Từ ái, thương yêu bản thân khi cuộc đời là khổ ải

Cảm thấy nhiều yêu thương, từ ái (compassion) cho người khác âu chắc là điều ai cũng thầm mong ước và khát khao ban tặng thật nồng nhiệt, nhất là khi tháng năm ở đời gây tạo cảm giác đớn đau, khổ ải.

Từ bi với chính mình bao gồm sự thấu hiểu rằng niềm đau nổi khổ và thất bại não nề là phần tất yếu trong trạng thái sống của nhân loại, và tất thảy mọi người đều đáng xót thương, yêu quý. Khái niệm từ bi với chính mình có nền tảng từ triết học Phật giáo.

Kristin Neff (2003) nhấn mạnh:

… Từ bi thường được khái niệm hóa nhằm cốt để chỉ sự từ bi dành cho những người khác, song trong tâm lý học Phật giáo, cảm thấy lòng từ bi với bản thân thiết yếu không kém gì lòng từ bi dành cho tha nhân (p. 224).

Ý tưởng về lòng từ bi với chính mình do đó cho thấy, chúng ta nên bày tỏ lòng từ bi đối với bản thân cũng như khi bày tỏ lòng từ bi với người khác:

Lòng từ bi liên quan với chuyện dành cho những người khác sự kiên nhẫn, tử tế và hiểu biết không đánh giá, nhận ra rằng con người thảy đều bất toàn và dễ gây lầm lỗi (p. 224).

Lòng từ bi với chính mình giúp thiên hạ thấu biết và nhận thấy những giới hạn của bản thân; giúp họ tiếp chạm sâu xa với con người mình. Tác giả Neff xác định có ba thành tố của lòng từ bi với chính mình:

1. Lòng tử tế

Đối xử tử tế với chính mình thuộc về sự hiểu biết rằng bất toàn và thất bại là những phần hiển nhiên ở đời. Nó thuộc dạng tử tế với chính mình khi đương đầu với vô vàn khó khăn.

Mơ mộng hoặc lý tưởng không phải luôn trở thành sự thật; thay cho sự hụt hẫng và thất vọng vì điều ấy, mình nên chấp nhận thực tế. Những lý tưởng là là những lý tưởng vì một lý do nào đó, phải vậy không? Chúng ta không nên tiêu toàn bộ thời gian sống để nghĩ ngợi mọi thứ mình muốn sở hữu mà nên thưởng thức những gì đã có sẵn đây rồi.

2. Sẻ chia tình nhân loại

Chúng ta quen nghĩ mình trải nghiệm nhiều khó khăn, khổ sở hơn biết bao kẻ khác, song kỳ thực, tất thảy nhân loại đều hiểu nhiên dễ bị tổn thương và bất toàn.

Chúng ta nên hiểu rằng mình phụ thuộc biết bao người, và những tương tác với tha nhân tạo lập nên con người mình. Tỷ dụ, các cảm xúc, suy tư và hành vi ứng xử của chúng ta chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tó bên ngoài như văn hóa, lịch sử, và di truyền, v.v…

Với lập luận ấy, chúng ta nên bớt đi việc đánh giá bản thân. Chúng ta ít có khả năng kiểm soát quá nhiều khía cạnh trong đời sống, và mình nên hiểu thấu cũng như nhận thấy điểm chung mà trải nghiệm nhân loại sẻ chia.

3. Tỉnh thức

Chúng ta không nên định dạng bản thân mình với các suy tư và cảm xúc tiêu cực; thay vì thế, nên cố gắng tự ý thức nhiều ơn, ví dụ, nhìn thấy tình huống của bản thân trong một viễn tượng rộng lớn.

Trạng thái tỉnh thức (mindfulness) thuộc về sự quan sát không ngừng nghỉ các biểu hiện của tâm trí mà không cố gắng để đè nén hoặc chối bỏ chúng; điều này mang nghĩa rằng chúng ta tiếp cận với các cảm xúc mà chẳng hề đánh giá và học cách chấp nhận.

J. Soi (38): Không có tương lai trong quá khứ

Vài ba khoảnh khắc nhìn vào nhau, thế là Mr. X đã biểu tỏ ngay sự không hài lòng. Thầy ấy là người dạy môn Toán thời phổ thông trung học cho nhóm học trò chúng tôi. Chắc chắn phải có một lý do logic và khoa học hết sức hoàn hảo cho điều nhận định đó. Sống sót của kẻ khỏe mạnh nhất hoặc nhờ cơ chừng dựa vào tiến hóa. Ngay cả khi điều ấy có thể giải thích thì cũng chẳng mang ý nghĩa gì sất, nhất là từ khía cạnh tốt đẹp.

Tuy thế, tôi không rõ mình có ham muốn tìm hiểu sinh lý học không. Nó tựa như một làn sóng thực sự của đại dương vậy; rốt ráo chỉ phụ thuộc rằng mình đang đương đầu hoặc cóc thèm nhìn ngó chi cả. Có những khoảnh khắc trong đời đích thị gây bàng hoàng, sửng sốt. Không từ ngữ, không suy tư, và cũng không thở dài nhẹ như hơi thở nữa. Đó là một ví dụ cho giờ cao điểm bung nở trạng thái kiêu hãnh vô lối, tình yêu thương cắc cớ hoặc thứ cảm xúc thô nhám rất khó lý giải thấu đáo cội nguồn nảy nòi. Khoảnh khắc ấy đúng lúc để cho ta cảm thấy quyền năng, sống động và tràn đầy. Ngờ đấy như dịp adrenaline được tiếp thêm ngoài kế hoạch. Song cô cậu nào mà chưa từng trải qua cơn rung chấn tương tự và nó tuyệt không lúc nào giông giống.

Cách nhanh nhất để biết rõ một cái gì nóng bỏng là chạm vào nó. Mình khó mà nhận thức thấu suốt tầm quan trọng của các cảm giác cho đến khi đánh mất… Đánh mất cảm giác tức thời ngay trong tầm tay với không tựa huyền diệu như sắp bị điếc, dù nó ít nhiều là dấu nhắc cách chúng ta dựa vào các cảm quan để giao tiếp với thế giới bên ngoài. Thở dài chắc chắn là thứ quan yếu nhất theo sau khi đã nghe thấy. Sờ chạm đến kế tiếp nhờ vị giác và khứu giác… Mùi café chợt gây sốt ngây ngấy, đốt lây lan cái lưỡi. Thế giới không hề tuyệt diệt khi mình không gõ lách cách, và cảnh giới cá nhân sẽ ít lắp khít khi mình thôi không biểu đạt bản thân.

Khi nghĩ về sự sờ chạm, tâm trí mở rộng ra đặng ghi nhớ các cảm quan thể lý. Lụa, giấy nhám, và nhiều loại vải vóc trên đời phủ lụt đời sống. Khó khăn để tưởng tượng xem mình không có khả năng cảm nhận cái làn da mịn màng nơi cái má trẻ thơ phinh phính hoặc độ ấm nóng mờ hơi dưới vòi hoa sen… Những nhận thức về cảm xúc lại càng phức tạp hơn bức tranh Picasso hoặc một bản giao hưởng thính phòng; không thể tưởng tượng mình không cảm nhận tình yêu, ghét bỏ hoặc vô cảm. Khi tôi có mặt với niềm vui, sang chấn và nỗi đớn đau dây dưa của mọi người mỗi ngày, cơ thể tôi uất quặn trong thấu cảm với các câu chuyện từ thân chủ; uyển chuyển và sinh khởi như bất kỳ thứ gì tìm thấy ở điện Louver ở Pháp quốc. Và chúng ta càng tiếp chạm nhiều, chúng ta càng có thể tiếp chạm dễ dàng hơn. Khó tưởng tượng mình thiếu khả năng biểu đạt tình yêu thương chỉ bằng một sự sờ chạm nhẹ nhàng hoặc một cái hôn.

Mỗi ngày chúng ta tiếp chạm thế giới và mọi người chung đụng xung quanh. Dù các cảm quan khác uy lực, song thông qua phương thức này mà chúng ta kết nối cả thể lý lẫn xúc cảm với tha nhân. Các phần còn lại của cảm quan cơ chừng đóng vai trò đầu vào.

… Ah, còn đây điều kỳ diệu của công nghệ hiện đại. Chúng ta có các thiết bị giả định chạm mó đủ thứ giúp chúng ta. Bao nhiêu kẻ từng ngồi nghiêng ngó trên ghế phổ thông nhớ về cái cảm giác chơi mê mải với cái máy tính (calculator) cầm tay; giời, sự thật ấy lặp lại ở thời đại video game hiện nay?

Để có câu trả lời, không nhất thiết điều gì đó phải được thêm vào. Mình cẩn thận nắm bắt lấy mọi sự kiện rồi đặt chúng vào một phương trình đơn giản. Đảm bảo mọi thứ đúng hàng cột, nhóm loại và rồi làm phép tính thôi. Dĩ nhiên, nếu bấm công thức quá khó khăn thì e chừng kết cục không cho ra kết quả đúng được. Quá nhiều các sự kiện phải ghé mắt trông chừng.

Bất chấp nỗi sợ hãi và e ngại môn toán, có những câu trả lời đúng đối với một số vấn đề. Và càng đơn giản câu hỏi, càng dễ nhận được đáp số chính xác. Chúng ta luôn luôn cố phủ trùm mọi chuyện rồi chung cuộc lại tìm cách đẩy đuổi chúng đi, các cách thức càng ngày càng tinh tế. Cố gắng dùng đại số hoặc cosings để tính điểm xuất phát đường tuyến tính, xong rồi lại kết thúc bằng góc cạnh sai lè.

Nên chi, tôi đoán Mr. X không dạy chúng tôi điều gì đó về cuộc đời, ngay cả khi cái thước kẻ có thể vụt xuống tay học trò vì mắc lỗi ngây ngô không đáng… Luôn luôn đơn giản trước khi tiến hành công việc. Nhìn vào vấn đề từ bức tranh lớn; câu trả lời buộc phải hoàn hảo hay mình có thể vừa ước tính vừa lập luận? Đôi khi tính vừa đủ thôi, khi nó không diễn ra được thế thì dành thời gian để giảm thiểu vấn đề xuống thấp nhất loại hạng cơ bản trước khi khởi sự vẽ hình. Và đừng nhờ vả kẻ khác, đấy là vấn đề mình phải tự giải quyết lấy. Tất cả lời khuyên trên trần gian này sẽ không giúp xử lý được điều gì mình chẳng muốn làm bằng nhiệt tình của con tim tuổi trẻ.

