thái tức giận, cảm thấy hụt hẫng, và rồi sau rốt trầm uất, thất bại, tiêu tan mọi hy vọng. Họ luôn tự dằn vặt bản thân: ‘Tại sao kẻ kia không thấy ra vấn đề họ đang làm gì thế nhỉ?’

Thực tế, câu trả lời rất đắng đót: họ đã biết nhưng họ khó chịu. Ý là, hầu như các tính cách quấy nhiễu trong đời bạn từng nghe những điều tương tự liên quan đến hành vi có vấn đề của họ lần này tới lần khác từ nhiều nguồn nọ kia. Họ thường hiểu đúng ngay lập tức và chính xác những gì mình muốn họ thay đổi, các chuẩn mực và nguyên tắc chúng ta thích họ chấp nhận.

Vấn đề thực chất do đó, không phải chẳng nhìn ra mà đích thị họ không có quyết định thừa nhận, chấp thuận tiêu chuẩn. Họ bào chữa về cách họ thích tiến hành mọi chuyện hơn, đổ tội cho những người khác khiến họ làm thế, hoặc dùng đủ chiêu mẹo để tránh né việc chấp nhận nhu cầu cần thay đổi. trong khi vào cuộc rất nhanh và lập tức gắng hết sức mình khả dĩ để trông chừng ấn tượng của những người khác về họ.

Điều này lý giải tại sao các nhân cách quấy nhiễu và gây rắc rối cho cảm giác có vẻ họ không học hỏi hoặc hưởng lợi được chi từ trải nghiệm. Kỳ thực, họ tom góp, tích lũy nhiều lắm. Song họ không chịu học hỏi những gì chúng ta muốn họ tiếp thu. Chúng ta muốn họ nhận ra rằng đấy không phải là lợi lạc dài hạn tốt nhất cho họ và mối quan tâm của người khác muốn họ bỏ đi các niềm tin căn cốt cũng như mẫu hình ứng xử để rồi định dạng hoặc thay thế bằng những lối suy tư, hành động mà nhiều người cho là đáng được thích ứng nhất.

Chấp thuận một nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn ứng xử, thành thật nhận lấy, rồi nội tâm hóa nó là hành động sâu xa của sự phục tùng và lòng hy sinh bản thân. Các kiểu tính cách xung hấn, như dạng buông thả (chống đối xã hội), trấn lột và lợi dụng (bệnh lý) thường có một sự thay đổi nội tại đột ngột bằng hành vi bất kỳ thậm chí nhìn bề ngoài như động tác phục tùng, phản ánh đơn giản là họ không thể ‘đào sâu’ vào vấn đề, bất luận ngay cả khi trải nghiệm dạy cho họ rằng sẽ tốt hơn về lâu về dài nếu họ làm thế. Còn các dạng tính cách ái kỷ quá mức lại nuôi dưỡng các cảm xúc tự cao tự đại và cho mình cái quyền không buộc phải hạn chế các quy tắc ứng xử, tự tung tự tác. Các tính cách gây rối này chối bỏ tiếng gọi lương tâm và tâm trí lành mạnh với các kỳ vọng mà đa phần chúng ta đều thoải mái chấp nhận.

Để xử lý thật hiệu quả người thể hiện thiếu hụt tính cách ấy, cần đầu tư thời gian và năng lượng vào nơi mình tạo được quyền lực. Chúng ta không thể kiểm soát kẻ khác, nơi chốn, sự vụ… Và chúng ta không nên dùng quyền lực để bắt ai đó phải ‘nhìn ra’. Những gì chúng ta có thể thực hiện là đặt để các ‘cam kết’ với bất kỳ sự vụ mình muốn giải quyết với những người khác, bao gồm cả những kẻ chà đạp và giẫm lên các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của chúng ta. Chúng ta có quyền lực để sắp xếp các giới hạn, củng cố các ranh giới, tạo ra rõ ràng các mong đợi, và trên hết thảy quyết định bối cảnh nào mình sẽ giải quyết sự vụ với các kẻ khác.

Những hành động kiên quyết và thể hiện nguyên tắc thế chuyển gửi thông điệp mạnh mẽ vượt trên mọi lời nói năng. Theo thời gian, chúng có thể bẻ gãy vòng tròn phá hoại của những kẻ tạo tác hành vi gây tổn thương và bộc lộ thái độ không tôn trọng chúng ta. Khi điều ấy xảy đến đủ nhất quán thông qua các tình huống và kiểu người khác nhau, ngay cả với những kẻ mang tính cách gây rối vốn đã thấy song cứ không chịu tán đồng, có thể tìm được một vài giá trị thực tiễn trong nỗ lực làm các thứ theo cách thức mới mẻ khác hẳn trước đây.

… Dường như trải qua thời gian dài của chủ nghĩa đại khái về mặt đạo đức kèm trạng thái chấp nhận rỗng không các hệ hình liên quan đến bản chất con người đã không còn đúng đắn, nhiều người đơn giản đánh mất năng lực lượng giá thật chính xác và công bằng tính cách của các kẻ khác. Đấy là lý do tại sao nhiều người lãnh nhận hậu quả đau thương khi thiết lập các mối quan hệ trục trặc, bị lợi dụng, hoặc nguy hiểm cả thời gian dài rồi mới phát hiện sự thật.

Vẫn luôn nảy nòi ở đâu đó còn chưa bị/ được báo chí, mạng xã hội khai thác, phát hiện về hành vi vô đạo đức, lăng nhục, không còn liêm sỉ. Liên quan đến ứng xử vô trách nhiệm, có cả trường dài rộng, mênh mông và sâu thẳm các tính cách bất chính, hiểm ác đang nhiễu nhương ngoài kia. Và vì số lượng ấy không hề ít ỏi, quả thật gây bối rối cho bản thân khi đưa ra các đánh giá đơn giản về tính cách một con người. Tôi không hề nghĩ ngợi nhiều lắm về các tên tuổi đình đám xuất hiện gây bàn cãi trên các mạng mà chính các phương tiện truyền thông cũng dính dáng trách nhiệm xiển dương ít nhiều.

Không phải là quan tòa để tha thứ hay luận tội. Đây là cách tôi thử nhìn nhận: nếu chúng ta không nhận ra vấn đề đích thực hiện diện và mức độ trở thành nghiêm trọng thì làm thế nào thế giới sẽ nhìn ra rõ ràng cách chúng ta đang cứu chữa nó? Bước đầu tiên là minh bạch, sáng tỏ tâm trí các khái niệm lầm lạc đang phủ mờ đánh giá của chúng ta về tính cách. Và có một số nguyên tắc khá thẳng thắn mà hầu hết mọi người có thể đánh giá công bằng và đúng đắn về ai đó. Không ai hoàn hảo. Song khi một người có chí ít mức độ dối lừa tối thiểu trong lòng, và họ làm gì đó thực sự sai trái, họ chịu trách nhiệm vì điều đó, chấp nhận các hậu quả do hành động gây ra, và thiện ý cam kết làm tốt hơn lần tới. Xã hội có thể đặt để các ranh giới và giới hạn nó muốn. Song ước ao tôn trọng các ranh giới và giới hạn này lại là câu chuyện nỗ lực, gắng sức thuộc về mỗi một cá nhân.

Lần nữa, khi nghe nói về các vụ việc và nhân vật ì xèo, tôi nghĩ, tính cách đích thực là vấn đề. Và xã hội chắc chắn suy tàn, tồi tệ khi chúng ta lãng quên điều đó.

Con số tính cách quấy nhiễu, thiếu hụt và đáp ứng không đúng đắn đang tăng lên trong cộng đồng chúng ta; và có nhiều yếu tố văn hóa theo thời gian chịu trách nhiệm thực trạng này. Chúng ta đã cảm thấy mệt mỏi với các tính cách và vụ việc gây tai tiếng như cơm bữa chưa? Và đã đến lúc đủ để làm điều gì đó về nó?

Stress, trí nhớ có vấn đề, hay trạng thái phân ly?

Suốt một ngày dài bình thường làm việc miệt mài, chúng ta tham gia cả đống các hoạt động và dấn mình cùng vô vàn suy nghĩ; hầu hết chúng khá nhỏ nhặt, quen thuộc đến độ bộ não không nhất thiết ghi nhận thật chính xác. Vào lúc kết thúc và đóng cửa văn phòng, bao nhiêu công tắc mình bật tắt? Mấy người ta chào hỏi ở nơi giao dịch công cộng?

