Nhích lần lữa làm sao cho vừa người thích hoàn hảo

Làm gì khi mình thích hoàn hảo và đang rơi vào thói quen xấu của sự lần lữa?

Tự nhận mình thuộc dạng người tôn thờ trạng thái hoàn hảo kỳ cục, vì thực sự mình có nhiều thói xấu như ăn nhiều ghê gớm và hay lột da khơi khơi, rồi bỏ bê chăm sóc bản thân do thiếu ngủ, ít tập thể dục/ tắm táp và cũng không dùng thuốc bổ (khiến tóc xam xám sớm). Cách người này xử lý: thi thoảng thức khuya để lên danh sách việc cần làm nhằm thay đổi bản thân, quan sát cách điều chỉnh vấn đề, và đưa ra hàng triệu lời hứa chẳng giữ được. Hôm sau rối tung phờ phạc thì từ bỏ dự tính ngay và quay về các thói quen xấu.  Có nhiều kiểu suy nghĩ ám ảnh song lại không theo đuổi tới cùng, rốt cục cảm thấy chính mình tồi tệ: một số suy nghĩ ấy đã nảy sinh hồi mới học lớp 8 hoặc sớm hơn. Giờ đang là sinh viên đại học năm thứ hai và thấy chán ốm bản thân; mất tự tin và ngại quan hệ với bạn bè…

Thực tế, trong nỗ lực làm người hoàn hảo thì lần lữa, trì hoãn là công cụ chúng ta dùng để ngăn ngừa nỗi lo lắng cứ chực ăn tươi nuốt sống mình ngay và luôn. Ham muốn thành người hoàn hảo có thể tăng thêm stress và lo âu vào bất kỳ việc bản thân đang muốn áp dụng. Tính hoàn hảo đẩy ta làm nhiều việc dễ tạo cảm giác ngập lụt, to lớn vô cùng và tiêu tốn thời gian khủng khiếp. Thực hiện điều hoàn hảo đặt buộc ta bổ sung nỗ lực ngoài sức tưởng tượng nhằm đảm bảo nó ngon lành cành đào và không mắc sai sót nào; làm đi thử lại cho đến ổn thỏa mới thôi. Chưa nói, các tiêu chuẩn đặt ra cho bản thân phù hợp với trạng thái hoàn hảo khiến các mục tiêu khó bề chạm thấu. Càng cứng nhắc về mức độ hoàn hảo, càng không chấp nhận do chẳng đạt được các tiêu chuẩn cao đến thế. Và câu chuyện dần chuyển sang phần tồi tệ: lo lắng và sợ hãi thất bại tạo cho người mang tính hoàn hảo đôi lúc thấy khá bị hăm dọa. Chính khi đó, sự lần lữa bước vào. Là cách tránh né và phòng thủ kín đáo, lần lữa minh họa cho việc chúng ta gỡ bỏ xuống gánh nặng, khỏi đương đầu với kỳ vọng cùng tiêu chuẩn cao vời, khiến mình không phải đối diện rồi cần thiết giải quyết chi hết.

Hầu hết người thích hoàn hảo cũng có thói tật mê chỉ trích bản thân. Nên khi chẳng đáp ứng với các mục tiêu và tiêu chuẩn đến thế, họ thường đổ tội cho bản thân, căm ghét chính mình, và sợ kẻ khác thất vọng. Nghĩ về sự trì hoãn như tấm chắn che đậy khuất mắt mọi sự sa lầy về mặt cảm xúc này. Tuy nhiên, trừ khi mình có kỹ năng hiếm hoi để đợi tới phút cuối trông thấy rõ ràng mọi việc hoàn thành tốt nên rốt cục lần lữa thành thứ đáng nguyền rủa, đồ của nợ tởm ghét. Mọi gắng sức né thoát các cảm xúc thông qua sự lần lữa chỉ tổ làm họ bắt gặp lại chúng về sau khi họ không thỏa mãn hoặc quá hạn cuối cùng đặt ra. Mục tiêu của sự lần lữa là né tránh các cảm xúc mà rốt cục lại gặp đúng các cảm xúc muốn tránh né ấy.

Cách xử lý tốt hơn các cảm xúc này là hiểu thấu mục tiêu mình muốn gì khi nảy sinh ra trò lần lữa: điều khiển nỗi lo niềm sợ. Khởi sự biết rằng lần lữa không phải là cách tốt nhất đặng kiểm soát lo lắng. Bắt đầu hiểu rõ nó rồi đây sẽ chỉ mang mình chộ mặt lần nữa các cảm xúc bản thân từng cố hết sức tránh mà thôi. Một khi tin rằng lần lữa cóc được việc như mình thiết tưởng, ta có thể cởi mở kiếm tìm cách khác xử lý nỗi niềm âu lo. Ăn, ngủ, chơi đùa. Bẻ nhỏ một nhiệm vụ lớn thành các mẩu nhỏ hơn. Nghỉ ngơi, vâng, nghỉ ngơi. Đúng thế, đề nghị mình dừng những gì đang tiến hành và chầm chậm lại… Đây là sự trì hoãn tốt lành. Cho phép mình dành thời gian hồi phục sức khỏe và tránh kiệt quệ do cố thúc đẩy bản thân dấn bước.