Vấn đề cơ bản là gì? Liệu nó sẽ giúp ta cảm thấy tốt lành hơn hẳn? Để yêu thương nhiều hơn? Và nguy cơ gặp phải các câu trả lời sai toét cũng cao lên hoặc mình chỉ việc cố gắng hết sức xử lý, cho dẫu càng làm càng mắc kẹt? Nếu mình trước tiên đơn giản đã, đôi khi câu trả lời rõ ràng. Có thể không đạt được như ý song mình sẽ cảm thấy nhiều tốt lành về cái sai trái; về việc bộc lộ, thể hiện công việc bản thân. Vào cuối ngày, nhất thiết mình khó mà không cảm thấy vui sướng trong lòng. Tôi nghĩ có thể gọi nó là môn toán của tâm hồn.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích (2)

Việc điều trị trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn là việc dễ tiếp tục gây tranh cãi, đặc biệt với việc sử dụng thuốc (chẳng hạn) và cách tiếp cận đa phần dựa trên mô hình y khoa.

Thực hành lâm sàng thường khác biệt so với bằng chứng nghiên cứu; lý do cho điều này có thể là vì thực hành lâm sàng luôn đi trước các phát hiện trong nghiên cứu hoặc, có thể vì chẳng dễ dàng để thiết lập được tính hiệu quả của một số cách can thiệp tâm lý trị liệu. Một yếu tố liên quan cũng cần tham khảo là các nhu cầu phức tạp ở trẻ em và tuổi mới lớn khi có nhu cầu thăm khám, tham vấn/ trị liệu không khít khớp với các chẩn đoán hoặc phân loại nghiên cứu đặc thù. Người mới lớn gặp khó khăn trong học tập cũng thấy nảy sinh vấn đề khi tiếp cận các dịch vụ sức khỏe tâm thần sao cho thật thích đáng và thường là các nhu cầu sức khỏe tâm thần đã không được đáp ứng phù hợp, tương xứng.

1. Trị liệu nhận thức – hành vi (CBT) phát triển như cách can thiệp hàng đầu khi xử lý trầm cảm, với ngày càng nhiều bằng chứng rằng đây là một cách điều trị hiệu quả cả cá nhân hoặc nhóm (Wood et al. 1996, Lewinsohn & Clarke 1999, Pfeffer et al. 2002, Nelson et al. 2003, Duldey et al. 2005, David-Ferdon & Kaslow 2008).

Các niềm tin căn cốt, giả định và suy tư tự động tiêu cực chúng ta nắm giữ trong mình được kiểm tra trong tiến trình CBT nhằm giúp trẻ em và tuổi mới lớn thách thức rồi đi đến định hình các suy tư của chúng đặng giúp bản thân chúng suy tư khác hẳn đi và cảm thấy tốt hơn về chính bản thân mình.

Tuổi một đứa trẻ có thể tham gia CBT gây tranh cãi, dù Stallard (2002) khẳng định điều này nên tùy thuộc vào thời gian một đứa trẻ đạt tới thời điểm thao tác cụ thể của sự phát triển nhận thức (khoảng trong tầm 7- 12 tuổi). CBT nên được thích ứng khi dùng với trẻ em, thực hiện việc sử dụng các kích thích thị giác nư các quả bóng tư duy, từ điển cảm xúc, bảng theo dõi cảm xúc, cũng như các cách tiếp cận sáng tạo như tự thầm nhắc tích cực, các trò chơi, búp bê và kể chuyện. Trẻ còn bé dễ gặp khó khăn trong phân biệt giữa các cảm xúc khởi từ sự kiện bên ngoài với các suy tư nội tại, và nhu cầu đơn giản và các hướng dẫn sáng rõ nếu chúng tham gia CBT.

Khá ít bằng chứng về những can thiệp tâm lý trị liệu với trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm đồng thời gặp khó khăn trong học tập, tuy dẫu có một số cho thấy mức độ hiệu quả nhất định ỏ nguwoif trưởng thành (Lindsay et al. 1993, Dagnan & Chadwick 1997, Lindsay 1999). Để CBT tỏ ra hiệu quả, trẻ cần bày tỏ nhu cầu sẵn sàng và bố mẹ thường nên tham gia vào (Stallard 2005). CBT có thể được tiến hành bởi một nhà trị liệu được đào tạo hoặc thông qua các loại hướng dẫn tự mình giúp mình. Curry & Reiecke (2003) dùng cách tiếp ận trị liệu theo module với người trẻ; Dummett & Williams (2008) phác thảo một cách tiếp cận vào 5 lĩnh vực đời sống (đáp ứng thể lý; các suy nghĩ; các cảm xúc; hành vi; và các vấn đề thuộc môi trường) nhằm vượt qua trầm cảm tuổi mới lớn,

2. Tâm lý trị liệu liên nhân cách (IPT) được thích ứng với việc sử dụng trên trẻ em (Weissman et al. 1979); đây là cách can thiệp ngắn gọn, có cấu trúc chặt chẽ, hạn chế thời gian. Có ràng buộc điều trị ở đây là người trẻ chấp nhận mình đang đau ốm và cần trợ giúp tựa như khi chúng mắc một bệnh thực thể vậy.

Xuyên suốt giai đoạn tiếp xúc rồi khởi sự ban đầu, người trẻ được tạo một tổng thuật về các mối quan hệ và chức năng xã hội hiện tại (bảng kiểm liên nhân cách). Nhà trị liệu phát triển một công thức liên nhân cách, nối kết trầm cảm với một trong bốn lĩnh vực liên nhân cách đang gặp trục trặc: nỗi tiếc thương, tranh cãi vai trò liên nhân cách, những quá độ khi chuyển đổi vai trò và những thiếu hụt liên nhân cách. IPT nhấn mạnh ở đây và ngay bây giờ; các vấn đề xảy đến trong hiện tại. IPA là một nỗ lực đặng hợp nhất các mục tiêu trị liệu đạt được nhờ người trẻ tạo ra (Frombone 1998, Weissman et al. 2000, Mufson et al. 2004, Coleman 2006).

3. Việc dùng thuốc cho trẻ quả là rất đáng nhìn nhận thấu đáo. Các cách tếp cận trong điều trị y khoa đối với trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn là các loại thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs), nhóm thuốc ức chế tái hấp thụ có chọn lọc serotonin (SSRIs) hoặc ức chế tái hấp thụ serotonin (SRIs). Nói chung, TCAs không nên được chỉ định khi chúng chẳng tỏ ra hiệu quả bao nhiêu so với giả dược (placebo) trong điều trị trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn (Hazell et al. 1995, 2002, Kutcher 1997, Geller et al. 1999). Không chỉ vì vô tích sự, chúng còn có thể gây ra một số phản ứng phụ không hay ho như khô miệng, đổ mồ hôi và táo bón cũng như tạo tác tiềm năng tim mạch nguy hiểm (Birmaher el al. 1998). Tương tự, các loại thuốc ức chế MAOIs không được chứng thực tính hiệu quả ở trẻ em và tuổi mới lớn, và ít bằng chứng hỗ trợ cho việc sử dụng (Heyman & Santosh 2005).

Việc dùng các loại thuốc chống trầm cảm cho trẻ em và tuổi mới lớn đang tăng lên (Zito et al. 2003, Mitchell et al. 2008). Năm 2007, ước tính khoảng 50.000 trẻ em Anh quốc được chỉ định thuốc chống trầm cảm và việc chỉ định càng tăng (Hansard 2007). Bằng chứng về tính hiệu quả của SSRIs là hạn chế, tuy vậy, chúng vẫn thứ thông dụng chỉ định; điều này gây lo ngại về các nguy cơ lớn hơn cho hành vi tự sát ở trẻ và tuổi mới lớn hơn là so với người trưởng thành dùng SSRIs (Stone et al. 2009). Shearer & Bermingham (2008) khẳng định rằng có các vấn đề đạo đức khi chỉ định SSRIs cho trẻ và tuổi mới lớn, bất kể thuốc chống trầm ảm hiệu quả hơn giả dược như nào, và các hiệu ứng ngắn hạn lẫn dài hạn lên sự phát triển tâm lý và thể lý của những ai được chỉ định thuốc. Jureidini (2009) đề nghị cách tiếp cận gồm “đợi theo dõi sát sao” và chú ý tới các nhu cầu thể lý và cảm xúc của trẻ có thể là giải pháp thay thế thuốc. Rất nhiều tuyên bố về tính hiệu quả của việc sử dụng thuốc chống trầm cảm, song có vẻ cẩn trọng và giám sát nghiêm ngặt kèm với các can thiệp tâm lý nên được cố gắng trước tiên.

4. Các cách trị liệu dựa trên nền tảng tâm động (psychodynamics) từng bị bỏ rơi trước sự tràn ngập của CBT và các cách trị liệu dựa trên sổ tay hướng dẫn, chí ít bởi vì chúng được cho là quá đắt đỏ, đòi hỏi lao động cực nhọc và tốn nhiều thời gian.

Tuy thế, điều quan trọng là nhận ra rằng người mới lớn được chẩn đoán trầm cảm có thể gặp nhiều vấn đề phức tạp mà chỉ có thể lưu ý sâu xa với trị liệu dài hạn.Các cách tiếp cận nhận thức có thể phù hợp với một số vấn đề nhẹ và trung bình, song các tác động dài hạn của trầm cảm tự chúng đòi hỏi một giải pháp dài hạn. Trong một phân tích meta-analysis theo cách tiếp cận nhận thức và không nhận thức (cả điều trị theo tâm động), Weisz và cs. (2006) không phát hiện thấy sự khác biệt giữa các dạng tâm lý trị liệu này, thể hiện ở việc cả hai cách đều tạo ra các hiệu ứng khiêm tốn trong điều trị trầm cảm. Trowell và cs. (2007) nhận ra rằng tâm lý trị liệu tâm động hiệu quả trong điều trị trẻ mắc trầm cảm và tính khí bất ổn (dysthymia) với 74,3% người mới lớn hồi phục, và tuổi mới lớn này tiếp tục cải thiện với 100% cho thấy không còn triệu chứng trầm cảm về sau.

Làm việc trong bối cảnh của mối quan hệ trị liệu dài hạn có thể đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn, nhất là trẻ khổ sở bởi các sang chấn. Các cách tiếp cận tâm động theo nhóm cũng được dùng với tuổi mới lớn và bối cảnh của một chương trình ban ngày định hướng tâm động có thể đem lại lợi lạc cho tuổi này. Có rất ít nghiên cứu về tâm lý trị liệu theo tâm động, chẳng hạn Watanabe và cs. (2007) chỉ thấy trong 27 nghiên cứu chỉ có duy nhất một nghiên cứu dùng cách tiếp cận tâm động.

