Phòng ngừa khả năng mắc trầm cảm

Phòng ngừa được hiểu như là việc tiến hành những sự can thiệp nhằm ngăn không cho xảy ra các cuộc tấn công khiến phát triển lên thành rối loạn, gây rắc rối thêm…

Ngăn ngừa trầm cảm (depression) làm giảm các yếu tố nguy cơ rối loạn tâm thần cũng như tăng cường các yếu tố bảo vệ nhằm nâng cao sức khỏe tâm trí.

Mức độ nguy cơ của một cá nhân phát triển trầm cảm có thể được xem xét bởi tính dễ bị tổn thương và trạng thái phơi nhiễm đối với các yếu tố nguy cơ, và sự hiện diện cũng như sức mạnh của các yếu tố bảo vệ liên quan với sự phát triển đó.

Các can thiệp phòng ngừa có thể mang mục tiêu hướng đích phổ quát (chủ yếu ngăn ngừa) ở mẫu dân số chung, lựa chọn cố ý ở các nhóm nhỏ thuộc dân số hoặc các cá nhân khả năng dễ mắc trầm cảm hết sức cao một cách ý nghĩa so với trung bình, hoặc biểu lộ ở các cá nhân được đánh giá là nguy cơ cao, với các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm ban đầu thể hiện ra…

Nhìn chung, có một phổ các can thiệp liên quan đến các trục trặc và rối loạn tâm thần: dự phòng chung, dự phòng chọn lọc, can thiệp sớm (can thiệp theo chỉ báo; định hình trường hợp, và trị liệu sớm); trị liệu (theo chuẩn mực); tiếp tục theo dõi (quyết tâm trị liệu dài hạn; chăm sóc lâu dài); dự phòng độ ba.

Dự phòng sơ cấp (phổ quát)

Can thiệp mang tính dự phòng sơ cấp thì trực tiếp hướng tới toàn bộ mẫu dân số mà không hề được định dạng cơ bản mắc nguy cơ, và có mục đích nhằm cải thiện sức khỏe tâm trí phổ quát của một cộng đồng. Một ví dụ là việc xây dựng sự kết nối và cảm nhận thuộc về, các kỹ năng đối phó và hy vọng về tương lai cho học sinh trong nhà trường phổ thông chẳng hạn. Làm việc với một cộng đồng nhằm giảm các yếu tố nguy cơ liên quan với rối loạn trầm cảm, như việc kiểm soát kém và các mức độ stress cao trong môi trường làm việc cũng được xem là sự dự phòng phổ quát.

Dự phòng chọn lọc (thứ cấp)

Nhắm vào các nhóm dân số và các cá nhân gặp nguy cơ trầm cảm cao. Mức độ nguy cơ được xe là trạng thái cao hơn hẳn đầy ý nghĩa so với trung bình và có thể là một nguy cơ sắp xảy ra hoặc là một nguy cơ mang theo suốt đời. Mục đích dự phòng chọn lọc nhằm giảm các nguy cơ đối với mẫu dân số nhắm sẵn trước rồi. Các ví dụ là những chương trình làm bố mẹ tích cực dành cho các mẫu không ổn, bất lợi; là các chương trình dựa vào học đường đặc biệt quan tâm tới người trẻ tuổi mắc nguy cơ trầm cảm, và các chương trình dành cho người phơi nhiễm cũng như mắc nguy cơ do trải nghiệm nhiều điều khắc nghiệt trong đời (ly dị, mất mát người thân).

Can thiệp sớm

Sự dự phòng theo chỉ báo nhắm đến các cá nhân và nhóm có nguy cơ cao xảy ra rối loạn, người có các triệu chứng và dấu hiệu sớm của tiền triệu trầm cảm song không thỏa mãn tiêu chí chẩn đoán của một rối loạn. Can thiệp sớm thường là các can thiệp hướng tới người đang thể hiện các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của một rối loạn hoặc trục trặc sức khỏe tâm thần, và người hiện phát triển hoặc đang trải nghiệm giai đoạn đầu của một rối loạn.

Can thiệp sớm hồi quy với ‘can thiệp theo chỉ báo’, ‘định hình trường hợp’ và ‘trị liệu bước đầu’. Đó là sự định hình ban đầu một cách kịp thời, hiệu quả và phù hợp người nổi trội các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm để ngăn ngừa bệnh như dự đoán và làm giảm thiểu các tác động liên quan đến các triệu chứng ấy.

Các chương trình định hướng can thiệp sớm có mục đích ngăn ngừa sự phát triển trầm cảm nhờ nâng cao các yếu tố bảo vệ và giảm thiểu các yếu tố nguy cơ (hoặc tác động của các yếu tố nguy cơ), cũng như giúp người ta xử lý thật hiệu quả với mức độ hiện thời của các triệu chứng. Các can thiệp này xảy đến ngay sau khi một nhu cầu được khởi lên, mục tiêu là giảm phiền nhiễu, thu ngắn lại giai đoạn chăm sóc và giảm tối thiểu mức độ đòi hỏi phải can thiệp. Nhờ thế, can thiệp sớm làm giảm sự phụ thuộc và các tác động vốn thường liên quan với các triệu chứng trầm cảm cũng như tăng cường hy vọng cho một tương lai đảm bảo thân- tâm an lạc.

Định nghĩa can thiệp sớm bao gồm dự phòng theo chỉ báo, trong khi các dự phòng chung và dự phòng có chọn lọc thì mới được xem là can thiệp. Khía cạnh ý niệm này phân biệt các cách tiếp cận dự phòng dựa vào sự hiện diện hoặc vắng bóng các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn. Các can thiệp mang tính dự phòng phổ quát và chọn lọc tiến hành khi vắng mặt bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm, trong lúc đó thì dự phòng theo chỉ báo tiến hành khi thấy các triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn tuy nhỏ nhặt bộc lộ ra.

Tuy thế, thường sự phân biệt giữa dự phòng và can thiệp sớm không thật rõ ràng, dứt khoát, nhất là với tình huống gần như bất khả trong hầu hết trường hợp chỉ ra chính xác sự khởi đầu các triệu chứng và dấu hiệu trầm cảm.

Trị liệu

Trị liệu gồm cả thể lý và tâm lý với người được chẩn đoán mắc các rối loạn. Trị liệu chuẩn mực bao gồm ứng dụng các dạng trị liệu hiệu quả, dựa trên bằng chứng với các cá nhân đáp ứng tiêu chí chẩn đoán. Mục tiêu là cung cấp trị liệu hiệu quả nhất nhằm tạo nên khả năng phục hồi tốt nhất trong tương lai.

Chăm sóc liên tục

Chăm sóc liên tục gồm các can thiệp với cá nhân mắc trầm cảm trường diễn hoặc tái phát. Mục đích là cung cấp trị liệu lâm sàng tốt nhất và những dịch vụ hỗ trợ đi kèm phục hồi chức năng cần thiết nhằm duy trì hoạt động tối ưu để nâng cao sự phục hồi.

Phục hồi chức năng có thể nhắm vào các khía cạnh nghề nghiệp, giáo dục, xã hội và nhận thức. Để nâng cao sức khỏe tâm trí, việc làm giảm các yếu tố nguy cơ và tăng cường các yếu tố bảo vệ hãy còn tương thích với thái cực này của phổ, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục hồi và duy trì trạng thái thân- tâm an lạc.

Dự phòng tái phát (độ ba)

Dự phòng tái phát (độ ba) nhắm tới các can thiệp đáp ứng với các dấu hiệu ban đầu của việc tái phát trầm cảm. Dự phòng tái phát là vấn đề thiết yếu với nhóm người mắc trầm cảm, gia đình họ, các dịch vụ sức khỏe tâm thần và cộng đồng lớn hơn. Nhận ra các dấu hiệu ban đầu của rối loạn tái phát và đáp ứng bằng trị liệu phù hợp đòi hỏi khả năng phát hiện siêu tuyệt. Trong khi nhiều vấn đề liên quan đến các can thiệp ban đầu cũng tương thích với dự phòng tái phát, tỷ như khả năng các yếu tố khá khác nhau có thể ảnh hưởng tới sự tái phát và diễn ra lại của một rối loạn hơn ảnh hưởng do sự tấn công kịch phát của chính rối loạn.

Khi người mình thương yêu nảy sinh ý nghĩ muốn chết

Những chuyện như thế luôn dễ khiến người ta cảm thấy đau lòng nếu biết được và nghĩ tới rồi buộc phải sống cùng về sau. Thực tế, các mối quan hệ thân mật có thể trở nên vô cùng khốn khổ vào thời điểm mà một hoặc cả hai người thiếu vắng lòng tự tôn (self-esteem) cùng khả năng điều chỉnh cảm xúc.

Những mối quan hệ lành mạnh và thỏa mãn đôi bên lại thường dựa trên các nền tảng như sự tương kính, tin tưởng, và cảm nhận về lẽ công bằng, đoan chính. Đối xử với bản thân như đối tác ngang bằng để rồi xem xét các cảm xúc nảy sinh; việc này có thể làm khởi lên sự tức giận hoặc tội lỗi, song các cảm xúc ấy nên bị loại trừ, chứ không nhất thiết là nguyên tắc. Thậm chí, chúng ta còn muốn kỳ vọng vợ/ chồng, anh/ cô cảm thấy tồi tệ vì đã đối xử với mình thật cay nghiệt, thôi thúc một lời xin lỗi và bận tâm cách thức mình bị tác động đến mức nào.

Tin tưởng không đơn thuần là mong được xem mình đáng tin cậy mà còn là giả định rằng mình không bao giờ hành xử theo các cách thức cố ý gây tổn thương cho vợ/ chồng/ người yêu mình. Vậy nên, khi vợ/ chồng/ người yêu tom góp các điều bạn phát ngôn như là dấu hiệu mang ý nghĩa và dự tính gây tổn thương, chắc chắn cô ấy/ anh ấy không tin tưởng bạn đang cân nhắc, để ý tới các cảm xúc của riêng họ. Những diễn giải sai lạc ấy có thể là hậu quả của lòng tự tôn thấp ở vợ/ chồng/ người yêu bạn, song nó còn có thể liên quan tới cả niềm tin tưởng vào tình yêu bạn dành cho họ và nhận ra rằng các diễn giải tiêu cực là kết quả của tự thân vấn đề của cô ấy/ anh ấy phóng chiếu vào các bình luận, phát biểu của bạn.

