Hai lá thư xạo bà cố

Đời có hường như bông? Lời thương lòng mênh mông…

Thưa các anh,

tôi chính là cái tên giật giỏ xách của một cô vừa xảy ra hồi trưa nay trên địa bàn phường. Tôi định nói thêm ‘mình’ theo thói quen nhưng nhớ ra dùng từ thế lẽ nào giúp công an tìm ra hung thủ (‘kẻ cướp’ nghe ghê ghê).

Dạ thưa, tôi viết thư này để xin nhờ các anh trả lại giúp giùm cho cô kia số tiền là 100 triệu (100.000.000 VND). Cũng xin các anh chuyển lời mong cô kia tha lỗi cho tôi vì đã khiến cô té ngã, thậm chí suýt bị tai nạn nghiêm trọng khi chạy xe máy giữa đường đông đúc nữa. Năm hết, Tết đến, mong cho không ai xui xẻo như tôi và cô.

Nhân tiện đây, mong các anh cho tôi được dài dòng văn tự, đặng kể lại chi tiết cơ sự vì sao tôi dám làm chuyện mà dẫu nuốt cám suốt mười hai tháng trong một năm nằm im re ru võng dù hay được dát vàng từng bước đi cà nhắc trên đất thịt thì thằng tôi vắt óc gãi tai bao nhiêu lượt cũng khó mà tưởng tượng tới nổi. Một kẻ cướp trước khi thành tên đốn mạt đáng bị phỉ nhổ thì khả năng, chí ít với trường hợp bản thân, có thể là một con người đàng hoàng được sinh ra trong gia đình tử tế chứ bộ. Cứ theo mấy cuốn phim hình sự hay coi trên mạng đỡ buồn nhờ chiếc laptop còn khuya mới đùi nhây vợ tôi mua cho thì mấy nhân vật bên Tây kiểu cách hà rầm: ‘Who nows?’ (nghĩa là ‘Ai biết đâu đấy’, phỏng ạ).

Mấy anh ơi, ngồi gõ miên man những dòng này để tí nữa đem ra hàng vi tính in và bỏ vô bì thư (viết tay rồi kể lể hết trơn nhân thân thì hơi ngu, vì quá dễ lộ luôn: cho tôi nổ tí cho đỡ xì trét!), hàng xóm phía tay trái đang rổn rảng cụng ly tất niên. Vợ tôi mới sinh em bé được ba tháng thì đã ngủ ngoan, đằng sau tấm màn màu gì giống với loại bánh mì sandwich lạt tôi hay ăn (vừa chóng no vừa không tốn nhiêu tiền, 12K thôi hà [thông tin cho ai chưa dùng bao giờ]). Đó, mấy anh cũng thấy là tôi thiệt thà, và cũng mang thói cà kê dê ngỗng; tuy nhiên, trung thực mà thề thì tôi không hề muốn tự thú theo hướng ra trình diện trước cơ quan pháp luật đâu.

Hồi ba tôi còn sống, ổng dặn: con trai có khóc thì khóc nhỏ nhỏ thôi. Nên tôi nhớ nằm lòng để mỗi khi vợ tỏ thái độ dằn hắt thì tôi gắng sức giữ mọi chuyện êm thấm, kiểm soát được.

Lắng nghe tiếng đứa con gái đầu lòng oe oe làm tôi rấm rứt lắm. Đây là lý do tại sao tôi viết thư này, góp phần giúp mấy anh kiểm tra băng ghi hình công cộng thì hy vọng sẽ thấy hồi sáng tôi đi loanh quanh khu công viên rồi liều mạng băng ngang qua đường giật giỏ xách của cô kia.

Thưa các anh, dân ngụ cư như bọn tôi đã nghèo mạt rệp, te tua xơ mướp ở trọ chắc trọn kiếp ve sầu mà lại còn hay bị đủ thứ hoạn nạn giáng xuống liên tiếp. Đói đâu xi nhê chi với thằng đàn ông không thể ốm nhom tiếp được này, nhưng phụ nữ mới sinh dậy cần nhiều hơn là lời an ủi vỗ về, ve vuốt hoặc sự chung thuỷ, cúc cung tận tuỵ của chồng. (Mấy anh đừng cười thầm nghe, ‘ăn mày là ai, ăn mày là ta, đói cơm rách áo hoá ra ăn mày’; dân gian chẳng véo vắt văn chương thơ phú).

Thưa mấy anh, tôi cố tình chọc cười vừa đủ đô, và tránh cảm giác quá trớn làm mấy anh tức ghét. Cuối năm, tháng củ mật cánh ma tuý nhập nha nhà trên xóm dưới nên bà chủ nợ cũng xiết tụi tui tơi tả. Vì vay mấy triệu mà cộng dồn xã hội đen ép giá thành thử tôi sợ xanh mặt, lỡ bả nổi khùng sai đàn em làm gì vợ con tôi… Sáng nay, tôi không dám uống ly café mà tranh thủ dọn dẹp, giặt giũ, đun ấm nước rồi nghĩ kiếm ai vay tạm…

Thưa các anh, thư dài mà tình chưa đầm đìa bê bết hết. Lần nữa, tôi kính mong mấy anh công an các cấp đại xá và tôi không quên xin cô kia cho tôi khất mấy triệu, tôi hứa khi nào có sẽ tìm cách tiếp cận rồi trả lại cho cô đầy đủ.

Cuối thư chốt chặn, chẳng biết tâm tình chi thêm, xin có hai câu rên rỉ kẹp vía nhau rằng, ‘đời bạc phận nghèo nheo nhóc bám; mần răng giảm sợ đỡ đui mù’.

Trân trọng kính chào,

XX.

———–

2. Thưa anh,

tôi là cái cô bị anh giật giỏ xách đây. Nói thiệt, tôi có mừng chứ nhưng không mừng lắm khi nhận như trọn nguyên xi số tiền cho bằng niềm vui bất ngờ lúc được mấy anh công an phường trao lá thư cho… Gần bốn mươi năm làm đàn bà, tôi nghĩ mình lễ nghĩa với hai thân, nuôi dạy chồng con no ấm, nội ngoại chưa ai chê bai tôi bao giờ, nhưng đọc lá thư anh tôi khóc tơi bời khói lửa.

Anh thố lộ là mình hay xem trên mạng, tôi cũng vậy anh à. Nên anh chắc đã xem hết trọn bộ phim The Lunchbox mà Việt Nam mình tự dưng sửa lại quái dị là ‘Chiếc Hộp Lạ Kì’. Bộ phim đó quá chừng mùi mẫn và xúc động hết biết phải không anh, nói theo giọng mấy ông nội cách mạng là ‘nhân văn’ lắm cơ. Có gì đâu mà kỳ với lạ, đời ai dám nói mình học hết chữ ngờ phải không anh. Sinh ra dưới gầm trời, làm đàn ông đàn ang thân dài vai rộng hiên ngang như Từ Hải đến đoạn ngã ngựa vì em, hoặc anh Vũ Trung Nguyên khởi nghiệp từ bàn tay thư sinh đầu còn trông rõ tóc đen nhánh đi nữa thì giả tỉ lúc thất bại thảm hại cũng đâu dễ có mắm mà bốc. Đọc thư anh tôi ngậm ngùi hiểu chút chút tại sao ông xã thi thoảng lấy tay chùi vô mắt lúc xem kênh TV của Mỹ.

