Cảm giác tội lỗi và hành động vội vàng trong vụ việc ngoại tình (2)

Việc ngoại tình có thể khiến người trong cuộc tiếp tục cảm thấy dày vò sau nhiều tháng năm đã kết thúc rồi.

Điều đấy thuộc một trong những điều lạ lùng khi tội lỗi lâu lắm chợt vừa được người vợ chân thành thú nhận, song phản ứng của chồng chỉ mới bắt đầu. Tuy thế, trải nghiệm ấy rất thông thường.

Vụ việc xưa cũ, đã chấm dứt hẳn mà phản ứng cùng các huyễn tưởng đầy hình ảnh về sự kiện chừng như mới mẻ vô cùng. Mình tưởng tượng (các ‘hình ảnh’) về kiểu dạng trong đủ trò lắm món tình huống dục lạc liên quan với chuyện ngoại tình dĩ vãng đó. Não chúng ta phản ứng thật cảm xúc với những gì mình tưởng tượng, bất kể thực hư như nào. Nếu tưởng tượng trúng vé số, ta tự động mỉm cười liền. Các huyễn tưởng về chuyện ngoại tình của cô ấy tiếp tục làm ta bức bối, và bây giờ cảm thấy bất lực. Lưu giữ hình ảnh sống động trong tâm trí, não chỉ cho phép mỗi lần một cảm xúc thôi, vì thế, nếu đang cố gắng lãng mạn và một huyễn tưởng tiêu cực nảy nòi trong tư duy, sự lãng mạn biến mất đi ngay.

Những mối ám ảnh khởi lên từ việc phản bội thuộc dạng khó khăn xử lý nhất. Bởi vì nó dính dáng sâu xa với cảm nhận toàn thể của chúng ta về sự an toàn và độ hiểu biết trong mối quan hệ, gây nên ngờ vực, lo âu, và thường tạo nên cảm nhận mất mát đến độ dẫn tới trầm uất.

Các mối ám ảnh về chuyện ngoại tình dễ quấn chặt ta và cho mình cảm thấy mất khả năng kiểm soát; chúng cũng làm mình rất khó khăn để lành lặn. Do vậy, chúng cần được giải quyết một cách trực tiếp. Một vài chiến lược từ cách tiếp cận hành vi- nhận thức gợi ý nhằm giảm thiểu các suy tư ám ảnh và giành lại cảm nhận kiểm soát:

  1. Lên danh mục các ý nghĩ gây ám ảnh, phân loại chúng theo kiểu dạng rồi đánh giá mức độ chúng khiến mình khó chịu. “Khách quan hóa” các ý nghĩ giúp đẩy đuổi khỏi mình một số nỗi đau thấm đẫm cảm xúc kết dính với chúng.
  2. Dành thời gian xem xét thật cẩn thận một vài ý nghĩ, song chỉ tí chút với mỗi suy tư thôi. Rồi, điều hướng lại ý nghĩ sang điều khác, bất kỳ điều gì khác hẳn, tốt nhất là thứ chi đem lại nhiều vui tươi và khiến mình thư thái hơn. Mình có thể cảm thấy bị thôi thúc quay về ý nghĩ ám ảnh. Nếu đơn thuần không kháng cự nổi, cho phép bản thân tiếp nhận, song lần nữa, chỉ dành chút ít thời gian thôi, rồi lại điều hướng các ý nghĩ với khoảng thời gian lâu hơn. Khá kỳ cục lắm lúc ngoài sức tưởng tượng, một chiến lược giản dị thế thực sự đủ sức giúp mình giành lại cảm xúc kiểm soát các suy tư của bản thân.
  3. Lưu ý lúc nào và ở đâu mình thường hay nảy sinh các suy tư ám ảnh. Rồi, khi các ý nghĩ trỗi lên, thay đổi bối cảnh hoặc làm điều gì đó khác biệt. Làm mình bận rộn với các hoạt động và những vụ việc bao quanh chí ít khiến mình phải bận tâm đầu tư suy nghĩ.
  4. Tự củng cố bản thân với mỗi một nỗ lực thực hiện được nhờ tiến hành các kỹ thuật nêu trên.

Còn có nhiều chiến lược khác có thể giúp mình phục hồi trạng thái bình thường về khả năng kiểm soát các ý nghĩ. Đạt được sự kiểm soát như vậy sẽ đích thực giúp mình giải quyết các vấn đề khác liên quan đến chính bản thân và về chồng/ vợ mình trong nỗ lực xây dựng lại mối quan hệ hôn nhân- gia đình. Một cách tự nhiên, điều cũng sẽ tốt lành không kém khi nhờ trợ giúp của nhà tham vấn tâm lý, nhất là người chuyên sâu vào các mối quan hệ, và có kinh nghiệm giúp thân chủ xử lý các ám ảnh cũng như các phản ứng đầy tràn cảm xúc thường hay kèm theo mỗi vụ việc ngoại tình cùng vô vàn các vấn đề hôn nhân khác.

*Vĩ thanh: Từ ‘ăn năn’ trong Anh ngữ có gốc tiếng La tin (contritus) mang nghĩa là ‘vò nát, tan tác’ ra thành trăm ngàn mảnh nhỏ. Ăn năn, do vậy, là sự giằng xé của cái tôi kiêu hãnh dưới sức nặng khủng khiếp của tội lỗi và nỗi niềm ô nhục. Nó tương tự những gì các thành viên tham gia các chương trình cai nghiện 12 bước diễn đạt ‘chạm tới đáy cùng cực’. Người ăn năn là kẻ bị gãy đổ, vỡ vụn, gập ghềnh…

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…

Nhận ra điểm khác biệt giữa hiệu năng và sự học hỏi

Thực tế trêu ngươi là dù tiến trình học hỏi có vẻ được hiểu kỹ càng lắm rồi, thế mà chúng ta vẫn thất bại trong việc vận dụng những gì mình đã biết.

Khi thấu tỏ học hỏi là chi, và hiệu năng thể hiện khác biệt như nào với việc học hỏi, các bậc phụ huynh dễ phát hiện một điều nghịch lý rằng, đứa cháu gái mình đạt 100% tất cả các lịch biểu học tập đề ra hàng ngày lại trở thành điều tồi tệ.

Tưởng tượng có câu chuyện về hai lớp học.

Lớp đầu tiên tuy không quá đặc biệt song nó khác với hầu hết lớp học trẻ con chúng ta quen thuộc. Trong lớp này, giáo viên phát tận tay mỗi em lịch biểu công việc học tập riêng tự bản thân tiến hành, không nhờ ai giúp đỡ cả. Một nữ sinh giả dụ tên là Lan, liếc xéo tờ lịch biểu học tập; nó dưới tầm của cô bé và cơ bản hơn, gây phiền phức cho dịp được nghỉ ngơi ở nhà của Lan. Cỡ mười phút sau, Lan đã làm xong nên cô bé ngó mông lung lên trần nhà chờ bạn bè còn đang loay hoay. Cô bé đang học hỏi rằng thành công đến với mình không phải do mình chăm chỉ ra sao mà chỉ bởi vì mình giỏi giang hơn hẳn bạn bè.