Với tất cả điều trình bày trên, hành vi quá khứ của cô ấy/ anh ấy ‘làm việc’ cho bản thân bởi vì nó cho phép họ thông thoát những nỗi niềm hụt hẫng, đổ lỗi tại bạn với những gì xảy đến sai trái trong đời, và tiếp tục muốn được chăm sóc…

Khi một người thương yêu có dự tính tự sát dường như vì chúng ta thực hiện hoặc không làm điều gì đó, chuyện ấy tự nhiên dễ khiến chúng ta cảm nhận như là trách nhiệm và do đó, tội lỗi. Tuy vậy, chúng ta cần nhớ, dù nỗ lực chia tay hoặc ly hôn là thứ đào sâu ngay lập tức ước muốn tự sát, các vấn đề vốn có nguồn cơn từ lâu rồi.

Đừng ngạc nhiên nếu bạn được mong đợi phản ứng tựa như cách quen hành xử trước đây, và quả khó khăn nếu không làm thế. Bạn có thể tìm kiếm một người bạn thân hoặc người nhà biết rõ tình huống và dự tính định thực hiện đủ để người đó trở thành nguồn trợ giúp và có một cái nhìn khách quan nhất về tình huống đang đương đầu. Các ý nghĩ tiến dần đến chuyện tự sát không dễ nắm bắt và kiểm soát.

Khi chúng ta trở nên trầm uất, não bộ hành hạ với cả dãy suy tư khủng khiếp; chúng bắt đầu với những ý nghĩ buồn nản, thôi thúc tới ý nghĩ muốn chết, rồi kết cục với những suy tư tự sát và dẫn đến nỗ lực quyên sinh, chấm hết đời mình.

Danh sách tuần tự có thể diễn tiến như này:

  • Mình là một cậu con trai, con gái, bố, mẹ, vợ, chồng, người yêu, đồng nghiệp, bạn học… thất bại, v.v….
  • Mình trở thành gánh nặng cho những ai yêu thương mình.
  • Mọi người yêu mình sẽ đích thực tốt hơn hẳn nếu mình không có mặt, loanh quanh với họ ở đó nữa.
  • Mình không muốn chết, song sẽ ổn thỏa và xong xuôi hết mọi chuyện nếu mình không còn sống.
  • Hầu như mình hy vọng mình bị chết bởi một tai nạn hoặc mắc một căn bệnh chết người.
  • (mình huyễn tưởng về những cách tự sát vào lúc này: treo cổ trên cây, nhảy xuống sông, uống thuốc, v.v…)
  • (huyễn tưởng nên nói gì trong lá thư tuyệt mệnh để lại cho những người thương yêu như vợ/ chồng/ người yêu mình)
  • Mình chắc chắn nên chết đi cho rồi
  • Có thể mình thực nghiệm với các tư thế, điệu bộ khi tự sát ở thời điểm này
  • Tạo ra một nỗ lực tự sát.

Đấy là sự khởi đầu cho cả cơn lũ suy tư về chuyện tự sát đổ xuống dồn dập. Nên tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn ngay lập tức, và thường không khó điều trị song càng sớm càng tốt. Nếu mình lần lữa trị liệu, các suy tư khác sẽ chảy tràn theo về…

Đời cạnh tranh và quá bí bét, làm sao tránh stress?

Một cô gái trẻ sau khi tốt nghiệp đại học, đã đi làm được một thời gian rồi chợt than vãn về đời sống không rõ nên diễn biến như nào, rằng cô ấy chỉ không thấy hài lòng với những gì đang hiện diện, hỏi cô ấy muốn gì thì nhận được lời tự thú thiệt tình là không biết.

Tôi nghĩ đến nỗi trầm buồn hiện sinh. Stress cấp tính đòi hỏi đáp ứng thích nghi hết sức cao độ, song theo thời gian, nó trở nên mãn tính rồi một lúc nhất định, đòi buộc chúng ta phải suy nghĩ lại lối sống của bản thân. Stress là cái đinh chi mà thiên hạ cuống cuồng hoặc thầm lặng chịu đựng thật đớn đau cả thân lẫn tâm đến vậy?

Đời sống khả năng cao là luôn làm ta căng thẳng tinh thần, gây stress quá dễ dàng. Nói chung là hoàn toàn đúng đắn stress bộc phát nhanh chóng, song loại cấp tính kiểu thế có thể chuyển thành thói quen thâm căn cố đế, và chúng ta cần suy nghĩ lại những cách thức làm mọi điều sao đủ vượt qua và chế ngự nó. Stress mãn tính tạo nhiều hiệu ứng khắc nghiệt lên sức khỏe và trạng thái an lạc của chúng ta. Stress làm tăng thêm các hoạt động sinh lý cao độ và khiến mình thường xuyên thao thức, khó chợp mắt. Tác động đến hệ thần kinh, cơ thể phóng thích các hormones gây stress dưới nhiều dạng thức. Đáp sứng stress căn bản là đáp ứng mang tính thích ứng về mặt cơ thể, song stress cấp tính để lại nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng lên thân xác.

Quá nhiều sự kiện trong đời là tác nhân của bức bối, áp lực, căng thẳng, mệt mỏi…; các stressors này đặt để nguy cơ phát triển stress, nhất là nếu chúng ta không có các nguồn lực tâm lý đảm bảo xử lý chúng. Thực tế, một số người có khả năng chịu đựng stress cao hơn kẻ khác. Người ta cũng khác nhau trong các cách hiểu về stressors.

Nghiên cứu cho thấy, người gặp stress khuyến khích não trạng trải nghiệm thì có các mức độ hormone stress thấp hơn người nhìn nhận stress một cách quá tiêu cực.

Lý thuyết kích hoạt nhận thức về stress giúp giải thích đáp ứng stress; theo đó, chúng ta cảm thấy stress bất kỳ lúc nào có sự thiếu nhất quán giữa giá trị mình đặt để và giá trị đích thực của bản thân. Ví dụ, chúng ta bị stress nếu đụng hạn cuối cùng phải hoàn thành công việc mà mình lại không đủ khả năng đáp ứng đúng đắn. Chúng ta bị thúc đẩy làm giảm thiểu, hạ xuống sự thiếu nhất quán giữa các giá trị đặt để và các giá trị thực của bản thân.

Từ ví dụ nêu trên, chúng ta có thể thực hiện bằng việc tăng cường mức tải làm việc đến độ đảm bảo mọi thứ hoàn thành đúng thời hạn, song điều này dễ cảm nhận là không phải giải pháp vững bền. Chúng ta thường thành công trong ngắn hạn, còn với đường trường dài lâu thì e khá hiếm hoi, do chúng ta khốn khổ bởi stress cấp tính. …

Đáp ứng stress có thể được điều hướng bởi khả năng phục hồi tâm lý; khả năng này chịu đựng các stressors môi trường, và nó thông qua các chiến lược đối phó, đương đầu hữu hiệu mà nhờ thế mình xây dựng được khả năng phục hồi. Nếu các chiến lược đối phó không thích ứng và không hiệu quả, mình sẽ làm tăng thêm nguy cơ phát triển stress. Mình có thể cố sức để thích ứng chiến lược đối phó với tình huống cụ thể đủ đương đầu hiệu quả nhất. Khi bị stress tấn công, mình có thể khởi sự cảm thấy mất tập trung, và chẳng có điều chi mình có thể tiến hành ngõ hầu tránh né hoặc cải thiện được tình hình: dạng thức vô vọng.

Chúng ta không có các nguồn lực vô tận để giải quyết các tác nhân gây stress; chỉ có thể làm tốt nhất để thích ứng với môi trường gây căng thẳng mà thôi. Nếu có quá nhiều giá trị đặt để xa vời, phi thực tế, bất kể vì tạo ra chúng cho bản thân hoặc vì tình huống công việc đòi hỏi, chúng ta nên cân nhắc tác động chúng gây nên thân- tâm chúng ta. Mong đợi quá mức vào chính mình, hoặc mức tải việc khủng khiếp? Bằng cách nào nó tác động tới tâm trí và thân xác chúng ta? Nên nhận rõ điều này. Gần đây nhất bạn cảm thấy stress? Bạn đối phó với nó như thế nào?

Thiền tập tỉnh thức: câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành

Thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation) giờ không còn quá xa lạ với quảng đại quần chúng Đông Tây.

Thiền tập tỉnh thức là câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành chứ nó không liên quan chi với việc thay đổi thế giới bất công. Nói khác đi, ngay cả tiềm năng to lớn và tác dụng lâm sàng sáng giá thì cần làm rõ một điều rằng tỉnh thức không phải là giải pháp hoàn hảo cho toàn bộ vấn đề của thế giới; nó là một lĩnh vực nghiên cứu đầy hứa hẹn, đi kèm với vài ba chỉ trích rất cần nắm biết.

Ví von, làm tóc thì rốt ráo chỉ liên quan đến tóc, không liên quan chi  đến việc thay đổi thế giới bất công. Chữa lành ung thu chủ yếu thuộc về thuốc men, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công. Bay lên sao Hỏa là chuyện du lịch không gian, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công.

Một mẫu hình dần nổi trội lên ở đây: một điều thì chung quy liên quan điều ấy, không phải là thứ mà nó không thuộc về. Hoàn hảo, đó là sự tiến bộ đích thực.

Có rất nhiều lời giảng dạy, minh họa và nguyên tắc trong đạo Phật thực sự hữu ích để tạo nên sự thay đổi tích cực về mặt xã hội. Đó tuyền chuyện dân chủ; quyết định chịu trách nhiệm tạo nên nhiều tiến trình; lòng từ bi thực tế; sự thịnh vượng vượt qua sự bất bình đẳng; không hoặc chỉ dùng gọi là sự trừng phạt; nhấn mạnh vào giáo dục và trao quyền cá nhân lẫn trung gian; thoát khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử; ý tưởng thậm chí quyền năng nhất là đối tượng hướng tới pháp trị, và v.v…

Tỉnh thức không phải là một trong những điều vừa nêu; nó là sự dạy dỗ cách thức trở nên yên an và chấp nhận.

Tỉnh thức có thể thao tác trong một dãy phức tạp các mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn cùng các vấn đề xã hội nảy sinh. Từ toàn bộ tính khả thể, như tác giả bài báo chỉ ra, nó có thể trở thành trừu tượng tách khỏi bất kỳ bối cảnh ý nghĩa nào và được dùng theo các lối kiểu gây hại. Song đó không phải là vấn đề của tỉnh thức, nó là vấn đề của sự thiếu vắng các điều tốt lành khác, đặc biệt là các giá trị đạo đức. Điều ấy lý giải tại sao Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng tỉnh thức, và các thực hành thiền nâng cao khác, diễn ra trên sự đặt để của một nền tảng đạo đức rất tinh tuyền.