Dân miền Tây rành sáu câu vọng cổ anh dân ngoải sống lâu ắt biết rồi (là tôi suy đoán vậy), tôi cũng nhớ được cái đoạn Lục Vân Tiên biểu Kiều Nguyệt Nga ‘khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái, ta là phận trai’. Tôi ghiền đọc tin Ngọc Trinh bởi cái nét quê mùa này đó. Anh tuy nghèo và teo tóp nhưng tôi thấy vẫn xứng danh anh hùng được. Là tôi nói cái vụ anh dám mờ mờ tỏ tỏ, tưởng dại mà khôn lanh viết thư phân trần có tạ lỗi có cả giới hữu trách lẫn nạn nhân vô tình là tôi đây.

Thôi mình đừng mơ tưởng chi nữa anh nghe, kết vậy là đẹp rồi. Vâng lời Phật dạy, tôi hoan hỉ tha thứ mọi điều cho anh. Cầu chúc vợ chồng anh cùng em bé sẽ chóng chóng tìm ra cách đổi đời êm thấm, gấp gấp có chỗ ở ngon lành. Mình cứ gắng sống cho tròn đêm ngày năm tháng, ai xỉa xói vô ra to nhỏ cứ mặc kệ họ anh nghe.

Thân chào,

Y.

——-

3. Xơi liền quả chuối xong bữa, đang hồi thao thức chưa rõ nguyên nhân, thuận duyên liếc thấy câu chuyện quê nhà hiếm gặp mà rộn ràng bịa đặt mắm muối, tương cà tắp lự. Ai nhẫn nhục đọc tới tận đây rồi thì cũng xin rộng lượng tặng đôi chục bông hồng làm thí dụ…

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

J. Soi (39): Tình đời gây cảm hứng thường xuyên

Câu chuyện tác quyền biểu diễn nhạc Trịnh liên quan đến ca sĩ Khánh Ly e sẽ khiến thiên hạ nhận ra sự vụ ảnh hưởng chẳng hề đơn giản, và mức độ hâm mộ lần nữa, dẫu biểu hiện như nào thì thảy đều có điểm chung ít nhiều là đánh thức, gây cảm hứng cho chính bản thân người trong cuộc.

Hôm nay, kỷ niệm ngày vang lên tuyên ngôn sấm truyền “I have a dream“.

Với những ai say mê phấn khích và cảm hứng, tôi đoán đó là kiểu người của đam mê. và đa phần trong đời, người ta không chỉ kiếm tìm mà còn trở thành đối tượng gây được cảm hứng. Thử nghĩ về rất nhiều khoảnh khắc “huyền thoại” mà sản phẩm tạo cảm hứng của ai đó dựng lên một ấn tượng thật sâu xa và miên man trong lòng ta, khiến bản thân cảm thấy nối kết điều gì đích thực quyền lực dù khó gọi tên rõ ràng hay định nghĩa thật chuẩn xác, rạch ròi. Và chắc chắn cũng có những lúc, với nỗ lực riêng có tạo cảm hứng với tha nhân, người ta cảm nhận mối kết nối tương tự.

Cảm hứng là gì, tuy chẳng dễ dàng biểu tỏ song chúng mình có thể chấp nhận vài ba cái nhìn phổ quát:

  • Tâm trí lâng lâng đối với hoạt động hoặc sự sáng tạo đặc biệt, bất thường
  • Hoàn thành sản phẩm hoặc kết quả của nỗ lực và suy tư mang tính sáng tạo
  • Một sự bùng nổ đột ngột của thấu hiểu xảy ra như thành phần cốt yếu cho tiến trình giải quyết vấn đề
  • Ảnh hưởng của một nguồn huyền thoại đặc biệt hoặc trạng thái hiện diện thần thánh trong tâm trí con người (kiểu ‘mặc khải’ trong các bản văn tôn giáo)
  • Trạng thái ngây ngất hoặc khiến người khác ngất ngay với một hành động hoặc cảm xúc đặc thù
  • Hành động hít vào; giát kéo lây lan trong không khí (đối lập với việc thở hắt hoặc hơi bốc ra)

Tất cả những cố gắng xác lập này chạm vào được một số khía cạnh của nỗi niềm cảm hứng, dù kỳ tình thì rất khó nắm bắt thấu đáo. Cơ chừng, một trong những điểm tương tự nhất của các định nghĩa là sự kiện nó bao hàm trong khái niệm của việc “nắm lấy, dụ vào’ điều gì đó. Và để gây được cảm hứng, chúng ta phải luôn luôn cởi mở và dễ tiếp thu (sẵn sàng để ‘nắm lấy, dụ vào’) các nguồn lực sáng tạo có thể truyền dẫn và tạo ảnh hưởng với chúng ta.

Bất kể đang đọc sách, xem phim, nghe nhạc hoặc lướt qua một phòng triển lãm tranh, người ta luôn tìm kiếm cảm hứng mới. Và khi họ viết lách, sáng tác, hát hò, hoặc dấn thân vào bất kỳ lĩnh vực sáng tạo khác thì luôn luôn họ không ngừng kiếm tìm cách để gây tạo cảm hứng với những kẻ khác.

Chắc chắn với một số người, cảm hứng là điều gì sâu rộng hơn là chỉ mỗi khía cạnh ‘vào’ của việc hít thở vậy; đích thị, nó như là tự thân hơi thở, vốn tuyệt đối căn cốt để đảm bảo sống còn.

E là sống một cuộc đời không cảm hứng tựa như không đích thị sống gì cả.

Câu chuyện bị xâm hại thời thơ ấu: niềm đau chôn giấu, bí mật mang theo, và sự trợ giúp chuyên môn

Những vụ việc cưỡng hiếp cũng như tội ác xâm hại tình dục nói chung thường luôn diễn ra phức tạp và chứa nhiều sắc thái.lắm khi khó tóm bắt đủ đầy, chính xác.

Dạng trả lời phỏng vấn kiểu này khá dễ khiến thiên hạ thêm phần định kiến về chuyên môn tham vấn/ trị liệu tâm lý cũng như quá chừng thứ sinh động liên quan đến câu chuyện đang bàn không ngừng xuất hiện trong thực tế lại bị đơn giản hóa do thiếu vắng nền tảng tiếp cận bài bản.