Trong khi đó, cậu bé Dũng ngồi bên cạnh Lan lại đang trầy trật với câu hỏi. Cậu chàng nhìn chăm chăm vào tờ giấy và bóp đầ,u vắt trán cho tới khi lời giải lóe lên. Dù nỗ lực gắng sức hoàn thành xong lịch biểu bài tập, Dũng vẫn cảm thấy tồi tệ vì e rằng có đôi câu hỏi trả lời sai và tốn nhiều thời gian so với Lan. Cậu nghĩ thầm tại sao mình không giỏi giống như Lan.

Lúc này, Hoa ngồi kế bên Dũng, lại úp mặt xuống bàn. Cô bé không hiểu tờ lịch biểu công việc này. Hoa mơ hồ về nó có thể vì hồi đêm ngủ không đủ giấc, bị chuyển tới đây học kỳ rồi, hoặc đang buồn thiu do không được chẩn đoán là gặp khó khăn trong học tập. Chẩn đoán bất thường về cô bé (do bạn cùng lớp và cả giáo viên đánh giá) là lười biếng và không thông minh cho lắm, và cô bé thật may mắn lắm thì mới theo kịp chương trình. Tỷ dụ, Hoa hình dung sẽ thế nào nếu em ngỏ lời nhờ Lan hoăc Dũng bày vẽ, giúp đỡ mà điều đó thì trái với nguyên tắc, quy định. Vả lại, gì đi nữa, cô bé Hoa biết rằng mình sẽ luôn là kẻ đội sổ lớp dù có cố gắng hay không; vậy thì quan tâm, lo lắng để làm gì cơ chứ…

Bây giờ, chúng ta chuyển sang một lớp khác: một lớp học về bơi lội. Ngôi trường này chú trọng dạy các bài học bơi với từng em hơn là bài học bơi chung cho cả nhóm. Mỗi giáo viên hướng dẫn không chỉ bơi lội giỏi mà còn hiểu biết về các tiến trình cũng như giai đoạn học sinh thường trải qua từ trình độ sơ cơ cho đến thành vận động viên tiềm năng. Vượt trên các kỹ năng vật lý của việc bơi lội, các hướng dẫn viên này có các hiểu biết thực tế về khả năng của mỗi em trong việc phối hợp các động tác cơ thể, lưu giữ chú ý, cũng như điều kiện và sức chịu đựng… Họ biết các điều ấy vì họ luôn giám sát và lượng giá đều đặn tiến bộ ở từng học sinh. Các giáo viên dạy bơi chỉ ra ngay lập tức và nhắc nhở liên tục về những thành công và vấn đề đủ cho một học sinh có vô vàn cơ hội cải thiện với từng bài học trong 30 phút.

Ấn tượng nhất là cách các hướng dẫn viên ở đây hết sức tránh việc huấn luyện kỹ năng thành lão luyện. Khi một học sinh đạt khả năng cơ bản để dùng như một kỹ năng thì người hướng dẫn tạo ra điều mới mẻ mang tính thách thức hơn chút. Chỉ cần một học sinh đã học cách đập chân ở kiểu bơi tự do (còn hơi khó khăn) thì em này đã sẵn sàng để được bày các nguyên tắc cơ bản cho kiểu bơi bướm. Sau khi thiết lập kỹ năng cơ bản, việc ôn luyện sẽ diễn ra vài tuần để kỹ năng đó ngày càng thuần thục hơn song không bao giờ để nó thành việc học gạo, diễn ra đều đều mỗi ngày. Các huấn luyện viên ‘đòi hỏi’ học sinh vươn xa hơn khả năng các em có thể đạt được, ngay cả khi việc đòi hỏi ấy tạo nên ‘sai sót’ tầm 50- 75%, vì mục tiêu là nhắm vào tạo lập các cải thiện nho nhỏ mỗi lần… Trẻ bị thách thức, động viên và đề nghị dấn thân. Bố mẹ các em ngạc nhiên biết bao bởi sau một thời gian ngắn, con em họ đã tiến bộ trông thấy.

Có hàng tá khác biệt quan trọng giữa hai kịch bản nêu trên, song ở đây chỉ muốn nhấn mạnh duy nhất một thứ. Trong lớp học truyền thống, thành công được đo bởi việc thể hiện sự giỏi giang, lão luyện, thuần thục và chính xác: một dạng thức đo lường cho hiệu năng tiến hành. Đo lường hiệu năng không xấu, song nếu chúng ta mải mê với sự kiện rằng hiệu năng là cái đợi mình sau chặng đường dài của cái gọi là ‘học hỏi’ thì rồi mình sẽ dễ thành người như bé Lan (thường học tập không cần mấy cố gắng, và không biết làm sao khi gặp chuyện khó nhằn), hoặc như Dũng (dù không ngừng học hỏi song lại cảm thấy kém cỏi vì không đạt mức hiệu năng cao như Lan), hoặc là Hoa (bị đẩy ngồi vượt cao hơn trình độ song không ai phản hồi hoặc giúp đỡ và do đó, bị tổn thương đến độ dễ thấy mình tuyệt vọng, không học tập nổi).

Cho dù chuyện hướng dẫn cá nhân cho mỗi một em học sinh là điều không thực tế lắm, vẫn tin rằng những gì các huấn luyện viên bơi lội biết rõ và thực hành xứng đáng đem vào từng lớp học. Những học sinh tài năng như Lan cần hiểu rằng tài năng của các em không phải là thứ vé ưu tiên để vào cửa hàng bánh kẹo ăn uống thoải mái, và rằng có thể các em thừa khả năng học hỏi mà không cần gắng sức bao nhiêu khi còn bé, song trừ khi các em trở nên thành thạo trong ứng dụng các kỹ năng từ chất liệu học hỏi nằm bên ngoài vòng tay nắm bắt của mình, bằng không các em sẽ khuyết tật về mặt học thuật ngay khi tốt nghiệp, rời nghế nhà trường phổ thông hoặc đại học. Tất cả học sinh tựa bạn Dũng, những người học hành chăm chỉ song thất vọng với bản thân đến độ ngóng trông sang các học sinh tài năng bay bổng nhẹ nhàng mà cóc thèm đầu tư bao nhiêu, cần biết rằng đâu là điều mà những người học hỏi thực sự đang tiến hành.

Thói quen áp dụng năng lực tập trung chú ý và chuyên cần, chăm chỉ hình như bắt đầu đã được ít nhiều đánh giá cao hơn các điểm số bài thi và bằng cấp. Và vì các em như Hoa ở đời, những học sinh sẽ bị vứt xuống đáy tháp tức khắc nếu không sẵn sàng, cần biết rằng không có khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó chẳng phải là lời buộc tội, nó đúng hơn là dấu chỉ để kiếm tìm nguồn cơn của vấn đề và truy cầu một cách thức vòng qua trở ngại để học hỏi.

Nếu chúng ta xác định việc học hỏi quan trọng hơn hiệu năng thể hiện thì rồi tôi tin, chúng ta sẽ được nhìn thấy ở trong các ngôi trường hiện nay trên khắp đất nước còn vô vàn khó khăn này những gì từng chứng kiến ở lớp học bơi: cam kết đầy hứa hẹn, nhiệt tình năng động, và tiến bộ không ngừng vượt xa mọi kỳ vọng, mong chờ của chúng ta.