Rời bỏ điều đó và áp dụng sai trái, nó trở thành Tỉnh thức Lầm lạc. Vì vậy, có lẽ chúng ta nên dừng đổ lỗi cho tỉnh thức về hiện trạng không thuộc về nó.

Mãi còn ám ảnh trải nghiệm đau thương và những trập trùng ký ức tuổi thơ

Bài gốc Em có bị Trời phạt không? đã được một tờ báo mạng nổi tiếng hơn hẳn giật tiêu đề ra thành “Ký ức dày vò của người vợ đã ngoại tình với đồng nghiệp có vợ”.

Xin chị cho em lời khuyên: Em là con gái 28 tuổi. Em đã kết  hôn được 9 tháng rồi. Cuộc sống vợ chồng em tốt, chồng em thương em và em cũng chung thủy với chồng. Nhưng em hay bị ám ảnh chuyện hồi xưa. Lúc em 7 tuổi thì em bị xâm hại tình dục, cả nhà em không ai biết, chỉ khi em đi học thì mới tự hiểu. Đến lúc em tốt nghiệp ĐH vừa đi làm thì bị vướng vào mấy chuyện tình ái tào lao. Có lúc em vào khách sạn với thầy giáo rất già, nhưng lúc đó thầy đó chỉ hôn và sờ soạng chứ không có làm gì hết. Lần thứ hai cũng tương tự như vậy với anh cùng cơ quan, đã có vợ. Sau đó em nhận ra mình không đàng hoàng. Em đã tự dứt bỏ và không có gặp gỡ với những người đó. Mấy năm sau thì em chững chạc hơn và có gia đình. Em rất yêu chồng em, không có ý nghĩ gì không đàng hoàng. Nhưng trong thâm tâm em luôn đau khổ và xấu hổ vì chuyện xấu em đã làm. Em luôn nghĩ mình bị bệnh vì trời phạt rồi. Em là người học rất giỏi, công việc cũng rất thành công. Xin chị hãy cho giúp em lời khuyên. Em biết quá khứ của em không ra gì, nhưng trời có cho con người ta một con đường sống không hả chị? Có lúc em buồn đến mức muốn chết, muốn buông xuôi hết chị à. Em ân hận vì tuổi trẻ bồng bột quá.

Cách trả lời của người giữ mục Tư vấn cơ chừng phản ánh thói quen khuyên nhủ đơn thuần và lối tiếp cận từ khía cạnh đạo đức truyền thống đi kèm kiểu tư duy dân dã đời thường. Vậy liệu ở đây, dước góc độ người làm tham vấn/ trị liệu tâm lý, đâu là các điểm mấu chốt chúng ta muốn nhấn mạnh và tập trung phân tích?

Dĩ nhiên, một cuộc hôn nhân khởi sự mới 9 tháng thì còn đầy tràn hy vọng cho tương lai rộng dài mở ra phía trước. Ngay cả nếu như xảy đến vấn đề chi sau 9 tháng ấy, điều gì đó khác vẫn đang tiếp diễn. Nhiều cuộc hôn nhân cùng tháng năm chất chồng thường cũng chứa đựng cả tập hợp nào ít ký ức buồn bã, những trải nghiệm tồi tệ, các cuộc tranh cãi bất tận, bao lần quyết đoán sáng suốt, và vô vàn ngọt ngào đã qua. Trong khi các sự kiện này khó bị lãng quên hoàn toàn, những trải nghiệm thường tự nhiên nối nhau lặn xuống và hiếm hoi trồi lên bề mặt trừ lúc sự cố khơi bày…

Thùng rác cũ càng dữ liệu nọ kia của quá khứ như cách người phụ nữ mới làm vợ tâm sự e chừng dễ nổi lại trong một số tình huống. Lối cách hay gặp nhất cho kiểu dĩ vãng sống dậy như này là khi chúng ta mắc trầm cảm; lúc ấy, bộ não kiếm tìm các ký ức chỉ cho mỗi sự kiện ấy mà thôi: một sự tổn thương xa xưa, một trải nghiệm sang chấn, hoặc công việc gì đấy chưa hoàn tất. Đó là một trong lắm phương thức bộ não dày vò người đang kinh qua u uất, nó chơi một băng hình tâm trí về thời cũ rồi nhặt lấy hết các sự kiện lẫn trải nghiệm tồi tệ. Nếu cô ấy trầm uất, cô ấy sẽ được đề nghị cho biết lý do tại sao cô lại có những hành xử nọ kia hoặc những chuyện chi đích thị từng xảy đến với năm tháng thơ bé đó, kỷ niệm về “mấy chuyện tình ái tào lao”, hoặc tai sao cô còn vào đâu đó với người này kẻ nọ? Nên lối xử lý cho tình huống này là xử lý với trạng thái trầm uất và ám ảnh, chứ không phải với ký ức, kỷ niệm.

Một lối nghĩ khác cho tình huống này thuộc về cái gọi là ký ức cảm xúc. Thời trung học đã thành dĩ vãng mịt mù, song nếu mình nhận được lời mời hội trường thì lập tức tâm trí ngập tràn bao kỷ niệm. Chúng ta bắt đầu tua lại sổ lưu bút, nghe bài hát từng nghêu ngao, nhớ mặt bạn ngồi cùng bàn, v.v… Nếu bạn bè hoặc ai đó gần gũi, thân quen thúc đẩy trí nhớ của người phụ nữ mới lập gia đình  ‘đào sâu’ một vài sự kiện nào đó, cô ấy sẽ sống trong cả mớ dữ liệu ngập tràn của một thời khủng khiếp. Các ký ức xưa cũ hơn 20 năm có lẻ chợt trỗi dậy bởi vô vàn cò lẩy khác nhau như âm nhạc, phim ảnh, các hoàn cảnh tương tự, bình luận của ai đó, và dĩ nhiên, không loại trừ ngay cả chính vì cảm xúc sung sướng, lâng lâng của người phụ nữ đang thụ hưởng tháng ngày lứa đôi hạnh phúc; nghĩa là bởi bất kỳ điều gì… Và như mô tả, nhớ lại các trải nghiệm đã qua tạo nên nhiều cảm xúc tương tự của một thời: tội lỗi, bối rối, tủi nhục,  hoang mang, v.v…

Thật vui mừng vì người phụ nữ này đã lưu ý đến sự kiện bị xâm hại tình dục lúc lên 7. Những câu chuyện như thế vốn ít khi bày tỏ, tự bộc lộ và thường tác động mạnh mẽ hơn là ta có thể tưởng tượng; có quá nhiều lý do khiến người trong cuộc hay chọn thái độ im lặng lờ đi… Và dù cô ấy có thể nghĩ mình vượt qua được tình huống rồi, khả năng là một số cảm xúc còn giấu kín, khuất che cứ hiện diện rồi dễ khiến cô ấy phản ứng kém cỏi với stress. Thậm chí ngay cả trường hợp đúng là cô đã vượt qua ám ảnh, việc thiết lập các phiên tham vấn với một nhà trị liệu từng trải có thể hữu ích vì một số hành vi cô nêu lên trong thư đòi hỏi cần được thấu tỏ để rồi không còn quấy nhiễu tâm trí cô nữa.

Các ký ức tồi tệ nhất cũng có thể được mang lên bề mặt lần nữa theo thời gian do trầm cảm. Khi chúng ta trầm cảm, bộ não lục soát trong mớ ký ứ các trải nghiệm tồi tệ nhất nhằm hành hạ và gây đau đớn về mặt tinh thần. Người phụ nữ này có thể từng trầm uất nhiều năm tháng, nguyên nhân khiến não bộ của cô mang trải nghiệm xa xưa lên bề mặt. Vì những nỗi ám ảnh cũng hay thấy trong trầm cảm, bởi nó khả năng cao chứng tỏ trạng thái trầm cảm được duy trì ở mức độ chừng mực tại thời điểm này. Khi chú mục vào các ký ức chứa đựng các cảm xúc khốn khổ, chúng ta duy trì sự khốn khổ về mặt cảm xúc, như chính người phụ nữ đang sống đời hôn nhân thú nhận: “Em luôn nghĩ mình bị bệnh vì trời phạt rồi… Có lúc em buồn đến mức muốn chết, muốn buông xuôi hết… Em ân hận vì tuổi trẻ bồng bột quá”.

Những trải nghiệm của người phụ nữ khá thường gặp, và cuộc dằn vặt nội tâm của cô ấy nhấn mạnh các điểm khác biệt quan trọng giữa ký ức tuổi thơ và hiểu biết lúc đã trưởng thành rồi về chúng. Khi nhìn lại các ký ức hồi thơ bé mà bây giờ chúng ta biết rằng không thích đáng và phù hợp, chúng ta thấy những trải nghiệm sống động ấy như một tập hợp các khái niệm, đánh giá và cảm nhận mà chúng ta đã không hiện diện đúng đắn vì hồi ấy mình còn bé tí. Đích thị, “bị xâm hại tình dục” chuyên chở nặng nề sự đánh giá, hình ảnh hiển thị và cảm xúc, và trạng thái “nạn nhân” của việc bị lạm dụng đó tự thân đã chứa đầy vấn đề kèm theo.

Điều thiết yếu, phải tách biệt các sự kiện như người phụ nữ từng trải nghiệm chúng khi còn là cô bé thoát khỏi những ý nghĩa và liên kết giờ đây trong vai một người phụ nữ đã yên bề gia thất nhìn lại thông qua hiểu biết trưởng thành. Sự tách biệt đó điều chỉnh những bất đồng, chênh vênh liên quan đến cảm nhận thể lý, vui sướng ít nhiều cô ấy từng trải qua cùng nỗi niềm chán ghét, kinh tởm hiện tại cô cảm thấy như cô nhận ra bối cảnh, các động cơ và sự lạm dụng quyền lực của một người phụ nữ trưởng thành. Phân biệt viễn tượng đứa trẻ và vễn tượng người lớn cho phép người phụ nữ ý thức được rằng, chỉ bởi vì cô đã không cảm thấy thật tồi tệ và đủ sức vứt bỏ lúc đó, cô đã không tha thứ cho việc lạm dụng quyền lực của người trưởng thành hoặc phản ứng theo một cách thức bất thường. Không có điều gì sai trái với cô ấy bởi cách phản ứng như từng thể hiện trước đây. Thông qua hiểu biết tuổi thơ và dĩ vãng dần xa, không hề có lý do nào để ngờ vực rằng trải nghiệm một thời là tủi hổ hoặc bệnh hoạn.