Việc điều trị tâm lý phải hướng đến chuyện giúp các em coi chuyện bị cưỡng hiếp ấy chỉ là một kỷ niệm buồn, chứ không phải là sự kiện làm thay đổi đời em. Kỷ niệm buồn ấy có thể quên đi. Các em có thể lớn lên, lấy chồng lấy vợ bình thường, nhưng nếu cha mẹ làm không khéo thì vết thương ấy bị khoét rộng ra, làm tổn thương các em nhiều hơn. Câu chuyện sẽ được truyền từ nhà này sang nhà khác, từ người này sang người khác, cứ lan rộng ra thì các em khó có khả năng hàn gắn được vết thương.

Trước hết, có một câu hỏi cần nghiêm túc đặt ra ngay: liệu tôi có thể thoát ra khỏi các ký ức đau buồn và tồi tệ, nói khác đi, lám sao tôi có thể khít khớp bản thân trở lại mà không cần phải đi tham vấn/ trị liệu tâm lý không? Và bằng cách nào tôi phơi mở các ký ức, niềm đau chôn giấu bấy lâu rồi phát hiện thấy điều đích thực từng xảy đến với tôi?

Thực tế, nhiều kỹ thuật được chứng thực đảm bảo độ tin cậy trong việc giải quyết với những nỗi niềm khủng khiếp liên quan đến sang chấn thể lý và cảm xúc. Một trong những phương pháp hiệu quả là tiến hành những gì thôi thúc mãnh liệt phải thực hiện nó bất kể thế nào, tức là, nói ra với ai đó. Khi người ta “kể câu chuyện đời họ” bằng những câu chữ riêng tư, với nhịp điệu đặc thù và chấp nhận lắng nghe thì việc ấy không những cho họ cơ hội thoát ra mà còn là phương tiện giải mẫn cảm chính bản thân họ trước vô vàn nỗi niềm khốn khổ gắn dính với các ký ức đau thương. Tên gọi cho kỹ thuật này là “xử lý nhờ kể ra” và nó dễ biểu tỏ đàng hoàng dưới dạng ai đó ước mượn được một đôi tai không định kiến hoặc làm việc với chuyên gia. Đôi khi, mình phải kể đi kể lại câu chuyện vô số lần, tốt nhất với ai đó mình tin tưởng, nhằm giải quyết thật hữu hiệu tất cả mọi cảm xúc đeo bám để rồi cảm thấy thuyên giảm, buông bỏ được nỗi đớn đau.

Cũng nên khuyến khích người ta bước từng bước phù hợp để duy trì sự tự tin rằng mình có thể vượt qua nỗi đau chấn động. Kỹ thuật này hữu kiệu ngay cả khi không có ai mình tin tưởng hoặc người muốn nghe mình tâm sự. Điều quan trọng là kể câu chuyện và ước muốn thôi thúc nói về cái tên xấu xí cứ cứ nghẹn nơi cổ họng mình bấy lâu. Càng kể câu chuyện và cho phép bản thân thoát ra khỏi cảm xúc kết nối với nó thì mình càng tuần tự giải mẫn cảm với nỗi đau gắn chặt luôn theo cùng.

Liên quan với sự vụ này, cần biết rằng không có lĩnh vực nào của tâm lý bị trở thành đối tượng soi mói cho bằng chủ đề tiết lộ, khởi động lại ký ức kiềm nén bấy lâu.

Ký ức giấu che không phải là trạng thái mất trí nhớ (amnesia): ký ức bị thất lạc do một số hư hỏng các trung tâm ký ức ở não bộ; hơn thế, giấu che ký ức được nhìn nhận như là một dạng chiến lược phân ly nhằm tách rời, không tạo nên kết nối giữa tâm trí ý thức của người ta với điều gì đó quá khủng khiếp hoặc đớn đau nếu lưu giữ, ghi nhớ nó trong đầu.

Một số nghiên cứu cho thấy, các ký ức được “vén màn” không đáng tin cậy thường là loại được diễn ra trong tiến trình trị liệu thông qua khả năng “ám thị, gợi ý” của nhà trị liệu. Vì thế, mình không nhất thiết cần đến trị liệu để chỉ mà phơi tỏ các thứ bị kiềm nén, giấu che. Những gì cần thiết là ở trong bầu không khí cho mình cảm thấy an toàn và tin cậy đủ để kết nối với các cảm xúc và ký ức của bản thân. Mình cũng không nhất thiết cần đi trị liệu để chữa lành hoặc giải quyết với sự sút giảm bất thường tình dục sau này (nếu có). Điều mình cần tính đến là sự thành thật với chính bản thân về bản chất của các mối quan hệ và những gì mình tin tưởng phải tạo ra sự khác biệt đặng làm cho các khía cạnh về mặt tình dục, cảm xúc và thân mật lành mạnh hẳn lên.

Thực tế, nếu thời gian càng lùi xa thì khá khó khăn để phân biệt một ký ức đích thực từng bị giấu che với cái giờ đây có thể được phục hồi từ ký ức giả tạo… Rốt ráo ra, tuy thế, tham vấn/ trị liệu tâm lý vẫn có thể là ý tưởng tốt, đặc biệt khi làm việc với một chuyên gia trong lĩnh vực mình vướng mắc cần giải quyết; một nhà trị liệu được đào tạo bài bản có thể giúp mình xử lý để thoát ra khỏi những ám ảnh theo cùng năm tháng.

Những người sống sót sau khi bị cưỡng hiếp, nhất là trẻ em, không ngừng tìm cách để đối phó với cơ thể họ, và chuyện tình dục sau đó thường là khoảng trống mù mờ về thông tin và dịch vụ hỗ trợ. Xét về mặt giới thì hầu như tất cả nữ giới từng bị cưỡng hiếp đều thổ lộ về ảnh hưởng họ phải chịu đựng liên quan đến cơ thể họ và chuyện quan hệ tình dục sau đó. Những từ như “cô đơn”, “lạc lõng”, “xa lánh”, “bối rối” và “cách biệt” cứ lặp đi lặp lại sau các cuộc trao đổi chứng tỏ điều ấy.

Đây cũng là lúc cần hiểu biết về những sự khác biệt giữa bị cưỡng hiếp hồi thơ ấu và thời đã lớn.

Thường người ta có xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nguyên do khiến đối tượng bị cưỡng hiếp (trẻ trung, hấp dẫn, ăn mặc hở hang, trông khêu gợi, uống bia rượu ngà ngà, ở một nơi kín đáo, không tuyên bố rõ ràng hoặc bày tỏ sự tán đồng, v.v…) Tuy thế, rất khó khăn để đổ tội cho một đứa trẻ, nhất là khi cháu còn bé tí, về chuyện cưỡng hiếp vì chúng ta thường hay nhìn nhận trẻ em không phải là đối tượng quan hệ tình dục, hoặc không có đủ khả năng kiểm soát trước một số tình huống, điều kiện nhất định. Có vẻ loạt bài báo trên tờ Thanh Niên tiếp tục minh họa cho cảm giác giận dữ của người đời trước chuyện một đứa bé bị xâm hại, lạm dụng. Kẻ lạm dụng trẻ em dù dưới bất kỳ hình thức và kiểu dạng ra sao thì thảy đều bị đối xử tồi tệ ngay cả trong trại giam vì các phạm nhân trong tù cũng không ưa thích hoặc chấp nhận họ.