Cảm thấy thời gian trôi quá nhanh và đôi lúc, ngồi hồi tưởng cũng khó hình dung rõ ràng… Trải nghiệm đang cảm nhận là bình thường. Năng lực của người khác nhắc nhở làm đào sâu các ký ức trong ngày cũng bình thường. Tỷ dụ, chúng ta chắc không thể nhớ tất cả tên tuổi những ai mình đã chuyện trò ngày đó, song nếu có người nhắc về lần gặp gỡ với họ, não bộ dễ gợi lại dịp tiếp xúc…

Song nếu mình cảm thấy cao hơn mức độ trung bình các khó khăn với vấn đề hồi nhớ, stress có thể là thủ phạm, chẳng phải rối loạn định dạng phân ly. Stress có tác động vào hóa sinh của não bộ, ảnh hưởng đến các chức năng chú ý và trí nhớ. Người mắc trong tình huống và môi trường stress hay thấy thổ lộ những chuyện liên quan cả việc chú ý lẫn hồi nhớ ký ức. Khi stress, bộ não vận hành rất nhanh và dính líu sâu xa với các sự vụ stress đến độ không ghi nhận tốt các sự kiện thông thường. Một bộ não bị stress cũng không giám sát ổn thỏa các hoạt động, làm nảy sinh sự quên lãng và cảm nhận mình đang rơi vào trạng thái ‘đãng trí’: quên chìa khóa nhà, không tìm thấy cốc café hay uống, đánh mất USB, v.v…

Phân ly (dissociation) thuộc vô thức và nói chung là tình huống không dự kiến làm đứt gãy, ngắt quãng sự kết nối bình thường giữa các suy tư, ký ức, cảm xúc, hành động hoặc cảm nhận về bản dạng cá nhân. Một số, chắc chắn không phải tất cả, ví dụ về phân ly có liên quan đến các giai đoạn mất trí nhớ (amnesia). Dù người ta trải nghiệm các trạng thái phân ly với nhiều dạng kiểu khác nhau song thường có tiền sử việc bị lạm dụng sâu sắc hoặc/ và gặp sang chấn; các tình huống và tác nhân gây stress khác có thể cũng đào sâu các giai đoạn phân ly.

Phân ly cơ bản có thể được xem như một cơ chế phòng vệ nguyên thủy chống kháng với nỗi đau đớn cảm xúc. Dù nó có thể hiệu quả đặc biệt trong việc cung cấp vài ba lượng định tách biệt nhằm kháng cự với sang chấn trong ngắn hạn, nó tự thân là vấn đề đáng lo khi lạm dụng thái quá như cách để ai đó cách ly mình khỏi nỗi đau đớn cảm xúc, và nó còn có thể đặt để nhiều vấn đề buộc cá nhân nỗ lực học hỏi đặng hiểu biết phương thức đương đầu với các stress đời sống và công việc xảy đến vào các thời điểm khó khăn trong các quan hệ liên nhân cách.

Một số biểu hiện phân ly hay gặp như quên bẵng thời gian, không nhớ về sự kiện, cảm giác tan rã nhân cách và mất đi cảm nhận bình thường về cái tôi có thể gây phiền nhiễu cho chính bản thân đối tượng trải nghiệm.

Phơi lộ và làm việc thông qua các xung đột cảm xúc chưa được giải quyết là những gì trị liệu tâm lý quan tâm nhắm đến. Song lắm lúc, đối diện và trải nghiệm lại các vấn đề gây stress vừa phải thôi cũng đủ kích hoạt các phòng vệ. Dù các cảm nhận và trải nghiệm là căng thẳng, phiền phức thì chúng không hề nguy hiểm và nên làm tiêu tan đúng lúc khi đương đầu rồi giải quyết với các tình huống gây sợ hãi. Nhịp điệu thích hợp là điều cần để tâm trong tiến trình phải đương đầu với các vấn đề nan giải, theo một cách thức không quá mức gây ra stress khủng khiếp cho thân chủ. Ghi chú các kiểu dạng stress xuất hiện lúc gợi lên các phản ứng phân ly là cách hay trong trợ giúp và xác lập các vấn đề cần thiết dành sự quan tâm nhất.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích (2)

Việc điều trị trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn là việc dễ tiếp tục gây tranh cãi, đặc biệt với việc sử dụng thuốc (chẳng hạn) và cách tiếp cận đa phần dựa trên mô hình y khoa.

Thực hành lâm sàng thường khác biệt so với bằng chứng nghiên cứu; lý do cho điều này có thể là vì thực hành lâm sàng luôn đi trước các phát hiện trong nghiên cứu hoặc, có thể vì chẳng dễ dàng để thiết lập được tính hiệu quả của một số cách can thiệp tâm lý trị liệu. Một yếu tố liên quan cũng cần tham khảo là các nhu cầu phức tạp ở trẻ em và tuổi mới lớn khi có nhu cầu thăm khám, tham vấn/ trị liệu không khít khớp với các chẩn đoán hoặc phân loại nghiên cứu đặc thù. Người mới lớn gặp khó khăn trong học tập cũng thấy nảy sinh vấn đề khi tiếp cận các dịch vụ sức khỏe tâm thần sao cho thật thích đáng và thường là các nhu cầu sức khỏe tâm thần đã không được đáp ứng phù hợp, tương xứng.

1. Trị liệu nhận thức – hành vi (CBT) phát triển như cách can thiệp hàng đầu khi xử lý trầm cảm, với ngày càng nhiều bằng chứng rằng đây là một cách điều trị hiệu quả cả cá nhân hoặc nhóm (Wood et al. 1996, Lewinsohn & Clarke 1999, Pfeffer et al. 2002, Nelson et al. 2003, Duldey et al. 2005, David-Ferdon & Kaslow 2008).

Các niềm tin căn cốt, giả định và suy tư tự động tiêu cực chúng ta nắm giữ trong mình được kiểm tra trong tiến trình CBT nhằm giúp trẻ em và tuổi mới lớn thách thức rồi đi đến định hình các suy tư của chúng đặng giúp bản thân chúng suy tư khác hẳn đi và cảm thấy tốt hơn về chính bản thân mình.

Tuổi một đứa trẻ có thể tham gia CBT gây tranh cãi, dù Stallard (2002) khẳng định điều này nên tùy thuộc vào thời gian một đứa trẻ đạt tới thời điểm thao tác cụ thể của sự phát triển nhận thức (khoảng trong tầm 7- 12 tuổi). CBT nên được thích ứng khi dùng với trẻ em, thực hiện việc sử dụng các kích thích thị giác nư các quả bóng tư duy, từ điển cảm xúc, bảng theo dõi cảm xúc, cũng như các cách tiếp cận sáng tạo như tự thầm nhắc tích cực, các trò chơi, búp bê và kể chuyện. Trẻ còn bé dễ gặp khó khăn trong phân biệt giữa các cảm xúc khởi từ sự kiện bên ngoài với các suy tư nội tại, và nhu cầu đơn giản và các hướng dẫn sáng rõ nếu chúng tham gia CBT.

Khá ít bằng chứng về những can thiệp tâm lý trị liệu với trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm đồng thời gặp khó khăn trong học tập, tuy dẫu có một số cho thấy mức độ hiệu quả nhất định ỏ nguwoif trưởng thành (Lindsay et al. 1993, Dagnan & Chadwick 1997, Lindsay 1999). Để CBT tỏ ra hiệu quả, trẻ cần bày tỏ nhu cầu sẵn sàng và bố mẹ thường nên tham gia vào (Stallard 2005). CBT có thể được tiến hành bởi một nhà trị liệu được đào tạo hoặc thông qua các loại hướng dẫn tự mình giúp mình. Curry & Reiecke (2003) dùng cách tiếp ận trị liệu theo module với người trẻ; Dummett & Williams (2008) phác thảo một cách tiếp cận vào 5 lĩnh vực đời sống (đáp ứng thể lý; các suy nghĩ; các cảm xúc; hành vi; và các vấn đề thuộc môi trường) nhằm vượt qua trầm cảm tuổi mới lớn,

2. Tâm lý trị liệu liên nhân cách (IPT) được thích ứng với việc sử dụng trên trẻ em (Weissman et al. 1979); đây là cách can thiệp ngắn gọn, có cấu trúc chặt chẽ, hạn chế thời gian. Có ràng buộc điều trị ở đây là người trẻ chấp nhận mình đang đau ốm và cần trợ giúp tựa như khi chúng mắc một bệnh thực thể vậy.

Xuyên suốt giai đoạn tiếp xúc rồi khởi sự ban đầu, người trẻ được tạo một tổng thuật về các mối quan hệ và chức năng xã hội hiện tại (bảng kiểm liên nhân cách). Nhà trị liệu phát triển một công thức liên nhân cách, nối kết trầm cảm với một trong bốn lĩnh vực liên nhân cách đang gặp trục trặc: nỗi tiếc thương, tranh cãi vai trò liên nhân cách, những quá độ khi chuyển đổi vai trò và những thiếu hụt liên nhân cách. IPT nhấn mạnh ở đây và ngay bây giờ; các vấn đề xảy đến trong hiện tại. IPA là một nỗ lực đặng hợp nhất các mục tiêu trị liệu đạt được nhờ người trẻ tạo ra (Frombone 1998, Weissman et al. 2000, Mufson et al. 2004, Coleman 2006).

3. Việc dùng thuốc cho trẻ quả là rất đáng nhìn nhận thấu đáo. Các cách tếp cận trong điều trị y khoa đối với trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn là các loại thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs), nhóm thuốc ức chế tái hấp thụ có chọn lọc serotonin (SSRIs) hoặc ức chế tái hấp thụ serotonin (SRIs). Nói chung, TCAs không nên được chỉ định khi chúng chẳng tỏ ra hiệu quả bao nhiêu so với giả dược (placebo) trong điều trị trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn (Hazell et al. 1995, 2002, Kutcher 1997, Geller et al. 1999). Không chỉ vì vô tích sự, chúng còn có thể gây ra một số phản ứng phụ không hay ho như khô miệng, đổ mồ hôi và táo bón cũng như tạo tác tiềm năng tim mạch nguy hiểm (Birmaher el al. 1998). Tương tự, các loại thuốc ức chế MAOIs không được chứng thực tính hiệu quả ở trẻ em và tuổi mới lớn, và ít bằng chứng hỗ trợ cho việc sử dụng (Heyman & Santosh 2005).