Trong thư còn có thể đọc thấy ước muốn định dạng, xác lập rõ ràng mọi thứ từng xảy ra. Thay vì cố gắng gọi tên, hay hơn là xử lý trải nghiệm như đã mô tả: nhận ra rằng các viễn tượng cô ấy cầm nắm bấy lâu rồi so sánh chúng với hiện tại đang gánh lấy trách nhiệm là hoàn toàn khác biệt, và điều đó là bình thường. Bởi vì một định nghĩa về “lạm dụng/ xâm hại” là chấn thương thể lý, chúng ta có thể đôi khi giả định lạm dụng/ xâm hại tình dục phải là trải nghiệm như sự khó chịu, bất ưng về mặt thể lý ở đứa trẻ. Tuy thế, “xâm hại” trong lạm dụng tình dục thường nghiêng về sự kiện là người lớn dùng quyền lực và hiểu biết trưởng thành cho sự thỏa mãn khoái lạc tình dục của bản thân (lợi dụng sự ngây thơ của trẻ nhỏ). Gán nhãn cho trải nghiệm cách nào đi nữa không thay đổi được con người cô ấy đã từng và hiện là, và chỉ đến khi “đi học thì mới tự hiểu” cho thấy, các trải nghiệm ấy dường như không mang nhiều ý nghĩa cho chính bản thân cô.

Xử lý về mặt tinh thần và cảm xúc những vấn đề thuộc về dĩ vãng trước khi lập gia đình như vậy đúng là dạng công việc mà các nhà tham vấn tâm lý được đào tạo để đảm nhận, và không khó thấy rằng giải quyết những trải nghiệm tình dục thời thơ ấu cũng như các vấn đề rắc rối nảy sinh khi hẹn hò, bắt cặp sau này là điều gì đó mà các nhà trị liệu từng trải thừa sức trợ giúp. Mỗi cá nhân với những trải nghiệm là duy nhất và chỉ nên được hiểu đúng trong bối cảnh; không có cách thức phải, trái cần đạt tới, trước đây hoặc ngay bây giờ.

Một vài khuyến cáo cuối cùng.

  • Nếu người phụ nữ đã kết hôn rồi này quyết định không có hành động gì thêm về các sự kiện đã xảy đến thì cô ấy cũng phải quyết định phóng thích quá khứ để khỏi canh cánh bên lòng nữa. Chúng ta chẳng nhất thiết giả vờ như không có chuyện gì xảy ra song chúng ta nhận thấy rằng các ý nghĩ ám ảnh về tình huống nêu trong thư là gây hại cho chính mình. Cần dùng các chiến lược liên quan đến vấn đề ký ức cảm xúc để xử lý các căng thẳng, bực bộ về mặt cảm xúc còn lưu giữ trong trí nhớ.
  • Người vợ trong câu chuyện đang bàn không lẻ loi với một bí mật khủng khiếp. Các thành viên thân thiết, ruột thịt hoặc chí ít bố mẹ sẽ không cảm thấy thoải mái, ổn thỏa với những sự kiện xảy đến trong gia đình, tuổi thơ và quá khứ của ta khi họ không biết cách thức mình hiểu về thông tin cũng như những gì mình đã thực hiện, tiến hành… Thử cân nhắc, nếu quyết định tiến tới hướng về phía trước cùng với cuộc hôn nhân ưng ý, người phụ nữ có thể tâm tình với mẹ hoặc chị em gái và dùng dạng thức trao đổi kiểu “thông cáo báo chí”…
  • Lựa chọn tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể sẽ rất hữu ích vô cùng. Cô ấy có thể bị trầm cảm, nhất là nếu ám ảnh này gây than khóc dầm dề, đau đớn, khiến mất ngủ kéo dài. v.v…
  • Như chính động cơ thúc đẩy người phụ nữ giờ đã có nơi có chốn khởi thảo lá thư, thời gian có vẻ chỉ đang dần làm lành lặn các vết cắt, sẹo nhức buốt trong thân xác song nó khó chữa trị rốt ráo các tổn thương cảm xúc sâu thẳm. Thực tế, việc nghĩ lại và sắp xếp thái độ của bản thân lần nữa thật đúng đắn sẽ giữ vai trò chữa lành ký ức đớn đau. Người sống sót sau những trải nghiệm kinh hoàng đã hồi phục hoàn toàn được bởi vì họ tái xác lập tư duy về trải nghiệm rồi tiếp tục sống với một cuộc đời khác trước. Không ngừng ghi nhớ dĩ vãng mà cứ nghĩ như cũ về nó dễ là nguyên nhân khiến chúng ta sống lại sự kiện đau thương mỗi ngày, lôi kéo chúng ta quay về quá khứ muốn hòa giải thứ tha, và dần làm tuột rơi những gì đáng giá đang diễn ra trong khoảnh khắc hiện tại.

Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD): cập nhật thông tin mới nhất, thực trạng siêu phức tạp, và vài ba cách thức hỗ trợ hiệu quả

Kể từ những bài xa xưa từng giới thiệu khá chi tiết quen lệ rồi, đến nay rối loạn phổ Tự kỷ (ASD) vẫn tiếp tục được blog Tâm Ngã chọn là chủ đề ưu tiên lên trang.

Ba hôm trước, đại học Carnegie Mellon công bố đã làm rõ vai trò của tính di truyền, đột biến, và các yếu tố môi trường; theo đó, nguy cơ di truyền của ASD chủ yếu khởi phát từ các genes thông thường hơn là các biến thể hiếm gặp hoặc đột biến tự phát.

Từ nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy rằng di truyền đóng vai trò chính trong sự phát triển rối loạn tự kỷ so với các yếu tố môi trường, góp phần quyết định gây nên tự kỷ hơn chúng ta tưởng; mỗi một trong nhiều yếu tố nguy cơ nhỏ khác thêm vào đẩy người mắc vươn ra rìa của phổ tự kỷ…  Không có các công cụ thống kê mới, không phát hiện được kết quả, và bây giờ chúng ta phải dựa trên những gì học hỏi được kèm sử dụng các cách tiếp cận thống kê để sắp đặt các nguồn lực tương lai, và quyết định hướng nghiên cứu nào hữu ích nhất đáng tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân gây ra tự kỷ.

Như thế chứng tỏ, tự thân yếu tố môi trường không quyết định hết thảy nguyên nhân gây ra ASD; và con số 55% có thể di truyền cho thấy genes chịu trách nhiệm hơn một nửa việc một đứa trẻ có khả năng mắc tự kỷ (80% di truyền liên quan đến chiều cao).

Lần nữa, qua thượng dẫn sơ bộ, điều ngạc nhiên ở nghiên cứu là các nguy cơ di truyền gây tự kỷ đa phần nằm ở các biến thể genes thông thường chứ không phải các đột biến dị biệt. Một đột biến nhỏ trong một gene đơn lẻ có thể gây một căn bệnh chẳng hạn như Huntington, và đột biến gene BRCA1 làm tăng lên khả năng phụ nữ phát triển ung thư vú. Các đột biến như thế chỉ chiếm 2,6% nguy cơ gây tự kỷ, so với 52% biến thể genes thông thường; với phần lớn trường hợp gây mắc tự kỷ, không có một gene sai lạc nào mã hóa rối loạn này mà chính sự kết hợp các biến thể thông thường với nhau mới dự đoán nguy cơ tự kỷ. Và dù chỉ ra các yếu tố môi trường không phải là nguyên nhân chính, song nhóm tác giả không chắc cụ thể những yếu tố môi trường nào quy cho việc mắc tự kỷ.

Liên quan đến thực trạng phức tạp gây tranh cãi, bất chấp mấy thập niên nghiên cứu khẳng định điều ngược lại thì niềm tin tự kỷ có thể là do nguyên nhân trục trặc trong quan hệ gắn bó mẹ- con vẫn thịnh hành. Trước thông tin nghiên cứu rằng có mối liên quan giữa độ tuổi cao của bố mẹ với việc mắc tự kỷ khiến một số bố mẹ còn chưa thôi lo lắng quyết định có nên sinh con sau độ tuổi 30 thì công việc của nhóm nghiên cứu quốc tế do nữ khoa học gia thuộc đại học Carnegie Mellon đứng đầu giải thích chủ yếu do genes.

Sự trộn lẫn các yếu tố nguy cơ không dễ cảm nhận thấu đáo và việc chẳng rõ ràng nguyên nhân gây ASD có thể khiến một số bố mẹ lựa chọn các giải pháp liều lĩnh và cảm tính. Một ví dụ sống động kéo dài là chuyện bố mẹ quy cho hóa chất thimerosal (đã bị gỡ bỏ hơn 10 năm nay) vốn có mặt trong vacine trẻ em gây tự kỷ, tạo điều kiện cho phong trào chống tiêm phòng thành công và gây ra nguy cơ cho con cái họ mắc một số bệnh mà chúng ta đã biết cách tránh…

Với tỷ lệ 1/ 68 trẻ em Hoa Kỳ mắc ASD, trong độ tuổi 6-17 thì chẩn đoán mắc tự kỷ tăng khoảng 1% từ 2007 đến 2012. Các triệu chứng tự kỷ đa phần không hợp trội, nổi bật cho đến khi trẻ lên 2 hoặc 3 tuổi, và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán. Nguyên nhân hiện chưa sáng tỏ hoàn toàn, sau nhiều năm nghiên cứu có thể nghĩ tới chừng mực: các biến chứng khi sinh, thuốc trừ sâu, không phải do thiếu thốn tình yêu thương, không phải vì nhiều giun sán.