Tiếp theo, bắt đầu khám phá các động cơ ẩn giấu bên dưới tính hoàn hảo; thói tật cầu toàn cứ dần trở nên gây hại vì mình sợ tạo ra sai lầm, sợ thất bại, gắng buộc sống theo kỳ vọng của những kẻ khác, hoặc do tự dằn vặt bản thân kéo dài quá lâu. Dĩ nhiên, cũng cần biết rằng cầu toàn không phải là cách hữu hiệu gì để xử lý các trục trặc dây dưa vừa nêu. Thách thức thói lần lữa sẽ đi kèm với việc kiểm tra xem xem các tiêu chuẩn đề ra có đạt được không và nhìn nhận chúng đúng là không thể chạm tới thật. Chúng ta cũng cần cảm thấy dần thoải mái bộc lộ các điểm yếu kém, học cách đón chào vui vẻ những lỗi lầm lộ diện, và thay đổi lối suy nghĩ đen trắng rạch ròi quá mức vốn hay cặp đôi với tính cầu toàn và thói tật thích hoàn hảo.

Thấy gì qua huyền thoại ‘nhà tâm lý có thể đọc vị tâm trí kẻ khác’?

Chưa cần tốt nghiệp rồi vừa không ngừng bổ túc kiến thức lẫn kỹ năng vừa mò mẫm hành nghề, chỉ mới gặp mặt hoặc nghe nói mình học Tâm lý thôi là có vẻ dễ khiến thiên hạ hay bạn bè quen biết nghĩ ta thừa sức xem tướng, coi bói, rành chuyện này chuyện nọ hay giỏi đến mức đọc vị được tâm trí họ.

Các bình phẩm suýt xoa thường kiểu ‘Nè, nói chuyện cẩn thận nghe, vì nhà tâm lý học ở đây có thể đoán biết những gì bọn mình suy nghĩ đó’. Khởi sự ấy có thể là tấm lòng thán phục chân thành hoặc lời đùa tếu vô tư; rằng nhiều người nghĩ làm một nhà tâm lý học thì sở hữu quyền năng ghê gớm: dễ dàng khám phá những gì kẻ khác che giấu. Tin tắp lự (đáng ngờ vực vô cùng) là người này có khả năng mở cái đầu ta và nhìn thấy những gì nằm trong đó.

Điều ấy không chỉ là niềm tin sai lầm duy nhất từng nghe về công việc tâm lý học. Còn nhiều nhiều vô kể. Chúng gây phấn khích đến độ đủ khiến ta một ngày muốn nhặt nhạnh rồi đặt cái tên: những trò mèo tâm lý; dù lắm lúc dùng giải lao, buồn cười vui vẻ phết song đôi khi trở thành vấn đề quan ngại thực sự.

Chẳng hạn, nghĩ tới cách một thân chủ cảm nhận khi anh ta tiếp cận tham vấn tâm lý và nghĩ về nhà trị liệu như thể vị này đã biết tuốt các suy tư của mình đến độ không cần thiết dành nhiều thời gian kể lể, mô tả cảm xúc bản thân: ‘Quái lạ, nhà tâm lý này cứ hỏi đi rồi hỏi lại mãi. Tại sao? Chẳng phải ông này biết mọi thứ chỉ đơn giản nhìn vào mình thôi mà? Có lẽ tay nghề ông này không giỏi lắm, hoặc có thể đây chưa là dạng trị liệu xịn, hoặc tự thân cái môn tâm lý học e có vấn đề chăng! Đúng thế, tâm lý học đích thực đồ đểu giả; chỉ tổ làm tốn thời gian và tiền bạc!’

Nghiêm túc mà nói, rất quan trọng việc cần có ý tưởng thực tế những gì người ta có thể và không thể mong đợi khi làm việc với một nhà tâm lý, và đôi khi có thể bảo vệ họ khỏi cảm giác bị lừa dối. Vì vậy, phải nói to lên và rõ ràng (nếu ai đó cảm thấy quá thẳng thừng thì mong được cảm thông) rằng nếu nghĩ một nhà tâm lý biết mỗi một suy nghĩ của mình chỉ nhờ quan sát thì ta đã sai.

Làm thế nào những trò mèo tâm lý này lại có thể khởi lên rồi lớn nhanh dễ dàng đến thế? Chúng không thể sinh ra từ sự rỗng không. Hãy thử gắng tưởng tượng xem chúng từ đâu tới. Khi trò mèo về ‘nhà tâm lý thấu thị’, khả năng cao giữ vai trò lý giải ở đây là khái niệm “vô thức” (unconscious). Nhờ Freud nghiên cứu, hầu hết người làm tâm lý biết ý nghĩa của từ đó; bất chấp vài khác biệt giữa các trường phái phân tâm học, tất cả đều tán đồng rằng nó là điều trong tâm trí mà chúng ta không nhận ra được. Freud làm việc dựa trên khái niệm này; ông nghĩ một bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm lý nhờ dần nhận biết nền tảng vô thức trong các cảm xúc của bản thân. Vậy nên ông đặt để điều ấy như là mục tiêu trị liệu và gắng giúp các bệnh nhân của mình nhìn thấy những gì nằm bên dưới bề mặt đời sống ý thức. Đấy là điều nhà phân tâm học vẫn còn làm việc cho tới ngày nay.

Chẳng nghi ngờ chuyện một người không làm tâm lý phát hiện bao điều huyền bí ở đây. Được giúp đỡ để nhìn ra điều nằm sẵn trong tâm trí mình dù nó vốn chẳng hề rành mạch gì thì nghe ra như sự bói toán vậy. Và người ta dễ nghĩ những ai có thể giải mã cảm xúc của họ giỏi đến thế khác chi thầy phù thủy có phép lạ. Kỳ thực, không bí hiểm gì cho cam; nó đơn giản là vấn đề của kỹ năng.

Các kiểu dạng công việc thảy đều cần những kỹ năng chuyên biệt. Một thợ may áo quần giỏi việc ướm đo, chọn vải, cắt và ráp vá.  Anh ta sẽ cho điều ấy là tự nhiên và không hề nghĩ rằng việc may vá là chuyện gì to tát lắm, dù với không ít cánh đàn ông ấy thật bất khả vì họ không hề có kỹ năng.