5. Các cách tiếp cận khác có thể kể đến là các can thiệp kỹ năng xã hội, trợ giúp trẻ hoặc tuổi mới lớn ở trường học. Nhắm vào các mối quan hệ bạn bè cùng trang lứa có thể hữu ích. Điều trị nội trú có thể hữu ích đặc biệt với người có dự tính tự sát, trong khi điều trị ban ngày lại hỗ trợ cho người trẻ giải quyết các vướng mắc về sự tách biệt xã hội. Các can thiệp nhóm có thể giúp người trẻ nhận ra các ý nghĩa trong trục trặc gặp phải, giảm thiểu cảm nhận về sự cô độc và năng cao các mạng lưới xã hội trợ giúp hiệu quả.

Các trị liệu trần thuật cũng đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm, các dạng trị liệu gây tò mò so với các các trị liệu truyền thống vốn được nhìn nhận như dạng trị liệu chắc chắn (Amundson et al. 1993). Các trị liệu trần thuật sử dụng cách kể chuyện, và thường gồm các kỹ thuật tâm kịch. Trị liệu nhắm vào giải pháp đang tang lên và được người thực hành nìn nhận như cách tiếp cận hữu ích, dù bằng chứng cho tính hiệu quả với trẻ em và tuổi mới lớn chưa được thiết lập. Trị liệu âm nhạc cũng được dùng điều trị trầm cảm cho trẻ mới lớn (Hendricks & Bradeley 2005). Các lĩnh vực khác cũng được xem xét như là chế độ ăn uống, luyện tập thể dục và chế độ sinh hoạt hàng ngày tất thảy đều đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp người trẻ hồi phục từ cơn trầm cảm.

6. Có một đứa con mắc trầm cảm có thể là nỗi lo lắng khôn nguôn của các thành viên trong gia đình.

Thường người ta đổ lỗi cho chính họ và tìm cách giải thích hành vi cũng như chức năng của mình. Để giúp các gia đình, họ cần hiểu biết thấu đáo về rối loạn và ý nghĩa của trầm cảm. Giáo dục về các dấu hiệu, triệu chứng có thể giúp gia đình hiểu trầm cảm trong mối liên hệ với đứa trẻ nhà họ, điều này sẽ gồm cả việc thảo luận và nhận ra ý nghĩa trong hành vi của đứa trẻ hoặc người mới lớn, ví dụ nằm lỳ trên giường đến 2 giờ chiều là dấu hiệu của trầm cảm hay đó chỉ là hành vi bình thường của tuổi mới lớn? Liệu một đứa trẻ không ngừng lo lắng về thành tích học tập ở trường có mắc trầm cảm? Thảo luận những việc này và các vấn đề khác nữa với bố mẹ có thể làm tình hình sáng tỏ hơn và giúp bố mẹ có các mong đợi bình thường cho đứa con của mình. Một số gia đình hưởng lợi từ giáo dụ, một số từ sự trợ giúp gia đình và một số khác thì từ trị liệu gia đình. Trị liệu gia đình hệ thống cá nhân được khuyến cáo khi các dạng kết hợp bên trên chứng tỏ không hiệu quả.

Trong khi đa phần các gia đình hỗ trợ cho con em mình, một số có thể gây bất lợi cho sự phát triển của một đứa trẻ, nên việc hỗ trợ cho bố mẹ/ người chăm sóc nằm trong kế hoạch tổng thể nên được xem xét trước tiên. Lượng giá các quan điểm của gia đình về việc điều trị như thảo luận về chuyện dùng thuốc hoặc vai trò của tâm lý trị liệu có thể giữ vai trò quan trọng. Trả lời các câu hỏi từ giai đoạn khởi sự trị liệu và bước vào một cuộc đối thoại mang tinh thần hợp tác với bố mẹ trẻ có thể giúp công việc trị liệu tiến triển rất khả quan.

7. Tóm lại, trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng có thể để lại nhiều tác hại tiêu cực dài hạn đối với sự phát triển của trẻ em và tuổi mới lớn.

Nhận thức sớm về trầm cảm nên được chú trọng trong các chiến dịch phòng ngừa và nâng cao sức khỏe, đi kèm với việc hiểu biết sâu xa hơn về chuyện dùng thuốc quá mức cho trẻ và tuổi mới lớn có ảnh hưởng ra sao tới sức khỏe tâm trí của chúng, nhất là việc chỉ định thuốc chống trầm cảm cho trẻ ở độ tuổi còn nhỏ.

Hiểu biết trẻ mắc trầm cảm là khó khăn, bởi vì như đã thấy, có hàng loạt các ‘triệu chứng’ trầm cảm quá dễ gây nhầm lẫn với các hành vi khác ở trẻ và người mới lớn. Phát triển các cách can thiệp thích hợp sao cho hiệu quả và khuyến khích chúng phát hiện các giải pháp can thiệp riêng đối với những vấn đề thuộc cảm xúc sẽ giúp chúng thật hữu hiệu sau này khi lớn lên. Dùng một cách tiếp cận có cân nhắc thấu đáo, bình tĩnh trông chừng và giám sát chặt chẽ đồng thời hiểu biết toàn thể bối cảnh liên quan đến cuộc sống của trẻ và tuổi mới lớn có thể là điểm khởi đầu tốt lành. Đừng quên, thực tế thì một số giải pháp với chuyện chúng mắc trầm cảm có thể tạo nên các đáp ứng mang hơi hướng xã hội và chính trị chứ không chỉ định vị riêng trong tính cá nhân.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích

 

Gợi hứng từ cách tiếp cận vấn đề, đặt tên và đoạn kết trong bài viết của nữ bác sĩ Nhi khoa, tôi thử lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích.

Tổ chức WHO lưu tâm đứa bé trầm cảm ấy, bởi đó cũng là dạng vấn đề liên quan đến sức khỏe trẻ em và vị thành niên vốn được giới chuyên môn hành nghề ưu tiên nghiên cứu từ lâu.

Theo thông lệ mô hình y khoa và tâm bệnh học, thuật ngữ “trầm cảm” (depression) có thể được dùng để chỉ một dãy rộng các hành vi, đặc tính và triệu chứng; việc sử dụng thuật ngữ rộng và không chính xác này tạo nên vấn đề trong chuyện tài liệu văn bản, kết quả là nhiều nghiên cứu dùng cùng thuật ngữ căn bản để mô tả nhiều khía cạnh hết sức khác biệt thuộc chức năng hành vi và cảm xúc. Ba cách dùng thông dụng của thuật ngữ ‘trầm cảm’ từng được Cantwell (1990) ghi nhận: trầm cảm như một triệu chứng, như một hội chứng, và bên trong bối cảnh của một rối loạn mang tính chất trầm cảm (Merrell, 2003).

Cụ thể, khi xét như một triệu chứng (symptom) thì trầm cảm thể hiện trạng thái khó chịu: cảm thấy bất hạnh hoặc buồn bã, như thể ‘bị rơi bịch xuống đất’, cảm thấy khốn khổ hoặc âu sầu. Các trạng thái chủ quan này chỉ là một phần bé nhỏ của hội chứng hoặc rối loạn trầm cảm. Các triệu chứng trầm cảm thường hay diễn ra xuyên suốt đời người ta, thoáng qua và không thuộc rối loạn hay vấn đề quá nghiêm trọng. Cũng có khả năng là các triệu chứng trầm cảm tồn tại như thành phần của các rối loạn khác. Chỉ riêng các triệu chứng trầm cảm thường không đủ tiêu chuẩn để lượng giá là mắc trầm cảm.

Thuật ngữ hội chứng (syndrome) dùng mô tả điều gì đó sâu xa hơn là một trạng thái bất mãn, khó chịu. Thuật ngữ này hay được hiểu là nhằm cho thấy sự cùng xuất hiện các triệu chứng cảm xúc và hành vi và không hề mang tính tình cờ, ngẫu nhiên. Cantwell (1990) lưu ý rằng một hội chứng trầm cảm thì thường không chỉ gồm các chuyển đổi tâm trạng mà còn biểu tỏ những biến chuyển góp vào trong chức năng tâm- vận động, thể hiện ý thức, và động cơ. Các thay đổi phụ thêm này thường xảy đến với chiều hướng tiêu cực, làm giảm thiểu năng lực vận hành của người trải nghiệm chúng. Trầm cảm như một hội chứng thì ít thấy hơn trầm cảm như một triệu chứng; nó có thể là do một số stress lối sống, đồng thời xuất hiện với các vấn đề bệnh lý y khoa khác, hoặc xảy đến kết hợp với các rối loạn tâm lý và tâm thần như là các rối loạn hành vi hay gây gổ, tâm thần phân liệt, và các rối loạn lo âu. Trầm cảm như một hội chứng cũng xảy đến như vấn đề căn cốt, không có bệnh kèm sẵn rồi. Các hội chứng trầm cảm cũng dễ là thành phần của các rối loạn trầm cảm.

Sự phân biệt các hội chứng trầm cảm và rối loạn trầm cảm không rõ ràng được như giữa triệu chứng và hội chứng trầm cảm. Dù các hội chứng trầm cảm đặc trưng thuộc rối loạn trầm cảm (depressive disorder), song người ta khi nói một rối loạn trầm cảm là hàm ý sự tồn tại hội chứng trầm cảm rồi, dù cũng nên biết rằng nói hội chứng trầm cảm xảy đến trong một khoảng thời gian có nguyên nhân bởi một mức độ trục trặc chức năng nhất định và có thành tựu đặc thù như quãng thời gian và sự đáp ứng trong điều trị trầm cảm. Cách diễn đạt rối loạn trầm cảm thường hay thấy trong bối cảnh hệ thống phân loại DSM; và ở đây cần nhấn mạnh rằng hệ thống các tiêu chí đánh giá như DSM khi dùng đánh giá các rối loạn trầm cảm có thể tỏ ra không thực sự hiệu quả và hữu dụng ở các độ tuổi khác nhau (Carlson & Garber, 1986).

Tóm tắt nhanh về bệnh nguyên (etiology) trầm cảm ở trẻ em theo Compas (1997), Miller, Bimbaum, & Durbin (1990), và Schwartz và cs. (1998) cho thấy, sự kết nối của một vài biến số tâm lý chủ yếu như ảnh hưởng từ bố mẹ, các biến cố đời sống, và mẫu hình tương tác ở gia đình có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm. Một quan hệ được phát hiện tồn tại giữa những gì hay được gọi là “mất mát’ và trầm cảm ở trẻ em, nhất là sự mất mát bố mẹ hoặc sự tách biệt khỏi gia đình. Trẻ em có bố mẹ mắc trầm cảm thường cho thấy nguy cơ cao của việc tiến triển trầm cảm và các rối loạn tâm lý khác; các tỷ lệ stress của bố mẹ và xung đột gia đình trầm trọng cũng được phát hiện là có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm; một số bằng chứng do sự kiện mang tính tiêu cực xảy đến bên ngoài bối cảnh gia đình như trường họ và trục trặc quan hệ với bạn bè cũng được quy cho việc trẻ em mắc trầm cảm.