Nhân tiện, xin nêu một vài nghiên cứu liên quan: trẻ có bố mẹ làm các nghề kỹ thuật mang tỷ lệ tự kỷ cao hơn; thiếu hụt kỹ năng vận động càng làm mức độ tự kỷ nghiêm trọng; suy yếu khả năng chú ý không phải là thành phần tự thân của tự kỷ; cảm giác thứ phát hay thường thấy ở người mắc tự kỷ; chết đuối là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ ASD; chụp quét não bộ có thể hỗ trợ công tác chẩn đoán; có việc làm giúp cải thiện các triệu chứng tự kỷ ở người trưởng thành; nghiên cứu DSM-5 chỉ ra tác động của việc chẩn đoán và sự phổ biến ASD, v.v…

Chẳng nhất thiết phải nghi ngờ một điều rằng, tự kỷ thực sự khó hiểu đối với những ai không trải nghiệm trực tiếp. Với hầu hết mọi người, tự kỷ cơ chừng là ai đó lạ kỳ, cách biệt và khuyết tật tinh thần; các tường rào ngăn cách trong đời sống người mắc tự kỷ có vẻ là khó hiểu thấu; những trở ngại và thách thức họ phải đương đầu là thực tế lạnh lùng, một thực tế của ai đó khác. Con số 1/68 trẻ em mắc ASD cho thấy hầu hết mọi người dễ bắt gặp, nghe thấy hoặc tiếp xúc khá gần gũi với ai đó mắc tự kỷ; tiếc thay, phải chờ cho đến khi tự mình trải nghiệm cá nhân trực tiếp những con người ấy độc đáo và đặc biệt như thế nào thì mới phần nào nắm bắt câu chuyện.

So với ASD, ngu dốt mới đích thị là căn bệnh lớn nhất trong xã hội. Bố mẹ các trẻ mắc tự kỷ chắc chắn trải nghiệm sống động khía cạnh với người xung quanh họ; một khía cạnh tồn tại ở nhiều người song nó chỉ bộc lộ ra khi bị thách thức bởi điều gì đó khác thường, như kiểu giao tiếp với người mắc tự kỷ. Đó không phải là tội ác, chỉ là ngu dốt mà thôi.

Có rất nhiều vấn đề xoay quanh ASD. Một đứa trẻ mắc tự kỷ ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong gia đình theo các cách thức khác nhau. Bố mẹ/ người chăm sóc giờ đây phải đặt để ưu tiên chú tâm trong việc trợ giúp con em họ, xử lý stress nảy sinh ngày càng mãnh liệt trong đời sống hôn nhân, ở các đứa con khác, công việc, tài chính, và các trách nhiệm lẫn quan hệ liên nhân cách khác nữa. Bố mẹ có con mắc tự kỷ phải chuyển khá nhiều nguồn lực thời gian và tiền bạc cho việc cung cấp phương thức điều trị và can thiệp cho đứa trẻ, hạ thấp các ưu tiên cấp bách khác.

Bố mẹ trẻ thường quen đối mặt với các thái độ và dịch vụ bất công trong xã hội. Họ bị thúc ép đương đầu và giải quyết với sự ngu dốt. Vượt trên việc xử lý các vấn đề sự vụ đời thường, hàng ngày liên quan đến tình trạng rối loạn của con em mình, họ cũng buộc phải trở thành người biện hộ và đấu tranh, các chuyên gia y tế cung cấp thông tin chính xác cho cộng đồng họ thường tiếp xúc, bởi vì định hình các chương trình can thiệp sớm thích đáng, độ an toàn và phù hợp trong chẩn đoán cũng như tự thân việc trị liệu và chăm chữa y tế tương xứng dĩ nhiên không phải là điều dễ dàng chút nào ở một đất nước đang phát triển bộn bề như Việt Nam.

Các cơn thịnh nộ, đập phá từ nhẹ tới nặng, khó khăn trong ăn uống, đủ thứ rắc rối với việc ngủ nghỉ, nhiều giới hạn bó buộc của tiến trình xã hội hóa và tương tác với những người khác, đi kèm lắm thiếu hụt xử lý cảm giác và lượng giá môi trường… chỉ là một vài vấn đề mà trẻ em cũng như người lớn mắc ASD phải đối phó thường xuyên.

Điều quan trọng hiểu tự kỷ là trạng thái rối loạn phổ rộng, nghĩa là các cá nhân sẽ thể hiện nhiều triệu chứng khác biệt nhau, một số thì nhẹ và một số thì nặng, số khác vừa vừa… Tương tự, cơ bản là bóc trần huyền thoại người mắc tự kỷ không có khả năng biểu đạt các cảm xúc bản thân hoặc cảm nhận về tình yêu thương, nỗi niềm hạnh phúc, buồn rầu, đau đớn như mọi người khác. Đơn giản vì họ không thể biểu đạt các cảm xúc bản thân theo cách của đa phần mọi người, không có nghĩa họ không có cảm xúc. Đây là sự ngu dốt và thiếu giáo dục chu đáo khiến thiên hạ tiếp tục mang vác huyền thoại vừa nêu.

Nếu nói với bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ, mình sẽ thường nghe thấy các câu chuyện dũng cảm không thể ngờ nổi, sự kiên nhẫn vô bờ bến, những nỗ lực khủng khiếp và nỗi buồn bã, tuyệt vọng trong những ngày đen tối luôn ít nhiều phảng phất trên khuôn mặt. Mình cũng có thể nghe thấy các câu chuyện về tình yêu thương vô điều kiện, sự trân trọng đời sống, hành trình khám phá bản ngã mà họ không hề nuối tiếc dấn thân cũng như không lãng quên ước mơ, hy vọng về một tương lai tươi sáng cho con cái.

Người mắc ASD cũng là nhân loại chúng mình. Mỗi người thì khác nhau và ai cũng độc đáo. Điều họ cần chí ít là đừng ai đánh giá, xa lánh, đối xử bất công và thể hiện sự ngu dốt hướng về họ. Những gì họ cần là tình yêu, xử sự công bằng, tôn trọng, thấu hiểu và đủ đầy ý thức để xã hội nâng cao hơn nữa khả năng trợ giúp, nâng đỡ họ cùng với gia đình họ nhiều hơn nữa. Họ cần nhiều phương thức trị liệu đúng đắn và hiệu quả, tiếp cận được, chẩn đoán và can thiệp sớm, và nhiều nghiên cứu cũng như ủng hộ quỹ, vận động chính sách, tài trợ nhiều hơn nữa.

Bố mẹ cũng cần giúp đỡ với nhiều chi phí phải trả, các chương trình phù hợp giúp con em họ có việc làm, nơi học tập, được hỗ trợ cảm xúc và tâm lý, hội thảo và giáo dục đặc biệt đặng giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh với trẻ mắc tự kỷ. Chúng ta cần mở rộng các mạng lưới, cộng đồng khuyết tật phủ khắp và tạo điều kiện để các gia đình có cơ hội tương tác với nhau, trao đổi thông tin, ý kiến, tiếp cận được ngày càng nhiều dịch vụ và nhiều hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như xã hội.

Dưới đây là vài bước khuyến cáo cụ thể từ giới chuyên môn mong có thể trợ giúp cho người mắc ASD.

1. Giải thích từng giai đoạn một những gì mình định làm, những gì sẽ xảy đến tiếp theo và tại sao.

2. Cho người mắc ASD đủ thời gian để hiểu thông tin mình đang chia sẻ và đợi đáp ứng chứ đừng vội vàng, mong ngóng.

3. Các câu hỏi nên được đặt ra thật dễ hiểu theo cách sử dụng ngôn ngữ trực tiếp, dùng tranh ảnh khi cần thiết; đừng phụ thuộc vào việc trẻ làm quen, nắm bắt được tình cờ nghĩa của các câu hỏi nêu ra hoặc ngôn ngữ cơ thể.

4. Người mắc tự kỷ dễ nghiêng theo hướng nắm lấy lời mình nói theo nghĩa đen nên cần tránh dùng từ ngữ mang nghĩa nước đôi và thể hiện tính hài hước rất dễ bị hiểu nhầm.

5. Duy trì công việc và thói quen hàng ngày; tương tự là điều quan trọng đối với người mắc tự kỷ.

6. Các khó khăn trong giao tiếp xã hội có thể bao gồm việc tiếp xúc mắt, các ngôn ngữ cơ thể bất thường, nói chuyện vào những lúc bất tiện hoặc nói về các chủ đề không thích hợp lắm.

7. Các hành vi lặp đi lặp lại có thể là cơ chế đối phó, và đo đó nên được tôn trọng.

8. Mội trường rất quan trọng. Một số người mắc tự kỷ đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng, chuyển động, tiếng ồn và sự sờ chạm. Cố gắng thiết lập môi trường yên an, tĩnh lặng để giúp bình hòa nỗi lo lắng, sợ hãi.

9. Luôn luôn thử đặt mình ứng xử, hành động như người mắc tự kỷ dù đó quả là thách thức ghê gớm.

10. Hỏi người mắc tự kỷ, bố mẹ, người chăm sóc hoặc vị giám hộ họ những gì họ cần.

@ Cập nhật, 15h42′ cùng ngày

Phương thức dạy nhận thức về Tự kỷ giúp giáo viên đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều hiểu được rối loạn và giúp đỡ trực tiếp bạn mắc ASD; nâng cao nhận thức về những nhu cầu và khó khăn mà người mắc Tự kỷ gặp phải, giải thích ASD là gì, và tại sao nó ảnh hưởng các kỹ năng truyền thông, xã hội và tư duy.

Hướng dẫn nhấn mạnh không những nhu cầu của cách tiếp cận cá nhân khi làm việc với học sinh mắc ASD mà còn bao gồm một số chiến lược “nắm trọn” như cách bắt đầu bài học với các hoạt động ngắn, vui và thực tế nhằm giúp có được cấu trúc ngay lập tức rồi đề cao các điểm tưởng thưởng để chào đón trẻ. Khẳng định những thay đổi trong môi trường lớp học là giảm tiếng ồn xung quanh, sử dụng ánh sáng tự nhiên và tránh các tranh, ảnh gây ‘bắt mắt’.

Ý tưởng cho ngân hàng chiến lược làm việc với trẻ mắc ASD là đi theo các quy định rất rõ ràng ở lớp học, hỗ trợ việc trình bày miệng với bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh, xác lập nhiệm vụ với các mục tiêu rõ ràng, và hướng dẫn ngắn, đơn giản.

Một vài mẹo thực hành cho giáo viên như khung làm việc SPELL: nhắm vào cấu trúc (structure), hành vi tích cực (positive behavioir), thấu cảm (empathy), ít gây kích thích (low arousal), và liên kết (link) với nhiệm vụ ở nhà. Mục tiêu là giảm bất kỳ trải nghiệm lo lắng nào ở trẻ, để chúng làm việc hiệu quả hơn trong một môi trường khiến chúng cảm thấy an toàn.