Nhà tâm lý cũng cần các kỹ năng chuyên biệt. Công việc là trợ giúp và để trợ giúp, nhà tâm lý phải giỏi giang trong việc lắng nghe và thấu hiểu mọi người tốt hơn… thường dân. Do vậy sự thật kém lãng mạn hẳn đi: các nhà tâm lý học đơn giản tập trung chú ý vào những gì nghe được và nhìn thấy, và biết các lý thuyết có thể lý giải mọi chuyện liên quan. Lý thuyết và trải nghiệm giúp nhà tâm lý học lưu ý tới các chi tiết nhỏ nhặt mà hầu hết mọi người không hay nhìn ra và thậm chí còn thấy chúng thú vị, và nhà tâm lý giúp người ta nghĩ về những ý nghĩa bị giấu kín.

Song khoan, đợi chút nhé: nếu dừng tại đây, người ta chắc đúng khi tin rằng một người được đào tạo bài bản có thể đọc vị tâm trí họ. Người ta dễ phát biểu dạng: “Ồ, chỉ là do học hành chăm chỉ và nghiên cứu thấu đáo thôi ư? Nên kẻ không nhiều trải nghiệm thật khó, còn chuyên gia được đào tạo ngọn ngành thông tỏ có thể thực sự đọc được suy tư của mình chứ nhỉ.’

Anh ta không thể đâu. Điều giảng dạy cốt lõi trong đào tạo tâm lý là không có nhà tâm lý được đào tạo hoàn hảo nhất cũng như lý thuyết tốt nhất trên thế giới thì không thể chứng thực sai sót. Sự thật, kết quả tốt nhất một nhà tâm lý giỏi có thể thành tựu là chọn lựa nhiều đầu mối rồi tìm ra một cách lý giải cung cấp vài ý nghĩa liên quan nhất.  Song sẽ luôn luôn có điều gì đó không khít khớp, phù hợp.

Con người ta vốn phức tạp, phức tạp hơn lý thuyết nhiều, và mình phải luôn sẵn sàng thay đổi các giả thuyết của bản thân. Thử làm một bước tiến xa hơn: mình không thể đưa ra bất kỳ diễn giải nào có sẵn vì chẳng những con người phức tạp mà họ còn luôn tiến hóa, thay đổi rồi phát triển theo nhiều cách thức mới mẻ nữa. Ví von khi nghĩ về điều này là đừng ‘phải lòng’ bất kỳ chẩn đoán nào, ngay các chẩn đoán sát hợp và làm ta say mê ghê gớm. Một nhà tâm lý giỏi nhất thiết phải luôn giữ một không gian tự do trong lòng để anh ta có thể khai sinh các giả thuyết mới.

Lý do khác để mọi người có những niềm tin sai lầm về nhà tâm lý: các nguồn không luôn luôn đáng tin cậy. Nghĩ về cách các nhà tâm lý được mô tả trên phim ảnh và truyền hình nhiều tập thì tất rõ. Các nhà tâm lý là sự nhào trộn từ sự kiện và hư cấu; ngay cả khi lấy cảm hứng bởi công việc của một nhà tâm lý thực thì nhiều điều trong đó vẫn thừa yếu tố bịa đặt, dựng chuyện. Và mình thường quên mất một bộ phim là một bộ phim, và một bộ phim có thể không bao giờ mô tả thực tế đúng như nó là, chưa nói nhiều lúc gây phản cảm và buồn chán…

Hy vọng những câu từ trên thuyết phục ai còn mơ hồ, hoài nghi  và mong sẽ ngày càng ít đi người sẽ cảm thấy bị lột trần trước một nhà tâm lý.

Lời cuối. Chỉ nghĩ thôi sẽ buồn cười ngay chuyện có thể đoán biết trúng phóc tất cả các câu trả lời trong chương trình truyền hình Ai Là Triệu Phú nhỉ mà không phải đầu tư học hỏi, tích lũy kiến thức lẫn cóc cần ai trợ giúp téo tẹo gì cả.

Chỉ là các khung hình…

Tôi đang ngồi trong rạp chiếu bóng. Nhưng tôi không biết.

Tôi lạc vào các câu chuyện diễn ra trước mắt, xoay quanh đôi tai.

Tôi vùi mình, hoàn toàn chìm sâu vào trong câu chuyện phim. Tôi không biết mình đang nơi nao, tôi tin mình hiện ở… trên màn hình, một phần của bộ phim, thuộc về bộ phim. Đây là tôi, ngay đó thôi, trong phim. Tôi chẳng thể nhìn ra thêm gì khác, không nghe thấy gì khác cả.

Vài nhân vật trong chuyện nói với tôi. Anh ta bảo, nhớ điều này nhé: những gì cậu thấy chẳng phải là cậu đâu. Nhớ đấy! Tập trung định lực và nhìn thật kỹ càng vào! Cậu cũng sẽ nhận ra điều đó. Đừng quên, nhớ nhìn.

Nhân vật này kỳ lạ, giọng anh ta nghe thôi miên như câu chuyện phim, không bao giờ kết thúc phim, lệ ứa theo diễn tiến câu chuyện. Tôi hóng anh ta. Anh ta có vẻ sống ngoài thế giới này. Liệu tôi có nên thử?

Sự mê hoặc làm tôi muốn xem xem anh ta có lý… Tôi đích thị đang ở đâu đây?

Vì vậy, tôi nhớ để nhớ.

“Hình ảnh câu chuyện này không phải là tôi. Không liên quan. Không thuộc về tôi.”

“Âm thanh câu chuyện này không phải là tôi. Không liên quan. Không thuộc về tôi.”