Việc dùng các loại thuốc chống trầm cảm cho trẻ em và tuổi mới lớn đang tăng lên (Zito et al. 2003, Mitchell et al. 2008). Năm 2007, ước tính khoảng 50.000 trẻ em Anh quốc được chỉ định thuốc chống trầm cảm và việc chỉ định càng tăng (Hansard 2007). Bằng chứng về tính hiệu quả của SSRIs là hạn chế, tuy vậy, chúng vẫn thứ thông dụng chỉ định; điều này gây lo ngại về các nguy cơ lớn hơn cho hành vi tự sát ở trẻ và tuổi mới lớn hơn là so với người trưởng thành dùng SSRIs (Stone et al. 2009). Shearer & Bermingham (2008) khẳng định rằng có các vấn đề đạo đức khi chỉ định SSRIs cho trẻ và tuổi mới lớn, bất kể thuốc chống trầm ảm hiệu quả hơn giả dược như nào, và các hiệu ứng ngắn hạn lẫn dài hạn lên sự phát triển tâm lý và thể lý của những ai được chỉ định thuốc. Jureidini (2009) đề nghị cách tiếp cận gồm “đợi theo dõi sát sao” và chú ý tới các nhu cầu thể lý và cảm xúc của trẻ có thể là giải pháp thay thế thuốc. Rất nhiều tuyên bố về tính hiệu quả của việc sử dụng thuốc chống trầm cảm, song có vẻ cẩn trọng và giám sát nghiêm ngặt kèm với các can thiệp tâm lý nên được cố gắng trước tiên.

4. Các cách trị liệu dựa trên nền tảng tâm động (psychodynamics) từng bị bỏ rơi trước sự tràn ngập của CBT và các cách trị liệu dựa trên sổ tay hướng dẫn, chí ít bởi vì chúng được cho là quá đắt đỏ, đòi hỏi lao động cực nhọc và tốn nhiều thời gian.

Tuy thế, điều quan trọng là nhận ra rằng người mới lớn được chẩn đoán trầm cảm có thể gặp nhiều vấn đề phức tạp mà chỉ có thể lưu ý sâu xa với trị liệu dài hạn.Các cách tiếp cận nhận thức có thể phù hợp với một số vấn đề nhẹ và trung bình, song các tác động dài hạn của trầm cảm tự chúng đòi hỏi một giải pháp dài hạn. Trong một phân tích meta-analysis theo cách tiếp cận nhận thức và không nhận thức (cả điều trị theo tâm động), Weisz và cs. (2006) không phát hiện thấy sự khác biệt giữa các dạng tâm lý trị liệu này, thể hiện ở việc cả hai cách đều tạo ra các hiệu ứng khiêm tốn trong điều trị trầm cảm. Trowell và cs. (2007) nhận ra rằng tâm lý trị liệu tâm động hiệu quả trong điều trị trẻ mắc trầm cảm và tính khí bất ổn (dysthymia) với 74,3% người mới lớn hồi phục, và tuổi mới lớn này tiếp tục cải thiện với 100% cho thấy không còn triệu chứng trầm cảm về sau.

Làm việc trong bối cảnh của mối quan hệ trị liệu dài hạn có thể đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn, nhất là trẻ khổ sở bởi các sang chấn. Các cách tiếp cận tâm động theo nhóm cũng được dùng với tuổi mới lớn và bối cảnh của một chương trình ban ngày định hướng tâm động có thể đem lại lợi lạc cho tuổi này. Có rất ít nghiên cứu về tâm lý trị liệu theo tâm động, chẳng hạn Watanabe và cs. (2007) chỉ thấy trong 27 nghiên cứu chỉ có duy nhất một nghiên cứu dùng cách tiếp cận tâm động.

5. Các cách tiếp cận khác có thể kể đến là các can thiệp kỹ năng xã hội, trợ giúp trẻ hoặc tuổi mới lớn ở trường học. Nhắm vào các mối quan hệ bạn bè cùng trang lứa có thể hữu ích. Điều trị nội trú có thể hữu ích đặc biệt với người có dự tính tự sát, trong khi điều trị ban ngày lại hỗ trợ cho người trẻ giải quyết các vướng mắc về sự tách biệt xã hội. Các can thiệp nhóm có thể giúp người trẻ nhận ra các ý nghĩa trong trục trặc gặp phải, giảm thiểu cảm nhận về sự cô độc và năng cao các mạng lưới xã hội trợ giúp hiệu quả.

Các trị liệu trần thuật cũng đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm, các dạng trị liệu gây tò mò so với các các trị liệu truyền thống vốn được nhìn nhận như dạng trị liệu chắc chắn (Amundson et al. 1993). Các trị liệu trần thuật sử dụng cách kể chuyện, và thường gồm các kỹ thuật tâm kịch. Trị liệu nhắm vào giải pháp đang tang lên và được người thực hành nìn nhận như cách tiếp cận hữu ích, dù bằng chứng cho tính hiệu quả với trẻ em và tuổi mới lớn chưa được thiết lập. Trị liệu âm nhạc cũng được dùng điều trị trầm cảm cho trẻ mới lớn (Hendricks & Bradeley 2005). Các lĩnh vực khác cũng được xem xét như là chế độ ăn uống, luyện tập thể dục và chế độ sinh hoạt hàng ngày tất thảy đều đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp người trẻ hồi phục từ cơn trầm cảm.

6. Có một đứa con mắc trầm cảm có thể là nỗi lo lắng khôn nguôn của các thành viên trong gia đình.

Thường người ta đổ lỗi cho chính họ và tìm cách giải thích hành vi cũng như chức năng của mình. Để giúp các gia đình, họ cần hiểu biết thấu đáo về rối loạn và ý nghĩa của trầm cảm. Giáo dục về các dấu hiệu, triệu chứng có thể giúp gia đình hiểu trầm cảm trong mối liên hệ với đứa trẻ nhà họ, điều này sẽ gồm cả việc thảo luận và nhận ra ý nghĩa trong hành vi của đứa trẻ hoặc người mới lớn, ví dụ nằm lỳ trên giường đến 2 giờ chiều là dấu hiệu của trầm cảm hay đó chỉ là hành vi bình thường của tuổi mới lớn? Liệu một đứa trẻ không ngừng lo lắng về thành tích học tập ở trường có mắc trầm cảm? Thảo luận những việc này và các vấn đề khác nữa với bố mẹ có thể làm tình hình sáng tỏ hơn và giúp bố mẹ có các mong đợi bình thường cho đứa con của mình. Một số gia đình hưởng lợi từ giáo dụ, một số từ sự trợ giúp gia đình và một số khác thì từ trị liệu gia đình. Trị liệu gia đình hệ thống cá nhân được khuyến cáo khi các dạng kết hợp bên trên chứng tỏ không hiệu quả.

Trong khi đa phần các gia đình hỗ trợ cho con em mình, một số có thể gây bất lợi cho sự phát triển của một đứa trẻ, nên việc hỗ trợ cho bố mẹ/ người chăm sóc nằm trong kế hoạch tổng thể nên được xem xét trước tiên. Lượng giá các quan điểm của gia đình về việc điều trị như thảo luận về chuyện dùng thuốc hoặc vai trò của tâm lý trị liệu có thể giữ vai trò quan trọng. Trả lời các câu hỏi từ giai đoạn khởi sự trị liệu và bước vào một cuộc đối thoại mang tinh thần hợp tác với bố mẹ trẻ có thể giúp công việc trị liệu tiến triển rất khả quan.

7. Tóm lại, trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng có thể để lại nhiều tác hại tiêu cực dài hạn đối với sự phát triển của trẻ em và tuổi mới lớn.

Nhận thức sớm về trầm cảm nên được chú trọng trong các chiến dịch phòng ngừa và nâng cao sức khỏe, đi kèm với việc hiểu biết sâu xa hơn về chuyện dùng thuốc quá mức cho trẻ và tuổi mới lớn có ảnh hưởng ra sao tới sức khỏe tâm trí của chúng, nhất là việc chỉ định thuốc chống trầm cảm cho trẻ ở độ tuổi còn nhỏ.

Hiểu biết trẻ mắc trầm cảm là khó khăn, bởi vì như đã thấy, có hàng loạt các ‘triệu chứng’ trầm cảm quá dễ gây nhầm lẫn với các hành vi khác ở trẻ và người mới lớn. Phát triển các cách can thiệp thích hợp sao cho hiệu quả và khuyến khích chúng phát hiện các giải pháp can thiệp riêng đối với những vấn đề thuộc cảm xúc sẽ giúp chúng thật hữu hiệu sau này khi lớn lên. Dùng một cách tiếp cận có cân nhắc thấu đáo, bình tĩnh trông chừng và giám sát chặt chẽ đồng thời hiểu biết toàn thể bối cảnh liên quan đến cuộc sống của trẻ và tuổi mới lớn có thể là điểm khởi đầu tốt lành. Đừng quên, thực tế thì một số giải pháp với chuyện chúng mắc trầm cảm có thể tạo nên các đáp ứng mang hơi hướng xã hội và chính trị chứ không chỉ định vị riêng trong tính cá nhân.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích

 

Gợi hứng từ cách tiếp cận vấn đề, đặt tên và đoạn kết trong bài viết của nữ bác sĩ Nhi khoa, tôi thử lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích.