Nhằm giúp giáo viên giảm thiểu nguy cơ trẻ bị bắt nạt, hướng dẫn nhắm vào “tính đa dạng thần kinh” giúp học sinh hiểu những khác biệt trong cách người ta suy nghĩ hoặc tri nhận thế giới; được thiết kế để khuyến khích nhận thức nhóm bạn cùng trang lứa, chấp nhận về mặt xã hội, thấu cảm và hòa đồng ở mọi học sinh cho dù một số bạn có thể biểu lộ hành vi khó thấu hiểu hết được…

Thiền tập Tỉnh thức và thân – tâm an lạc giữa đời thường

Cơ chừng theo thông lệ lâu nay, tâm trí chúng ta dễ quen với trạng thái đầy ắp, tràn lấp mọi sự thay vì lưu ý và tập trung trước những gì đang xảy đến. Dĩ nhiên, vẫn còn may mắn là thành tựu tiến hóa nhân loại có thể giúp chúng ta nâng cao ý thức nhắm vào hiện tại rồi dần trở nên tỉnh thức hơn.

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng các ý nghĩ, suy tư chỉ là sản phẩm của tâm trí; tuy thuộc về mình thật song chúng không định hình ta; quả đúng các suy tư ảnh hưởng tới hành vi song lại chẳng kiểm soát nó nổi. Đây là ý tưởng chủ chốt đối với việc tỉnh thức (mindfulness).

Mặt khác, chúng ta cũng hay tin các suy tư này thể hiện đích thị thực tế trong khi sự thật thì các ý nghĩ của chúng ta vốn hay sai lỗi, lầm lạc: các định kiến nhận thức (cognitive bias) làm cho chúng ta không tư duy một cách lý tính như mong đợi. Khi giả định các ý nghĩ là sự kiện, mình để chúng ảnh hưởng tới bản thân cả theo hai hướng tích cực và tiêu cực; cơ bản đừng quên điểm mấu chốt ở đây là chúng ta để mặc cho các suy tư tác động ghê gớm, ảnh hưởng khủng khiếp tới chính mình.

Do không tập trung có ý thức vào khoảnh khắc hiện tại, các suy tư cứ thoải mái dẫn ta lùi về quá khứ hoặc phóng tới tương lai; chúng ta nghĩ về những gì đã xuất hiện và có thể từng xảy đến; thậm chí, ước đoán cho thấy chúng ta có thể dành đến tận 50% thời gian tỉnh táo hàng ngày để chìm đắm, chạy theo dòng chảy khi tâm trí lêu bêu…

Và cùng tâm trí lêu bêu, chúng ta vắng mặt về khía cạnh tinh thần trong khoảnh khắc hiện tại; não chúng ta ưa thích tạo ra đủ kiểu loại suy tư đến độ nếu không điều hướng lại một cách chủ động sự lưu ý của chúng ta vào khoảnh khắc đang là, chúng ta dễ biến mình thành vắng mặt. Vấn đề: khoảnh khắc hiện tại là tất cả những gì chúng ta có. Với các suy tư diễn biến hết sức hồn nhiên và vô thức thế, chúng ta thuận theo tâm trí lêu bêu bằng mô thức lái xe tự động; để mặc tâm trí lang thang nên bất khả chuyện để mình sống “ở đây và ngay bây giò”, chính bản thân không nhìn thấy hoặc trải nghiệm cuộc sống một cách hoàn toàn, bỏ lỡ nhiều cơ hội trong đời. Chúng ta cần kiểm soát sự chú tâm một cách chủ động và có ý thức nhằm làm tăng thêm trạng thái ý thức nhắm vào hiện tại.

Chúng ta nào muốn sống một cuộc đời vô vàn lo âu. Hầu hết mọi người hưởng lợi từ việc dùng thời gian vào việc ‘ở đây và ngay bây giờ’. Chúng ta ước tính quá mức tác động của cảm xúc tới các kiện tương lai, chẳng hạn, chúng ta lo lắng hơn hẳn về tương lai. Và thực tế, việc luyện tập tỉnh thức chú tâm vào khoảnh khắc hiện tại đem lại nhiều lợi lạc cho chính chúng ta.

Tỉnh thức là phương thức hướng bản ngã chúng ta vào khoảnh khắc hiện tại; nó duy trì thái độ ‘không đánh giá’, giữ ý thức vào các trải nghiệm ngay lập tức lúc này, thay vì bị quấy nhiễu bởi các suy tư quay về dĩ vãng hoặc phóng tới vị lai hoặc tránh né trải nghiệm.

Tạo sao chú ý vào hiện tại lại cải thiện trạng thái thân- tâm an lạc của mỗi người? Nghiên cứu cho thấy thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation) mang lại lợi lạc trước vô vàn triệu chứng tâm thần, thực thể và stress; thậm chí còn có thể tạo nên những thay đổi thường trực trong các vùng não bộ; khẳng định chí ít tác động tới bốn thành phần cơ bản, từng cái xoắn bện, tổng hợp và hỗ trợ qua lại làm tăng thêm công dụng chung của thiền tập tỉnh thức.

1. Kiểm soát sự chú ý

Đây là năng lực căn cốt nhằm lựa chọn những gì mình muốn chú ý và cái chi thích lờ đi; nó là năng lực duy trì mối quan tâm vào một đối tượng đã được lựa chọn. Bất kể mình bị quấy nhiễu thế nào, chúng ta có khả năng đưa sự chú ý quay về với đối tượng đã lựa chọn ấy.

Kiểm soát sự chú ý rất cần cho thiền tập. Khi mình hoàn toàn hoặc kiểm soát một phần sự chú ý, mình tự bộc lộ các cảm xúc thay cho chuyện bị dẫn dắt bởi tâm trí lêu bêu. Nhờ luyện tập đều đặn, năng lực tập trung chú ý sẽ được cải thiện và không ngừng tăng lên đáng kể. Ví dụ khá cổ điển như này: “Tập trung hoàn toàn sự chú ý của bạn vào hơi thở đang đi vào và đang đi ra. Cố gắng duy trì sự chú ý ở đó, khi nhận thấy bị xao nhãng thì từ tốn đưa sự chú ý quay về với hơi thở và bắt đầu lại”.

2. Kiểm soát cảm xúc

Đây là cách đối xử với các phản ứng đậm màu sắc cảm xúc không ngừng diễn tiến theo một lối tiếp cận mới mẻ, nhiều tỉnh thức hơn hẳn; nghĩa là, mình tiếp cận các cảm xúc bản thân bằng thái độ chấp nhận mà không hề đánh giá. Thay vì để mặc cho bản thân bị tác động bởi các cảm xúc, mình dừng phản ứng với chúng từ bên trong nội tâm mình. Nếu kiểm soát cảm xúc ở mức độ cao, mình có khả năng điều chỉnh và làm bản thân thư thái, bình hòa trở lại ngay khi đang cảm thấy stress hoặc buồn bã, v.v…

3. Ý thức về cơ thể

Thiền tập tỉnh thức giúp mình chú tâm vào các trải nghiệm bên trong và càng ý thức hơn đối với các trải nghiệm tinh tế, vốn khó nắm bắt rõ ràng. Các trải nghiệm nội tại gồm các trải nghiệm cảm quan thuộc hơi thở, cảm xúc và tri nhận cơ thể mình.

Khi mình ngày càng ý thức hơn về các cảm quan cơ thể, mình khởi sự hiểu biết bằng cách nào mà các tình huống hoặc suy tư nọ kia lại đánh thức trong mình nhiều trải nghiệm cảm xúc khác biệt đến thế. Ý thức về cảm quan cơ thể, kết hợp với việc nhận diện một viễn tượng mới về bản ngã, dễ giúp mình giải quyết các cảm quan ngày càng hiệu quả và đúng đắn hơn hẳn.

4. Nhận diện viễn tượng mới về bản ngã

Thiền tập tỉnh thức làm giảm cảm nhận về một cái tôi tĩnh tại, cố định; nó giúp mình ‘tách khỏi, không còn dính mắc’ với ý tưởng thâm căn cố đố mình có về chính con người mình, do các tiến trình tâm trí vốn quen dẫn dắt chúng ta tin rằng bản ngã là một thực thể thường hằng, bất biến.

Thiền tập tỉnh thức còn củng cố thêm lên trạng thái cận ý thức (meta- awareness), đem lại cho người thực hành nó hạnh phúc nhờ giúp người ta ít để ý vào trải nghiệm đau buồn và khổ sở, thoát khỏi việc cứ trải nghiệm mãi về một cái tôi không thật, và tự do hướng tới trải nghiệm một lối sống chân thực.

Nhân tiện, ai quan tâm thì mời tham khảo vài nghiên cứu cập nhật về tác dụng của thiền tập tỉnh thức đối với trạng thái thân- tâm an lạc giữa đời thường (1, 2, 3).

“Bạn trai hay khóc mỗi khi cãi nhau”: chịu đựng, chia tay rời xa, hoặc như thế nào mới phải đây?

Quả là ở đời, như các cụ bảo, ‘sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật’.

“Anh ấy hay khóc lúc cãi nhau” tức là người có tính cách hờn dỗi, dễ phẫn uất và đang trong thế yếu. Có lẽ bạn có nhiều điểm lợi thế hơn nên anh ấy chỉ còn biết dùng “vũ khí khóc” vốn có trong tính cách. Khi bạn im lặng tức là không giúp anh ấy giải phóng ức chế, từ đó ức chế gia tăng mà để trong đầu nó không chịu nổi nên “đập đồ”, nếu không đập đồ, họ có thể đánh người đối diện, nhưng do “sợ” không dám đánh người đối diện thì tự đánh mình nhằm thuyết phục người kia. Tính cách này có thể thay đổi khi anh ta “chuyển sang thế mạnh”  khi bạn là vợ anh ta.

Bạn phân tích không có kết quả gì đâu vì tính cách là sự tích lũy từ gene đến quá trình sinh ra đến nay với nhiều sự tác động. Nếu bạn đủ sức thay đổi tính cách anh ta thì bạn cũng đáng bậc thiên tài. Bạn chỉ có thể nương tựa vào tính cách anh ta rồi từ từ can thiệp tế nhị như “dạy em bé”, lúc đó mới hy vọng biến đổi tính cách.

Bạn muốn giúp anh không hành động như vậy thì trước hết phải “sống chung với lũ” rồi qua đó tìm ra dòng chảy của lũ để tránh lũ, đắp đê, đắp bờ… ngăn lũ từng phần thôi, chứ mong “hết lũ” là không tưởng.