………………

“Ý tứ câu chuyện này không phải là tôi. Không liên quan. Không thuộc về tôi.”

“Âm thanh này là vô thường. Âm thanh kia là vô thường. Màu phim đó, hình ảnh phim đó, tiếng động phim này”.

Ồ, quá chừng lạ lẫm.

Điều gì đó kỳ kỳ bắt đầu xuất hiện.

Vẻ quyến rũ- sự mê hoặc hấp dẫn và quyến rũ khi vào phim giờ nhòe mờ dần đi. Tại sao nhỉ?

Wow, tôi không cho phép bản thân mình theo sau câu chuyện thêm như trước đây nữa. Quá đủ rồi, song tại sao mọi thứ chợt khác biệt thế?

Tôi lại quên mất cần phải nhớ rồi. Tôi thử cố nhớ nhiều hơn. Nhớ nhắm vào trải nghiệm của bản thân về bộ phim thay vì theo kịch bản. Thay vì đua xe, lái máy bay, người vợ thổn thức, đứa con trai khiếp đảm, người bạn đang dần chết đi…

Giờ tôi nhìn thấy, nhìn thấy… một bức ảnh, ồ không, đây là một bức ảnh. Một cái khung hình!

“Đây không phải là tôi. Đây không phải bản thân. Điều này không còn thuộc về tôi nữa”.

Và tôi bắt đầu nhìn thấy khung hình của bộ phim này. Có ánh sáng và các bóng râm. Và các màu sắc và tiếng vọng lại.

Tôi đang ngồi! Trên một chiếc ghế! Thật phi thường làm sao!

Đêm tối vây quanh tôi, và một màn ảnh phía trước.

Giờ đây, nhận ra nhiều thứ trong thực tế, tôi cảm thấy khoảng cách lạ lùng đối với các bức tranh và âm thanh trong câu chuyện. Mình vẫn đang nhìn mọi thứ, nghe hết thảy…. song khoảng cách này là sao nhỉ? Có phải vì tôi biết tốt hơn những gì đang đích thị diễn tiến? Tôi cảm thấy khinh an nhẹ nhàng hẳn, phóng thích áp lực về bản chất nghiêm túc của bộ phim, không còn nhiều hạn độ như trước đây với cảm xúc đánh thức tác động tới câu chuyện phủ lên mình.

Làm sao tôi nhận ra mình quả đúng là đang trong một bộ phim?

Vâng, đã có nhân vật trong câu chuyện bảo tôi đừng chú mục vào câu chuyện (kể cả anh ta, thiệt lạ lùng) mà để ý vào trải nghiệm về bộ phim. Anh ta nói tôi không ngừng ghi nhớ và tập trung định lực vào tự thân trải nghiệm, chứ không phải nội dung của nó.

Chỉ có thế thôi. Song khó khăn ghê.

Giờ tôi đang ở đây, song tôi không hiện diện.

Tôi tiết chế song cũng thoải mái.

Một ngày nào đó, liệu tôi vượt thoát khỏi sự thống trị của bộ phim này đến độ chỉ việc đứng lên rồi bỏ đi thôi? Không buộc phải xem thêm bản phim khác, do thành phần tất cả các bản thảy đều giống nhau. Kỳ cùng, dường như tôi không thể ngăn dừng tiến trình tỉnh thức nổi. Ngày càng nhiều các mảnh của câu đố dần lộ diện…

Cô ấy yêu người có những ý nghĩ phản xã hội

Trước hết, hãy thử mở đầu bằng việc nghe lời thoại từ nhân vật The Joker trong bộ phim Kỵ sĩ Bóng Đêm (The Dark Knight, 2008):

Mày biết tại sao tao dùng dao không? Dùng súng thì nhanh quá. Mày không kịp nhấm nháp các nỗi niềm nhỏ nhặt được. Mày hiểu chứ, trong những khoảnh khắc cuối cùng, bọn chúng sẽ cho mày thấy đích thị chúng là người ra sao. Nên theo cách nào đó, tao thấu biết đám bạn mày hơn mày rất nhiều. Mày muốn biết những đứa nào trong số đó là thằng hèn hay không?

Có thời điểm nào đó ở đời, mình dễ cảm thấy thân thiện thực sự với nhiều người và lưu giữ tất cả nét tính cách của họ trong tâm trí theo cách thức được cấu trúc và tổ chức đủ để rồi ra áp dụng phân tích mỗi một thứ về mấy người ấy. Mình đo lường các mối quan hệ xã hội dựa trên giá trị mình có thể nhận lấy, và các nguồn lực mình phải trao đưa đặng quyết định xem liệu mình nên đáng dành thời gian cùng công sức cho các mối quan hệ ấy. Mình đối xử với người như các thứ đồ và công cụ bỏ đi vì mục đích che chắn an toàn cho các ước muốn lẫn mục tiêu, thông qua những lời nói dối toàn bộ và thủ đoạn hoàn hảo.

Sự quyến rũ giả tạo

Trước khi khởi động trò chuyện với một người, mình đã quyết định chính xác hơn nửa cổ mẫu nhân cách của vị này. Từ việc phối màu trong phục sức cho tới các phụ kiện trang trí đi kèm thì tất thảy đã đóng vai trò cực quan trọng để phân tích rồi.

Bởi vì hầu hết mọi người chẳng hiểu giá trị của mình nếu không đặt để ấn tượng cho họ biết mình là ai thông qua cách ta ăn mặc. Vậy nên, tủ quần áo có thể kiểm soát việc gây ấn tượng với vô vàn cơ hội xảy đến… Đó là cách quyến rũ giả tạo vì suy tư khởi đi từ ý tưởng rằng một tương tác bắt đầu bởi vấn đề bắt mắt lọt tai.