Tổ chức WHO lưu tâm đứa bé trầm cảm ấy, bởi đó cũng là dạng vấn đề liên quan đến sức khỏe trẻ em và vị thành niên vốn được giới chuyên môn hành nghề ưu tiên nghiên cứu từ lâu.

Theo thông lệ mô hình y khoa và tâm bệnh học, thuật ngữ “trầm cảm” (depression) có thể được dùng để chỉ một dãy rộng các hành vi, đặc tính và triệu chứng; việc sử dụng thuật ngữ rộng và không chính xác này tạo nên vấn đề trong chuyện tài liệu văn bản, kết quả là nhiều nghiên cứu dùng cùng thuật ngữ căn bản để mô tả nhiều khía cạnh hết sức khác biệt thuộc chức năng hành vi và cảm xúc. Ba cách dùng thông dụng của thuật ngữ ‘trầm cảm’ từng được Cantwell (1990) ghi nhận: trầm cảm như một triệu chứng, như một hội chứng, và bên trong bối cảnh của một rối loạn mang tính chất trầm cảm (Merrell, 2003).

Cụ thể, khi xét như một triệu chứng (symptom) thì trầm cảm thể hiện trạng thái khó chịu: cảm thấy bất hạnh hoặc buồn bã, như thể ‘bị rơi bịch xuống đất’, cảm thấy khốn khổ hoặc âu sầu. Các trạng thái chủ quan này chỉ là một phần bé nhỏ của hội chứng hoặc rối loạn trầm cảm. Các triệu chứng trầm cảm thường hay diễn ra xuyên suốt đời người ta, thoáng qua và không thuộc rối loạn hay vấn đề quá nghiêm trọng. Cũng có khả năng là các triệu chứng trầm cảm tồn tại như thành phần của các rối loạn khác. Chỉ riêng các triệu chứng trầm cảm thường không đủ tiêu chuẩn để lượng giá là mắc trầm cảm.

Thuật ngữ hội chứng (syndrome) dùng mô tả điều gì đó sâu xa hơn là một trạng thái bất mãn, khó chịu. Thuật ngữ này hay được hiểu là nhằm cho thấy sự cùng xuất hiện các triệu chứng cảm xúc và hành vi và không hề mang tính tình cờ, ngẫu nhiên. Cantwell (1990) lưu ý rằng một hội chứng trầm cảm thì thường không chỉ gồm các chuyển đổi tâm trạng mà còn biểu tỏ những biến chuyển góp vào trong chức năng tâm- vận động, thể hiện ý thức, và động cơ. Các thay đổi phụ thêm này thường xảy đến với chiều hướng tiêu cực, làm giảm thiểu năng lực vận hành của người trải nghiệm chúng. Trầm cảm như một hội chứng thì ít thấy hơn trầm cảm như một triệu chứng; nó có thể là do một số stress lối sống, đồng thời xuất hiện với các vấn đề bệnh lý y khoa khác, hoặc xảy đến kết hợp với các rối loạn tâm lý và tâm thần như là các rối loạn hành vi hay gây gổ, tâm thần phân liệt, và các rối loạn lo âu. Trầm cảm như một hội chứng cũng xảy đến như vấn đề căn cốt, không có bệnh kèm sẵn rồi. Các hội chứng trầm cảm cũng dễ là thành phần của các rối loạn trầm cảm.

Sự phân biệt các hội chứng trầm cảm và rối loạn trầm cảm không rõ ràng được như giữa triệu chứng và hội chứng trầm cảm. Dù các hội chứng trầm cảm đặc trưng thuộc rối loạn trầm cảm (depressive disorder), song người ta khi nói một rối loạn trầm cảm là hàm ý sự tồn tại hội chứng trầm cảm rồi, dù cũng nên biết rằng nói hội chứng trầm cảm xảy đến trong một khoảng thời gian có nguyên nhân bởi một mức độ trục trặc chức năng nhất định và có thành tựu đặc thù như quãng thời gian và sự đáp ứng trong điều trị trầm cảm. Cách diễn đạt rối loạn trầm cảm thường hay thấy trong bối cảnh hệ thống phân loại DSM; và ở đây cần nhấn mạnh rằng hệ thống các tiêu chí đánh giá như DSM khi dùng đánh giá các rối loạn trầm cảm có thể tỏ ra không thực sự hiệu quả và hữu dụng ở các độ tuổi khác nhau (Carlson & Garber, 1986).

Tóm tắt nhanh về bệnh nguyên (etiology) trầm cảm ở trẻ em theo Compas (1997), Miller, Bimbaum, & Durbin (1990), và Schwartz và cs. (1998) cho thấy, sự kết nối của một vài biến số tâm lý chủ yếu như ảnh hưởng từ bố mẹ, các biến cố đời sống, và mẫu hình tương tác ở gia đình có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm. Một quan hệ được phát hiện tồn tại giữa những gì hay được gọi là “mất mát’ và trầm cảm ở trẻ em, nhất là sự mất mát bố mẹ hoặc sự tách biệt khỏi gia đình. Trẻ em có bố mẹ mắc trầm cảm thường cho thấy nguy cơ cao của việc tiến triển trầm cảm và các rối loạn tâm lý khác; các tỷ lệ stress của bố mẹ và xung đột gia đình trầm trọng cũng được phát hiện là có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm; một số bằng chứng do sự kiện mang tính tiêu cực xảy đến bên ngoài bối cảnh gia đình như trường họ và trục trặc quan hệ với bạn bè cũng được quy cho việc trẻ em mắc trầm cảm.

Trẻ em mắc trầm cảm có thể làm nảy nở thêm các kiểu nhận thức kém cỏi hoặc gây trục trặc chức năng nhận thức và đi kèm thiếu hụt các kỹ năng đối phó. Mô hình học hỏi tuyệt vọng (learned helplessness), được Seligman đề xuất đầu tiên (1974) đặt để một số dạng thức trầm cảm có thể xảy đến dưới các điều kiện học hỏi mà trẻ không nhận thức được mối liên hệ giữa hành động của chúng với hậu quả từ đó. Lewinsohn (1974) đề nghị mô hình ảnh hưởng rất lớn rằng sự đổ gãy của các sự kiện khoái sướng và củng cố có thể báo hiệu trước việc một người bị mắc trầm cảm, một ý tưởng đáng xem xét khi tiến hành lượng giá trẻ em với các đặc trưng môi trường và hành vi. Ngoài ra, tâm- sinh học cũng cho thấy một số dạng thức trầm cảm ở trẻ em có liên quan với các biến số sinh học như các khu vực tương quan của di truyền gia đình và hóa chất trong não bộ (Schwart et al., 1998).

Trầm cảm được ghi nhận rộng rãi là vấn đề thường gặp ở trẻ em và vị thành niên, trái với quan điểm trước đây rằng trẻ không thể bị trầm cảm vì thiếu trưởng thành trong nhân cách (Harrington, 2005). Tuy thế, viễn tượng này không được chia sẻ bởi tất cả các nhà lâm sàng: Timimi (2004) tán đồng không có bằng chứng thuyết phục để phân biệt rõ ràng giữa trầm cảm và buồn rầu ở trẻ. Bởi vì không có các triệu chứng đặc thù thường dùng chẩn đoán trầm cảm ở trẻ, bất định về tần suất thực sự trẻ mắc trầm cảm trước giai đoạn dậy thì.

Lượng giá trầm cảm như một rối loạn ở trẻ em và vị thành niên đòi hỏi sự quan tâm, kỹ năng, và lưu ý rất đặc biệt. Chẩn đoán trầm cảm ỏ trẻ em là phức tạp. Trẻ có thể gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa các cảm xúc như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001) và trong việc nhận ra quãng thời gian diễn tiến vấn đề, vì thế chúng không giỏi mô tả cách chúng trải nghiệm bao lâu các cảm xúc đặc thù ấy. Khi dùng các định nghĩa người lớn áp vào con trẻ, trầm cảm trước đây chẩn đoán mà không có sự hiện diện của các triệu chứng trầm cảm cơ bản ở người trưởng thành. Các triệu chứng trầm cảm khó phát hiện ở trẻ em vì chúng có thể bị khoác dưới các hiện tượng như ám sợ (phobia), hành vi phạm pháp (delinquencies), đái dầm (enuresis) và các triệu chứng thực thể khác (Glaser 1967, Bschor 2002). Cơn đau bụng được xem là triệu chứng tiềm năng hoặc cùng xuất hiện với trầm cảm (Dowrick et al. 2005). Tuy thế, như Goodman & Scott (2005) khẳng định, trầm cảm không nên được chẩn đoán trừ khi có sự xuất hiện các triệu chứng cảm xúc. Quyết định một người trẻ mắc hay không rối loạn trầm cảm hay đơn giản chỉ đang trải nghiệm các triệu chứng trầm cảm là một thách thức.

Một khó khăn của chẩn đoán trầm cảm ở trẻ nhỏ và người mới lớn là các cảm xúc, hành vi và tình cảm hàng ngày có thể được diễn dịch như dấu hiệu của ‘bênh tật hoặc đau ốm’ (disease/ illness). Việc y khoa hóa (medicalisation) hành vi và cảm xúc trẻ em đã được thảo luận rộng rãi đó đây (Blum 2007, Conrad 2007, Timimi 2007); tuy thế, điều căn bản là chí ít, chúng ta nhận ra các quan điểm khác nhau về việc xác định và chẩn đoán trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên.