Bạn lưu ý khi bình thường chưa bị ức chế mạnh thì người ta dễ ngụy trang tính cách nên khó phát hiện, hoặc lúc bình thường thì người ta thỏa mãn nên không bộc lộ tính gia trưởng.

Chúc sự sáng suốt.

Người ta khóc vì nhiều lý do khác nhau; vả, khóc có thể biểu hiện cảm xúc, phụ thuộc thói quen hoặc/ và lắm khi chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh tác động, chứ nó đâu hoàn toàn chỉ phản ánh thuần tính cách.

Không khó thấy động cơ cô gái viết thư muốn biết tại sao bạn trai mình lại thường biểu hiện thế và những gì có thể làm để người yêu thay đổi.

Cũng chẳng cần thiết cãi nhau mà làm gì, há chẳng phải cả thực tế lẫn lý thuyết đều đang tiếp tục chứng thực vai trò của các chương trình giáo dục và phát triển tính cách đó thôi; để trở thành một người tốt hơn, trẻ con được dạy các giá trị luân lý đạo đức cơ bản và các tiêu chuẩn của hành vi ứng xử.

Cơ chừng sự thật về bản chất con người nằm đâu đó giữa các tán thành hết sức khác biệt của nhà tâm lý học, khoa học gia hành vi, triết gia và các nhà tư tưởng tôn giáo.

Mình có thể tóm tắt nhiều giả định ẩn sâu của các trường phái truyền thống tư duy theo tâm lý học về phương thức người ta trở nên nhiễu loạn và làm thế nào trợ giúp họ lành hiền lại theo cách này: Con người vốn là tốt đẹp và cơ cấu hướng tới lành mạnh. Họ trở nên trục trặc, ốm yếu, bệnh hoạn bởi vì những điều tồi tệ hoặc ‘sang chấn, gây thương đau’ xảy đến… Họ phát triển những nỗi sợ hãi và bất an như kết quả của sang chấn, đau thương trải nghiệm rồi học hỏi đương đầu theo các cách ít nhiều tối ưu nhất có thể. Với thấu cảm, tôn trọng tích cực vô điều kiện và hỗ trợ, nâng đỡ, họ có thể chữa lành các vết thương chỗ đau nhức, vượt qua nỗi niềm sợ hãi, và dần nghiêng tự nhiên lần nữa tới đời sống lành mạnh, thương yêu và từ bi.

Một số trường phái triết học và tôn giáo chấp nhận quan điểm đối lập: Con người cơ bản là tạo vật tội lỗi hoặc ‘sa ngã’, mang nhiều khuyết thiếu rõ ràng. Không có sự dẫn dắt thích hợp từ một quyền năng cao hơn, và cứ để mặc cho anh ta thế, con người sẽ dần tụt dốc, rơi xuống vào các kiểu dạng của suy đồi, khiếm nhã và trụy lạc. Nhu cầu lớn lao nhất của anh ta là được ‘cứu vớt’, đặc biệt tự do khỏi chính bản thân anh ta.

Cũng có tranh luận về nan đề quen thuộc ‘tự nhiên đối lập với nuôi dưỡng’ (nature vs. nurture). Cả thời gian dài, các khoa học gia hành vi khẳng định tất cả chúng ta thảy đều giống nhau ở sự kiện rằng chúng ta bị xử lý, trở thành đối tượng của những tác động môi trường và chuyện ngẫu nhiên rất khác biệt. Song đã có đầy bằng chứng rằng một số khuynh hướng hành vi nào đó chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các yếu tố di truyền và các yếu tố cấu hợp khác.

Và như thế, cơ chừng sự thật về bản chất con người nằm đâu đó giữa các biểu tỏ cực đoan bên trên. Con người hoặc là tính bản thiện hoặc vốn ác độc. Và anh ta hoặc phó mặc cho các genes cùng các chất hóa sinh trong người hoặc chỉ là một robot được đặt định thân phận chỉ có hành xử như môi trường lập trình để anh ta hành động thế. Anh ta cũng không hiển nhiên khuyết thiếu. Và dù được phú cho một nền tảng động vật với một số bản năng nguyên thủy, anh ta có năng lực đáng giá đặng ý thức về chuyện học hỏi và triển nở, điều khả thể giúp anh ta trở thành một cái gì lớn lao hơn thứ chỉ là động vật. Đó thuộc về các tiến trình xã hội hóa (socialization) và phát triển tính cách; và nó là một tiến trình đau đớn, khổ sở, phức tạp và kéo dài suốt đời người ta.

Việc xây dựng tính cách là tiến trình suốt đời chúng ta thấm nhuần dần nguyên tắc kỷ luật bản thân và nảy sinh các năng lực để sống có trách nhiệm với những người khác, để làm việc năng sản, và trên hết, để yêu thương… Liệu yêu thương đích thị là hành vi, hay nó là một cảm xúc, một nghệ thuật, hoặc một trạng thái tâm trí?

Thậm chí, dù cho một người có thể khởi sự cuộc đời mình như một tù nhân của những gì tự nhiên cho sẵn và lớn lên từ những hoàn cảnh nọ kia, anh ta không thể mãi mãi duy trì là ‘nạn nhân’ của môi trường sống. Rốt cuộc gì gì, mỗi người đều buộc phải tiến tới sát hợp với con người của chính anh ta/ chị ta. Để hiểu biết bản thân, để đánh giá đúng đắn và công bằng các điểm mạnh yếu, ưu khuyết, để đạt được sự khôn ngoan đích thực vượt qua các bản năng và dốc nghiêng cơ bản chắc chắn là những thách thức ghê gớm nhất trong đời. Mà không thể khác được, việc bất kỳ ai vươn tới một đời sống liêm chính, tích hợp và xứng đáng chỉ có thể là kết quả của một sự tự bừng dậy, đánh thức toàn diện, đủ đầy. Một con người rồi ra phải hiểu biết bản thân cũng như hiểu biết người khác mà không lừa lọc, dối trá hoặc chối bỏ, phủ nhận. Anh ta phải chân thành đương đầu và ước định tất cả các khía cạnh của tính cách chính mình. Chỉ khi đó rồi anh ta mới cảm thấy thoải mái gánh lấy trách nhiệm nặng nề tự lực rèn luyện vì bản thân và vì người khác. Cái đó gọi là tình yêu khi tự do lựa chọn chịu đựng gánh nặng hoặc ‘thập tự giá’ này. Và đó là ước ao cùng cam kết của một người để mang vác ‘thập tự giá’ ấy cho đến chết ngõ hầu mở ra các cánh cửa dẫn đến một nơi chốn tồn tại cao cả hoặc tái sinh dưới hình tướng sáng lạng hơn nhiều.

… Giờ với quan điểm chúng ta đang sống đời thường trong một thế giới rất liên quan và tương thuộc nhau, thử quay lại bàn thêm về vụ “bạn trai hay khóc mỗi khi cãi nhau”.

Bạn trai của cô gái  có vẻ thể hiện nhiều đặc tính thuộc nhân cách hơn là biểu hiện sự vụ tâm thần; các vấn đề xung hấn, uy quyền và độ ổn định xã hội như thế thường dễ liên quan với các rối loạn nhân cách (personality disorders). Cơ chừng cô gái đang hẹn hò với một người thuộc dạng thấy mình kém cỏi, thích kiểm soát và lạm dụng cảm xúc.

Từ cái nhìn thực tiễn, cho dù vị thế đích thực của cậu chàng như nào thì tình hình đang tiếp tục gây hại cho cô gái. Các cá nhân mắc rối loạn nhân cách như thế luôn định hướng xoay quanh bản thân mình. Họ thao tác các mối quan tâm theo chương trình riêng. Như cô gái có lưu ý, anh ta không lưu tâm chuyện cô gái đang khó chịu, tự gây hại chính mình, hoặc ngay cả nhen nhóm dự tính chia tay, chần chừ kết hôn vì mỏi mệt, lo sợ cho tương lai bị bạo hành. Anh chàng bộ đội hoàn toàn thừa khả năng làm cô người yêu kiệt sức về mặt cảm xúc thông qua chuyện cậu ta khóc lóc, mè nheo, thể hiện tội lỗi, và vâng, thậm chí hàm ý đe dọa. Khi cô gái bị tràn lấp bởi những thao túng, điều khiển của cậu ta và quay trở lại chịu đựng tiếp tục (“Bình thường thì anh tỏ ra rất tình cảm và yêu thương mình”) thì anh lính lại quay về thói cũ, lề xưa.

Theo mô tả, thái độ kiểm soát của anh lính là điều cần được nhấn mạnh trong mối quan hệ này, và nghe như thể chàng tin vào một tiêu chuẩn kép (kiểu mình được phép còn nàng thì bị hạn chế); mẫu hình như thế là không lành mạnh và dễ trở nên tồi tệ hơn cùng thời gian, nhất là sau khi đã thành chồng vợ của nhau. Hành vi kiểm soát của chàng có thể tăng lên thêm nữa khi nàng tìm ra các biện pháp ứng phó hữu hiệu. Với tuổi trẻ đang là, cô gái cần khám phá sự độc lập mà không để bị bó buộc không chính đáng. Nếu cô gái dần thấu hiểu đúng đắn mọi sự, anh lính kia dễ thấy quá chừng bất an và thiếu chín chắn trưởng thành cho kiểu dạng quan hệ mà cô gái mong đợi trong đời.

Thật tiếc khi nghe thấy cô gái cảm thấy lo lắng và bị xáo trộn với những xúc cảm cùng hành vi như thế, dễ khiến cô gái khó kiểm soát nổi tình hình. Nhất là khi cô nhiều xúc cảm đổ tràn ra, mức độ stress tăng lên bởi vì cô đang cảm thấy giận dữ với chính bản thân, để rồi đổ dầu thêm vào ngọn lửa bất mãn trong quan hệ.