Vài lưu ý về các ranh giới trong tham vấn tâm lý

Ranh giới là khía cạnh chủ yếu của bất kỳ mối quan hệ hiệu quả nào giữa thân chủ và nhà tham vấn tâm lý. Chúng đặt để cấu trúc mối quan hệ và cung cấp một khung tham chiếu nhất quán cho tiến trình tham vấn. Một vài ranh giới là rõ ràng. Hầu hết nhà tham vấn biết rằng nó là vấn đề thuộc đạo đức, ví dụ, để tham vấn cho người yêu cũ bởi vì mối quan hệ trước đây làm suy giảm tính khách quan và hạ thấp mối quan hệ mang phẩm chất chuyên nghiệp. Thực tế việc phác họa các ranh giới không phải lúc nào cũng rành mạch, sáng tỏ; các tình huống này rơi ra ngoài khuôn mẫu, quy điều đạo đức và nằm trong khoảng vùng mờ xám.

Rồi chẳng hạn, một nhà tham vấn chạm mặt thân chủ ở nơi công cộng (như khách sạn, buổi chiêu đãi, hoặc sàn tập thể hình của địa phương) thì có tán gẫu vui vẻ hay rời bỏ ngay lập tức? Nhà tham vấn và thân chủ cả hai cùng phục vụ chung trường hoặc tham gia trong một ban từ thiện mà không hề làm lệch lạc mối quan hệ trị liệu giữa họ? Liệu nhà tham vấn từng hỗ trợ nhiều năm trời có đảm bảo đúng đạo đức khi tham dự đám cưới của thân chủ? Một nhà tham vấn có thể biểu tỏ bằng một cái ôm đầy lòng trắc ẩn với thân chủ đang quẫn trí sau một phiên trị liệu hết sức đau đớn?

Các câu trả lời, với nhiều nhà tham vấn, phụ thuộc các thuyết phục và nhân cách mang tính lý thuyết cá nhân khi khởi lên mỗi nghịch lý. Các yếu tố khác nhà tham vấn cần xem xét là nhân cách, sự chín chắn trong thấu hiểu và cảm xúc của thân chủ. Đó là lý do tại sao một số nhà tham vấn sẽ uống chén trà với thân chủ trong phiên trị liệu, và một số khác lại không. Một số nhà tham vấn thích treo ảnh gia đình nơi làm việc còn một số khác thì chẳng bao giờ làm thế. Một số nhà tham vấn sẽ tham gia một cuộc gặp tình cờ với thân chủ trong khi một số khác sẽ rời bữa tiệc nhanh nhất lúc thấy thân chủ băng ngang qua phòng.

Với các thân chủ đang đương đầu với các ranh giới mù mờ, câu hỏi phải đặt để quan trọng nhất trong tâm trí là “Liệu điều này có phục vụ cho các mối quan tâm mang tính trị liệu của thân chủ không?”

Các hướng dẫn về ranh giới mang tính đạo đức hành nghề dựa trên những nguyên tắc căn bản của bộ quy điều đạo đức dành cho người thực hành/ tham vấn tâm lý. Từ lâu, Corey (1996) đã tóm tắt ngắn gọn 5 nguyên tắc cốt lõi:

  1. Từ tâm: một nhà tham vấn phải chấp nhận trách nhiệm đề cao những gì là tốt lành cho thân chủ với mong đợi rằng thân chủ sẽ hưởng lợi từ các phiên làm việc.
  2. Không ác ý: “làm điều bất hại”. Nhà tham vấn phải tránh bất cứ lúc nào, hành động gì (thậm chí vô tình) hoặc tình huống ra sao cùng thân chủ mà có thể là nguyên nhân tạo nên mối quan tâm mâu thuẫn.
  3. Tự trị: trách nhiệm đạo đức của nhà tham vấn là khuyến khích thân chủ độc lập trong suy nghĩ và ra quyết định, và ngăn cản tất cả các dạng thức phụ thuộc vào mình ở thân chủ.
  4. Công chính: nhà tham vấn cam kết cung cấp dịch vụ đúng đắn và đàng hoàng với mọi thân chủ mà không phân biệt tuổi tác, giới tính, sắc dân, tộc người,văn hóa, khuyết tật, và địa vị kinh tế- xã hội.
  5. Trung thực: thành thật với thân chủ và nhà tham vấn thiệt tình cam kết vinh danh sự tiến bộ của thân chủ.

Nguyên nhân xáo trộn, rối rắm bởi các ranh giới từng được Corey (1996) mô tả tốt nhất như một biến thiên, trải dài từ việc gỡ thoát hẳn ra (các nguyên tắc chỉ đạo/ ranh giới cố chấp, cứng rắn) cho tới chuyện vướng víu (uyển chuyển đến độ phát tán lung tung) với một vùng xám mù mờ ở giữa mà hiển nhiên gây nhập nhằng và phụ thuộc nhà tham vấn, tình huống và các hoàn cảnh cũng như các nhu cầu không ngừng thay đổi của thân chủ. Để là nhà tham vấn hiệu quả, người ta không thể tách biệt với thân chủ đến mức chẳng thấu cảm nổi. Đó quyết không phải mục tiêu tham vấn và gây phản tác dụng với mối quan hệ trị liệu.

Tuy nhiên, nhà tham vấn không ước muốn thấu cảm đến mức họ ôm hôn thân chủ mỗi khi gặp mặt hoặc chửi rủa thân chủ om sòm trong lúc biểu đạt sự tức giận với nhau. Nhà tham vấn cũng không nên ghé thăm gia đình thân chủ vì tiện đường từ nơi làm việc về nhà, bởi đó là hành vi của một người bạn. Nếu làm thế, ranh giới sẽ bị xâm phạm. Trong tham vấn, các ranh giới nhập nhằng thường dễ khởi lên song nhà tham vấn cần nghiêm ngặt nhận lãnh trách nhiệm xác lập các giới hạn liên quan đến tính bảo mật của thân chủ. Dạng thông tin kiểu ấy đặt để với thỏa thuận được thân chủ tán đồng và là quyền lợi cơ bản của thân chủ.

Dưới đây là minh họa tham khảo.

Trong giai đoạn vẫn tiếp tục làm việc với nhà tham vấn X. hai năm nay, Y. đột ngột phải nhập viện để phẫu thuật khẩn cấp. Nghe giọng Y. quá bấn loạn và lo sợ qua điện thoại, X. hứa mai sẽ đến ngay bệnh viện thăm cô. Y. đau đớn khủng khiếp, và X. ngồi trên chiếc ghế đặt cạnh giường Y. nằm, nắm lấy tay cô khi Y. chìa tay ra… X. hỏi han bệnh tình, an ủi rồi sau khi biết chắc gia đình Y. sắp vào thăm, X. nhanh chóng rời bệnh viện.

Y. biết đây là tình huống ngoại lệ với các phiên tham vấn vẫn quen gặp X. và điều đó sẽ không lặp lại. Việc X. ghé bệnh viện thăm Y. được hiểu đơn giản là nhà tham vấn quan tâm đến sức khỏe của thân chủ, thấy rõ ràng và sâu sắc cơn đau cũng như cảm giác bị khủng hoảng của Y. Vào phiên đầu tiên sau khi Y. xuất viện, X. tranh thủ ít phút nhắc lại cuộc viếng thăm của mình để đoan chắc là Y. hoàn toàn hiểu rõ ý nghĩa của nó đặt trong bối cảnh của mối quan hệ trị liệu.