Trầm cảm trước đây quen được nhìn như vấn đề nội sinh (xảy ra từ bên trong, có nguyên nhân sinh học) hoặc phản ứng (kết nối giữa các sự kiện bên ngoài gây stress với một sự tổn thương dẫn tới trầm cảm). Kể từ DSM- III, trầm cảm được phân loại như một dãy liên tuc từ trầm cảm nhẹ đến trầm cảm điển hình; quan điểm y khoa hóa các cảm xúc hàng ngày này tạo nên cả loạt thách thức cho người trẻ mà các thế hệ trước chưa từng trải nghiệm. Trầm cảm được xem là chưa được nhìn nhận thấu đáo trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và các triệu chứng trầm cảm bị bỏ qua (Weller & Weiller 2000).

Tuy thế, nếu trầm cảm bị chẩn đoán quá mức thì sự phát triển của các trẻ và vị thành niên này có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là sự phục hồi của chúng. Horwitz & Wakefield (2007) phân tích sự gia tăng trong chẩn đoán trầm cảm xuyên suốt mọi lứa tuổi và đề nghị rằng sự buồn rầu thông thường có thể bị lẫn lộn với trầm cảm; rằng các trải nghiệm bình thường của mất mát và bất hạnh đã bị diễn dịch lại như là bệnh tật; họ khẳng định ảnh hưởng mạnh mẽ của các tiêu chí chẩn đoán trong DSM- IV về trầm cảm đã trở nên quá mức. Horwitz & Wakefield (2007) nhìn thấy một loạt các yếu tố ảnh hưởng tới quan điểm của chúng ta về trầm cảm từ một loại bệnh khá hiếm hoi 30 năm qua trở thành thứ hết sức thường gặp. Bối cảnh sự buồn bã của người ta thường bị lờ đi khi xem xét ai đó có bị mắc trầm cảm hay không. Bối cảnh là quan trọng bởi vì không có nó, các yếu tố khác gây ảnh hưởng tới tâm trạng người ta như mất mát, không được ngó ngàng tới. Hai tác giả vừa nêu khẳng định các tiêu chí DSM-IV trong khi tỏ ra hữu dụng trong thực hành lâm sàng lại quen được dùng như khung tham chiếu để chẩn đoán trầm cảm trong cộng đồng; điều này dẫn đến việc thừa nhận hoặc ước tính quá mức trầm cảm ở cả trẻ em và tuổi mới lớn. Khẳng định này quan trọng bởi vì trẻ em và tuổi mới lớn rốt ráo nhận lấy điều trị y khoa cho một thứ được xem là bệnh (perceived illness) mà có thể thực tế là một vấn đề hiện sinh, một vấn đề thuộc tồn tại người. Thay vì y khoa hóa các vấn đề như thế, người trẻ cần được tạo cơ hội để vượt qua và quản lý phiền não của chúng (Claveirole & Gaughan, 2011).

Liên quan tới việc biểu đạt một cơn dịch trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn. Costello và cs. (2006) tổng thuật bằng chứng và khẳng định rằng trong khi các nhà lâm sàng đang gia tăng ghi nhận về trầm cảm thì tỷ lệ đích thị vẫn duy trì tương tự 30 năm trước đây. Điều tra sức khỏe tâm thần vị thành niên 1999 ở Anh quốc (Ford et al. 2004) thấy tỷ lệ dịch tễ khoảng 0,9% cho mọi loại trầm cảm và 0,6% cho trầm cảm điển hình ở trẻ em trong độ tuổi 5- 15. Hàng loạt nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dịch tễ dao động 4- 6% ở người trẻ (Kessler et al. 2001), trong khi một nghiên cứu học sinh trung học cơ sở ở Edinburgh có tỷ lệ 8,4% (Moor et al. 2007). Trẻ gặp khó khăn trong học tập có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn (Emerson & Hatton 2007, Tonge & Einfeld 2003, Tonge 2007), dù một số nghiên cứu phát hiện thấy khác biệt nhỏ ở dạng trầm cảm điển hình giữa trẻ gặp khó khăn trong học tập và trẻ không mắc nó (Stevenson & Rommey 1984). Khả năng các tiêu chí của ICD-10 và DSM-IV nhằm định dạng các khó khăn tâm lý ở trẻ em và tuổi mới lớn cần được đặt thành vấn đề về độ tin cậy quá mức vào việc truyền thông bằng lời; điều này đặc biệt khổ sở với trẻ em và tuổi mới lớn gặp khó khăn trong học tập.

Khi lượng giá một người trẻ, điều quan trọng là cần xem xét thông tin từ các nguồn khác nhau, vì trẻ thường hành xử phụ thuộc vào bối cảnh. Bố mẹ chắc chắn là nguồn thông tin đáng giá: họ có thể giải thích tại sao họ tin có vấn đề và tại sao lúc này. Khi phỏng vấn trẻ, hiểu biết về sự phát triển của trẻ em, nhất là về sự phát triển ngôn ngữ, cảm xúc và nhận thức là căn bản vì trẻ có hiểu biết khác nhau và cách khác nhau trong miêu tả mọi thứ phụ thuộc vào tuổi của chúng. Lưu ý các ảnh hưởng hoặc lời giải thích khác, và có cách tiếp cận tổng thể. Khi điều tra được thực hiện trong bối cảnh có những sự kiện môi trường khác nhau, trẻ em có thể khu biệt các cảm xúc cơ bản như buồn rầu hoặc cáu gắt; tuy thế, khi vắng mặt một bối cảnh, trẻ có thể chối bỏ các cảm xúc cơ bản như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001, Martin et al. 2010). Bố mẹ có thể hiểu biết ít ỏi về thế giới nội tâm của con em mình; một nghiên cứu của Puura et al. (1998) cho thấy trong khi bố mẹ và thầy cô giáo sẵn sàng nhìn nhận các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em, họ nói chung không giống nhau trong việc tìm kiếm trợ giúp cho đứa trẻ. Một nghiên cứu ở bốn trường trung học cơ sở ở Edinburgh phát hiện, các thầy cô giáo không ngang nhau trong việc nhận ra trầm cảm ở trẻ nhằm đón nhận đào tạo chuyên biệt việc nhận diện trầm cảm (Moor et al. 2007).

Các cuộc phỏng vấn thường dùng để lượng giá và có thể là có cấu trúc, bán cấu trúc hoặc không; một số phương pháp lượng giá khác bao gồm bảng hỏi, như Beck Depression Inventory (Beck et al. 1961), thang đo Child Assessment Scale (Hodges et al. 1982), v.v… Các bảng hỏi và bảng kiểm tuy hữu ích song không nên là toàn bộ phương pháp lượng giá, đứa trẻ hoặc tuổi mới lớn nên luôn luôn được phỏng vấn hoặc quan sát. Các cách tiếp cận trị liệu trò chơi (play therapy) là kỹ thuật quan trọng khi làm việc với trẻ nhỏ; các cách tiếp cận sáng tạo trong lượng giá sử dụng các kỹ thuật như nội tâm hóa vấn đề hoặc cho trầm cảm một cái tên có thể tỏ ra hữu dụng. Nylund & Ceske (1997) mô tả cách tiếp cận kể chuyện để hiểu trầm cảm ở bé gái mới lớn, một số trẻ và thiếu nữ đáp ứng khá tốt với cách này.

Những lĩnh vực phức tạp trong chức năng của trẻ và tuổi mới lớn cần được cân nhắc. Một số triệu chứng trầm cảm như xuống tinh thần, thu mình hoặc mất khẩu vị rất nên được đánh giá ngay; những thay đổi trong cách nói năng hoặc hành xử cũng nên được lưu tâm. Tuy thế, có nhiều sự kiện và trải nghiệm khiến trẻ cảm thấy buồn rầu. Điều quan trọng là người lớn đừng vội vàng kết luận theo cách giải thích y khoa với các sự kiện đời sống mang tới sự buồn rầu cho trẻ. Lượng giá các vấn đề cảm xúc ở trẻ gặp khó khăn trong học tập là một thách thức thực sự.

Nguy cơ tự sát hoặc nỗ lực tự sát tăng lên ở trẻ khi chúng lớn thêm lên; có một sự liên hệ rõ ràng giữa trầm cảm và tự sát, với một phát hiện tổng thuật là 49% và 64% ở người mới lớn đã có ý định tự sát đồng thời cũng mắc trầm cảm rồi (Gould et al. 2003). Mối quan tâm vấn đề tự sát ở trẻ dưới 12 tuổi đang tăng lên (Tishler et al. 2007). Mặc dù các ý nghĩ tự sát là rất thông thường ở tuổi mới lớn, không nên đánh giá thấp trẻ em vì một số trẻ có các ý nghĩ tự sát và hành động dựa trên các ý nghi này. Không rõ ràng ở độ tuổi nào thì trẻ có thể hiểu được hậu quả các hành động của bản thân, ví dụ các hành động của chúng có thể dẫn đến cái chết và cái chết là gì.