Có một số điều khác biệt có thể chỉ ra giữa trẻ em và người lớn. Thứ nhất, cơ thể trẻ em nhỏ bé hơn nên thường dễ bị tàn hại lớn hơn về mặt thể lý. Thứ hai, trẻ ít có trải nghiệm về thế giới và cuộc đời nên khả năng chống đỡ của chúng thấp hơn hẳn người trưởng thành. Ví dụ, nếu mình biết đa phần đàn ông là những gã tử tế và lịch sự thì mình sẽ khó mà kết luận đấy là tất cả đàn ông đều thô lỗ và bạo lực. Thứ ba, các xã hội nói chung thường tin rằng người lớn có nhiệm vụ bảo vệ trẻ em, không được làm hại chúng; do đó, cảm giác bị phản bội khi biết trẻ em bị cưỡng hiếp hiển nhiên là lớn lên rất nhiều. Cuối cùng, trẻ em không có đủ cơ hội để phát triển các kỹ năng đối phó, do đó, năng lực giải quyết các cảm xúc bản thân của chúng thấp hơn so với người lớn. Tuy thế, dẫu các khác biệt và sự kiện mọi người muốn bảo vệ trẻ em, không nhất thiết rút ra kết luận logic rằng người lớn sẽ tự vượt qua được hoặc nên biết cách để bảo vệ chính bản thân mình.

(còn tiếp, tiệp dịp viết sau)

Bác sĩ ơi, giá mà…: chút liên tưởng đến việc thực hành dựa trên bằng chứng

Gạo nếp lứt rang vị café

Đang nghĩ tới nó ít nhiều thì bắt gặp đúng ngay bài báo cung cấp dưỡng chất cho suy tư cất cánh thêm chút.

Theo 2 lãnh đạo khoa Nội tim mạch, sáng 26.6, khi bệnh nhân Trang khó thở, bác sĩ đã tiêm cho bệnh nhân này liều thuốc lợi tiểu và đến gần trưa thì bệnh nhân này tử vong. “Tiêm thuốc lợi tiểu nhằm giúp bệnh nhân đi tiểu được để làm cho gan nhỏ lại. Nguyên nhân dẫn đến cái chết của bệnh nhân là do phù phổi cấp, chứ không phải do sốc thuốc như phản ánh của người nhà” – bà Yến nói.

Cũng theo bà Yến và ông Đông, sở dĩ trước đó bác sĩ Thị nói với người nhà bệnh nhân Trang rằng bệnh nhân này sắp được xuất viện là vì “nhiều khi không nói thật với người nhà được”. Bà Yến và ông Đông nói đây là “nghệ thuật của bác sĩ”, nhằm để “bệnh nhân có mất thì mất ở nhà chứ không mất ở bệnh viện”.

Lãnh đạo của khoa Nội tim mạch cũng cho biết, người nhà của bệnh nhân Trang trước đó đã đề nghị bác sĩ mổ thay van tim cho bệnh nhân này. Bệnh viện cũng đã xét mổ cho bệnh nhân nhưng chưa thực hiện được do bệnh nhân phải được điều trị đến khi hết suy tim rồi mới mổ được.

Cụm từ tôi quan tâm là “nhiều khi không nói thật với người nhà được“, chuyện ấy thuộc “nghệ thuật của bác sĩ“.

Bên dưới mỗi nỗi niềm sinh tử đều luôn ẩn chứa nguyên do xa gần đi kèm câu chuyện cụ thể. Dẫu thực hư ra sao chưa rõ, song có vẻ lương năng dễ mách bảo người hành nghề trợ giúp cứu người về lời thề tác nghiệp, rằng họ không nên hứa hẹn điều không thể hoặc sẽ khó giữ lời trọn vẹn được. Điều này thậm chí có thể áp vào mọi bác sĩ, rằng chỉ nói về sự kiện đúng như nó là; bác sĩ cần cảm thông, sẻ chia song bác sĩ cũng cần sự thật và thông tin để tạo nên các lựa chọn đúng đắn. Đánh giá cao tinh thần lạc quan lẫn phẩm chất thân thiện bằng hữu, song chung cuộc, nó cho chúng ta hy vọng giả tạo dễ dẫn mình vượt quá xa niềm đau nỗi khổ cả về mặt thể lý và tâm thần cho chính bệnh nhân cũng như người thân, gia đình.

Tôi thoáng nhớ lại vài ba lễ hội Macchabée tri ân những người hiến xác mình từng được tham dự từ thập niên trước, gắn với kỷ niệm tìm hiểu nhà xác thuộc đại học Y Huế.

Một điều cũng liên quan sát sườn là việc nhận bản cam kết, tán đồng với cách điều trị và cho phép tiến hành phẫu thuật. Bao nhiêu bác sĩ dành thời gian giải thích thấu đáo cách điều trị có thể tác động cụ thể tới đời sống bệnh nhân bằng một thứ ngôn ngữ dễ hiểu; dành thời gian cho suy tư, trù tính và sẵn sàng trả lời các câu hỏi một cách nghiêm cẩn và tuyệt không định kiến.

Bác sĩ ơi, giá mà… Ngay cả quan niệm hiện tồn rằng y khoa là nghệ thuật hơn là khoa học thì nếu bác sĩ muốn bệnh nhân giữ một vai trò chủ động hơn trong công tác chăm sóc y tế, cách có thể làm là giải thích tại sao mình đang tiến hành những điều này. Bác sĩ khá dễ giả định tính chuyên môn sâu hiếm hoi vì mình biết hơn ai hết. Song không phải ta luôn biết nhiều hơn. Tỉnh giác, dõi theo mỗi ngày mình là ai và những gì mình thuộc về, đi kèm với thái độ cảm thông giữ chức năng phương tiện và cứu cánh của nghề nghiệp.

… Các góp ý và mong đợi như thế tất chạm tới nền y khoa dựa vào bằng chứng (evidence- based medicine). EBM dùng các thống kê; đại khái, các thống kê này là những tỷ lệ thành công cũng như mức tin cậy có thể đặt vào các tỷ lệ thành công này, nhiều lợi lạc so với giả dược (placebo), v.v… Đối lập với chuyện dựa vào ký ức của bác sĩ “mình từng làm điều này trước đây và dường như nó ổn”, hoặc tồi hơn, “người ta nói điều này được việc”.