Một số nhà tham vấn có thể sẽ không ghé bệnh viện thăm Y., họ cho rằng chỉ nên hạn chế mối quan hệ trị liệu trong văn phòng và hành vi của nhà tham vấn khá dễ bị thân chủ hiểu nhầm. Một số nhà tham vấn khác lại tin rằng một quyết định đưa ra thì phải dựa cụ thể vào các tình huống cá nhân cũng như tính đặc thù, riêng biệt trong mỗi mối quan hệ với từng cá nhân thân chủ.

Cách thức chuyên nghiệp mà bản thân X. tiến hành khi ghé bệnh viện thăm thân chủ Y.cho phép X. vận hành cùng với các ranh giới sát hợp lương năng chức trách của nhà tham vấn đàng hoàng. X. không hề có ý định nịnh đầm, chiều chuộng phụ nữ khi ghé bệnh viện thăm Y., hơn thế, X. suy nghĩ thấu đáo về chuyến thăm, cân nhắc các khả năng xảy đến cũng như lợi lạc cho thân chủ. Hành vi của X. thích đáng như người làm việc chuyên nghiệp, trong bối cảnh chuyên nghiệp, đã chẳng tạo ra suy diễn sai lầm rằng chuyến thăm và cả hình ảnh bản thân của mình giống như một người bạn. Rồi, sớm nhất có thể, X. đã trao đổi với thân chủ thật rõ ràng về ý nghĩa chuyến thăm đồng thời cắt bỏ bất kỳ khả năng nào gây nhập nhằng hoặc ám chỉ bóng gió.

Các nhà tham vấn làm việc hữu hiệu nhận ra ngay rằng những cảm xúc mãnh liệt khá dễ khởi lên trong phiên trị liệu và chúng thường thách thức cả các ranh giới cá nhân lẫn chuyên nghiệp của chính nhà tham vấn. Nhà tham vấn nào am hiểu quyền năng tác động của bản thân và mức độ dễ bị thân chủ diễn dịch sai trái thì cũng rất nghiêm túc nắm lấy các ranh giới thuộc tham vấn tâm lý chuyên nghiệp. Họ cũng thận trọng khi lựa chọn thái độ uyển chuyển trong các ranh giới quan hệ và càng không lơ là về khả năng rẽ nhánh, chia luồng khi uyển chuyển cùng thân chủ.

Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm

Bạn có từng bao giờ lưu ý rằng sự tức giận chính là thành phần của trầm cảm?

Nhiều người chúng ta trải nghiệm trầm cảm ở một vài mức độ nọ kia. Chúng ta cảm thấy khó chịu và đôi lúc các cảm xúc vặn thắt thường kèm theo uất kết, kiểu tuyệt vọng và chán chường, hụt hẫng rồi rối rắm. Mình có thể lưu ý tới các triệu chứng khác của trầm cảm như thiếu sinh khí và động cơ, ngủ li bì, thôi hứng thú háo hức với những hoạt động vốn rất ưa thích. Cảm giác khoái sướng giảm sút thấy rõ và mình dễ nảy sinh trạng thái mắc kẹt và cảm giác tức giận, thậm chí cả khi chúng đúng là không phải thế đâu. Diễn giải lầm lạc về sự tức giận có thể làm trầm cảm thêm phần chịu đựng nặng nề hơn.

Tức giận thuộc phần tự nhiên trong hệ thống bảo vệ. Khi cảm thấy bị đe dọa, chúng ta thường có xu hướng chống lại, bỏ chạy, hoặc tê cứng. Khi tức giận thành một phương thức để bảo vệ chúng ta khỏi bị tổn thương thêm với các cảm xúc như là buồn đau, tội lỗi, tổn hại, hoặc sợ hãi thì trầm cảm sẽ tự hiện diện ở bề ngoài dưới hình tướng tức giận trong khi các cảm xúc mềm yếu hơn khởi động trò diễn bên dưới. Tức giận cũng lộ ra với nhiều dạng thức từ thiếu kiên nhẫn, buồn chán hoặc cường điệu khắp lên để cảm thấy điên cuồng hoặc sôi máu. Một số người bày tỏ tức giận thông qua việc đóng sập, người khác giàn giụa nước mắt, và ai đó thì dễ nhảy ùm ngay vào liền để giáp mặt, chạm trán luôn.Tất cả các biểu hiện ấy có thể thuộc về trầm cảm.

Tức giận có thể phá hủy như nào phụ thuộc vào mức độ và phản ứng đối với cảm xúc. Nếu mình giữ tức giận trong lòng, mình dễ trải nghiệm sự lạm dụng bản thân hơn hoặc các biểu hiện thể lý về sự tức giận. Nếu bùng phát ra ngoài, quăng ném tức giận vào những người khác, e các hậu quả tiêu cực càng tăng thêm. Chúng ta có thể dính dáng tới pháp luật, mất việc làm hoặc tàn phá quan hệ thiết yếu. Khi chúng ta văng khùng hoặc nổi điên không kiểm soát, chúng ta tạo ra sự hư mòn quá đáng và làm đổ vỡ các mối quan hệ; việc biểu đạt thụ động sự tức giận cũng gây nên tổn thất lớn.

Làm thế nào bắt đầu giải quyết cơn tức giận khi mình nhận ra tác động ghê gớm với đời sống đây? Các chương trình quản lý cơn giận, ví dụ, có thể đem lại phương thức tốt để bắt đầu vén lộ các vấn đề. Nhiều chương trình ngắn hơn có thể giúp khám phá về tức giận, tức khám phá nguồn nhiên liệu nuôi dưỡng tức giận. Cần tự hỏi mình, các cảm xúc nào đi cùng với sự tức giận? Điều gì xảy ra trong quá khứ tiếp nhiên liệu cho các cảm xúc này? Ở đâu chúng ta đang lạm dụng cơn giận thái quá thay cho biểu đạt các cảm xúc sâu xa hơn ẩn bên dưới?

Khi khởi sự khám phá tất cả các cơ chế nội tại, chúng ta học cách chịu đựng các cảm xúc riêng tư. Chịu đựng không giống với việc đè nén hoăc ấn tống xuống đáy; đó là đáp ứng hơn phản ứng, cùng cuộc đời. Khi cảm thấy cơn giận kịp thời, chúng ta có thể sàng giần thông qua mắc lưới cảm xúc rồi dễ dàng định dạng các cảm xúc bên dưới. Chúng ta có thể hiểu tiến trình cảm xúc, và truyền thông thật hiệu quả các nhu cầu bản thân.

Khi học hỏi để chịu đựng các cảm xúc, chúng ta có thể tự vấn bản thân vài ba câu hỏi:

  1. Cảm xúc nào đang ẩn dưới cơn giận hoặc sự thịnh nộ ngay lúc này?
  2.  Những gì tôi không muốn cảm thấy?
  3. Cơn giận này đang chuyển tải gì đến tôi đây?
  4. Có điều gì tôi cần cảm nhận, hành động, hay bỏ mặc nó rời đi?
  5. Có phải cơn giận đang gắng khôn ngoan bảo cho tôi biết về cuộc sống hoặc một tình huống?