Trẻ em mắc trầm cảm có thể làm nảy nở thêm các kiểu nhận thức kém cỏi hoặc gây trục trặc chức năng nhận thức và đi kèm thiếu hụt các kỹ năng đối phó. Mô hình học hỏi tuyệt vọng (learned helplessness), được Seligman đề xuất đầu tiên (1974) đặt để một số dạng thức trầm cảm có thể xảy đến dưới các điều kiện học hỏi mà trẻ không nhận thức được mối liên hệ giữa hành động của chúng với hậu quả từ đó. Lewinsohn (1974) đề nghị mô hình ảnh hưởng rất lớn rằng sự đổ gãy của các sự kiện khoái sướng và củng cố có thể báo hiệu trước việc một người bị mắc trầm cảm, một ý tưởng đáng xem xét khi tiến hành lượng giá trẻ em với các đặc trưng môi trường và hành vi. Ngoài ra, tâm- sinh học cũng cho thấy một số dạng thức trầm cảm ở trẻ em có liên quan với các biến số sinh học như các khu vực tương quan của di truyền gia đình và hóa chất trong não bộ (Schwart et al., 1998).

Trầm cảm được ghi nhận rộng rãi là vấn đề thường gặp ở trẻ em và vị thành niên, trái với quan điểm trước đây rằng trẻ không thể bị trầm cảm vì thiếu trưởng thành trong nhân cách (Harrington, 2005). Tuy thế, viễn tượng này không được chia sẻ bởi tất cả các nhà lâm sàng: Timimi (2004) tán đồng không có bằng chứng thuyết phục để phân biệt rõ ràng giữa trầm cảm và buồn rầu ở trẻ. Bởi vì không có các triệu chứng đặc thù thường dùng chẩn đoán trầm cảm ở trẻ, bất định về tần suất thực sự trẻ mắc trầm cảm trước giai đoạn dậy thì.

Lượng giá trầm cảm như một rối loạn ở trẻ em và vị thành niên đòi hỏi sự quan tâm, kỹ năng, và lưu ý rất đặc biệt. Chẩn đoán trầm cảm ỏ trẻ em là phức tạp. Trẻ có thể gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa các cảm xúc như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001) và trong việc nhận ra quãng thời gian diễn tiến vấn đề, vì thế chúng không giỏi mô tả cách chúng trải nghiệm bao lâu các cảm xúc đặc thù ấy. Khi dùng các định nghĩa người lớn áp vào con trẻ, trầm cảm trước đây chẩn đoán mà không có sự hiện diện của các triệu chứng trầm cảm cơ bản ở người trưởng thành. Các triệu chứng trầm cảm khó phát hiện ở trẻ em vì chúng có thể bị khoác dưới các hiện tượng như ám sợ (phobia), hành vi phạm pháp (delinquencies), đái dầm (enuresis) và các triệu chứng thực thể khác (Glaser 1967, Bschor 2002). Cơn đau bụng được xem là triệu chứng tiềm năng hoặc cùng xuất hiện với trầm cảm (Dowrick et al. 2005). Tuy thế, như Goodman & Scott (2005) khẳng định, trầm cảm không nên được chẩn đoán trừ khi có sự xuất hiện các triệu chứng cảm xúc. Quyết định một người trẻ mắc hay không rối loạn trầm cảm hay đơn giản chỉ đang trải nghiệm các triệu chứng trầm cảm là một thách thức.

Một khó khăn của chẩn đoán trầm cảm ở trẻ nhỏ và người mới lớn là các cảm xúc, hành vi và tình cảm hàng ngày có thể được diễn dịch như dấu hiệu của ‘bênh tật hoặc đau ốm’ (disease/ illness). Việc y khoa hóa (medicalisation) hành vi và cảm xúc trẻ em đã được thảo luận rộng rãi đó đây (Blum 2007, Conrad 2007, Timimi 2007); tuy thế, điều căn bản là chí ít, chúng ta nhận ra các quan điểm khác nhau về việc xác định và chẩn đoán trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên.

Trầm cảm trước đây quen được nhìn như vấn đề nội sinh (xảy ra từ bên trong, có nguyên nhân sinh học) hoặc phản ứng (kết nối giữa các sự kiện bên ngoài gây stress với một sự tổn thương dẫn tới trầm cảm). Kể từ DSM- III, trầm cảm được phân loại như một dãy liên tuc từ trầm cảm nhẹ đến trầm cảm điển hình; quan điểm y khoa hóa các cảm xúc hàng ngày này tạo nên cả loạt thách thức cho người trẻ mà các thế hệ trước chưa từng trải nghiệm. Trầm cảm được xem là chưa được nhìn nhận thấu đáo trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và các triệu chứng trầm cảm bị bỏ qua (Weller & Weiller 2000).

Tuy thế, nếu trầm cảm bị chẩn đoán quá mức thì sự phát triển của các trẻ và vị thành niên này có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là sự phục hồi của chúng. Horwitz & Wakefield (2007) phân tích sự gia tăng trong chẩn đoán trầm cảm xuyên suốt mọi lứa tuổi và đề nghị rằng sự buồn rầu thông thường có thể bị lẫn lộn với trầm cảm; rằng các trải nghiệm bình thường của mất mát và bất hạnh đã bị diễn dịch lại như là bệnh tật; họ khẳng định ảnh hưởng mạnh mẽ của các tiêu chí chẩn đoán trong DSM- IV về trầm cảm đã trở nên quá mức. Horwitz & Wakefield (2007) nhìn thấy một loạt các yếu tố ảnh hưởng tới quan điểm của chúng ta về trầm cảm từ một loại bệnh khá hiếm hoi 30 năm qua trở thành thứ hết sức thường gặp. Bối cảnh sự buồn bã của người ta thường bị lờ đi khi xem xét ai đó có bị mắc trầm cảm hay không. Bối cảnh là quan trọng bởi vì không có nó, các yếu tố khác gây ảnh hưởng tới tâm trạng người ta như mất mát, không được ngó ngàng tới. Hai tác giả vừa nêu khẳng định các tiêu chí DSM-IV trong khi tỏ ra hữu dụng trong thực hành lâm sàng lại quen được dùng như khung tham chiếu để chẩn đoán trầm cảm trong cộng đồng; điều này dẫn đến việc thừa nhận hoặc ước tính quá mức trầm cảm ở cả trẻ em và tuổi mới lớn. Khẳng định này quan trọng bởi vì trẻ em và tuổi mới lớn rốt ráo nhận lấy điều trị y khoa cho một thứ được xem là bệnh (perceived illness) mà có thể thực tế là một vấn đề hiện sinh, một vấn đề thuộc tồn tại người. Thay vì y khoa hóa các vấn đề như thế, người trẻ cần được tạo cơ hội để vượt qua và quản lý phiền não của chúng (Claveirole & Gaughan, 2011).

Liên quan tới việc biểu đạt một cơn dịch trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn. Costello và cs. (2006) tổng thuật bằng chứng và khẳng định rằng trong khi các nhà lâm sàng đang gia tăng ghi nhận về trầm cảm thì tỷ lệ đích thị vẫn duy trì tương tự 30 năm trước đây. Điều tra sức khỏe tâm thần vị thành niên 1999 ở Anh quốc (Ford et al. 2004) thấy tỷ lệ dịch tễ khoảng 0,9% cho mọi loại trầm cảm và 0,6% cho trầm cảm điển hình ở trẻ em trong độ tuổi 5- 15. Hàng loạt nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dịch tễ dao động 4- 6% ở người trẻ (Kessler et al. 2001), trong khi một nghiên cứu học sinh trung học cơ sở ở Edinburgh có tỷ lệ 8,4% (Moor et al. 2007). Trẻ gặp khó khăn trong học tập có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn (Emerson & Hatton 2007, Tonge & Einfeld 2003, Tonge 2007), dù một số nghiên cứu phát hiện thấy khác biệt nhỏ ở dạng trầm cảm điển hình giữa trẻ gặp khó khăn trong học tập và trẻ không mắc nó (Stevenson & Rommey 1984). Khả năng các tiêu chí của ICD-10 và DSM-IV nhằm định dạng các khó khăn tâm lý ở trẻ em và tuổi mới lớn cần được đặt thành vấn đề về độ tin cậy quá mức vào việc truyền thông bằng lời; điều này đặc biệt khổ sở với trẻ em và tuổi mới lớn gặp khó khăn trong học tập.

Khi lượng giá một người trẻ, điều quan trọng là cần xem xét thông tin từ các nguồn khác nhau, vì trẻ thường hành xử phụ thuộc vào bối cảnh. Bố mẹ chắc chắn là nguồn thông tin đáng giá: họ có thể giải thích tại sao họ tin có vấn đề và tại sao lúc này. Khi phỏng vấn trẻ, hiểu biết về sự phát triển của trẻ em, nhất là về sự phát triển ngôn ngữ, cảm xúc và nhận thức là căn bản vì trẻ có hiểu biết khác nhau và cách khác nhau trong miêu tả mọi thứ phụ thuộc vào tuổi của chúng. Lưu ý các ảnh hưởng hoặc lời giải thích khác, và có cách tiếp cận tổng thể. Khi điều tra được thực hiện trong bối cảnh có những sự kiện môi trường khác nhau, trẻ em có thể khu biệt các cảm xúc cơ bản như buồn rầu hoặc cáu gắt; tuy thế, khi vắng mặt một bối cảnh, trẻ có thể chối bỏ các cảm xúc cơ bản như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001, Martin et al. 2010). Bố mẹ có thể hiểu biết ít ỏi về thế giới nội tâm của con em mình; một nghiên cứu của Puura et al. (1998) cho thấy trong khi bố mẹ và thầy cô giáo sẵn sàng nhìn nhận các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em, họ nói chung không giống nhau trong việc tìm kiếm trợ giúp cho đứa trẻ. Một nghiên cứu ở bốn trường trung học cơ sở ở Edinburgh phát hiện, các thầy cô giáo không ngang nhau trong việc nhận ra trầm cảm ở trẻ nhằm đón nhận đào tạo chuyên biệt việc nhận diện trầm cảm (Moor et al. 2007).