EBM khá tường minh, song nhìn lại, không dễ dàng để thực hiện. Cơ thể con người, các lối hỏng hóc của nó, và những mối tương tác của nó với y khoa hiển nhiên là quá chừng phức tạp. Tiêu chuẩn vàng của bằng chứng có thể sẽ là kiểu “Chúng ta thấy thật chính xác các triệu chứng này, và chỉ các triệu chứng này, nhiều lần, và khả năng kiểm soát cực kỳ nghiêm ngặt người nhận điều trị, bao khắp vượt khỏi các khả năng riêng biệt khác”. Điều này khó khăn thực hành hơn so với nắm bắt lý thuyết; có nhiều khó khăn khác nảy sinh nữa. Một bác sĩ giàu kinh nghiệm sẽ gặp vô số tình huống mà không tìm thấy bằng chứng sát hợp, và bằng chứng tương tự gần sát nhất lại có thể dẫn dắt khác biệt rất sai lầm.

EBM thật tuyệt khi nó tỏ ra hiệu quả, tác động lớn lao làm giảm thiểu các kiểu dạng định kiến mà bác sĩ thể hiện trong công việc: trí nhớ chọn lọc, niềm tin sai lạc, đào tạo không sát đúng, v.v… Các bác sĩ tốt ngày nay hay dùng EBM và thải loại ra các bước tiến hành chỉ dựa mỗi trên giai thoại; khi bất khả, họ vẫn còn có sự tự đánh giá tốt nhất bởi vì trong trường hợp người ta đang đau đớn thì đòi hỏi mọi giá bác sĩ cần hành động.

… Lời cuối. Chút liên tưởng đến việc giới thiệu sơ khởi khái niệm áp dụng thực hành dựa trên bằng chứng trong lĩnh vực tham vấn/ tâm lý trị liệu.

Khởi từ y khoa, việc thực hành dựa trên bằng chứng (evidence- based practice) lan sang các ngành nghề trợ giúp khác như tâm lý học và công tác xã hội.

Các lý do để lựa chọn EBP bao gồm đạo đức, luật pháp, lâm sàng, giáo dục, và kinh tế đi kèm với ba triết lý khoa học là thực chứng (positivism, niềm tin thuộc một thực tế tâm trí- độc lập), cấu trúc luận (constructivism, niềm tin trong nhiều cách thức thấu biết khác biệt mà giá trị ở cả nghiên cứu định tính và định lượng) và chủ nghĩa hiện thực phê phán (critical realism, phù hợp hơn cho tiến trình mang tính tiến hóa của EBP).

Thế nào là một người thực hành EBP? Đặt để lợi lạc của thân chủ lên trên hết, người làm EBP chấp nhận một tiến trình học hỏi suốt đời bao gồm việc nêu không ngừng các câu hỏi chuyên biệt liên quan đến tầm quan trọng thực tiễn trực tiếp hướng tới thân chủ, kiếm tìm một cách khách quan và thật hiệu quả cho bằng chứng hiện tại tốt nhất liên quan với từng vấn đề, và hành động phù hợp dưới sự dẫn dắt của bằng chứng.

Theo cấu tạo, có 5 giai đoạn căn bản trên tiến trình thực hiện EBP.

  1. Tạo ra các vấn đề có thể trả lời được
  2. Truy tìm bằng chứng
  3. Xác định bằng chứng
  4. Thích ứng và áp dụng bằng chứng
  5. Lượng giá các kết quả.

“Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử?”

Thiệt là mắt làm hại não, vì do cái nhìn xớn xác thiếu tập trung nên tôi liếc thấy tiêu đề bài báo quả dễ gây tò mò.

Và trong phần tranh luận với đại diện VKS, trong phần đối đáp cũng kéo dài chừng 120 phút, bị cáo Nguyễn Đức Kiên lại đặt thêm một câu hỏi khác: Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử không? Minh chứng cho câu hỏi này, ông Kiên nói mình đã tuân thủ pháp luật Việt Nam và thực hiện mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Sở dĩ ông Kiên đặt ra câu hỏi đó bởi vì có hàng ngàn người đang kinh doanh cổ phần, cổ phiếu giống như ông Kiên, họ cũng góp vốn và đầu tư giống như ông Kiên, họ cũng ký hợp đồng ủy thác giống công ty mà ông Kiên đại diện pháp luật nhưng chỉ một mình ông Kiên bị khởi tố vì tội kinh doanh trái phép, trốn thuế và cố ý làm trái quy định của Nhà nước.

Bị cáo Kiên lý luận rằng trong cùng một điều luật, một nền tư pháp nhưng chỉ một mình ông bị phân biệt đối xử, trong khi mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật.

Bị cáo này cũng cho rằng nếu không phải VKS đang phân biệt đối xử với ông thì hàng ngàn cá nhân, doanh nghiệp khác đang đứng trước nguy cơ bị khởi tố, còn các cá nhân đảm nhiệm các chức vụ trong các cơ quan chức năng sẽ phải đứng trước nguy cơ bị cáo buộc về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng bởi đã không ban hành kịp thời các văn bản luật để hướng dẫn các doanh nghiệp.

Không ngó ngàng các vụ án hình sự đã lâu, đặc biệt lại chẳng quan tâm hành tung chi chi của vị đầu bạc này nên hầu như u ơ tình tiết đúng sai, phải tội. Điều duy nhất tôi biết chắc dù chưa nghe đài, đọc hoăc đoán về bản kết luận vụ án là kẻ nào trở thành đối tượng bị phân biệt đối xử tất sẽ gánh chịu hậu quả bất công, và nếu anh ta lại còn la làng phản đối thì càng bị vít đầu gấp đôi oan ức.

Hiện tượng này chẳng quá hiếm thấy trong xã hội. Nhiều nghiên cứu không chỉ nhắm vào khía cạnh sắc tộc mà đề cập cả tình dục như những đối tượng bị bêu riếu và phải lên tiếng khi trải nghiệm cảm giác bị đối xử không mấy thiện chí.

Ví dụ liên quan đến một trong các thực nghiệm; người tham gia đọc tin một người Mỹ Phi châu bị điểm kém trong một bài test. Một số học hỏi rằng không có khả năng nào bị đánh điểm vì nan phân biệt đối xử với người da den cả; một số khác được bảo là có khả năng 50%; và số còn lại thì nghe nói rằng sự phân biệt đối xử là chắc chắn 100%. Một vài người trong từng nhóm  được kể rằng kẻ làm test nói anh ta bị đánh rớt vì sự phân biệt đối xử; một số khác thì được bảo anh ta quy điểm số của mình do các yếu tố khác như mức độ khó của bài test hoặc chất lượng câu trả lời của bản thân.

Người đọc thấy rằng kẻ làm test quy điểm số do bị phân biệt đối xử thảy đều coi anh ta như rơm rác. So sánh với những ai đọc thấy anh ta quy điểm số vì các yếu tố khác, người đọc về sự phân biệt đối xử có xu hướng nói người đàn ông ấy là kẻ gây rối hoặc hạng người hay kêu ca, phàn nàn; họ cũng tỏ ra ít thích anh ta hoặc không hề nghĩ anh ta sẽ là một người bạn tốt.