Ngôn ngữ cơ thể

Lưng thẳng, vai mở rộng thoải mái và bàn tay xuôi theo thân mình e hẳn là dấu chỉ mạnh mẽ về một người điềm tĩnh; trạng thái này phản ánh mức độ cortisol thấp và cảm giác thoải mái với xung quanh mà đến lượt nó, minh họa khả năng chiến lược hóa bất chấp áp lực khủng khiếp do các nguồn lực ngoại giới. Hơn thế, ngôn ngữ cơ thể quyền lực mang tính báo hiệu thông thường rằng quyền lực sinh ra từ dòng dõi của con người riêng có này.

Trong các loài giả nhân, con đực alpha sẽ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn các con đực khác trong nhóm. Mỗi lần một con đực alpha mới hiện diện, con đực alpha mới từng là beta của nhóm giờ biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể khác hẳn so với phong thái trước đây. Điều này hàm ý, bất kỳ ai đều có thể biểu tỏ ngôn ngữ cơ thể dễ dàng và nhanh chóng nhờ thay đổi đơn giản suy tư cũng như tư thế cơ thể ngay lập tức.

Thói cầu kỳ và quy ước mặc nhận

Khi chúng ta bắt tay, mình tiếp xúc mắt thẳng thắn để xem những người khác có muốn khởi sự quan hệ. Nếu anh ta đủ năng lực duy trì tiếp xúc mà không chớp mắt thì dễ mô tả là người quá tự tin vì anh ta buộc phải đánh giá để chống kháng với cơ xương và giọng rất mạnh mẽ của đối tác.

Chỉ tầm 5-10 phút trò chuyện, với lượng từ vựng cho tới cách phát âm, mình có thể kể rất hiều về cách tri nhận thế giới. Cơ chừng cực kỳ quyền lực ở số đàn ông sử dụng phạm vi từ vựng rộng vì anh ta đọc nhiều và thông minh; họ sẽ dùng nhiều từ nghe chừng xa lạ hoặc khó nắm biết đối với quảng đại quần chúng. Cùng lúc, họ sẽ thể hiện thông minh về mặt xã hội để cho mình quyền lực và giá trị qua một buổi trao đổi ngắn ngủi; điều này sẽ móc chặt các cảm xúc tích cực về cuộc đối thoại và làm người ta thêm ước ao đầu tư vào mối quan hệ.

Chắc bạn từng nghe nhiều lần chuyện thắc mắc tại sao phụ nữ yêu mấy gã xấu xa… Các hành vi phản xã hội như thiếu thấu cảm, vắng lòng xót thương, quyến rũ giả tạo, và mang chất mánh khóe dẫn dắt thì dễ tìm thấy trong con người đàn ông mà phụ nữ yêu.

Tiến hóa

Nếu tìm hiểu về tâm lý học tiến hóa, nhiều trong số các hành vi tích cực được xem là hấp dẫn thực sự giới nữ có thể dõi theo về chiến lược chọn lựa tính dục bên trong loài chúng ta. Tiến hóa sẽ phục vụ cho nghiên cứu hơn nữa nét tính cách duy trì sống còn trong quá khứ khiến một số đàn ông tích lũy được các nguồn tốt đảm bảo cơ hội cho sự bảo bọc con cái họ. Các nét tính cách này tiếp tục tỏ lộ ở thời hiện đại và dễ tìm thấy nơi nhiều đàn ông quyền lực, nhất là các CEOs cao cấp và trùm Mafia.

Mánh khóe dẫn dắt

Đa phần nghĩ về sự mánh khóe như thể là điều gì khả năng nhìn thấy ở những ai cố kiếm lợi lạc từ chúng ta. Tiếc thay, hầu như mình bị dẫn dắt bởi người quá thông minh đến độ chúng ta tin rằng dự tính và hành động của họ thật chân thành và đứng đắn. Tình thế gay go ở chỗ, người này thông minh thừa khả năng thuyết phục, dụ dỗ chúng ta để làm cho họ thêm nhiều quyền lực hơn lên.

Thiếu sự thấu cảm

Lần nữa, thiếu sự thấu cảm không nhất thiết nghĩa là kẻ mánh khóe sẽ không thể hiện mối quan tâm tới cảnh ngộ của bạn. Thực tế, nếu mình đem lại nhiều lợi lạc phục vụ cho sự truy cầu của kẻ phản xã hội này, anh ta sẽ có khả năng biểu đạt sự thấu cảm với bạn một cách giả tạo nhằm chiếm được lòng tin; nhờ sự thay đổi thế, bạn sẽ cởi mở với các ý kiến rồi dần dễ dàng rung cảm với những mời mọc, mệnh lệnh của anh ta. Hầu như bạn sẽ còn chẳng đủ khả năng để kể ra những kết nối thiếu vắng cảm xúc của anh ta.

Cực kỳ quyến rũ

Nếu từng gặp một gã quyến rũ thôi rồi và mồm mép khỏi nói trong thói cầu kỳ lẫn quy ước mặc nhận của anh ta thì khả năng anh ta sẽ là một kẻ có vấn đề; các nét tính cách độc đáo đến nỗi họ thật xuất chúng và bật sáng về mặt trí năng xã hội.

Chẳng hạn, nếu anh ta có thể duy trì đối thoại rất tốt với các nhóm lớn, giữ tiếp xúc mắt với nhiều khu vực khác nhau trong đám đông, thoải mái với mọi người, nói bằng thứ ngôn ngữ hoa lá cành dù không cóc cần tuân thủ quy tắc ngữ pháp song vẫn đảm bảo sáng rõ để hiểu thì đấy là một vài dấu hiệu đáng dè dặt. Kỳ cùng, hầu hết mấy kẻ ấy vô cùng thành đạt trong bậc thang thăng tiến lãnh đạo công ty hoặc kết thúc trong nhà tù, vì không kiểm soát nổi các hành vi nguy cơ của bản thân.