Các cuộc phỏng vấn thường dùng để lượng giá và có thể là có cấu trúc, bán cấu trúc hoặc không; một số phương pháp lượng giá khác bao gồm bảng hỏi, như Beck Depression Inventory (Beck et al. 1961), thang đo Child Assessment Scale (Hodges et al. 1982), v.v… Các bảng hỏi và bảng kiểm tuy hữu ích song không nên là toàn bộ phương pháp lượng giá, đứa trẻ hoặc tuổi mới lớn nên luôn luôn được phỏng vấn hoặc quan sát. Các cách tiếp cận trị liệu trò chơi (play therapy) là kỹ thuật quan trọng khi làm việc với trẻ nhỏ; các cách tiếp cận sáng tạo trong lượng giá sử dụng các kỹ thuật như nội tâm hóa vấn đề hoặc cho trầm cảm một cái tên có thể tỏ ra hữu dụng. Nylund & Ceske (1997) mô tả cách tiếp cận kể chuyện để hiểu trầm cảm ở bé gái mới lớn, một số trẻ và thiếu nữ đáp ứng khá tốt với cách này.

Những lĩnh vực phức tạp trong chức năng của trẻ và tuổi mới lớn cần được cân nhắc. Một số triệu chứng trầm cảm như xuống tinh thần, thu mình hoặc mất khẩu vị rất nên được đánh giá ngay; những thay đổi trong cách nói năng hoặc hành xử cũng nên được lưu tâm. Tuy thế, có nhiều sự kiện và trải nghiệm khiến trẻ cảm thấy buồn rầu. Điều quan trọng là người lớn đừng vội vàng kết luận theo cách giải thích y khoa với các sự kiện đời sống mang tới sự buồn rầu cho trẻ. Lượng giá các vấn đề cảm xúc ở trẻ gặp khó khăn trong học tập là một thách thức thực sự.

Nguy cơ tự sát hoặc nỗ lực tự sát tăng lên ở trẻ khi chúng lớn thêm lên; có một sự liên hệ rõ ràng giữa trầm cảm và tự sát, với một phát hiện tổng thuật là 49% và 64% ở người mới lớn đã có ý định tự sát đồng thời cũng mắc trầm cảm rồi (Gould et al. 2003). Mối quan tâm vấn đề tự sát ở trẻ dưới 12 tuổi đang tăng lên (Tishler et al. 2007). Mặc dù các ý nghĩ tự sát là rất thông thường ở tuổi mới lớn, không nên đánh giá thấp trẻ em vì một số trẻ có các ý nghĩ tự sát và hành động dựa trên các ý nghi này. Không rõ ràng ở độ tuổi nào thì trẻ có thể hiểu được hậu quả các hành động của bản thân, ví dụ các hành động của chúng có thể dẫn đến cái chết và cái chết là gì.

Tiện đây, cùng với các tiêu chí chẩn đoán trong DSM-IV-TR (APA 2000), cũng cần nói thêm về một số cập nhật và thay đổi quan trọng ở DSM- 5 (2013) liên quan rối loạn trầm cảm điển hình (hoặc trầm cảm lâm sàng); với việc xuất hiện hai rối loạn mới là Rối loạn Khó Điều Chỉnh Tâm trạng Gây gổ (Disruptive Mood Dysregulation Disorder, DMDD) và Rối loạn Khó ở Tiền Kinh nguyệt (Premenstrual Dysphoric Disorder, PDD). Loạn tính khí (Dysthymia) đã ra đi, thay vào là cái gọi là “rối loạn trầm cảm trường diễn” (persistent depressive disorder). Điều kiện mới bao gồm cả rối loạn trầm cảm lâm sàng mãn tính và rối loạn loạn tính khí trước đây. Theo đó, rối loạn DMDD chẳng hạn, là điều kiện mới giới thiệu ở DSM-5 nhằm nhấn mạnh các triệu chứng vốn được gán nhãn là “rối loạn lưỡng cực thời thơ ấu” (chilhood bipolar disorder); rối loạn mới này có thể được dùng để chẩn đoán trẻ tới 18 tuổi có biểu hiện cáu gắt kéo dài và tần suất các giai đoạn có biểu hiện hành vi cực đoan, mất kiểm soát.

Về các triệu chứng trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn, có 2 ngoại lệ trong chẩn đoán cần lưu ý: tâm trạng trầm uất có thể là tâm trạng cáu gắt, khó chịu (irritable mood) và việc giảm cân có thể là dấu chỉ thất bại cho việc trẻ muốn đạt được cân nặng mong đợi phù hợp với sự phát triển thể lý của chúng. ICD-10 và DSM- 5 phân loại các rối loạn trầm cảm hết sức khác biệt nên cần xem xét cả hai để bản thân người tác nghiệp quen thuộc với những khác biệt ấy.

Tuổi mới lớn có thể biểu hiện một số hoặc hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm, song cũng cho thấy sự khác biệt với trầm cảm ở người trưởng thành. Với tuổi mới lớn, tính tình cáu gắt và trạng thái thu mình về mặt xã hội rất nổi trội, mát hứng thú trong các hoạt động thì ít gặp hơn, nỗi đau đớn thân xác như một chỉ báo cho trầm cảm thì khá thường thấy như các ý nghĩ tự sát (Dowrick et al. 2005, Weller et al. 2006). Tự làm hại bản thân có thể là cách người trẻ cố quản lý các cảm xúc trầm cảm.

Có khác biệt trong dấu hiệu trầm cảm ỏ trẻ trước và sau giai đoạn dậy thì. Trẻ có thể biểu tỏ nhiều phàn nàn thực thể hơn, tính tình cáu kinh, lo âu bị xa cách, khóc lóc, không muốn đi học và đau bụng (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006). Người trẻ trải nghiệm nhiều hơn sự bơ vơ và tuyệt vọng, tội lỗi, mất khoái cảm (thiếu vắng niềm vui thích bất cứ điều gì), ngủ quá mức (hypersomnia) và dùng bia rượu, ma túy để kiểm soát các trạng thái trầm cảm (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006, Wu et al. 2006). Các ảo giác cũng có thể xuất hiện trong trầm cảm nặng (Cepeda 2000).

Giai đoạn mắc trầm cảm điển hình là vấn đề nghiêm trọng với trẻ em và tuổi mới lớn, và nếu tái phát thì có gây nên những ảnh hưởng ghê gớm với sự phát triển của người trẻ; có thể tiếp tục trải nghiệm các giai đoạn trầm cảm suốt tuổi trưởng thành. Trầm cảm liên quan với việc tăng tỷ lệ lạm dụng chất và ảnh hưởng tới các chức năng cá nhân, xã hội, nghề nghiệp và học hành (Fergusson & Woodward 2002). Trầm cảm ở người trẻ thường khởi từ tiền sử mắc rối loạn lo âu hồi nhỏ, hoặc loạn tính khí (Chavira 2004, Weisman et al. 2005). Loạn tính khí như sơ bộ đề cập bên trên, là tâm trạng đặc trưng bởi các cảm xúc trầm uất, mất hứng thú và khoái lạc, kéo dài hơn 2 năm song không đủ tiêu chí chẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình. Các cảm xúc về sự vô giá trị, đồ vứt đi có xuất hiện vào giữa giai đoạn thơ ấu, tội lỗi thì được thấy muộn hơn (Goodman & Scott 2005). Các ý nghĩ và hành vi tự làm hại bản thân thường xảy ra tầm 12- 14 tuổi song có thể phát hiện sớm hơn ở trẻ sống trong môi trường nhìn thấy những người khác tự hành hạ bản thân họ. Ollendick và cs. (2005) cho rằng các triệu chứng trầm cảm là bình thường ở trẻ em bất luận đích thị trầm cảm hay xảy đến ít nhiều mà thôi.

Nguy cơ mắc trầm cảm ở trẻ em nếu được định dạng thì rất có khả năng làm giảm thiểu trầm cảm thông qua việc phòng ngừa. Trách nhiệm của mọi người trong việc nâng cao sức khỏe tâm trí ở trẻ em và tuổi mới lớn, và việc chuyển dịch lĩnh vực của nhà chuyên môn sang công việc của mọi người là điểm then chốt của tiến trình này. Có rất nhiều công việc hàng ngày có thể làm để nâng cao sức khỏe tâm trí. Bố mẹ và trường học có thể đóng vai trò chính trong việc cải thiện chất lượng thực phẩm, dinh dưỡng và chế độ ăn uống lành mạnh. Các chiến lược chống bạo lực học đường và dẫn dắt bởi học sinh chứng tỏ thành tựu đáng khích lệ. Trẻ thể hiện sự sáng tạo và trực giác khi giải quyết vấn đề bên trong môi trường vui chơi và lớp học, vf vậy chúng ta nên xáp vào trí tuệ cảm xúc của chúng và cung cấp các cấu trúc hỗ trợ chúng. Bố mẹ có thể đưa ra các cơ hội khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động sau giờ học ở trường nhằm nâng cao sức khỏe tâm trí. Hansson và cs. (2008) sử dụng khái niệm môi trường chia sẻ và không chia sẻ; làm thế nào để mấy khái niệm này hữu ích trong việc lượng giá trầm cảm đây? Liệu mình có thể định hình các yếu tố môi trường chia sẻ và không chia sẻ làm các yếu tố phục hồi và các yếu tố gây tổn thương?

Rooney và cs. (2006) cho thấy các triệu chứng trầm cảm đã thuyên giảm và tăng lên các kiểu tư duy tích cực một cách trực tiếp sau khi các chương trình can thiệp triển khai; tuy thế, những thuyên giảm này không bền vững theo thời gian. Collins & Dozois (2008) xem lại các chương trình phòng ngừa trầm cảm và phát hiện thấy các yếu tố trong chương trình tạo nên sự khác biệt là việc cải thiện các kỹ năng nhận thức, các cách tiếp cận liên nhân cách, và sự dấn thân hòa nhập của bố mẹ vào các chương trình.

(bài tới sẽ đề cập phần cuối, đi sâu trình bày các biện pháp can thiệp và trị liệu trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn)

J. Soi (36): Nhắm vào động cơ nội tại; làm chi đánh thó nổi, chỉ sợ đích thị mình có gì không thôi

Được địp đồng nghiệp nhờ hỗ trợ thiết kế bộ mấy chục kỹ năng mềm theo yêu cầu của thủ trưởng đơn vị, tôi nghiêm túc ướm lời về cách xử lý công việc cơ quan. Bạn có vẻ tự hào với khả năng nhanh nhạy, việc khó mấy cũng tìm ra cách xử lý ổn thỏa; bao sân nhiều món và thừa năng lực cá nhân để vừa quán xuyến được từ cái tăm, chiếc ghế và món tráng miệng giữa buổi hội thảo cho đến chuyện kịp đúng hạn nộp bài nghiên cứu khoa học cấp nọ kia.