Phát hiện kế tiếp còn gây ngạc nhiên hơn hẳn. Không thành vấn đề xác suất khách quan rằng người đàn ông ấy đích thực bị phân biệt đối xử. Ngay cả khi hoàn toàn chắc chắn rằng anh ta bị điểm kém vì người chấm thể hiện thái độ phân biệt đối xử chống lại người Mỹ gốc Phi thì mọi người vẫn cứ đánh giá anh ta càng thêm tiêu cực khi anh ta tuyên bố mình bị phân biệt đối xử chứ không im lặng.

Có lẽ, người ta muốn những kẻ khác chịu trách nhiệm hơn là đổ lỗi kết quả của bản thân sang các yếu tố ngoài mình. Song chỉ ra các yếu tố ngoại giới khác hơn là sự phân biệt đối xử (ví dụ, độ khó của test) không làm hạ thấp được mức độ tiêu cực và việc chửi rủa do sự phân biệt đối xử tạo nên.

… Khi một người là đối tượng nhắm tới của sự phân biệt đối xử thì đấy là điều tốt lành và cao quý để tỏ thái độ bảo vệ cho người đó. Tuy nhiên, một nghiên cứu lại chỉ ra rằng có một cái giá đắt cho cả người quan sát khi họ trỏ rằng kẻ khác là đối tượng bị phân biệt đối xử. Lần nữa, người quan sát kẻ khác bị phân biệt đối xử nhìn nhận quá gắt gao, khó chịu nếu họ biết rõ đối tượng bị đối xử bất công và bị phân biệt hơn là khi họ không hay biết gì về điều đó. Họ, cũng nhìn đối tượng bị phân biệt đối xử như những kẻ gây rối và hay ca cẩm, những kẻ đa sự và nhạy cảm quá.

Lúc một người quan sát đang chỉ ra sự phân biệt đối xử, điều ấy không thể nói rằng người quan sát nên chịu trách nhiệm cá nhân cho kết cục xấu tệ. Người quan sát không phải là kẻ trải nghiệm kết  cục xấu tệ. Các tác giả nghiên cứu tin rằng những gì đang thực sự diễn ra là nhiều người muốn tin tưởng hệ thống công bằng, bình ổn. Nếu ai đó đạt được một điểm số tốt hơn hoặc nhận công việc ngon lành thì điều ấy là do họ giành được và xứng đáng hưởng. Một tuyên bố phân biệt đối xử đe dọa niềm tin về một hệ thống chính trực và thế giới công bằng.

Quay lại về vụ ‘bầu Kiên”; những lời phát biểu sau cùng  của bị cáo này trước hội đồng xử án vẫn tỏ rõ khí phách và không hề nhận tội. Tôi còn nghĩ đến tâm cảnh của bạn phóng viên viết mục Sổ tay trên báo Tuổi trẻ đã thượng dẫn. Dường như có một tâm lý ngấm ngầm không hề báo trước ở đây, khi dư luận cơ chừng bức xúc trước sự bó vỉa khủng khiếp của sự phân biệt đối xử rờ rỡ, tựa như đang thể hiện kiểu lối đồng vọng sâu xa thông qua việc chính bản thân trải nghiệm ít nhiều cảm giác bị đối xử bất công và oan trái vậy. Và dĩ nhiên, lực lượng đối lập và có quan điểm trái ngược cũng không hề im hơi lặng tiếng…

J. Soi (35): Điểm mù và góc khuất: một trò diễn tâm trí gian trá mang thi vị khó ngờ giữa tứ bề, đa diện cuộc đời

Một bộ phim hành động phản ánh các chi tiết phức tạp chẳng dễ đoán định giữa cuộc sống hiện đại và thường ngày dung tục. Gợi nhớ một bộ phim khác cũng đề cập đến trạng thái che lấp khó phát hiện; thậm chí, kéo liên tưởng về cả câu chuyện ngụ ngôn cổ xưa với motif “thầy bói sờ voi“.

Không thuần túy xấu xa và tiêu cực như đạo diễn Luxembourg chỉ ra, điểm mù và góc khuất có thể đóng góp nhiều hơn thế cho cuộc đời bề bộn này.

Chẳng hạn, “Góc Khuất” kể lại chuyện có thật về cách cậu bé bị phân biệt đối xử sắc tộc đầy thiệt thòi Michael Oher trở thành một cầu thủ bóng bầu dục tài danh thông qua trình tự chứng tỏ giá trị bản thân ở nhiều khía cạnh khác nhau, chứ không hay ho chỉ mỗi môn chơi thể thao. Gì là góc khuất đây?

Quy về chiều kích đối lập với những thứ một cầu thủ buộc phải đương đầu. Một minh họa: khi một tiền vệ cánh phải chuyền bóng, tấn công thì việc cản phá bên trái là trách nhiệm đồng đội nhằm bảo vệ góc khuất của anh ta. Căn bản, một góc khuất là phiên bản rộng hơn của điểm mù; khái niệm này của việc bảo vệ tương thuộc nhắc nhở tới lời răn dạy khi chúng ta sống giữa cộng đồng, rằng nếu mình không quan tâm đến kẻ khác thì ai sẽ thay thế?

Dưới nhiều phương thức, việc một gia đình rộng lượng bảo trợ, nuôi dưỡng Michael khi cậu còn vị thành niên đã tỏ lộ và bảo vệ các góc khuất liên quan. Chẳng hạn, Michael nhìn ra tình yêu thương và sự giáo dục đang hết sức thiếu vắng, trong khi các thành viên gia đình nhận thấy những gì họ có thể làm cho chàng trai to lớn vượt ngoài sự tử tế đúng mực. Theo lối ấy, họ quan sát rồi tự phơi bày một góc khuất vật chất và tâm linh khác, nhờ vậy thay hình đổi dạng đời sống kẻ khác thêm phần tốt đẹp hơn.

Khi chúng ta đem tặng tha nhân cơ hội chứng thực bản thân họ, chúng ta cũng cho chính mình cơ hội chứng thực tính nhân văn và giá trị con người mình.  Không có hiện thể thực hành và hoàn thiện lòng từ bi thế thì bằng cách nào chúng ta khởi lên tâm Bồ đề ngõ hầu thành tựu con đường  Bồ tát và đạt quả vị Phật?