Hãy để cô gái vào vai rằng mình bắt đầu khóc lóc và cảm thấy khó kiểm soát, tôi tự hỏi những gì cô ấy lưu ý nơi mình trước khi cô ấy khóc; có lẽ ấy là cảm giác mạch đập dồn dập, các cơ căng ra, hơi thở thay đổi… Nếu lưu ý những biến chuyển này trước khi rơi lệ cho cô cơ hội thay đổi chiều hướng trò chuyện với người yêu, nói bằng phong thái nhẹ nhàng và xác quyết, hoặc muốn tạm rút lui thật nhũn nhặn khỏi buổi trao đổi cho đến khi bản thân cảm thấy bình tĩnh, thoải mái hơn. Cô gái cũng có thể cân nhắc để xem xem chức năng khóc như một sự “lưu hành bôi trơn” cho quan hệ của họ, bất kể cô có xu hướng đổ lệ nhiều hơn trong các tương tác căng thẳng với ai đó khác (ví dụ, thủ trưởng, bố mẹ, người thân thiết…) so với số còn lại (ví dụ, bạn bè bình thường, đồng đội, người lạ tình cờ gặp gỡ). Cơ chừng việc khóc của cô gái nhằm hướng tới việc khuếch tán sự giận dữ của họ và kết thúc sự xung đột; nó được việc kết thúc thảo luận, trao đổi trong chốc lát song không giải quyết nổi vấn đề ẩn sâu bên dưới đang gây phiền muộn cho người khác (nghĩa là nó sẽ trở đi trở lại thêm mãi).

Kiểu dạng người cảm thấy mình thất bại, thua cuộc và kém cỏi tạo ra nhiều thiệt hại về mặt xã hội, cảm xúc và tâm lý trong một mối quan hệ. Người ấy thường trực các tính cách làm nên sự thiệt hại này. Có những nét tính cách họ chấp nhận đơn giản như nó thể hiện vậy mà không hề nghĩ trở thành một vấn đề hoặc trục trặc về mặt tâm lý. Ở góc độ nào đó, họ luôn sống với nét tính cách và hành vi này, thường thì là điều gì đó họ học hỏi được từ người thân trong gia đình. Các nhà tâm lý hay trị liệu nạn nhân của kiểu dạng người vừa nói trên (cả phụ nữ lẫn đàn ông) là các thân chủ tìm tới với trạng thái trầm uất khủng khiếp liên quan với trạng thái tin tưởng vào giá trị bản thân và lòng tự tôn đã bị phá hủy hoàn toàn.

Trong khi cô gái mang chứa ít nhiều mẫu hình quan hệ dựa theo ký ức cảm xúc, chàng trai lại đang thể hiện các dấu hiệu của trạng thái kiểm soát và sở hữu của một người loay hoay học cách chấp nhận mình. Liệu cô ấy cần phải sớm có quyết định dứt khoát và tách biệt, thoát ra khỏi vị hôn phu trước khi bị mắc bẫy trong một mối quan hệ mà bản thân cảm thấy “mệt mỏi”? Chí ít, cô gái cần giữ trong tâm trí ý nghĩ rằng chàng ta không hề quan tâm nếu cô không muốn nó, chỉ những gì anh ta quan tâm mới thành vấn đề? Chúc cô gái may mắn trên cuộc phiêu lưu tình ái rồi tiến tới dự tính kết hôn này.

Một câu hỏi quen thuộc: làm thế nào tôi biết mình đang cảm nhận điều gì đây?

Những câu hỏi ấy, vào một lúc nào đó trong đời, sẽ bất chợt xuất hiện hết sức mãnh liệt: “Làm thế nào tôi biết những gì mình đang suy nghĩ và cảm nhận là đúng đắn đây? Có thể ai đó khác mới đúng thì sao? Tôi nghĩ mình biết những gì mình đang suy nghĩ rồi ai đó đến và bảo điều khác biệt cơ, và tôi lập tức tin họ! Tại sao tôi làm thế? Chẳng mấy chốc tôi quên béng điều mình từng nghĩ chắc là sai lầm.”

Khá dễ dàng bị vướng mắc dính cả chùm vào trạng thái tương tự bên trên; mọi người đều ít nhiều biểu lộ thế, cả thân chủ lẫn nhà trị liệu hay với những ai chưa từng đặt chân vào phòng tham vấn tâm lý. Câu hỏi: tại sao tôi làm thế? cơ chừng là câu hỏi đầy lợi lạc, hoặc chẳng tạo mấy vang vọng lắm, song chí ít mình có thể gạt câu hỏi đó sang bên.

Mục tiêu của nhiều người, cả trong tham vấn lẫn bên ngoài phòng trị liệu, là chắc thực với chính bản thân mình; họ chuyển tải hết sức chính xác một cách hiểu biết điều mình suy nghĩ và cảm nhận. Thực tế phũ phàng và trêu ngươi là điều này chưa chắc có hiệu lực như mong đợi đâu. Chúng ta hết thảy có thể thổi bùng ra ngoài, hoặc quên phắt những thứ từng chắc thực, kỳ thực các suy tư lẫn cảm xúc của chúng ta đều đặn bị bẻ gãy rồi thay đổi trong tiến trình tương tác với tha nhân và các tình huống nọ kia xảy đến trong đời, và thực tế mọi sự diễn ra như thế. Những gì đích thị sau đó là cảm nhận bền chắc bên dưới chúng ta hoặc trong lòng chúng ta.

Chiêu lừa mẹo xảo khéo không chỉ cố gắng bám vào nền tảng vững vàng qua mọi thời gian mà còn biết cách làm sao để tiếp chạm nó khi mình muốn. Thường khá dễ dàng hơn chúng ta nghĩ nhiều. Đấy chính là lộ trình nhắm tập trung vào. Song mình không nhất thiết nghĩ về nó như lộ trình hoặc kỹ thuật, chúng chỉ đích thị là các cách thức nói về thực tế.

Đôi khi tất cả điều chúng ta cần thiết tiến hành là thư giãn, tạo ra một không gian nội tại trong lòng rồi tự vấn bản thân bằng lối thân thương: “Hiện tôi đang cảm thấy như thế nào đây?” Điều gì đó bên trong thân xác mình đáp ứng; trong trạng thái thế, nó không mở ngỏ cho chuyện tranh cãi, từ bản thân mình hoặc so với ai đó khác. Rất đơn giản cách thức mình cảm nhận, suy tư, và đang là với tình huống bản thân, từng khoảnh khắc. Nó luôn tương thích, và khi tiếp chạm, nó luôn luôn đưa mình thêm một bước tiến về phía trước.

Đau đầu xe cộ ồn ào sẽ càng cào sâu bất ổn

Đêm về khuya ở ngoài đường sẽ dễ chứng kiến hai điều: khuôn mặt mệt mỏi của đa phần mọi người, và những đống rác tú ụ được các gia đình sống trên phố đổ thải ra.

Trong chớp choáng lập lòe ánh sáng chói mắt và xe cộ lại qua xen kẽ còi bóp inh ỏi vẫn còn tấp nập làm điếc cả tai, xuất hiện ý nghĩ liệu tiếng ồn đối với người này có là âm nhạc của kẻ khác?

Tiếng ồn được xem là một dạng ô nhiễm vì nó là dạng kích thích không mong muốn cứ ấn bừa vào môi trường người ta, dù khá khó xác định một cách khách quan. Tính chủ quan bất biến của nó nằm ở chỗ tiếng ồn là thứ âm thanh người ta chẳng muốn nghe (tham khảo).

Một số nghiên cứu khẳng định trải nghiệm của bản thân người ta về tiếng ồn (ví dụ, sự phiền quấy) không phải do tự thân tiếng ồn, là yếu tố quan trọng đối với sức khỏe. Nhiều nghiên cứu xem xét sự biểu lộ stress kéo dài dây dưa (xác định khách quan qua đo độ decibel) trên các mẫu tương đối lớn.

Tuy nhiên, tác động của tiếng ồn còn do một số nguyên nhân khác như nhân cách và sự có ý nghĩa của tiếng ồn; trạng thái phiền quấy do tiếng ồn gây nên đa phần được xác định do mức độ ồn ào, do vậy cả hai yếu tố là không hề độc lập lẫn nhau.

Vậy liệu chúng ta quen với tiếng ồn?

Các báo cáo vén lộ sự thật là người ta bắt đầu ngủ ngon hơn khi họ quen với tiếng ốn ào do các phương tiện giao thông tạo ra, phản ánh cho cái gọi là tiến trình quen dần. Dẫu thế,  các cuộc kiểm tra nhờ máy ghi tim vật lý (polygraph) cho thấy não của họ không hề có dấu hiệu thay đổi nào khi họ “dần quen với’ tiếng ồn.

Thực tế, phơi nhiễm tiếng ồn như thế đôi khi dễ làm tăng độ nhạy cảm với tiếng ồn. Dường như một số cá nhân quen với tiếng ồn, một số khác thì không thể. Cách người ta thích ứng cơ chừng phụ thuộc vào nhân cách và độ nhạy của bản thân họ.

Tính có thể dự đoán trước và triển vọng của việc kiểm soát tiếng ồn không mong muốn được xác minh là làm giảm nhận thức sau các tác động do phơi nhiễm với tiếng ồn; hơn nữa, các thực nghiệm stress cũng khẳng định kiểm soát là yếu tố quan trọng trong điều chỉnh các phản ứng stress dưới khía cạnh sinh lý của người ta.

Nói chung, tiếng ồn ảnh hưởng tới chúng ta theo hai con đường riêng biệt.

Cụ thể, mô hình phản ứng với tiếng ồn cho rằng tiếng ồn kích hoạt cơ thể người ta hoặc trực tiếp hoặc bằng con đường gián tiếp. Con đường trực tiếp được xác định bằng tương tác ngay lập tức của thần kinh thính giác với các cấu trúc thuộc hệ thần kinh trung ương, mà đến lượt nó khiến tăng thêm stress sinh lý.

Tác giả Babisch và cộng sự còn nhìn nhận mô hình gián tiếp hướng tới việc nhận ra sự ý thức tiếng ồn, và nó liên quan với mức tăng stess cảm xúc. Cả hai đường này kích hoạt hệ thần kinh tự chủ và hệ nội tiết, và sự kích hoạt kéo dài quá mức của các hệ thống này có thể gây nên các vấn đề sức khỏe trầm trọng

Ở Hà Nội, Saigon hoặc các thành phố lớn tại Việt Nam khác, chúng ta có vẻ đã quen với tiếng ổn và sống ổn thỏa trong chung đụng này, bất chấp thực tế cách mà phơi nhiễm tiếng ồn thế thực tế ảnh hưởng tới chúng ta cả về mặt tâm lý lẫn thể lý. Các phương thức không hay ấy có thể sẽ được trình bày vào một hôm rỗi rãi và êm đềm khác, ngay cả khi giời đất không rỉ rả mưa rơi như đêm nay.