Họ không bao giờ nói về chính mình

Một trong những nét tính cách tồi tệ chúng ta tin tưởng làm kẻ khác nghe theo là nói năng và thuyết phục. Thực tế, đấy đích thị cách tồi tệ để thuyết phục hoặc khiến ai đó tin tưởng. Hay nhất là cho phép người khác bộc lộ ra ngoài các ý kiến, quan điểm và cảm xúc dạt dào sẻ chia. Càng nhiều câu chuyện đậm màu cảm xúc được chia sẻ, cô ấy càng thêm phần gắn bó với sự hiện diện của anh ta. Ban thưởng tinh tế như gật đầu nhẹ hay sờ chạm nhằm củng cố các hành vi này đến mức tạo nên vòng xoáy trôn ốc đi lên của việc đầu tư thêm cảm xúc. Tuy nhiên, khi họ cất lời, nói chung nghĩa là sự chiếm đoạt ngắn gọn, sắc bén, chính xác và gây chú ý ghê gớm.

Sau rốt, dù không phải cốt thể hiện chẩn đoán hoặc phân tích chính thống về các hành vi thái nhân cách (sociopath), dường như hầu hết di truyền của mình hóa trang nhất quán bộ ba nét tính cách đen tối này. Thực sự đối xử với hầu khắp con người ta như dạng thức thực nghiệm xã hội thì tự thân nó đã tố cáo dấu chỉ của hành vi mang tính thái nhân cách rồi, dẫu khá là thành thật rằng mối quan hệ của chúng ta sẽ luôn hưởng lợi lại qua, xét từ quan điểm logic và rất hữu lý.

‘Cái tôi’: sự lừa dối trên tiến trình nhận thức

Rằm tháng Giêng rồi, nhân Ngày Thơ quốc gia, lượn lờ tình cờ mà đọc được đôi câu treo trong khuôn viên Văn Miếu- Quốc Tử Giám của một cậu trai 8X khiếm thị: “Ngoài trời còn có trời cao, trong tôi biết có tôi nào tôi hơn” (Nguyễn Việt Anh, 1982, Hà Nội).

Ai thích Toán hoặc quan tâm thống kê chắc biết luật Benford. Phần phấn khích trong câu chuyện nhỏ này là cách thức nó sát gần cũng như giải pháp nêu ra lại dính kết tới ý tưởng về ‘cái tôi’ (self) mà theo đạo Phật thì chẳng khác chi trò ảo thuật lừa mị: được tạo ra như phó sản của ‘tiến trình xử lý ký hiệu tinh thần’. Đây có vẻ giải thích luật Benford thấu tỏ nhất. Theo tiến sĩ Steven Smith, hơn 70 năm qua luật Benford đã đạt đỉnh điểm của sự sùng bái; nó mạnh mẽ tuyên bố chứng thực một số bí mật hoặc thuộc tính khá bất thường của vũ trụ.

So sánh điều ấy với cuộc đấu tranh triền miên của con người nhằm định vị ‘cái tôi bên trong hoặc ở ngoài bản thân mình, trong khi con người không ngừng nhìn/ xử lý sáu giác quan. Rõ ràng, phải có một cái tôi, self, ego, một ta phỏng ạ? Tôi có thể thấy nó. Song nó đến từ đâu rứa? Và nó là cái chi chi? Câu trả lời của Phật đối với ‘vấn đề’ mà ngài tóm tắt thành ‘avijja‘ hoặc ‘sự ngu dốt/ thiếu khôn ngoan/ vô minh’, một ảo tưởng, liệu tương tự với trả lời chúng ta có thể tìm thấy với bài toán ‘bí hiểm’ này (tức thuộc vấn đề tinh thần/ logic)?

Lần nữa, theo tác giả Steven Smith, đừng phí thời gian đặng cố thấu hiểu các ý tưởng ấy; chúng hoàn toàn đi theo vết sai lạc hẳn rồi. Không có ‘thuộc tính vũ trụ’ nào và hiện tượng này chẳng liên quan gì với các ‘đơn vị’ (units) cả. Chung cuộc, chúng ta sẽ nhận ra rằng luật Benford trông giống với một cuộc biểu diễn ảo thuật thật ngoạn mục hon là như một thuộc tính bị giấu kín của vũ trụ. Nói gọn, mẫu hình logarithm của việc dẫn dắt các con số đến từ chiêu trò thể hiện của dữ liệu (data), và không có liên quan với các mẫu hình trong các con số được xem xét…Rằng việc này làm thay đổi theo một mẫu hình dựa vào các khả năng của số 10, ví dụ thế, là phản logarithm. Không hề nhận ra rằng bộ não mình đã bí mật biểu diễn dữ liệu, mình quy mẫu hình logarithm này cho một số dấu hiệu ẩn kín nào đó của các con số độc đáo.

Từ quan điểm Phật giáo hoặc thiền định thấu tỏ, điều gì đó tương tự cũng xảy đến với tâm trí. Việc xử lý ký hiệu hoặc trải nghiệm nhận thức của tâm trí tạo nên tri giác, ý thức về cái tôi, là ‘kết quả’ của tiến trình (phó sản hoang đường) đã không hề được tìm thấy trong nội tại tiến trình cũng như là ‘yếu tính’ rốt ráo. Do vậy, ý thức, như đức Phật ghi nhận, đúng là trò lừa của ảo thuật gia:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm Thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, Thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong Thức được?