Nhờ xúc tiến tìm hiểu và chú tâm nhìn vào bên trong, chúng ta có thể hạn chế, giảm bớt các phản ứng tức giận thông qua học hỏi về việc biểu đạt phù hợp nỗi niềm bất mãn, biết rõ những gì đang diễn ra trong lòng mình. Thấu hiểu sâu sắc bản thân không chỉ hạ thấp cơn giận và khiến đỡ khuây hẳn vì trầm cảm, nó còn đem tới cho chúng ta một sự phong nhiêu tốt lành mà bấy lâu có thể mình chưa từng phát hiện ra. Khi tiếp tục triển nở, học hỏi rồi thực hành các kỹ năng mới, chúng ta tạo nên ngày càng nhiều bình yên và sự thỏa mãn tràn đầy trong các mối quan hệ, giao dịch. Chúng ta trở nên con người hạnh phúc hơn, yên lặng, vững vàng và kết nối thân thiết cùng mọi người.

(còn tiếp)

Nỗi sợ cam kết không phải là điều duy nhất hết hoặc sẽ từ bỏ mãi mãi thôi

Như muôn trùng chùng ý, buông hờ trên duyên ta, nền nhà tựa vào lá, yêu đương dễ nhạt nhòa...
Như muôn trùng chùng ý, buông hờ trên duyên ta, nền nhà vương đầy lá, yêu đương cùng nhạt nhòa…

Thật kỳ lạ và xa xót, em đang cố gắng giúp bạn gái mới yêu nhau được 4 tháng vượt qua nỗi sợ cam kết và gắn bó. Bạn gái em từng thể hiện thái độ tương tự với hai mối quan hệ trước đây. Yêu nhau một thời gian chưa lâu là cô ấy cảm thấy lo lắng, sợ bị lừa dối hoặc xô ngã và việc cố chịu đựng trong các mối quan hệ mấy cũng đến hồi kết thúc. Bạn gái em lớn lên ở vùng nông thôn, từ bé khó cảm thấy gần gũi với bố mẹ. Bạn gái em cam đoan là không bao giờ lừa dối em song đôi khi cô ấy bảo với em là không muốn có bất kỳ mối quan hệ nào, ngày khác lại nói em là ‘duy nhất’ và có cái nhìn thuần khiết về tình yêu. Cả hai đứa em đều đầu tư nhiều cảm xúc trong mối tình này nên em không muốn tuột mất nó. Em không tin bạn gái mình nghĩ khác thế. Em đã thử kiểm soát bản thân, lùi ra xa và nói chuyện với cô ấy như một người bạn muốn giải quyết vấn đề này. Được vài ngày, rồi cô ấy lại như quay về cái tôi tiêu cực. Khi bọn em nói về chuyện này, cô ấy bảo hành vi mang tính muốn đẩy đuổi, lừa dối, v.v… ấy như một cơ chế phòng vệ chống kháng lại việc gìn giữ quan hệ.

Em đã cố gắng:

  • nói với bạn gái về cảm xúc trong quá khứ của cô ấy,
  • hỏi cô ấy nhiều câu để dẫn đến tìm hiểu vấn đề về tương quan giữa bố mẹ và mối quan hệ tiêu cực trong quá khứ, và
  • hướng cô ấy tới ý tưởng cần xem xét là các quan hệ thì khác nhau và không phải đều có kết quả giống nhau.

Khi bọn em ở cạnh nhau, cô ấy hành động như thể điều duy nhất có ý nghĩa trên đời này là mỗi mình em thôi. Bọn em gặp nhau hai tuần một lần, vì gia đình rất quan trọng cũng như công việc và sự thăng tiến nghề nghiệp là điều thu hút tâm trí cô ấy rất nhiều. Bạn gái em là kỹ sư xây dựng và cô ấy khá yếu mềm giữa nơi chốn toàn đàn ông, nhất là với độ tuổi cô ấy. Bọn em khá tương đồng nhau về mặt tư duy logic và quan điểm xã hội. Bọn em chủ yếu nói chuyện say sưa qua điện thoại. Nề nếp gia phong và văn hóa của bạn gái em rất vững vàng, cô ấy đã sống ở Hà Nội 4 năm nay. Tình dục không phải là điều đem lại cảm xúc, có thể nó chỉ thuần là chuyện phóng thích và cô ấy không nghĩ có vấn đề gì về lối nhìn nhận như vậy.

Em đã thử suy nghĩ mọi thứ rồi tìm đoc các trang tâm lý học Tây, ta trên mạng. Liệu chuyên gia có thể đưa ra ý tưởng giúp em, nếu không giữ được tình yêu này thì cũng là bất kỳ quan hệ giúp đỡ nào trong tương lại như một người bạn với cô ấy cũng được, vì em cảm thấy bạn gái em đang đi trên con đường không mấy có tính chất xây dựng?

Trả lời:

Điều rõ ràng từ lá thư là cậu dành thật nhiều thời gian lẫn tâm trí của bản thân để suy nghĩ về người yêu, những sự lựa chọn của cô ấy, cuộc đời của bạn gái, và dĩ nhiên cả nỗi sợ hãi cam kết, gắn bó của cô ấy nữa.

Tôi không chắc mình hiểu nghĩa của từ ‘tiêu cực’ mà cậu mô tả, song nếu hàm ý ở đây là cơ chừng bản thân cậu hay cô bạn gái của mình đang ở trong bất kỳ tình trạng nguy hiểm nào về mặt thể lý thì tôi mong cậu sẽ tìm kiếm sự tư vấn của chuyên gia để nói rõ trực tiếp. Trả lời trên mạng chỉ thuần chứa yếu tố thông tin chứ không mang nghĩa cung cấp lời khuyên, đặc biệt nếu an toàn là điều các bạn quan tâm.

Xin lưu ý giúp là tôi không nghe cậu chia sẻ nhiều về bản thân, ngoại trừ chi tiết hai bạn tương đồng nhau về logic và xã hội. Thiển nghĩ, hầu hết trục trặc trong quan hệ được mô tả tốt nhất từ cả hai phía chứ không phải chỉ do một bên. Tôi đang tự hỏi về chính cậu, các nhu cầu của cậu, cách thức mối quan hệ này (hoặc sự thiếu hụt cam kết) đang ảnh hưởng tới cậu như thế nào. Cậu đang ở tình huống khó khăn vì muốn nhiều hơn ở một người với những gì hiện cô ấy đang trao tặng, cho đi. Giông giống sự mâu thuẫn yêu ghét cô bạn gái cậu thể hiện trong quan hệ, khá lửng lơ việc diễn giải mình là ‘duy nhất’ rồi ngoặt sang ý cô ấy không muốn có bất kỳ quan hệ nào hết. Mâu thuẫn vừa yêu vừa ghét ở một người thật hết sức rối rắm, bởi vì nó có thể lôi kéo họ muốn thuyết phục, tán tỉnh, hoặc khiến người kia tin tưởng để mà cam kết. Hoặc trong trường hợp của cậu, nghe như thể cậu muốn khớp khít, xử lý các vấn đề của bạn gái để cô ấy cam kết với cậu.