Tiện đây, cùng với các tiêu chí chẩn đoán trong DSM-IV-TR (APA 2000), cũng cần nói thêm về một số cập nhật và thay đổi quan trọng ở DSM- 5 (2013) liên quan rối loạn trầm cảm điển hình (hoặc trầm cảm lâm sàng); với việc xuất hiện hai rối loạn mới là Rối loạn Khó Điều Chỉnh Tâm trạng Gây gổ (Disruptive Mood Dysregulation Disorder, DMDD) và Rối loạn Khó ở Tiền Kinh nguyệt (Premenstrual Dysphoric Disorder, PDD). Loạn tính khí (Dysthymia) đã ra đi, thay vào là cái gọi là “rối loạn trầm cảm trường diễn” (persistent depressive disorder). Điều kiện mới bao gồm cả rối loạn trầm cảm lâm sàng mãn tính và rối loạn loạn tính khí trước đây. Theo đó, rối loạn DMDD chẳng hạn, là điều kiện mới giới thiệu ở DSM-5 nhằm nhấn mạnh các triệu chứng vốn được gán nhãn là “rối loạn lưỡng cực thời thơ ấu” (chilhood bipolar disorder); rối loạn mới này có thể được dùng để chẩn đoán trẻ tới 18 tuổi có biểu hiện cáu gắt kéo dài và tần suất các giai đoạn có biểu hiện hành vi cực đoan, mất kiểm soát.

Về các triệu chứng trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn, có 2 ngoại lệ trong chẩn đoán cần lưu ý: tâm trạng trầm uất có thể là tâm trạng cáu gắt, khó chịu (irritable mood) và việc giảm cân có thể là dấu chỉ thất bại cho việc trẻ muốn đạt được cân nặng mong đợi phù hợp với sự phát triển thể lý của chúng. ICD-10 và DSM- 5 phân loại các rối loạn trầm cảm hết sức khác biệt nên cần xem xét cả hai để bản thân người tác nghiệp quen thuộc với những khác biệt ấy.

Tuổi mới lớn có thể biểu hiện một số hoặc hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm, song cũng cho thấy sự khác biệt với trầm cảm ở người trưởng thành. Với tuổi mới lớn, tính tình cáu gắt và trạng thái thu mình về mặt xã hội rất nổi trội, mát hứng thú trong các hoạt động thì ít gặp hơn, nỗi đau đớn thân xác như một chỉ báo cho trầm cảm thì khá thường thấy như các ý nghĩ tự sát (Dowrick et al. 2005, Weller et al. 2006). Tự làm hại bản thân có thể là cách người trẻ cố quản lý các cảm xúc trầm cảm.

Có khác biệt trong dấu hiệu trầm cảm ỏ trẻ trước và sau giai đoạn dậy thì. Trẻ có thể biểu tỏ nhiều phàn nàn thực thể hơn, tính tình cáu kinh, lo âu bị xa cách, khóc lóc, không muốn đi học và đau bụng (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006). Người trẻ trải nghiệm nhiều hơn sự bơ vơ và tuyệt vọng, tội lỗi, mất khoái cảm (thiếu vắng niềm vui thích bất cứ điều gì), ngủ quá mức (hypersomnia) và dùng bia rượu, ma túy để kiểm soát các trạng thái trầm cảm (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006, Wu et al. 2006). Các ảo giác cũng có thể xuất hiện trong trầm cảm nặng (Cepeda 2000).

Giai đoạn mắc trầm cảm điển hình là vấn đề nghiêm trọng với trẻ em và tuổi mới lớn, và nếu tái phát thì có gây nên những ảnh hưởng ghê gớm với sự phát triển của người trẻ; có thể tiếp tục trải nghiệm các giai đoạn trầm cảm suốt tuổi trưởng thành. Trầm cảm liên quan với việc tăng tỷ lệ lạm dụng chất và ảnh hưởng tới các chức năng cá nhân, xã hội, nghề nghiệp và học hành (Fergusson & Woodward 2002). Trầm cảm ở người trẻ thường khởi từ tiền sử mắc rối loạn lo âu hồi nhỏ, hoặc loạn tính khí (Chavira 2004, Weisman et al. 2005). Loạn tính khí như sơ bộ đề cập bên trên, là tâm trạng đặc trưng bởi các cảm xúc trầm uất, mất hứng thú và khoái lạc, kéo dài hơn 2 năm song không đủ tiêu chí chẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình. Các cảm xúc về sự vô giá trị, đồ vứt đi có xuất hiện vào giữa giai đoạn thơ ấu, tội lỗi thì được thấy muộn hơn (Goodman & Scott 2005). Các ý nghĩ và hành vi tự làm hại bản thân thường xảy ra tầm 12- 14 tuổi song có thể phát hiện sớm hơn ở trẻ sống trong môi trường nhìn thấy những người khác tự hành hạ bản thân họ. Ollendick và cs. (2005) cho rằng các triệu chứng trầm cảm là bình thường ở trẻ em bất luận đích thị trầm cảm hay xảy đến ít nhiều mà thôi.

Nguy cơ mắc trầm cảm ở trẻ em nếu được định dạng thì rất có khả năng làm giảm thiểu trầm cảm thông qua việc phòng ngừa. Trách nhiệm của mọi người trong việc nâng cao sức khỏe tâm trí ở trẻ em và tuổi mới lớn, và việc chuyển dịch lĩnh vực của nhà chuyên môn sang công việc của mọi người là điểm then chốt của tiến trình này. Có rất nhiều công việc hàng ngày có thể làm để nâng cao sức khỏe tâm trí. Bố mẹ và trường học có thể đóng vai trò chính trong việc cải thiện chất lượng thực phẩm, dinh dưỡng và chế độ ăn uống lành mạnh. Các chiến lược chống bạo lực học đường và dẫn dắt bởi học sinh chứng tỏ thành tựu đáng khích lệ. Trẻ thể hiện sự sáng tạo và trực giác khi giải quyết vấn đề bên trong môi trường vui chơi và lớp học, vf vậy chúng ta nên xáp vào trí tuệ cảm xúc của chúng và cung cấp các cấu trúc hỗ trợ chúng. Bố mẹ có thể đưa ra các cơ hội khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động sau giờ học ở trường nhằm nâng cao sức khỏe tâm trí. Hansson và cs. (2008) sử dụng khái niệm môi trường chia sẻ và không chia sẻ; làm thế nào để mấy khái niệm này hữu ích trong việc lượng giá trầm cảm đây? Liệu mình có thể định hình các yếu tố môi trường chia sẻ và không chia sẻ làm các yếu tố phục hồi và các yếu tố gây tổn thương?

Rooney và cs. (2006) cho thấy các triệu chứng trầm cảm đã thuyên giảm và tăng lên các kiểu tư duy tích cực một cách trực tiếp sau khi các chương trình can thiệp triển khai; tuy thế, những thuyên giảm này không bền vững theo thời gian. Collins & Dozois (2008) xem lại các chương trình phòng ngừa trầm cảm và phát hiện thấy các yếu tố trong chương trình tạo nên sự khác biệt là việc cải thiện các kỹ năng nhận thức, các cách tiếp cận liên nhân cách, và sự dấn thân hòa nhập của bố mẹ vào các chương trình.

(bài tới sẽ đề cập phần cuối, đi sâu trình bày các biện pháp can thiệp và trị liệu trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn)

“Bạn trai hay khóc mỗi khi cãi nhau”: chịu đựng, chia tay rời xa, hoặc như thế nào mới phải đây?

Quả là ở đời, như các cụ bảo, ‘sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật’.

“Anh ấy hay khóc lúc cãi nhau” tức là người có tính cách hờn dỗi, dễ phẫn uất và đang trong thế yếu. Có lẽ bạn có nhiều điểm lợi thế hơn nên anh ấy chỉ còn biết dùng “vũ khí khóc” vốn có trong tính cách. Khi bạn im lặng tức là không giúp anh ấy giải phóng ức chế, từ đó ức chế gia tăng mà để trong đầu nó không chịu nổi nên “đập đồ”, nếu không đập đồ, họ có thể đánh người đối diện, nhưng do “sợ” không dám đánh người đối diện thì tự đánh mình nhằm thuyết phục người kia. Tính cách này có thể thay đổi khi anh ta “chuyển sang thế mạnh”  khi bạn là vợ anh ta.

Bạn phân tích không có kết quả gì đâu vì tính cách là sự tích lũy từ gene đến quá trình sinh ra đến nay với nhiều sự tác động. Nếu bạn đủ sức thay đổi tính cách anh ta thì bạn cũng đáng bậc thiên tài. Bạn chỉ có thể nương tựa vào tính cách anh ta rồi từ từ can thiệp tế nhị như “dạy em bé”, lúc đó mới hy vọng biến đổi tính cách.

Bạn muốn giúp anh không hành động như vậy thì trước hết phải “sống chung với lũ” rồi qua đó tìm ra dòng chảy của lũ để tránh lũ, đắp đê, đắp bờ… ngăn lũ từng phần thôi, chứ mong “hết lũ” là không tưởng.

Bạn lưu ý khi bình thường chưa bị ức chế mạnh thì người ta dễ ngụy trang tính cách nên khó phát hiện, hoặc lúc bình thường thì người ta thỏa mãn nên không bộc lộ tính gia trưởng.

Chúc sự sáng suốt.