Với cái nhìn này, đạt được Niết Bàn (Nirvana) sẽ mang nghĩa kết thúc rốt ráo công việc nhà của người ta. Giải quyết phương trình luân hồi đòi hỏi nhiều việc phải làm (cần đọc bài viết của tiến sĩ Smith hoặc đơn giản hành thiền vài năm), mà việc thức nhận đoạn kết sẽ là một thứ ngắn gọn và sâu xa, và sẽ không nằm trong lĩnh vực của sáu giác quan. Như trường hợp giải quyết luật Benford, nó hàm ý một số hình thức bước ra khỏi rồi xem xét lại vấn đề từ quan điểm trung lập, chắc chắn người ta không quên việc tính đến tiến trình nhận thức riêng tư hơn là rơi vào các diễn giải khác nhau mà tâm trí thường hay nảy nở, tăng nhanh đưa thêm…

“Và chúng mình yêu nhau bắt đầu từ độ ấy”…

Yêu thương nở tại vườn tâm...
Yêu thương nở tại vườn tâm…

Một trong những nghèo nàn nhất khi biểu đạt bằng Anh ngữ là chỉ có mỗi động từ ‘love’ để diễn tả các thang bậc và chiều kích cùng sắc thái đa dạng của sự yêu thương; một từ mà định phủ trùm hết thảy đủ thứ cảm xúc rất người này, ngay dù nhiều cách thức và hình tướng của yêu thương.

Chứa toàn bộ điên rồ khi biết mình phải hy sinh bản thân cho con cái, để chăm cả cháu chắt hoặc bất cứ đứa trẻ nào máu mủ ruột rà. Làm thế nào chúng ta kiểm soát hết sức kiên định để luôn phải lòng với những sinh linh chẳng ngừng leo trèo, quậy phá, la hét ỏm tỏi và sẵn sàng nằm vạ khóc tu tu khủng khiếp nếu trái ý bất mãn để rồi chúng vắt kiệt chúng ta về mặt tài chính, thể lý, và cảm xúc? Đó hầu như là dạng kiên định nhất về tính điên rồ rất người.

Đã hết đâu… Còn có tình yêu lãng mạn, và sự thuộc về vốn là dạng điên khùng khác.

Chúng ta cũng thôi thúc phải tìm kiếm tình yêu thuần tinh thần với bạn bè thấu hiểu mình, những người yêu quý và chiều chuộng mình ngay cả khi chúng ta giống đứa trẻ, làm bộ làm tịch và bần tiện đáng khinh lại còn phát ngôn đủ thứ lố lăng nữa.

Và dĩ nhiên, khởi nguyên thì chúng ta xoắn bện với nhu cầu được đón nhận tình yêu thương của bố mẹ và người chăm nom, nuôi dưỡng. Khi thiếu hụt điều ấy từ những năm đầu đời, nó trở thành yếu tính khiến chúng ta ngụy trang để sống còn.

Tình yêu mang tính trị liệu tâm lý là sự kết nối của tất cả ba dạng ấy: tình yêu lãng mạn, tình yêu phụ mẫu, và đôi khi tình yêu ngớ ngẩn thật trẻ con. Các nhà trị liệu hiếm khi nhận ra sâu sắc sự kiện này vì nỗi e sợ thoát khỏi thân chủ và buộc phải sát gần với thực tiễn hành nghề. “Yêu thương”, cái từ mù mờ và mang tính hồi quang khó nắm bắt này mang quá nhiều ý nghĩa thật khác biệt với ai đó không giống nhau; nó không thể bị ném lung tung và buông thả. Vì vậy, chúng ta nói về nó, đôi lúc dùng thuật ngữ lâm sàng là “gắn bó” hoặc “chuyển dịch”, và khi khác đơn giản là “kết nối” hoăc “ràng buộc”.

Thực tế, khá sáo rỗng về chuyện phải lòng với nhà trị liệu. Cái mà văn hóa quần chúng hay lờ đi là sự kiện rằng các nhà trị liệu cũng phải lòng thân chủ của mình. Nếu bạn đang ở trong giai đoạn cần đến trị liệu, tôi cá là nhà trị liệu của bạn đang yêu bạn. Nhà trị liệu yêu đến rồ dại mỗi thân chủ, nếu giả sử hiếm hoi mình không yêu, điều gì đó thật là sai trái lắm. Các nhà trị liệu cũng mong đợi bạn phải lòng. Cần biết rõ, phải lòng nhà trị liệu không hề yếu đuối hoặc tội lỗi hay ngu ngốc hay dở hơi; nó là dấu hiệu đích thực cho các kỹ năng quan hệ và sức khỏe tinh thần tốt lành, đúng đắn.

Phòng trị liệu là nơi chốn ấp ủ tình yêu. Chúng ta có thể thực hành yêu thương ở phòng trị liệu bởi vì cấu trúc bao bọc nó đảm bảo an toàn cho việc này. Các phiên trị liệu khởi đầu và kết thúc đều đặn mỗi tuần. Độ bảo mật và sự thân tín cùng các quy điều đạo đức và pháp luật ngăn cấm nhà trị liệu thiết lập một quan hệ tay đôi (như kiểu bằng hữu, đối tác làm ăn, hoặc bạn tình) với một thân chủ. Chúng ta gọi cấu trúc đó là “khung trị liệu” và nó được đặt để đủ cho bạn thoải mái có bất kỳ và hết thảy cảm xúc của con người, bao gồm yêu thương và hận thù, nộ khí và tri ân, bên trong bốn bức tường yên bình ấy. Phòng trị liệu là phòng thực hành, và điều chúng ta thực hành hầu như kiên định là cảm xúc và các kỹ năng yêu thương.

Chúc Mừng Năm Mới đầy tràn hoan hỉ và an lạc, với tình yêu nhà trị liệu dành cho; mình tốt đẹp, mạnh mẽ, và cực kỳ rất dễ phải lòng.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.