Với một số trường hợp, ‘nỗi sợ cam kết’ là nỗi sợ của việc lựa chọn một người đi liền với nguy cơ bỏ lỡ, đánh mất các cơ hội tiềm năng hoặc người yêu khác; ngoài ra, nỗi sợ cam kết còn liên quan với nỗi sợ thân mật, có thể mô tả như là nỗi sợ quen biết ai đấy sâu xa, gắn bó mật thiết. Cuối cùng, đôi khi người ta dùng nỗi sợ thân mật đặng tránh né thảo luận nỗi bất mãn thực chất hoặc các vấn đề khó chịu bên trong một mối quan hệ riêng tư.

Khi ai đó thực sự sợ cam kết hoặc thân mật, cậu ta/ cô ta thường buộc phải dấn tới chỗ tất cần thấu hiểu và đương đầu với với những nỗi niềm sợ hãi này thông qua quá trình khám phá và chữa lành. Tôi không biết hiện bạn gái của cậu đang ở thời điểm cô ấy muốn hoặc sẵn sàng để tiến hành điều đó chưa. Dù tình hình gì đi nữa, đấy không phải là điều người ta thực hiện vì kẻ khác.

Cậu nhấn mạnh rằng mình thích giúp đỡ cô người yêu như một người bạn, bất kể kết cục mối quan hệ giữa hai người như nào. Tôi tin (có thể vì tôi là nhà trị liệu!), một trong các món quà tặng lớn lao nhất chúng ta có thể trao tặng cho ai đó là tất cả lòng mình sâu thẳm, sự lắng nghe và thấu hiểu từ bi nhất. Nếu người yêu cậu muốn nói chuyện về văn hóa, trải nghiệm, gia đình, hoặc những nỗi sợ hãi của cô ấy về quan hệ, cậu có thể trợ giúp tốt lành nhờ việc lắng nghe mà không đánh giá (hoặc tối thiểu nhất có thể).

Vấn đề là hiếm ai có thể lắng nghe không hề đánh giá chi khi mà mối quan hệ riêng tư của cậu ta hoặc cô ta đang bị đặt cược! Dường như cậu sẽ không thể đủ khả năng ngay lập tức để vừa là một người bạn hữu ích vừa là một người yêu cam kết hết sức mãnh liệt vốn muốn có mối quan hệ gần gũi, độc chiếm người phụ nữ này.

Vậy, có thể cậu cơ chừng là người yêu hoặc là người bạn trợ giúp, song chắc chắn khó giữ tròn cả hai vai. Nếu là bạn trai, cậu sẽ nhận ra rằng điều ấy kích hoạt mối quan hệ về những gì cậu chú tâm mang tới và tất cả cách thức cậu cảm nhận về điều ấy. Nếu muốn là một người bạn/ người trợ giúp, gợi ý của tôi là cậu nên nêu ra dự tính ấy rồi bảo cho cô ấy biết những gì lợi lạc nhất cô ấy có thể nhận được từ nó.

Bất luận ra sao, tôi hy vọng tự cậu sẽ nhanh chóng nhận ra đích thực chính bản thân mình trong mối quan hệ với một phụ nữ đoan chắc về cậu như cậu đoan chắc về cô ấy.

Vấn đề liên quan đến hình ảnh bản thân con người ta

Tất thảy chúng ta thường đều nghĩ chúng mình ổn và những người khác cũng xoắn khít. Tiếc rằng sự thật lại nằm ở đâu đó khoảng giữa. Thiên hạ có khiếm khuyết của thiên hạ, chúng ta có vấn đề của chúng ta.

Hình ảnh bản thân (self-image) là cách thức khái niệm hóa chúng ta thiết lập trong tâm trí về kiểu dạng mình là người như nào. Chúng ta đều vẽ bức tranh tâm thần về bản thân mình, và nó là bức tranh mang hơi hướng duy trì khá ổn định theo thời gian, trừ khi chúng ta cân nhắc các bước để thay đổi nó. Một số nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ ‘sơ cấu bản ngã’ (self-schema), (với thuật ngữ ‘schema’ nhắm trỏ một khung, mẫu hoặc sự trình diễn một lý thuyết) khi nghiên cứu về hình ảnh bản thân và cách thức làm sao tạo lập nó.

Có bằng chứng hình ảnh chính mình chúng ta phát triển là dựa trên phần lớn sự đo lường của những gì chúng ta học hỏi được từ môi trường, như điều người khác bảo về bản thân ta và cách họ có vẻ đáp ứng lại với ta. Song, dĩ nhiên, hình ảnh bản thân cũng khởi lên do chính cách mình phản ứng, những diễn giải đặc thù của chúng ta về các sự kiện, và nhất là phương thức chúng ta đánh giá cả bản thân lẫn bản chất các tương tác với người khác. Rất nhiều bằng chứng khẳng định, cách chúng ta nhìn nhận bản thân mình mới đích thị là vấn đề. Hình ảnh bản thân quan trọng do đủ lý do song cơ bản, vì ở tầm mức nào đó nó tác động hết sức chính xác và nghiêm trọng tới tổng thể an lạc tâm lý và đặc trưng trong các quan hệ của chúng ta.

Hình ảnh bản thân của người ta có thể bị bóp méo, mất cân bằng hoặc chẳng hề lành mạnh với cả loạt lý do. Khi còn bé, chúng ta đặc biệt nhạy cảm với những đánh giá bởi bố mẹ mình, các nhân vật quyền thế, những ai có ảnh hướng tới chúng ta, và nhất là bạn bè cùng trang lứa. Nếu những đánh giá đó quá thường xuyên và/ hoặc rất tiêu cực, gây căng thẳng thì chúng ta dễ nội tâm hóa thành quan niệm về bản thân càng thêm phần tiêu cực. Song các tính cách nguyên sơ của chúng ta cũng giữ vai trò thiết yếu trong sự phát triển hình ảnh bản thân mình nữa. Một số người cực kỳ nhạy với sự phê bình và đẩy lên thái quá khi diễn giải về sự việc hoặc hành động gây tiêu cực cho họ. Một số khác lại có xu hướng đặt áp lực khủng khiếp lên bản thân để thành người ‘hoàn hảo’ khiến các sự việc bé tí và nhỏ nhặt mấy cũng minh chứng cho sự vô dụng và thất bại của chính họ. Thiết lập hình ảnh bản thân tiêu cực không chỉ là dạng vấn đề thuộc tự hiểu biết bản thân mà nó còn trở nên bị bóp méo thường xuyên gây trục trặc trong chiều hướng nhìn nhận. Trẻ em quen việc đón nhận được khen ngợi và chú ý quá lố đến tài năng, ngoại hình hoặc năng lực xã hội của chúng có thể đề cao cực đoan việc đánh giá tích cực và lòng tự trọng của chính bản thân chúng.

Căn cốt đối với một hình ảnh bản thân thật lành mạnh bao gồm cả việc cảm nhận, ý thức và sự cân nhắc, cân bằng đúng đắn.