Người ta khóc vì nhiều lý do khác nhau; vả, khóc có thể biểu hiện cảm xúc, phụ thuộc thói quen hoặc/ và lắm khi chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh tác động, chứ nó đâu hoàn toàn chỉ phản ánh thuần tính cách.

Không khó thấy động cơ cô gái viết thư muốn biết tại sao bạn trai mình lại thường biểu hiện thế và những gì có thể làm để người yêu thay đổi.

Cũng chẳng cần thiết cãi nhau mà làm gì, há chẳng phải cả thực tế lẫn lý thuyết đều đang tiếp tục chứng thực vai trò của các chương trình giáo dục và phát triển tính cách đó thôi; để trở thành một người tốt hơn, trẻ con được dạy các giá trị luân lý đạo đức cơ bản và các tiêu chuẩn của hành vi ứng xử.

Cơ chừng sự thật về bản chất con người nằm đâu đó giữa các tán thành hết sức khác biệt của nhà tâm lý học, khoa học gia hành vi, triết gia và các nhà tư tưởng tôn giáo.

Mình có thể tóm tắt nhiều giả định ẩn sâu của các trường phái truyền thống tư duy theo tâm lý học về phương thức người ta trở nên nhiễu loạn và làm thế nào trợ giúp họ lành hiền lại theo cách này: Con người vốn là tốt đẹp và cơ cấu hướng tới lành mạnh. Họ trở nên trục trặc, ốm yếu, bệnh hoạn bởi vì những điều tồi tệ hoặc ‘sang chấn, gây thương đau’ xảy đến… Họ phát triển những nỗi sợ hãi và bất an như kết quả của sang chấn, đau thương trải nghiệm rồi học hỏi đương đầu theo các cách ít nhiều tối ưu nhất có thể. Với thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện và hỗ trợ, nâng đỡ, họ có thể chữa lành các vết thương chỗ đau nhức, vượt qua nỗi niềm sợ hãi, và dần nghiêng tự nhiên lần nữa tới đời sống lành mạnh, thương yêu và từ bi.

Một số trường phái triết học và tôn giáo chấp nhận quan điểm đối lập: Con người cơ bản là tạo vật tội lỗi hoặc ‘sa ngã’, mang nhiều khuyết thiếu rõ ràng. Không có sự dẫn dắt thích hợp từ một quyền năng cao hơn, và cứ để mặc cho anh ta thế, con người sẽ dần tụt dốc, rơi xuống vào các kiểu dạng của suy đồi, khiếm nhã và trụy lạc. Nhu cầu lớn lao nhất của anh ta là được ‘cứu vớt’, đặc biệt tự do khỏi chính bản thân anh ta.

Cũng có tranh luận về nan đề quen thuộc ‘tự nhiên đối lập với nuôi dưỡng’ (nature vs. nurture). Cả thời gian dài, các khoa học gia hành vi khẳng định tất cả chúng ta thảy đều giống nhau ở sự kiện rằng chúng ta bị xử lý, trở thành đối tượng của những tác động môi trường và chuyện ngẫu nhiên rất khác biệt. Song đã có đầy bằng chứng rằng một số khuynh hướng hành vi nào đó chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các yếu tố di truyền và các yếu tố cấu hợp khác.

Và như thế, cơ chừng sự thật về bản chất con người nằm đâu đó giữa các biểu tỏ cực đoan bên trên. Con người hoặc là tính bản thiện hoặc vốn ác độc. Và anh ta hoặc phó mặc cho các genes cùng các chất hóa sinh trong người hoặc chỉ là một robot được đặt định thân phận chỉ có hành xử như môi trường lập trình để anh ta hành động thế. Anh ta cũng không hiển nhiên khuyết thiếu. Và dù được phú cho một nền tảng động vật với một số bản năng nguyên thủy, anh ta có năng lực đáng giá đặng ý thức về chuyện học hỏi và triển nở, điều khả thể giúp anh ta trở thành một cái gì lớn lao hơn thứ chỉ là động vật. Đó thuộc về các tiến trình xã hội hóa (socialization) và phát triển tính cách; và nó là một tiến trình đau đớn, khổ sở, phức tạp và kéo dài suốt đời người ta.

Việc xây dựng tính cách là tiến trình suốt đời chúng ta thấm nhuần dần nguyên tắc kỷ luật bản thân và nảy sinh các năng lực để sống có trách nhiệm với những người khác, để làm việc năng sản, và trên hết, để yêu thương… Liệu yêu thương đích thị là hành vi, hay nó là một cảm xúc, một nghệ thuật, hoặc một trạng thái tâm trí?

Thậm chí, dù cho một người có thể khởi sự cuộc đời mình như một tù nhân của những gì tự nhiên cho sẵn và lớn lên từ những hoàn cảnh nọ kia, anh ta không thể mãi mãi duy trì là ‘nạn nhân’ của môi trường sống. Rốt cuộc gì gì, mỗi người đều buộc phải tiến tới sát hợp với con người của chính anh ta/ chị ta. Để hiểu biết bản thân, để đánh giá đúng đắn và công bằng các điểm mạnh yếu, ưu khuyết, để đạt được sự khôn ngoan đích thực vượt qua các bản năng và dốc nghiêng cơ bản chắc chắn là những thách thức ghê gớm nhất trong đời. Mà không thể khác được, việc bất kỳ ai vươn tới một đời sống liêm chính, tích hợp và xứng đáng chỉ có thể là kết quả của một sự tự bừng dậy, đánh thức toàn diện, đủ đầy. Một con người rồi ra phải hiểu biết bản thân cũng như hiểu biết người khác mà không lừa lọc, dối trá hoặc chối bỏ, phủ nhận. Anh ta phải chân thành đương đầu và ước định tất cả các khía cạnh của tính cách chính mình. Chỉ khi đó rồi anh ta mới cảm thấy thoải mái gánh lấy trách nhiệm nặng nề tự lực rèn luyện vì bản thân và vì người khác. Cái đó gọi là tình yêu khi tự do lựa chọn chịu đựng gánh nặng hoặc ‘thập tự giá’ này. Và đó là ước ao cùng cam kết của một người để mang vác ‘thập tự giá’ ấy cho đến chết ngõ hầu mở ra các cánh cửa dẫn đến một nơi chốn tồn tại cao cả hoặc tái sinh dưới hình tướng sáng lạng hơn nhiều.

… Giờ với quan điểm chúng ta đang sống đời thường trong một thế giới rất liên quan và tương thuộc nhau, thử quay lại bàn thêm về vụ “bạn trai hay khóc mỗi khi cãi nhau”.

Bạn trai của cô gái  có vẻ thể hiện nhiều đặc tính thuộc nhân cách hơn là biểu hiện sự vụ tâm thần; các vấn đề xung hấn, uy quyền và độ ổn định xã hội như thế thường dễ liên quan với các rối loạn nhân cách (personality disorders). Cơ chừng cô gái đang hẹn hò với một người thuộc dạng thấy mình kém cỏi, thích kiểm soát và lạm dụng cảm xúc.

Từ cái nhìn thực tiễn, cho dù vị thế đích thực của cậu chàng như nào thì tình hình đang tiếp tục gây hại cho cô gái. Các cá nhân mắc rối loạn nhân cách như thế luôn định hướng xoay quanh bản thân mình. Họ thao tác các mối quan tâm theo chương trình riêng. Như cô gái có lưu ý, anh ta không lưu tâm chuyện cô gái đang khó chịu, tự gây hại chính mình, hoặc ngay cả nhen nhóm dự tính chia tay, chần chừ kết hôn vì mỏi mệt, lo sợ cho tương lai bị bạo hành. Anh chàng bộ đội hoàn toàn thừa khả năng làm cô người yêu kiệt sức về mặt cảm xúc thông qua chuyện cậu ta khóc lóc, mè nheo, thể hiện tội lỗi, và vâng, thậm chí hàm ý đe dọa. Khi cô gái bị tràn lấp bởi những thao túng, điều khiển của cậu ta và quay trở lại chịu đựng tiếp tục (“Bình thường thì anh tỏ ra rất tình cảm và yêu thương mình”) thì anh lính lại quay về thói cũ, lề xưa.

Theo mô tả, thái độ kiểm soát của anh lính là điều cần được nhấn mạnh trong mối quan hệ này, và nghe như thể chàng tin vào một tiêu chuẩn kép (kiểu mình được phép còn nàng thì bị hạn chế); mẫu hình như thế là không lành mạnh và dễ trở nên tồi tệ hơn cùng thời gian, nhất là sau khi đã thành chồng vợ của nhau. Hành vi kiểm soát của chàng có thể tăng lên thêm nữa khi nàng tìm ra các biện pháp ứng phó hữu hiệu. Với tuổi trẻ đang là, cô gái cần khám phá sự độc lập mà không để bị bó buộc không chính đáng. Nếu cô gái dần thấu hiểu đúng đắn mọi sự, anh lính kia dễ thấy quá chừng bất an và thiếu chín chắn trưởng thành cho kiểu dạng quan hệ mà cô gái mong đợi trong đời.

Thật tiếc khi nghe thấy cô gái cảm thấy lo lắng và bị xáo trộn với những xúc cảm cùng hành vi như thế, dễ khiến cô gái khó kiểm soát nổi tình hình. Nhất là khi cô nhiều xúc cảm đổ tràn ra, mức độ stress tăng lên bởi vì cô đang cảm thấy giận dữ với chính bản thân, để rồi đổ dầu thêm vào ngọn lửa bất mãn trong quan hệ.