Cống hiến thời gian và công sức tập trung nhằm thỏa mãn các nhu cầu cả về tinh thần và thể lý đem lại cho chúng ta một sức chịu đựng, độ nhẫn nại phục vụ tha nhân, cộng đồng. Cảm giác mạnh mẽ trong đam mê và mức đồng cảm ấy có thể đẩy chúng ta cho nhiều hơn những gì mình có, kết quả dẫn tới sự mệt lả hoặc kiệt sức.

Không những cần biết cách cân bằng giữa giữa sự đồng cảm vì người với sự chú ý tới việc tự chăm sóc bản thân, bất chấp việc tăng lên thông thường của lương bổng và thu nhập, thực tế không có gì thúc đẩy chúng ta tốt hơn việc có lý do bên trong, hết sức riêng tư để thực hiện điều gì đó.

Nghiên cứu lý do đăng ký vào học của tầm 11.000 học viên trường sĩ quan West Point (Hoa Kỳ) cho thấy chẳng có gì đáng ngạc nhiên “càng mãnh liệt với các lý do nội tại (trở thành một lãnh đạo ra trò) khi vào West Point thì đó là các học viên dễ tốt nghiệp và chóng được cấp bằng sĩ quan”, so với người có động cơ ngoại giới (đạt được viễn tượng nghề nghiệp ngon lành).

Điều các nhà nghiên cứu ngạc nhiên, những học viên có cả động cơ ngoại giới và nội tại thì lại thi hành công việc kém cỏi hơn so với ai chỉ có các động cơ nội tại không thôi; những người ôm đồm cả hai loại động cơ thì ít được thăng tiến và thời gian lưu lại trong quân đội sau thời gian quy định phục vụ năm năm cũng ít hơn. Kết luận rút ra là các hoạt động nên được cấu trúc sao cho các hậu quả ngoại giới, như lương cao hơn, không nên trở thành các động cơ phấn đấu của bản thân. “Giúp đỡ người ta tập trung vào ý nghĩa và ảnh hưởng của công việc họ làm, hơn là chú mục vào chẳng hạn thu nhập tài chính mang lại, có thể là cách tốt nhất để cải thiện không những chất lượng công việc mà còn tạo thành tựu cả về mặt tài chính nữa”.

Thời gian cộng tác ngắn cũng khiến tôi kịp liên tưởng tới việc khởi nghiệp. Rằng khi các người khởi nghiệp tìm kiếm nhà đầu tư, điều căn cốt là công ty nhắm vào các ý tưởng tốt nhất chứ không phải tốn thời gian hoàn thành việc bảo vệ ý tưởng hợp pháp nhằm ngăn ngừa các nhà đầu tư đánh thó ý tưởng của họ đem về. Đáng chú ý, cả nhà đầu tư lẫn các công ty mới khởi sự thường ít thích các ý tưởng điều chỉnh theo ý của thị trường, thay vào đó, tự kiểm soát phù hợp, các công ty mới gia nhập có thể bảo vệ các ý tưởng riêng có và tăng tốc kinh doanh thêm lên… Như lời trích dẫn trong bài báo “nguy cơ tiến chậm thì đáng lo ngại hơn là nguy cơ bị sao nhái ý tưởng”.

Lời cảnh tỉnh từ ngoại quốc thật thiết thực, quá chừng đúng đắn và sống động giữa thời buổi giao thời, nhiễu nhương.

Lệ Rơi, lên thuyền ra khơi, hay quẩn quanh ven bờ: buông lơi bàn chơi về tính chuyên nghiệp đua chen cùng đặc thù truyền thông hiện đại

Có vẻ câu chuyện chàng nông dân Hưng Yên mang biệt danh Lệ Rơi sắp đến hồi kết.

Ở một góc độ nhất định, tất thảy chúng ta dù muốn hay không và/ hoặc vô tình hay hữu lý, đều hướng tới phục vụ cộng đồng xã hội theo tâm nguyện ‘mua vui cũng được một vài trống canh’. Vượt trên những đau đớn trái ngang của thân phận, chính tính mục đích trong biểu lộ mối quan tâm, chú mục hành động và cơ sở tạo thành những nhận xét, đánh giá nọ kia về một hiện tượng hoặc nhân vật nào đó chắc chắn chi phối giá trị bản thân chúng ta: rốt ráo, động cơ và dự định là gì, nhằm ý đồ chi?

Dự tính và hậu quả

Từng nghe ví von rằng ‘thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội đồ ra sao vẫn còn tương lai’ (chỉnh sửa tí cho nó vần êm dịu đặng tranh thủ hít thở thoải mái), soi chiếu vào tiêu chí căn bản vừa nêu lên ấy, sự khoe giọng phơi mặt của một con người trước bàn dân thiên hạ quả là một minh họa nghịch hợp quá chừng thương xót: ‘đã mang lấy nghiệp vào thân…”, chịu đựng và hứng khởi cùng phát tán đến độ gây cảm tưởng khó kiểm soát nổi, nổi tiếng và mỏi mệt, chi phối và phác thảo cái khung sườn phản ánh của diễn biến tâm tư lẫn tới lui chứng kiến đồng thời.

Chừng nào cứ quen nhìn ngó, xét soi nhân vật đình đám tựa ‘nạn nhân’ u mê bị dắt mũi hay kẻ quấy rối, chơi trội dị hợm nỏ hiểu gì về đời thì bất quá cũng không thể thoát khỏi tiền định sai lầm: tư duy nhị nguyên hướng tới phán đoán đúng sai, tốt xấu, người quan sát và đối tượng được quan sát, v.v…

Nên chi, đáng thành vấn đề nhất không chỉ là sự tinh tuyền của động cơ mà cũng cần để ý cả các hậu quả xảy đến nữa; thu hoạch mong muốn cũng quan trọng chẳng kém việc thiếu vắng nó. Liệu những ý định tốt lành có xứng biện hộ cho kết cục xấu tệ? Nảy sinh vấn đề phiền muộn vì đa phần chúng ta khởi sinh các dự tính ô hợp, thậm chí hơn một thứ duy nhất.

Không ai trong chúng ta hoàn hảo, song nơi chốn này đây nên luôn cần được làm tăng thêm tính thiện xảo (skillfulness) thay vì khiến giảm sút đi trạng thái tỉnh thức (mindfulness), về lý do rất chính xác tại sao chúng ta tiến hành những gì muốn làm, và các kết quả tiềm năng được thành tựu tác động, ảnh hưởng đến chính bản thân mình cũng như những người khác.

Lần nữa nhắc lại, khi tâm trí khởi sinh mọi sự, việc hiện diện hoặc mất bóng từ bi và khôn ngoan quyết định một biểu đạt hành động dẫn dắt tới Hạnh phúc xác thực hay không. Thực tế, nếu ai đó đích thị từ bi thì kẻ ấy sẽ nghĩ ngợi hết sức khôn ngoan gấp đôi trước khi đẩy đi món thứ có thể sẽ gây xáo trộn, mập mờ hoặc tàn hại tha nhân.Từ bi chỉ đích thị khi được dẫn dắt thực sự bởi khôn ngoan, vì chúng là hai điều hỗ tương qua lại.

Bật nhanh lên trong hiểu biết về dự tính, ý định của bản thân là tốt hay xấu, và chầm chầm lại việc xác quyết, tuyên bố về trải nghiệm mình kinh qua là tốt hay xấu.

Thiển nghĩ, sự thả xuống, rời xa, quên đi đích thực không gì khác hơn là xả bỏ dính mắc, ác cảm và hoang tưởng. Mức độ một người thả bỏ phụ thuộc vào tâm tính và tình huống riêng tư của chính anh/ chị ta. Song cái nên gìn giữ lại như nguyên tắc điều hướng là điều này thôi: việc đạt được tuyên bố đòi hỏi sự nhổ rễ, trừ tiệt toàn bộ sự thèm khát, và tiến bộ theo cùng trên hành trình là nỗi niềm thôi thúc ở tầm mức nhất định nào đó vượt qua sự thèm khát. Bẻ gãy tính chủ đạo, át vía của ham muốn chắc không hề dễ dàng song khó khăn không nào hề thủ tiêu sự cần thiết thực hiện. Khi khát thèm là cội nguồn của dukkha (vô vàn bất toại nguyện), tận diện nỗi khổ niềm đau ấy phụ thuộc việc tiết giảm thèm khát, và liên quan trực tiếp tới tâm trí muốn thả bỏ, rời xa…

Lúc này, khi ai đó nỗ lực cởi bỏ dính mắc, người ta bất chợt gặp phải một sự kháng cự ghê gớm ở bên trong. Tâm trí không hề muốn từ nhiệm chuyện nắm giữ các đối tượng mà nó cứ dần gắn bó thêm lên mãi. Cả quãng thời gian đằng đẵng nó quen thói tích góp, ôm ấp, và nắm chặt nên cơ chừng bất khả việc tháo gỡ các thói quen này nếu chỉ dựa vào mỗi hành động của ý chí. Người ta có thể dễ tán đồng nhu cầu cần phải từ bỏ, có thể rất muốn rời xa khỏi việc dính mắc ẩn sâu bên dưới, song khi tiếng gọi vang lên thì nghe chừng tâm trí dội ngược ngay liền và tiếp tục tiến bước trong nỗi khát khao thít chặt, ôm nắm những ham muốn, khát thèm sẵn có.

Biện pháp không nằm ở cách thế dồn nén; nỗ lực dẫn dắt ham muốn thoát ra với một tâm trí ắp đầy sợ hãi và kinh tởm. Cách tiếp cận này không những chẳng giải quyết được vấn đề mà còn đẩy nó chìm sâu, khuất lấp khỏi bề mặt trông thấy và vẫn phát triển âm thầm. Công cụ phóng thích tâm trí khỏi ham muốn là trạng thái hiểu biết. Sự xả bỏ, buông xuống đích thị không phải là vấn đề tự thuyết phục chính mình để từ bỏ các thứ hãy còn được ấp ủ, hoài nhớ trong lòng, mà là đổi thay viễn tượng về chúng (nhận ra chúng vô thường và không thật) đến độ chúng không còn ràng buộc ta được nữa. Khi hiểu biết bản chất của các ham muốn và thèm khát, khi điều nghiên thật sát gần nó với sự chú tâm nghiêm túc thì các ham muốn và khát thèm sẽ tự thân rơi rụng, biến mất mà không nhất thiết đòi hỏi phải đấu tranh, gạt bỏ.

… Câu chuyện của Lệ Rơi tựa các dự tính, ý định thu hút sự chú ý khác như vụ chụp ảnh khoe thân là câu chuyện của chính chúng ta, bởi vì hoàn cảnh đang chẳng ngừng chung đụng mọi thứ.

Cơn cớ chi chúng ta thù ghét nhau?