Thường thì, vấn đề trong quan hệ không chỉ do đối tác mà còn phụ thuộc chính bản thân họ nữa. Mỗi người sẽ chỉ điểm người kia như tính cách gây phiền phức ghê gớm trong quan hệ trong khi mình đang tự biểu lộ bản thân như dạng khá ‘rối nhiễu’, đa phần phụ thuộc và rủi ro thành nạn nhân; mỗi người dường như gây rắc rối cho người khác đồng thời cũng gây rắc rối với chính bản thân mình.

Tại sao cách thức chúng ta nhìn nhận bản thân tạo thành vấn đề? Chủ yếu vì chúng ta thường biến làm sao tất thảy đem lại thoải mái cho chính mình. Hầu hết các kiểu dạng tính cách là “ego-syntonic” (hành vi, giá trị, cảm xúc hài hòa hoặc chấp nhận với các nhu cầu và mục tiêu của bản ngã, hoặc nhất quán với hình ảnh lý tưởng của bản thân); ví dụ, người ta tìm ra cách để nhìn nhận mọi thứ và mọi việc mình làm đều đáng tán thành và ưa thích. Tất cả chúng ta hay nghĩ rằng chúng ta ngon lành, người khác mới rắc rối, và điều này là sự thật với các tính cách quấy động… và, nếu chúng ta sắp nhấn mạnh thật đúng đắn và chính xác lỗi lầm ở người khác, như người khôn ngoan từng nói, chúng ta phải trước tiên gỡ bỏ, cất khỏi những bóp méo trong tri nhận của bản thân đang như đám mây mù che mờ đánh giá của chính mình đã…

Dưới đây là vài ba câu hỏi có thể giúp người ta phản ánh cách họ nhìn nhận về chính bản thân mình:

  • Mình thấy gì khi soi mình trước gương?
  • Mình có thấy điều người khác thấy?
  • Mình có bị khống chế bởi điều đó?
  • Mình có thể chấp nhận sự phê bình mà không đưa ra lời phát biểu (ví dụ, ‘hết sức xây dựng’ đối lập ‘rất phá hoại’)?
  • Mình có thể sống với ý tưởng luôn có cơ hội cải thiện bản thân để thành loại người mình mong muốn trở thành?
  • Mình ít khi nghĩ ngợi cho chính bản thân đến độ mình nên cảm thấy may mắn là bất kỳ ai rồi cũng sẽ thích mình?
  • Mình nghĩ mình là người hoàn hảo và người khác nên học tập?
  • Mình biết tỏng tòng tong rằng mình chẳng là gì song thích bóp méo để gây ấn tượng với người khác thay vì tự mình lo cải thiện hình ảnh bản thân?

Cách thức chúng ta nhìn bản thân mình không chỉ nói rất nhiều về sự thích ứng tâm lý mà còn phản ánh sâu rộng về các mối quan hệ mình có. Và dĩ nhiên, khi đề cập hình ảnh bản thân, nhiệm vụ suốt một đời là làm cho nó trở nên thật đúng đắn.

Trị liệu và tiêu chí chẩn đoán các rối loạn tâm thần

Cả khi tiếp xúc mặt đối mặt lẫn trong thực hành trực tuyến trên mạng, cá nhân tôi chẳng hề nghĩ mình luôn luôn nên đối xử với thân chủ thông qua những biểu lộ của một hoặc nhiều các rối loạn tâm thần nhất thiết cần phải khít khớp với cách tiếp cận y khoa bệnh lý.

Không ai chỉ thuần là trường hợp của rối loạn lưỡng cực hoặc chán ăn tâm thần, một dạng ám ảnh- cưỡng bức, hoặc người mắc tâm thần phân liệt paranoia. Theo quan điểm riêng, các phân loại chẩn đoán chính thức nắm giữ vài giá trị của thông tin mang tính bối cảnh, nhưng chúng đóng vai trò ít nhiều quan trọng hơn là các hoàn cảnh đặc thù của ai đó. Nếu là thân chủ, điều trước tiên và hầu như bạn chính là cá nhân duy nhất, đặc biệt. Mang kèm theo bất kỳ nhãn mác chẩn đoán nào không nói với tôi nhiều nhất có thể về bạn và trải nghiệm bạn khả dĩ… Nó chắc chắn không kể cho tôi nghe những gì bạn ‘cần’ như ‘điều trị’ (treatment).

Dẫu sao, trải nghiệm riêng tư khi làm việc với các thân chủ từng nhận các chẩn đoán tâm thần chính thống từ các chuyên gia khác, tôi thường nhận thấy các thân chủ của mình cảm nhận là họ thiếu thông tin thích đáng mà các nhãn mác chẩn đoán kiểu đấy đích thị thể hiện ý nghĩa.

Bài này nhắm mục đích cung cấp các sự kiện cơ bản liên quan các nhãn mác chẩn đoán khác nhau ấy. Lưu ý, thông tin chẩn đoán cung cấp ở đây chỉ phục vụ các mục tiêu giáo dục và không thể thay thế lời khuyên việc dặn của một chuyên gia sức khỏe tâm thần đủ tư cách hành nghề tác nghiệp.

Dưới mô hình y khoa quen thuộc đối với đa số các nước phương Tây, khái niệm ‘chẩn đoán’ (diagnosis) hay nhắm chỉ việc định dạng bản chất và nguyên nhân của một bệnh lý, vết thương hoặc lệch lạc khác khỏi chức năng vận hành bình thường. Các đánh giá đặc trưng, trực tiếp về mặt thể lý được tiến hành nhằm thu hẹp các nguyên nhân khả thể (chẩn đoán phân biệt) giúp lý giải các triệu chứng (symptoms) quan sát thấy bởi vị bác sĩ hoặc nhờ bệnh nhân báo cáo, kể lại. Căn cốt, điều này nghĩa là một chẩn đoán y khoa không thuần túy chỉ là tập hợp các triệu chứng; một chẩn đoán y khoa thêm thông tin mới vào bức tranh lâm sàng mà nó không chắc xứng hợp từ việc gom góp các triệu chứng đặt sẵn rồi. Nó thêm thông tin mới về tính nhân quả, việc điều trị, tiên lượng bệnh lý, các biến chứng xảy đến, và phức tạp hơn nữa…

Giờ bàn tới các rối loạn tâm thần. Việc ‘chẩn đoán’ được làm rõ cùng sự hiện diện hoặc vắng bóng các triệu chứng đã quy định. Không như trường hợp các dạng tiểu đường, ví dụ vậy, không có test đường huyết đơn giản nào cho rối loạn trầm cảm hoặc chán ăn tâm thần hay rối loạn tâm thần khác. Tự định nghĩa, để mắc trầm cảm thì không phải có các dấu hiệu nào đó về mặt cơ thể; theo định nghĩa, mắc trầm cảm là chuyện ai đó trải nghiệm rất đặc trưng thông qua các mô tả tập hợp triệu chứng cụ thể (cũng thế, các test tầm soát trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác chỉ đếm kiểm một loạt các triệu chứng). Vậy một ‘chẩn đoán’ rối loạn lưỡng cực, chẳng hạn, không nói với ta điều gì mới mẻ, vượt qua và vươn ra khỏi sự hiện diện của các triệu chứng đặc thù được định sẵn trong danh sách. Đối lập, một chẩn đoán các dạng tiểu đường hoặc cường tuyến giáp cho ta biết một cái lớn lao hơn là tập hợp các triệu chứng có thể được bệnh nhân trải nghiệm.