Hãy để cô gái vào vai rằng mình bắt đầu khóc lóc và cảm thấy khó kiểm soát, tôi tự hỏi những gì cô ấy lưu ý nơi mình trước khi cô ấy khóc; có lẽ ấy là cảm giác mạch đập dồn dập, các cơ căng ra, hơi thở thay đổi… Nếu lưu ý những biến chuyển này trước khi rơi lệ cho cô cơ hội thay đổi chiều hướng trò chuyện với người yêu, nói bằng phong thái nhẹ nhàng và xác quyết, hoặc muốn tạm rút lui thật nhũn nhặn khỏi buổi trao đổi cho đến khi bản thân cảm thấy bình tĩnh, thoải mái hơn. Cô gái cũng có thể cân nhắc để xem xem chức năng khóc như một sự “lưu hành bôi trơn” cho quan hệ của họ, bất kể cô có xu hướng đổ lệ nhiều hơn trong các tương tác căng thẳng với ai đó khác (ví dụ, thủ trưởng, bố mẹ, người thân thiết…) so với số còn lại (ví dụ, bạn bè bình thường, đồng đội, người lạ tình cờ gặp gỡ). Cơ chừng việc khóc của cô gái nhằm hướng tới việc khuếch tán sự giận dữ của họ và kết thúc sự xung đột; nó được việc kết thúc thảo luận, trao đổi trong chốc lát song không giải quyết nổi vấn đề ẩn sâu bên dưới đang gây phiền muộn cho người khác (nghĩa là nó sẽ trở đi trở lại thêm mãi).

Kiểu dạng người cảm thấy mình thất bại, thua cuộc và kém cỏi tạo ra nhiều thiệt hại về mặt xã hội, cảm xúc và tâm lý trong một mối quan hệ. Người ấy thường trực các tính cách làm nên sự thiệt hại này. Có những nét tính cách họ chấp nhận đơn giản như nó thể hiện vậy mà không hề nghĩ trở thành một vấn đề hoặc trục trặc về mặt tâm lý. Ở góc độ nào đó, họ luôn sống với nét tính cách và hành vi này, thường thì là điều gì đó họ học hỏi được từ người thân trong gia đình. Các nhà tâm lý hay trị liệu nạn nhân của kiểu dạng người vừa nói trên (cả phụ nữ lẫn đàn ông) là các thân chủ tìm tới với trạng thái trầm uất khủng khiếp liên quan với trạng thái tin tưởng vào giá trị bản thân và lòng tự tôn đã bị phá hủy hoàn toàn.

Trong khi cô gái mang chứa ít nhiều mẫu hình quan hệ dựa theo ký ức cảm xúc, chàng trai lại đang thể hiện các dấu hiệu của trạng thái kiểm soát và sở hữu của một người loay hoay học cách chấp nhận mình. Liệu cô ấy cần phải sớm có quyết định dứt khoát và tách biệt, thoát ra khỏi vị hôn phu trước khi bị mắc bẫy trong một mối quan hệ mà bản thân cảm thấy “mệt mỏi”? Chí ít, cô gái cần giữ trong tâm trí ý nghĩ rằng chàng ta không hề quan tâm nếu cô không muốn nó, chỉ những gì anh ta quan tâm mới thành vấn đề? Chúc cô gái may mắn trên cuộc phiêu lưu tình ái rồi tiến tới dự tính kết hôn này.

Phải làm sao khi trầm cảm đang âm thầm trở lại ?

Nữ 25 tuổi. Khi còn bé là một cô gái sống nội tâm và trầm lặng. Không có nhiều bạn bè, và suốt thời mới lớn tuyền bị bắt nạt.

Cô ấy cảm thấy bị mắc kẹt, không biết phải làm sao. Nhỏ đi học thì đạt toàn điểm chín, mười song trầm cảm đã thay đổi tất cả; sức học chợt giảm sút, tầm 12 tuổi bắt đầu tự hành hạ bản thân rồi trải nghiệm cơn đau nửa đầu khá thường xuyên; 16 tuổi, nảy sinh dự tính tự sát. Tự nhờ vả người quen đưa đi khám và uống thuốc chống trầm cảm Prozac.

Tuy thế, cô gái không ngừng chuyện tự gây hại hoàn toàn; bẵng vài năm nay lại thi thoảng quay về từ dăm tháng gần đây trước khi chấm dứt hẳn. Cô không chắc vụ này có liên quan với các mối quan hệ riêng tư. Chuyện yêu đương thì khá đau đớn, từng trải qua một mối quan hệ bị chửi bới, chì chiết, nhục mạ nặng nề bằng câu chữ khoảng gần hai năm rưỡi. Hiện vòng tròn bạn bè mở rộng, tăng lên song vẫn thấy khó kết nối hoặc bày tỏ cảm xúc bản thân chân tình được. Ngại nói về gia đình vì ở nhà bị bố đổ tội cho nhiều thứ, so sánh với các cậu bạn khác ở trường; ông bố cũng chẳng nhận ra cô ấy bị trầm cảm mà cứ ngỡ con mình ám ảnh điều gì đó mang tính mê tín, siêu nhiên nọ kia vớ vẩn.

Cô gái nhận ra mình có nhiều thay đổi trong hành vi. Dễ cáu gắt, lúc nào cũng thấy mỏi mệt, thường trằn trọc cả đêm, ăn uống ngon dở thất thường, hay khóc lóc, và thường thích giấu mình trong phòng hơn là đi ra ngoài chơi. Các cơn đau nửa đầu xuất hiện mạnh hơn, chẳng có hoạt động gì khiến cô ấy thấy phấn khích để dấn thân vào, bài vở thì chểnh mảng… Mọi thứ nghe chừng quá quen thuộc, giông giống thuở nào, nhắc nhở cô rằng đã mười năm trôi qua. Tuy không còn ước muốn tự sát nữa song cô gái lại cố sức chống chọi với ý nghĩ đọa đầy bản thân. Cô gái gửi thư chia sẻ, không muốn lộ diện hay đưa mình đến thăm khám bất kỳ đâu vì ngại nỗi lo lắng sẽ thành sự thật; cùng lúc, cô lại cảm thấy không chịu đựng nổi lối sống như thế này thêm nữa. Cô tự hỏi thế nào mới là hạnh phúc, dù thổ lộ rằng càng ngày có vẻ hạnh phúc càng là điều gì quá chừng xa vời, nằm ngoài tầm tay với. Cô đánh mất niềm tin vào con người, cũng chẳng tìm ra nổi động cơ để kết thúc năm cuối đại học.

… Dễ nhận ra là cô gái cho dù kháng cự song trầm cảm đã quay trở lại, thứ hội chứng khá dễ nảy sinh nhiều cơn tái phát bất ngờ. Các triệu chứng, dấu hiệu cô kể minh họa điều ấy. Những đám mây tâm trạng sầu buồn, xám xịt và trầm uất khiến suy nghĩ trở nên nặng nề, khó đưa ra quyết định và lựa chọn tốt lành cũng như nhìn đâu cũng tuyền thấy tiêu cực, u ám.

Do cô không cho biết trước đây từng trị liệu có bao gồm cả tâm lý hay chỉ dùng mỗi thuốc uống mà thôi, nên tôi động viên cô thử tìm kiếm sự trợ giúp từ bộ phận tham vấn học đường hoặc ai đó làm tâm lý trị liệu ở trường đại học; tính cả việc tìm đến một bác sĩ tâm thần khác để lượng giá hàm lượng Prozac hoặc chọn lựa sử dụng loại khác với liều dùng phù hợp… Nếu chuyện kết thúc khóa học là khó khăn thì cô có thể xuống phòng y tế của trường để xin giấy khám sức khỏe, nhập viện để đảm bảo được nghỉ học một thời gian hợp pháp, cho tới lúc cô cảm thấy tiến bộ, cải thiện tâm trạng chung nhờ tham vấn tâm lý bên cạnh việc uống thuốc chống trầm cảm; giữ liên lạc với bạn bè để thi thoảng có thể tham gia tụ bạ vui vẻ…

Như một người trưởng thành, tôi tin cô gái có quyền để chọn lựa cách trị liệu mà không nhất thiết hỏi ý kiến của gia đình hoặc chia sẻ thông tin với ông bố. Cơ chừng ông bố không phải là nguồn trợ giúp cảm xúc ổn thỏa thời điểm này. Thực tế, nhiều nền văn hóa, tôn giáo, hoặc thế hệ hay yếu tố khó bao quát hết có những quan niệm thiết lập niềm tin không đích thị chính xác về trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác. Quả là bất lợi khi ông bố không đủ hiểu biết và trợ giúp điều trị trầm cảm hữu hiệu cho cô con gái.

Bởi vì cô gái từng có tiền sử tự hành hạ bản thân và nảy sinh dự tính tự sát, thật đáng quan tâm trước các suy tư muốn tự làm hại bản thân. Vì cô gái đã từng chịu đựng trầm cảm hồi còn trẻ nhỏ, các trải nghiệm này là tạm thời, nên chi cô gái sẽ dễ tìm thấy sự nguôi ngoai và khuây khỏa buồn phiền nếu được trị liệu thích đáng.

Cầu mong mọi điều yên an, thư thái và như ý ít nhiều.