Cảm giác tội lỗi và hành động vội vàng trong vụ việc ngoại tình (2)

Việc ngoại tình có thể khiến người trong cuộc tiếp tục cảm thấy dày vò sau nhiều tháng năm đã kết thúc rồi.

Điều đấy thuộc một trong những điều lạ lùng khi tội lỗi lâu lắm chợt vừa được người vợ chân thành thú nhận, song phản ứng của chồng chỉ mới bắt đầu. Tuy thế, trải nghiệm ấy rất thông thường.

Vụ việc xưa cũ, đã chấm dứt hẳn mà phản ứng cùng các huyễn tưởng đầy hình ảnh về sự kiện chừng như mới mẻ vô cùng. Mình tưởng tượng (các ‘hình ảnh’) về kiểu dạng trong đủ trò lắm món tình huống dục lạc liên quan với chuyện ngoại tình dĩ vãng đó. Não chúng ta phản ứng thật cảm xúc với những gì mình tưởng tượng, bất kể thực hư như nào. Nếu tưởng tượng trúng vé số, ta tự động mỉm cười liền. Các huyễn tưởng về chuyện ngoại tình của cô ấy tiếp tục làm ta bức bối, và bây giờ cảm thấy bất lực. Lưu giữ hình ảnh sống động trong tâm trí, não chỉ cho phép mỗi lần một cảm xúc thôi, vì thế, nếu đang cố gắng lãng mạn và một huyễn tưởng tiêu cực nảy nòi trong tư duy, sự lãng mạn biến mất đi ngay.

Những mối ám ảnh khởi lên từ việc phản bội thuộc dạng khó khăn xử lý nhất. Bởi vì nó dính dáng sâu xa với cảm nhận toàn thể của chúng ta về sự an toàn và độ hiểu biết trong mối quan hệ, gây nên ngờ vực, lo âu, và thường tạo nên cảm nhận mất mát đến độ dẫn tới trầm uất.

Các mối ám ảnh về chuyện ngoại tình dễ quấn chặt ta và cho mình cảm thấy mất khả năng kiểm soát; chúng cũng làm mình rất khó khăn để lành lặn. Do vậy, chúng cần được giải quyết một cách trực tiếp. Một vài chiến lược từ cách tiếp cận hành vi- nhận thức gợi ý nhằm giảm thiểu các suy tư ám ảnh và giành lại cảm nhận kiểm soát:

  1. Lên danh mục các ý nghĩ gây ám ảnh, phân loại chúng theo kiểu dạng rồi đánh giá mức độ chúng khiến mình khó chịu. “Khách quan hóa” các ý nghĩ giúp đẩy đuổi khỏi mình một số nỗi đau thấm đẫm cảm xúc kết dính với chúng.
  2. Dành thời gian xem xét thật cẩn thận một vài ý nghĩ, song chỉ tí chút với mỗi suy tư thôi. Rồi, điều hướng lại ý nghĩ sang điều khác, bất kỳ điều gì khác hẳn, tốt nhất là thứ chi đem lại nhiều vui tươi và khiến mình thư thái hơn. Mình có thể cảm thấy bị thôi thúc quay về ý nghĩ ám ảnh. Nếu đơn thuần không kháng cự nổi, cho phép bản thân tiếp nhận, song lần nữa, chỉ dành chút ít thời gian thôi, rồi lại điều hướng các ý nghĩ với khoảng thời gian lâu hơn. Khá kỳ cục lắm lúc ngoài sức tưởng tượng, một chiến lược giản dị thế thực sự đủ sức giúp mình giành lại cảm xúc kiểm soát các suy tư của bản thân.
  3. Lưu ý lúc nào và ở đâu mình thường hay nảy sinh các suy tư ám ảnh. Rồi, khi các ý nghĩ trỗi lên, thay đổi bối cảnh hoặc làm điều gì đó khác biệt. Làm mình bận rộn với các hoạt động và những vụ việc bao quanh chí ít khiến mình phải bận tâm đầu tư suy nghĩ.
  4. Tự củng cố bản thân với mỗi một nỗ lực thực hiện được nhờ tiến hành các kỹ thuật nêu trên.

Còn có nhiều chiến lược khác có thể giúp mình phục hồi trạng thái bình thường về khả năng kiểm soát các ý nghĩ. Đạt được sự kiểm soát như vậy sẽ đích thực giúp mình giải quyết các vấn đề khác liên quan đến chính bản thân và về chồng/ vợ mình trong nỗ lực xây dựng lại mối quan hệ hôn nhân- gia đình. Một cách tự nhiên, điều cũng sẽ tốt lành không kém khi nhờ trợ giúp của nhà tham vấn tâm lý, nhất là người chuyên sâu vào các mối quan hệ, và có kinh nghiệm giúp thân chủ xử lý các ám ảnh cũng như các phản ứng đầy tràn cảm xúc thường hay kèm theo mỗi vụ việc ngoại tình cùng vô vàn các vấn đề hôn nhân khác.

*Vĩ thanh: Từ ‘ăn năn’ trong Anh ngữ có gốc tiếng La tin (contritus) mang nghĩa là ‘vò nát, tan tác’ ra thành trăm ngàn mảnh nhỏ. Ăn năn, do vậy, là sự giằng xé của cái tôi kiêu hãnh dưới sức nặng khủng khiếp của tội lỗi và nỗi niềm ô nhục. Nó tương tự những gì các thành viên tham gia các chương trình cai nghiện 12 bước diễn đạt ‘chạm tới đáy cùng cực’. Người ăn năn là kẻ bị gãy đổ, vỡ vụn, gập ghềnh…

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…