Ý cuối, các chẩn đoán tâm thần là rỗng không về mặt lý giải, vì thế, chúng đặt để rất đúng đắn trong một lĩnh vực cực kỳ khác biệt của khoa học hơn là chẩn đoán ‘thực’ (y khoa phương Tây). Chúng có thể giúp thân chủ (và nhà trị liệu) hiểu biết bối cảnh, và chúng đưa ra các chỉ báo phù hợp mang ý nghĩa thống kê về việc có thể sử dụng các điều trị bằng thuốc, song chúng không hề giống các tiêu chí chẩn đoán chuẩn mực của y khoa phương Tây.

Nhân tiện, mời tham khảo thêm quan niệm ‘chẩn đoán’ theo cách tiếp cận của Con người- Trọng tâm trị liệu (person-centered therapy).

Tập trung vào con người mình muốn trở thành, hay nhắm tới con người mình không thích?

Một giải pháp chỉ có thể đạt được bởi người đã khuất thì chắc chắn chẳng hề khiến đớn đau hoặc nảy sinh hiều cảm xúc khủng khiếp; thoạt tiên, dường như một vài thành tựu thật dễ thương, song kỳ thực chúng không đem lại lợi lạc gì mấy.

Cách thường để cảm thấy dễ dàng hơn là lưu ý những điều mình không muốn thay vì tiến tới với chuyện mình thích làm. Khá bi hài, chúng ta quen tiêu quá nhiều thời gian nghĩ đủ thứ điều mình không muốn (ví dụ, tôi không muốn làm người xấu) mà rốt ráo. tôi không tin nó trợ giúp gì mình lắm đâu.

Lý do nêu thế vì chúng ta không thể luôn luôn thay đổi điều mình không muốn (ví dụ, trường hợp mắc các khuyết tật mãn tính) dù chúng ta có khả năng, và dần ít nhiều trở thành con người mình muốn là.

Khi tiếp chạm với điều mình thú vị, chúng ta cũng dễ thích đạt được nó. Tưởng tượng đang tiến sát gần hơn con người mình mong đợi trong quãng đời còn lại, tỷ dụ giảm thiểu nhất khoảng cách giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng.

Nếu thấy khó khăn định dạng những gì mình muốn, thử tưởng tượng tình huống sau vốn hay được gọi là câu hỏi huyền nhiệm:

“Giả tưởng điều huyền diệu xảy ra trong khi mình đi ngủ, và tất cả các vấn đề biến mất sạch, đại khái thế. Song mình không biết nó đã xảy ra, do mình đang ngủ. Khi thức dậy sáng hôm sau và sống trọn ngày, làm thế nào mình nhận biết rằng điều kỳ diệu từng xảy ra rồi? Đâu là điểm khác biệt về mình hoặc về kẻ khác? Liệu người khác khi trông thấy điều huyền diệu ấy thì sẽ mô tả những gì về chúng?” (Westbrook và cs., p.236)

Nếu định dạng được mình muốn thành con người như thế nào, hãy viết nó xuống. Giờ đây, bạn bước xa hơn trên tiến trình phát triển con người. Bạn có thể bắt đầu thay đổi cách mình nghĩ về bản thân. Nhằm tạo các kế hoạch cụ thể về cách trở thành con người mình muốn, bạn cần biết con người đó cụ thể ra sao.

Nghiên cứu chứng tỏ, người ta có xu hướng tin rằng họ rời xa khỏi các cái tôi lý tưởng của chính mình hơn, so với những kẻ khác (William & Gilovic, 2008). Dĩ nhiên, cần nỗ lực để trở thành cái tôi lý tưởng, song bạn không rời xa hơn mục tiêu so với tha nhân, ngay cả khi bạn có thể nghĩ thế thật.

Thông điệp ở đây đơn giản: chúng ta nên dành nhiều thời gian để suy tư cách thức mình có thể trở thành con người mong muốn, thay vì nghĩ về con người mình không thích. Thiển nghĩ, điều ấy cơ chừng càng giúp bản thân thêm “năng sản”.

Bạn cảm nhận chuyện này như thế nào?

Một sự mời gọi trong lòng

Mình có thể cảm thấy thu mình và hụt hẫng trước những hoàn cảnh hôm nay. Kỷ niệm Ngày Độc Lập của Việt Nam trùng với lễ vinh danh người lao động ở Mỹ quốc. Trời mưa tầm tã càng dễ khiến bồi hồi lại nhớ về thân phận của ông Nguyễn Hữu Đang, vị chỉ huy dựng lễ đài Ba Đình. Thống kê cho hay, mấy ngày nghỉ đã có 259 vụ thương vong vì tai nạn giao thông, trong đó 112 người đã chết.

Mình cũng có thể đang phải chật vật chống chọi với các trở ngại cản ngăn, hoặc cảm thấy bị mắc kẹt và không thấy khả năng đặng tạo tác nổi các thay đổi tích cực. Mình dễ phát hiện thấy hữu ích với việc đặt để thời gian dành ở một mình và làm việc với các cảm xúc trên với ước ao tìm thấy ý tưởng tốt hơn về nguồn gốc hình thành của chúng.

Đơn giản tìm ra một nơi chốn riêng tư không bị quấy rầy, và nhắm vào phóng thích trạng thái căng thẳng rồi làm trống rỗng tâm trí mọi sự suy tư tràn lấp. Chỉ trong vài khoảnh khắc, mình sẽ dễ khởi lên sự yên ả và tập trung hơn hẳn. Tiếp theo đấy bắt đầu khám phá các cảm xúc, quyết định tại sao cơ chừng mình nên đương đầu hôm nay. Giai đoạn phản ánh này khuyến khích mình đào sâu hơn cho trạng thái sáng rõ, nhằm làm nảy nở các giải pháp sáng tạo cho rắc rối hiện đối đầu và chấp nhận một não trạng lạc quan.

Dành thời gian suy tư hoàn cảnh bản thân có thể cho chúng ta sự thấu hiểu nhằm tạo nên các trải nghiệm đầy ý nghĩa và toàn mãn với những gì kinh qua hàng ngày. Cảm thấy hụt hẫng hoặc mắc kẹt thường là dấu hiệu từ các bản ngã nội tại đủ đem lại lợi lạc nhờ giai đoạn lặng lẽ suy ngẫm về các hoàn cảnh xảy đến trong đời.

Làm tâm trí mình thư thái và tĩnh lặng rồi đưa sự chú ý nhắm vào nội tại trong lòng, chúng ta thừa khả năng phóng thích ảo ảnh bị mắc kẹt cũng như phát triển một cảm nhận sáng rõ và thấu hiểu về đời mình.

Nhờ lựa chọn nhìn nhận nỗi niềm hụt hẫng như lời mời gọi để kết nối sâu thẳm hơn với bản ngã cao hơn, mình có thể làm triển nở sự thấu hiểu để rồi tạo nên cuộc đời mình nhiều ý nghĩa vượt trội.