Michael đặt nghi vấn về dự tính giúp đỡ mình. Liệu việc ấy thuần tốt lành, hoặc cốt để thỏa mãn cá nhân riêng tư? Nếu nhắm đến mục tiêu thứ hai, nó vẫn còn là lòng từ bi vô điều kiện? Đôi khi, lắm lúc chúng ta không tỉnh thức thấy ra động cơ của chính mình, thậm chí cả hành động của bản thân nào đẹp đẽ hết? Dường như gia đình bảo hộ Michael khá tinh tế dẫn dắt cậu chàng hướng tới ngôi trường lẫn nghề nghiệp ngôi sao bóng bầu dục mà họ lựa chọn… và ít nhiều điều ấy đã không được thừa nhận cũng như chúng chẳng phải tuyền bao gồm các dự tính vị tha; khi ý thức thấu tỏ, họ thành thật xin lỗi và thúc giục Michael lựa chọn vì bản thân cậu mà thôi. Một góc khuất được phát hiện và tỏ lộ! Với sự vụ ấy, cậu chàng to xác càng ngưỡng mộ, quý trọng gia đình ân nhân.

Nào, bây giờ quay vào tự phản tỉnh. Tự hỏi những góc khuất, điểm mù nào chúng ta đang sở hữu? Một vấn nạn gian trá của tâm trí, bởi vì chúng ta mù mờ về chúng, chí ít lúc này.

… Chìa khóa để hiểu câu chuyện ngụ ngôn “người mù sờ voi” nằm ở dòng cuối; rằng không ít người quá dính mắc với quan điểm bản thân và chộp bắt lấy chúng khi tranh cãi; chỉ thấy mỗi khía, góc của sự việc mà thôi.

Lời nhắc nhở về cách thiết lập một quan điểm hoàn hảo, chính xác hơn về thực tế; không nên lầm thành phần là toàn thể; cần thoát khỏi thói quen lưu giữ các định kiến cá nhân khi đánh giá, xem xét, nên tạo lập một tâm trí cởi mở đủ để quan tâm tới bằng chứng tươi mới trái ngược, đối lập.

Cũng cần biết rằng, tính phổ quát của câu chuyện ngụ ngôn về người mù và con voi còn đến độ được dùng minh họa cho nguyên lý về sự thật tương đối; theo đó, mỗi một quan điểm là sự thật xét từ góc nhìn, chỗ đứng nhất định; và nói chung, không có quan điểm nào có thể bị đánh giá là sai trái hoàn toàn.

Từ chống kháng tới cuồng loạn: vết nứt rạn căn bản

Cách nhau chỉ vài phút ngồi đợi ở bến xe bus trên phố Huỳnh Thúc Kháng, tôi đã thấy hai cảnh tượng phản ánh cùng một  xu hướng hoang đàng, nhập nhằng chung riêng; chứng tỏ người sống trong thành phố chưa chắc đã hình thành được phẩm chất căn bản của thị dân: tôn trọng luật pháp, tuân thủ quy định ứng xử nơi công cộng.

Một chiếc ô tô trờ tới trước mặt, dừng ngay giữa tim đường, cửa xe mở ra để một cậu thanh niên chạy từ trong vỉa hè bước vào… Xe máy xịch lại đúng khu vực dành cho xe bus đón đỗ khách, một vị đàn ông trung niên béo tốt nhảy xuống vẫy tay chào nhau vui vẻ và hồn nhiên băng qua bến xe bus phía đối diện.

Chứng kiến sự kiện này sau khi tham dự buổi trao đổi với khách mời về chủ đề thanh niên với công tác chống tham nhũng, dĩ nhiên không thể không nhắc tới minh bạch và liêm chính.  Gần 200 sinh viên của Học viện, đa phần theo đuổi chuyên ngành Công tác Thanh niên nói chuyện riêng rổn rảng, chẳng thấy các nét mặt chăm chú lắng nghe hay tập trung cao độ cho vấn đề quốc nạn, hoặc cất lên vài ba câu hỏi thể hiện tư duy hết sức sâu sắc, đầy tràn tinh thần trách nhiệm của người lãnh tụ tương lai dẫn dắt phong trào “thanh niên anh dũng tiến lên”.

Chiều nay, tin nhắn từ tổng đài 1080 của VNPT gửi vào mobile cá nhân của người dân nội dung trích trong công điện Thủ tướng chính phủ về đảm bảo an ninh trật tự (nguyên trọn điểm 2, song có thay đổi trật tự câu.)

2. Tuyên truyền vận động nhân dân không có những hành động vi phạm pháp luật, không nghe theo kẻ xấu, cùng nhau giữ gìn an ninh trật tự, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống và góp phần cùng cả nước bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc theo đúng luật pháp của nước ta và luật pháp quốc tế.

Như thế là chính phủ có phản ứng chính thức một cách công khai với tầm mức rộng rãi nhất khắp toàn quốc liên quan đến vụ việc chống kháng dẫn đến cuồng loạn ở Bình Dương, Vũng Áng (và có thể vài ba nơi khác trên đất nước). Lịch sử chắc chắn khi ghi nhận giai đoạn này không những thêm đậm dấu chỉ truyền thống của sự thù hận, ghét bỏ bè lũ bành trướng Trung Hoa mà còn khó phủi sạch nổi nghịch lý đấu đá nội bộ xen lẫn nỗi niềm rúng động khi lòng dân ly tán, bất an được đính kèm trêu ngươi hòa cùng tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc.

Đúng vậy, nếu việc chống kháng, bất đồng là điều tự nhiên trong xã hội dân sự thì cuồng loạn, bạo động khó được thế giới văn minh thừa nhận như quyền. Và từ dự tính chống kháng ban đầu thông qua biểu tình lại dẫn đến cuồng loạn hậu họa dây dưa thì câu chuyện đã mang bản chất hoàn toàn khác hẳn: vết nứt rạn căn bản ở đây là người ta không còn e sợ, ngần ngại nhà chức trách, giới cầm quyền nữa.

Dù động cơ tham gia là vui vẻ, hùa vào đám đông đặng tranh thủ cướp bóc, hôi của, đập phá thì khó mà chấp nhận quyền cuồng loạn, bạo động; tương tự, cũng khá ngây thơ và lý tưởng lắm lắm khi xem xét các điều kiện nhằm thỏa mãn một định đề tâm lý phổ quát: không có công lý, không có hòa bình.

Thực tế, bạo động và cuồng loạn không bao giờ xảy ra ở các quốc gia mang danh đàn áp nhất; những kẻ chuyên quyền khủng khiếp hầu như chưa từng phải lo lắng việc bạo động và cuồng loạn. Việc này không bao giờ xảy ra ở các nước mà người dân dè chừng chính quyền, và tại nơi mà sự bất công bộc lộ gay gắt nhất; bạo động và cuồng loạn cơ chừng dễ xảy đến ở nơi mà người dân KHÔNG còn sợ hãi chính quyền nữa và tại nơi mà sự bất công được cho là khá nhẹ nhàng, chịu đựng được.

Xin mời đọc thêm lúc rảnh rỗi, thư giãn: 1, 2, 3.

@ Cập nhật, 9h41 ngày 16.5.2014: Tôi đã đọc phần 1 trước khi gõ xuống bài này, giờ đưa vào như tài liệu tham khảo do mới biết phần 2.