(sẽ viết tiếp các phần khác khi tiện dịp)

Một câu hỏi quen thuộc: làm thế nào tôi biết mình đang cảm nhận điều gì đây?

Những câu hỏi ấy, vào một lúc nào đó trong đời, sẽ bất chợt xuất hiện hết sức mãnh liệt: “Làm thế nào tôi biết những gì mình đang suy nghĩ và cảm nhận là đúng đắn đây? Có thể ai đó khác mới đúng thì sao? Tôi nghĩ mình biết những gì mình đang suy nghĩ rồi ai đó đến và bảo điều khác biệt cơ, và tôi lập tức tin họ! Tại sao tôi làm thế? Chẳng mấy chốc tôi quên béng điều mình từng nghĩ chắc là sai lầm.”

Khá dễ dàng bị vướng mắc dính cả chùm vào trạng thái tương tự bên trên; mọi người đều ít nhiều biểu lộ thế, cả thân chủ lẫn nhà trị liệu hay với những ai chưa từng đặt chân vào phòng tham vấn tâm lý. Câu hỏi: tại sao tôi làm thế? cơ chừng là câu hỏi đầy lợi lạc, hoặc chẳng tạo mấy vang vọng lắm, song chí ít mình có thể gạt câu hỏi đó sang bên.

Mục tiêu của nhiều người, cả trong tham vấn lẫn bên ngoài phòng trị liệu, là chắc thực với chính bản thân mình; họ chuyển tải hết sức chính xác một cách hiểu biết điều mình suy nghĩ và cảm nhận. Thực tế phũ phàng và trêu ngươi là điều này chưa chắc có hiệu lực như mong đợi đâu. Chúng ta hết thảy có thể thổi bùng ra ngoài, hoặc quên phắt những thứ từng chắc thực, kỳ thực các suy tư lẫn cảm xúc của chúng ta đều đặn bị bẻ gãy rồi thay đổi trong tiến trình tương tác với tha nhân và các tình huống nọ kia xảy đến trong đời, và thực tế mọi sự diễn ra như thế. Những gì đích thị sau đó là cảm nhận bền chắc bên dưới chúng ta hoặc trong lòng chúng ta.

Chiêu lừa mẹo xảo khéo không chỉ cố gắng bám vào nền tảng vững vàng qua mọi thời gian mà còn biết cách làm sao để tiếp chạm nó khi mình muốn. Thường khá dễ dàng hơn chúng ta nghĩ nhiều. Đấy chính là lộ trình nhắm tập trung vào. Song mình không nhất thiết nghĩ về nó như lộ trình hoặc kỹ thuật, chúng chỉ đích thị là các cách thức nói về thực tế.

Đôi khi tất cả điều chúng ta cần thiết tiến hành là thư giãn, tạo ra một không gian nội tại trong lòng rồi tự vấn bản thân bằng lối thân thương: “Hiện tôi đang cảm thấy như thế nào đây?” Điều gì đó bên trong thân xác mình đáp ứng; trong trạng thái thế, nó không mở ngỏ cho chuyện tranh cãi, từ bản thân mình hoặc so với ai đó khác. Rất đơn giản cách thức mình cảm nhận, suy tư, và đang là với tình huống bản thân, từng khoảnh khắc. Nó luôn tương thích, và khi tiếp chạm, nó luôn luôn đưa mình thêm một bước tiến về phía trước.

Nàng Bạch Tuyết: đẹp, xấu, và quãng đời sống thực ở giữa

Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?
Bạch Tuyết, nàng có cần phải xấu?

Câu chuyện cổ tích Grim về nàng Bạch Tuyết từ thời thơ ấu xa lơ xa lắc giờ lại sống dậy bàng hoàng, với một chiều kích và ánh sáng khác, khi dịp cuối tuần gần một tháng trước ghé sang Viện Goethe xem phim.

Nghĩ về một trường hợp muốn ly hôn song cũng chưa thôi mong đợi làm sao có thể níu kéo và nữ thân chủ hy vọng, với việc kiếm ra tiền nhiều hơn thì dễ khiến ông chồng thôi còn lăng nhăng mà sẽ ghi nhận nỗ lực phấn đấu của vợ để rồi thủy chung quay lại.

Gợi khái niệm ‘hệ thống sống còn’ mà việc hiểu biết đầy kịch tính về nó có thể sử dụng câu chuyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết (Snow White), không phải với phiên bản Disney mà câu chuyện tìm thấy trong Truyện Cổ Grim sau lần xuất bản lần đầu tiên vào 1812.

Trước hết ý tưởng cơ bản liên quan khái niệm này là trẻ em cần người lớn để đảm bảo sống còn và trong một số trường hợp trẻ em đặt qua bên nhu cầu riêng tư và thích nghi với nhu cầu bất thường, thiếu ổn định, mang tính mệnh lệnh của bố mẹ hoặc một thành viên gia đình khác. Những sự thích ứng này, như các hệ thống sống còn, trình bày các mẫu hình đầy quyền năng về hành vi, thái độ và niềm tin chức năng nguyên ủy vốn nhằm duy trì cảm giác an toàn cũng như tiếp tục gắn bó với người lớn trong thế giới của trẻ nhỏ. Hình thành từ thời thơ ấu và nền tảng dựa trên suy tư cụ thể và phàm tục của một đứa trẻ, dần về sau chúng cho ra các hành vi thất sách của kẻ vị thành niên và người trưởng thành.

Giờ quay lại phiên bản đầu tiên của truyện cổ tích Grim. Phiên bản Tiểu Bạch Tuyết ấy tuân thủ truyền thống mà động năng và cốt truyện của loại văn chương truyền khẩu vốn chú trọng mô tả ‘con người bình thường’. Theo đó, cô bé mới 7 tuổi khi thấy dung nhan mình trong chiếc gương thần như là ‘người đẹp nhất giữa thế gian’. Mẹ Bạch Tuyết không chết khi sinh ra cô, bà sống thọ và là chủ nhân thực sự của chiếc gương thần. Việc bà mẹ ruột bị chuyển thành bà mẹ kế độc ác bắt đầu từ bản in 1819 trở về sau; sự chuyển dịch thế được tìm thấy trong các chuyện cổ tích khác, biểu tỏ nhu cầu của anh em nhà Grim muốn lý tưởng hóa Bà Mẹ như biểu tượng quan trọng của các giá trị Đức quốc.

Cụ thể hơn, theo truyện, sau khi dung nhan Bạch Tuyết xuất hiện trong chiếc gương thần, cô bé trải qua các cuộc tấn công của bà mẹ sôi máu điên cuồng vì ganh tỵ: bảo người tiều phu đưa cô vào rừng thủ tiêu, và ba lần hãm hại khác do chính bà mẹ hóa thân thành bà lão tiến hành ở nơi mà gương thần mách bảo chỗ trú ngụ của Bạch Tuyết (dải lụa thắt chặt đủ để mất ý thức, cái lược tẩm độc cũng làm nạn nhân mê man, và cuối cùng là quả táo thêm độc dược); tiếp đó, phần còn lại là Bạch Tuyết nằm mãi trong quan tài cho đến ngày được chàng hoàng tử giải cứu, rồi họ sống ‘hạnh phúc bên nhau mãi mãi’.

Đổi đoạn kết của chuyện cổ tích vào việc người ta giải quyết thực tế và anh thư có thể là một phụ nữ trẻ trung bị tàn hoại khủng khiếp bởi các trải nghiệm trong đời. Cô có thể đau đớn bởi rối loạn stress sau sang chấn, ám sợ dây ren, dải buộc, lược, táo, và các quý bà rồi đau đớn do mắc rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng cũng như dạng phản ứng lo âu lan tỏa. Đây rõ ràng không phải là cá nhân sống ‘hạnh phúc mãi mãi về sau’.

Khi hỏi một đứa trẻ rằng nàng Bạch Tuyết cần làm gì, với tư duy cụ thể, nó trả lời rằng: ‘Chị í cần rời khỏi cái gương’. Vậy rồi sau đó cô í cần làm thế nào nữa?  ‘Chị í cần phải xấu xí’; càng xấu xí thì cô í càng không phải bị bà mẹ ái kỷ quá độ hành hạ. Chuyển thể Nàng Bạch Tuyết nhằm tránh rơi vào vòng cạnh tranh, đối đầu thảm khốc đầy tai ương với bà mẹ, dạng thức cốt lõi của hệ thống sống còn của nàng, là ‘phải nhất thiết xấu xí’. ‘Nhu cầu’ ấy có thể tự thân biểu hiện trên nhiều cách thức, tỷ dụ, trở nên thừa cân và béo phì. Cô gái trẻ, người sống sót và thoát khỏi nỗi ghen ghét, tị nạnh của bà mẹ nhờ mập ú, là một sự đánh mất để hiểu ra tại sao khi lớn lên cô không thể giảm cân, bất luận dù có cố gắng đến thế nào. Cô không hiểu rằng các hệ thống sống còn nảy sinh từ thời thơ ấu vẫn không dễ dàng thả bỏ quyền năng tác oai tác quái của chúng.

Các hệ thống sống còn này có thể diễn biến dưới nhiều dạng kiểu. Nếu bà mẹ hỏi: “Ai là người thông minh nhất trong chúng ta?”, nàng Bạch Tuyết e sẽ là kẻ đần độn. Nếu một người cha ướm lời: “Ai là người cần thiết nhất trong chúng ta?”, cậu con trai e sẽ là đứa phụ thuộc kém cỏi. Nếu anh cả được ưu ái nói: “Ai là người thành công nhất trong nhà mình?”, cậu út ít e sẽ đóng vai kẻ thất bại. Nếu đứa trẻ tin thật nguy hiểm khi vén lộ các bí mật gia đình, nó sẽ trở thành “đứa trẻ lặng câm”. Trong khi tất cả các chiến lược thành công giúp một đứa trẻ giải quyết với môi trường rối rắm và tiềm tàng hiểm nguy thì chúng lại không có được các đáp ứng lành mạnh hoặc đúng đắn khi trở thành người lớn trưởng thành.

Khi tuổi thơ của chúng ta trải qua cảm giác bị tước đoạt, mất mát về mặt cảm xúc thì dạng thức thiếu vắng không nghĩ mình là người quan trọng hoặc đáng yêu đủ kéo dài trong khi trưởng thành như một kiểu ‘não trạng mất mát”. Chúng ta có thể ước gì mình có thể có đủ đầy những thứ mình cần; cảm giác bất an này dễ làm băng hoại, tàn phá các quan hệ thân mật. Chúng ta thậm chí mong đợi những người yêu thương mình bỏ rơi, hắt hủi mình, không bao giờ biểu tỏ các nhu cầu bản thân một cách trực tiếp hoặc lựa chọn tình nhân cặp đôi là những người lảng tránh, ngại cam kết gắn bó, không thích thân mật, gần gũi. Cảm xúc thiếu vắng, mất mát các nguồn lực quan trọng như tình yêu, thực phẩm, tiền bạc, hoặc thời gian có thể dẫn ta tới nỗi sợ hãi hoặc tức giận. Chúng ta có thể ám ảnh bởi những thứ mình thiếu thốn, hoặc có thể cảm thấy nhu cầu thao tác, vận hành trong mô thức khẩn cấp: bủn xỉn, hà tiện hoặc lên gấp gáp kế hoạch từng giây phút một trong đời.

Ngoài lầm lạc liên quan đến việc quản lý và nhận biết về thời gian, não trạng mất mát và thiếu vắng trên còn dễ khiến ta đưa ra các quyết định vội vàng, ngắn hạn để rồi sẽ làm tăng thêm khó khăn, rắc rối cho những khoảng thời gian dài hơi hơn; chưa hết, não trạng ấy còn quấy nhiễu ta về mặt động cơ, làm mình dấn vào những sự quyến rũ, cám dỗ và thử thách mà khả năng cao là bị tổn thương… Điều nên làm để thay đổi là hình thành thái độ biết ơn; không so sánh bản thân với người khác; ngừng hẳn ám ảnh; sử  dụng các công cụ đo lường ưu tiên (lên danh sách những việc cần làm, lập kế hoạch, v.v…); đừng tham lam, thèm khát quá…

Thực tế, hầu hết bố mẹ không giống với bà mẹ độc ác trong truyện cổ tích Nàng Bạch Tuyết. Nhiều người có thể trải qua môi trường hồi tuổi thơ đầy rối rắm, trục trặc hoặc khốn khó và có khả năng đã phát triển các hệ thống sống còn phù hợp với thân phận của riêng họ. Điều quan trọng là người cha có thể nhìn vào nền tảng gia đình sinh học đặng thấy ra mình có mắc mứu với một môi trường cạnh tranh cực độ thế không; khả năng khác là ông hãy còn vướng vào nhu cầu sống còn xưa cũ để cảm thấy mình nhất thiết tồn tại, hay ông muốn làm ‘người cha hoàn hảo’ bởi vì mình dính dáng với một hệ thống sống còn đòi hỏi phải làm người hoàn hảo.

Càng thấu hiểu lịch sử chính mình và đạt được một khoảng cách tốt nhất với quyền lực của các hệ thống sống còn đặc thù, chúng ta càng tìm thấy nhiều khả năng để cống hiến, đưa lại và tạo lập cho con cái mình một môi trường cho phép chúng phát triển nhân cách, tài năng và những tiềm tàng riêng có.

Chất lượng dịch vụ tồi tệ: khách hàng thường mê tiếp thị kiểu gì

Ơn giời, bởi thay vì thuận miệng định tạt vào quán lẩu 3 con cừu (Mông Cổ), anh bạn chuyên nghề kiểm toán hay làm việc với đối tác Nhật Bản đã kịp thay đổi với đề nghị ghé hàng cơm niêu.

Tuyền các món ăn dân dã hợp với thói quen sành sõi ẩm thực đất Bắc thong thả được gọi tên; nội nghe giới thiệu cách chuẩn bị nguyên vật liệu, chế biến, bày biện của bạn thấy các thứ vốn nào xa lạ gì chợt hóa lung linh, thi vị, lạ lẫm hẳn lên. Trời nồm sang giêng hai vẫn còn giá rét nên chắc chắn cơm nóng canh sốt, đủ chất dinh dưỡng đầy hương thơm thừa sức thỏa mãn mắt môi, bụng miệng.

Cơ mà nhà hàng phục vụ không khéo. Dọn lên tuốt tuột, kiểu cho sang tất một chuyến đò. E ngại khách buồn, thấy vẻ thất vọng không nói nên lời của bạn mà thương.

Tiếp thị chẳng với bất kỳ ai cả.

Năm năm trước, trong một số tạp chí doanh thương Harvard có bài chỉ ra rằng khách hàng không muốn kéo dài thêm lối phục vụ “gấp gáp và phiền toái” đã trở nên thông thường trong làm ăn ngày nay. Khách hàng muốn có trải nghiệm lớn lao khi họ bước vào một định chế kinh doanh, bất kể đó là hàng bán tạp phẩm hay nơi giặt là áo quần. Các cơ sở kinh doanh hiểu biết điều này sẽ thiết lập được các khách hàng trung thành.

Trong nghiên cứu vừa nêu, hai tác giả Dougherty & Murthy (2009) nhận thấy, khi khách hàng tiếp xúc với các doanh nghiệp làm dịch vụ (ví dụ, giải đáp và chăm sóc khách hàng) thì họ muốn hai điều; thứ nhất, nhân viên giúp tôi có am hiểu không?, thứ hai, các thắc mắc tôi nêu ra sẽ được giải quyết ngay từ cuộc gọi đầu tiên?

Đáng tiếc, nhiều trung tâm phục vụ (giải đáp thắc mắc) tiếp tục theo vết và đo lường thời gian bắt máy rồi số phút từng cuộc gọi mà họ thực hiện cả mấy thập niên nay! Kỳ lạ, khi làm thế thì thông điệp chuyển tới các nhân viên là nhanh chóng lên, hậu quả là công việc gấp gáp; chính xác là thứ trải nghiệm mà khách hàng ghét.

Tính trung bình, 40% khách hàng trải qua khó chịu đã ngừng giao dịch với các công ty gây bực dọc cho họ.

Các công ty cần có một số uyển chuyển phù hợp. Cho các nhân viên của mình độ rộng rãi nhất định để “thỏa mãn các nhu cầu cá nhân của khách hàng và để lại cho họ cảm giác thoải mái và dễ chịu.” Người quản lý nên để ý xem các yêu cầu của khách hàng đã được giải quyết trong lần tiếp xúc đầu tiên, phát hiện xem trục trặc đích thực nằm ở đâu (nếu không xử lý ổn thỏa trong một cuộc gọi) rồi tạo ra thay đổi cần thiết.

Một số công ty tin tưởng hết sức ngây thơ rằng các khách hàng cảm thấy tức giận, khó chịu sẽ thông cảm cho dịch vụ của mình và sẽ quay lại nhiều lần nữa; kỳ thực, “nghiên cứu chứng tỏ, ngược hẳn, các khách hàng bất mãn lặng lẽ biến mất mà không thèm nêu lên chút than vãn nào”.

Lần nữa, đừng bao giờ hy sinh phẩm chất cho tốc độ phục vụ. Khách hàng muốn cảm thấy mình có giá trị, được trân quý; bởi hơn mọi điều, khách hàng đánh giá cao cách thức mà họ được đối xử. Theo một nghiên cứu của Hiệp Hội Hoa Kỳ về Kiểm soát Chất lượng (ASQC) thì chưa tới 10% bỏ đi hoặc sang nơi khác vì những lý do không liên quan đến doanh nghiệp (ví dụ, chuyển đổi hoặc không có nhu cầu sử dụng sản phẩm nữa); chưa tới 10% khách hàng thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh; và khoảng 10% khách hàng bỏ đi vì họ không hài lòng với sản phẩm; tuy thế, phát hiện thú vị nằm ở chỗ: hơn 65% khách hàng bỏ đi nơi khác vì chất lượng phục vụ kém cỏi.

Tác giả cuốn sách Swartzlander (2004) thượng dẫn có nêu khái niệm “cá nhân hóa” tích cực là sự tương tác xã hội tích cực giữa một người cung cấp dịch vụ và khách hàng; và theo bà, cá nhân hóa có thể trải dài từ thái cực là cảm nhận ấm áp, tích cực cho đến thái cực đối lập là lạnh lùng và vô cảm, song thái cực thứ hai lưu giữ trải nghiệm cá nhân hóa tích cực và tái xác lập niềm tin rằng không phải mọi nhân viên phục vụ chuyên nghiệp đều tồi tệ hoặc thô lỗ. Và ngay cả khi mình có thể trải nghiệm tính cá nhân hóa tiêu cực nhiều hơn mình mong đợi thì chúng ta luôn vui mừng tình cờ bắt gặp sự cá nhân hóa tích cực.

Khách hàng muốn được đối xử tôn trọng và lịch sự. Nếu công ty hoặc doanh nghiệp không thay đổi thì làm ơn đừng quên rằng, trong số 100 khách hàng  thì 65 người sẽ không quay trở lại vì chất lượng phục vụ của quý vị kém cỏi, tồi tệ.

Mình cần bao nhiêu con ngựa nào?

Không biết gì là đủ thì chẳng bao giờ đủ, ngay cả khi có đủ.

Theo chuyện dân gian Tây Tạng được phiên chế, kể lại thì anh nọ có 1 con ngựa, anh kia 99 con song cả hai vẫn không ai thấy thế là đủ.

Anh đầu thầm ước, “giá mà người anh em kia cho mình một con thì ngựa mình có bạn có bè.” Tay kia lại ngẫm nghĩ, “nếu người anh em kia cho mình một con thì có phải số ngựa mình thành 100 con tròn trịa”.

Cả hai sẽ chỉ hài lòng khi có thêm một con ngựa? Và có lẽ, rồi thì, chẳng mấy chốc, họ lại muốn thêm chút nữa?

Bạn là người anh em nào?

Người đầu tiên hiện tại có ít ỏi, hay người thứ hai cơ chừng tích lũy khá nhiều rồi?

Giàu hay nghèo, không ai đủ đầy hay dư dật nếu kẻ ấy luôn luôn muốn nhiều hơn cần thiết. Bằng lòng do vậy, là sự giàu có lớn lao nhất.

Tuy thế, những giàu có trần tục chẳng thể mua được sự bằng lòng, mãn nguyện; vì những theo đuổi bất tận nhờ tích cóp vật chất thì chẳng khác chi cái trò săn một củ cà rốt đang treo trên cây gậy lơ lửng trước mặt.

‘Loại ngựa’ nào mình muốn đây? Tiền bạc, các khoái lạc cảm giác, danh tiếng, thực phẩm, ngủ nghỉ,…? Tất thảy đều phù du và không ngừng trôi đi, băng qua.

Nếu mình có nhiều hơn các ‘con ngựa’ cần thiết rồi còn muốn hơn thế nữa, tại sao không rộng lượng trợ giúp cho những ai đích thị thực sự đang cần? Hãy cẩn thận kẻo vô tình kích hoạt lòng tham nơi những kẻ khác!

Mình cần bao nhiêu con ngựa nào?

Cá nhân tôi thì không. Nâng đỡ cho sự tự do của đời sống hoang dã ở thế giới hữu sinh và tối đa phương tiện giao thông công cộng.