Nhận rõ ngu xuẩn khi cố thuần dưỡng tự do ngôn luận

Chọn lựa là các bài học. Trạng thái thiếu quyết đoán cơ chừng là hậu quả của nỗi sợ thất bại, và có thể nảy sinh cảm nhận rằng nhờ không làm gì hết sẽ hạn chế các cơ hội tạo lựa chọn sai lầm. Kỳ thực, khám phá các cảm nhận ngờ vực lại có  thể giúp người ta vượt qua tính thận trọng quá mức; e mình có thể nghĩ tới mọi thành tựu, tự hỏi bản thân kịch bản tồi tệ nhất khả dĩ, và cách nó ảnh hưởng đời mình. Người ta không chỉ cân nhắc các tiềm năng mất mát, thiệt thòi mà cả kiến thức bổ ích thu lượm được trên tiến trình thực hiện. Thay đổi quan điểm về tình huống phản ánh các thấu hiểu mới mẻ giúp người ta nhận ra tất cả lựa chọn có thể dẫn dắt họ tiến về thành tựu tích cực, vì mình có thể luôn đạt được một hiểu biết sâu thẳm hơn về chính cuộc sống.

Thanh lọc, cố gắng tẩy trừ rồi tuyên phạt blogger vì anh, chị ta chọc giận, công kích mình càng quá dễ củng cố một sự phá cách đáng lo sợ. Bởi vì quả sắc sảo ý tưởng cho rằng kẻ nào muốn ném vứt sự tự do của một quốc gia thì thường phải bắt đầu bằng việc bắt thần phục tự do ngôn luận.

Tuy nhiên, cũng giống như các dạng tự do chính trị khác như tự do tín ngưỡng và tôn giáo, và tự do báo chí thì tự do ngôn luận, dĩ nhiên, không hoàn toàn tuyệt đối. Ta không thể la lên “Cháy!” lúc mọi người đang xem kịch trong nhà hát khi thực tế không có điều gì như thế cả; cũng như mình không thể dứ dứ nắm tay đe dọa trước khoảng không gian mũi người khác được. Nói khác đi, tất cả chúng ta tự do trong các giới hạn nhất định.

Việc luôn luôn thế và trong xã hội dân sự luôn cần phải thế. Hầu hết chúng ta không lưu ý nhiều tới các giới hạn ấy vì đa phần chúng ta được lập trình thậm chí để chẳng hề nghĩ tới việc vượt thoát khỏi chúng. Và ngay cả khi ai đó muốn đấm vào mũi người khác, sự đe dọa bị trừng phạt không là lý do duy nhất khiến họ ngừng lại (hy vọng thế) mà còn là cảm nhận rằng chúng ta không nên xâm phạm vào quyền của người khác chẳng bị đấm vào mũi.

Tiến bộ trong nghiên cứu khoa học thần kinh cũng nhanh chóng nhóm hội tương tự. Khái niệm ‘vô thức’ của Freud hoàn toàn có một nền tảng thần kinh, và bây giờ chúng ta biết thành phần lớn nhất của suy tư và ý nghĩ chúng ta đích thị diễn ra bên dưới cảm nhận ý thức của chúng ta. Và điều đó thật may mắn cho chúng ta. Bởi như tác giả Thinking, Fast and Slow chỉ rõ, ‘hệ thống 1’ (người suy tư nhanh chóng và vô thức) đảm bảo sống còn; ‘hệ thống 2’ (phần tâm trí được định dạng là ‘chúng ta’) bị quy định hết sức mạnh mẽ bởi năng lực làm việc của hệ thống 1. Nếu dành thời gian, chúng ta có thể phóng thích mình khỏi một số thứ thuộc hệ thống này song không thể hoàn toàn thoát được, và không phải lúc nào cũng làm được. Sự thật khó nhằn là ‘chúng ta’ không thoát ra khỏi các bản ngã vô thức của chính mình; dĩ nhiên, chúng ta biết điều này từ lâu rồi trước khi Daniel Kahneman đưa ra hai khái niệm trên…

Và cơ chừng chúng ta cũng không thực sự có tự do ý chí. Nghiên cứu chỉ ra rằng xung năng để thực hiện các hành động cơ bản (giơ một ngón tay, chẳng hạn) nảy sinh trong não chí ít một giây trước khi chúng ta nhận ra hoàn toàn, ý thức đủ đầy về ước muốn chuyển động nó. Dường như tâm trí vô thức, hiểu biết chức năng bị tước đoạt của ngôn ngữ, có thể kiểm soát rất lớn đến việc ra quyết định có ý thức nhiều hơn là chúng ta tưởng.

Chẳng hạn, chúng ta không đơn giản quyết định dừng cảm thấy buồn bã hay trầm uất. Tuy thế, có các con đường gây ảnh hưởng khác đối với các tâm trí vô thức vẫn đang hiện diện. Chúng ta dẫu không thể, chí ít ngay tức khắc, ngừng ngắt bản thân khỏi cảm giác tức giận (khác biệt, dĩ nhiên, với chuyện ngừng bản thân không hành động khi đang tức giận) song chúng ta có thể, theo thời gian, truy tìm những điều gì đào sâu sự tức giận rồi tháo ngòi nổ, giảm thiểu khả năng gây tức giận của chúng lên bản thân mình. Do đó, chúng ta thực tế có khả năng rèn tập một dạng tự do gián tiếp, thứ tự do từ các tâm trí ý thức của chúng ta để điều khiển chiều kích cơ bản đời sống nhờ rèn tập các bản ngã vô thức của mình đi vào con người mà các bản ngã ý thức muốn chúng trở thành. Bằng cách đó, dù chúng ta có thể không ý thức đủ đầy các cú đấm thì các cú đấm sẽ chỉ được tung ra khi chúng ta tán đồng nên thế.

… Bi kịch rất chết người của tự do ngôn luận và sự gia tăng thói cố chấp, không khoan dung.

Vượt qua nỗi sợ bất tri giúp chúng ta đưa ra các quyết định. Nghĩ về điều tồi tệ nhất có thể xảy đến quả là một tiến trình kinh khủng, song khi đối đầu với nỗi sợ hãi, nắm lấy nó khiến chúng ta nhụt chí. Cho phép bản thân nhìn sự tồn tại của bản thân như một loạt các bài học cần biết hơn là các quyết định phải đưa ra thật chính xác sẽ làm thay đổi cuộc đời chúng ta. Thay vì bị tê liệt bởi sự do dự, chúng ta bắt đầu thưởng thức các hương vị của những trải nghiệm mới mẻ nảy nở từ các lựa chọn của bản thân. Nhìn mỗi một quyết định tạo ra như cơ hội để học hỏi, thay đổi và lớn lên tất không khó thấy rằng các lựa chọn của chúng ta sẽ dẫn dắt mình tới một sự thức nhận mới về chính bản thân và cả thế giới xung quanh.