Trạng thái bất mãn về giới: vẫn đầy phiền muộn và còn nhiều bỏ ngỏ…

Xem cái clip nhân Ngày Mồng Tám Tháng Ba thật thú vị và đầy ý nghĩa nhắc nhở nhiệm vụ bất khả chối từ.

“Bạn nghĩ mình là nam hay nữ?”
“Em nghĩ mình là nữ ạ”

“Điều gì định nghĩa một người phụ nữ?”
“Sự thông minh, sắc đẹp và sự nữ tính”

“Theo bạn ngày 8/3 Quốc tế phụ nữ có dành cho mình không? ”
“Có ạ”

“Tại sao?”
“Vì em được gia đình và người yêu ủng hộ, sống thật với giới tính của mình”

Những nỗi niềm như dưới đây tiếp tục khẳng định mọi sự không phải lúc nào cũng được ghi nhận, thỏa ý.

Em là gã đàn ông 34 tuổi đã lập gia đình và có một em bé rồi. Em từng có một bí mật là thích ăn mặc áo quần con gái hồi mới là nhóc con 5 tuổi; em nhớ mình cảm thấy thật tuyệt vời và sung sướng quá độ. Em tự trấn an rằng các cảm giác kiểu đó sẽ biến mất khi em lớn lên; khủng khiếp thay, các cảm xúc này lại phát triển thành ước ao là một người phụ nữ đích thực. Làm thế nào để em có thể cảm thấy giống như một người đàn ông bình thường? Việc này có cần điều trị gì không ạ?

Chia sẻ trên dễ gợi ý về cái mà giới chuyên môn trợ giúp gọi là sự không hài lòng, bất mãn, khó chịu về giới (gender dysphoria, GD). Thực tế, nhiều người vẫn bắt gặp các cảm giác vốn xuất hiện từ thời thơ ấu này; họ có thể thấy khá khổ sở, căng thẳng ghê gớm về mặt lâm sàng hoặc thiếu hụt trong nghề nghiệp, giao tiếp xã hội, các khía cạnh đời sống khác.

Hiểu cơ bản, lúc còn bé con, chúng ta thường nghe các nhóc nhiều lần thổ lộ ao ước mình là giới kia, hoặc thậm chí không ngừng tin tưởng mình đúng là như thế thật. Chúng hay mặc áo quần khác giới cũng như thích chơi trò, giữ vai tương ứng với giới kia; ngoài ra, các biểu tỏ còn có thể là sự chối bỏ mạnh mẽ các loại đồ chơi đặc thù hay trang phục dành riêng cho giới đó. Cũng có thể là sự ghét bỏ cơ thể và bộ phận sinh dục của chính mình. Khi bước vào giai đoạn vị thành niên, các triệu chứng này thể hiện thành ao ước là người thuộc giới kia, được đối xử như giới kia, và thậm chí sống ở ngoài thực như người thuộc giới kia; giai đoạn vốn phức tạp này sẽ làm cho trẻ như thế càng cảm thấy khổ sở thêm khi buộc phải đương đầu với các cảm giác và vấn đề bản dạng ấy. Cả người trưởng thành lẫn vị thành niên đều nảy sinh nhu cầu khát khao giải thoát mình khỏi các đặc trưng giới tính ban đầu và thứ phát rồi thường thêm đoan chắc rằng mình được sinh ra với giới tính sai lạc hẳn rồi. Ý nghĩ về chuyện mình cảm nhận về bản thân từ bên trong không hề sát khớp với cái nhìn bên ngoài có thể gây nên nỗi niềm đau đớn với không ít người; họ tìm đến sự khuây khỏa nhờ liệu pháp thay thế hormone (HRT), phẫu thuật và các thủ tục phức tạp nhằm thay đổi ngoại hình (tham khảo). Một số chỉ thấy thoải mái khi sống ngoài đời đúng như là người của giới kia, số khác thì thích tiếp tục với bản dạng giới tính đã được ấn định từ hồi mới chào đời.

Trạng thái bất mãn về giới từng được gọi là rối loạn bản dạng giới (Gender Identity Disorder, GID), có người thì quen dùng thuật ngữ là đối tượng chuyển đổi giới tính (transsexuals); hiện tại, có vẻ ‘những người không theo chuẩn về giới” (gender noncomforming) là thuật ngữ tốt hơn nhiều vì nó chỉ cho cả những ai không cảm thấy mình thuộc về bản dạng nam hay bản dạng nữ.

Nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới cho biết họ muốn mình ‘cảm nhận như một người đàn ông bình thường’ hoặc ‘cảm nhận như một phụ nữ bình thường’ tương thích với định hướng hoặc bản dạng giới họ từng được nuôi dưỡng. Tuy thế, mục tiêu của trị liệu không phải là thay đổi các ý nghĩ này mà bắt đầu trợ giúp người ấy quản lý ác các cảm xúc này tốt hơn. Trị liệu không nên nhắm vào việc mình nên cảm thấy hoặc hành động ‘như một người đàn ông” mà thay vào đó, giúp mình hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra cũng như hỗ trợ mình trong những lựa chọn mình ra quyết định (ví dụ, sống ngoài đời như một bản dạng giới đàn ông hoặc phụ nữ, hoặc có lẽ là giới tính lưng chừng, mơ hồ (‘genderqueer’). Tiếc thay, nhiều người ở trong trạng thái bất mãn giới bị trầm uất và lo âu khi cố gắng hoài giải và quản lý các cảm xúc kiểu thế. Đáng lưu ý, thường xuất hiện nguy cơ khá cao muốn tự sát với nhóm này. May mắn là hiện có rất nhiều tổ chức và nhóm hội sẵn sàng trợ giúp các bạn giải quyết các cảm xúc vướng mắc.

Các cá nhân chuyển giới có nhu cầu lớn lao cho những đổi thay về các khía cạnh xã hội, nghề nghiệp và luật pháp. Chắc chắn, vẫn còn định kiến dai dẳng và nặng nề liên quan với chuyện đang bàn, và bước chuyển thay đổi chẩn đoán từ GID sang GD là hướng đi đúng đắn. Tuy vậy, nếu không có các điều kiện ‘mang tính chẩn đoán’ thì lại dễ gây khó khăn cho những ai muốn tiếp cận dịch vụ chăm sóc ý tế khi họ cần thay đổi trong giao dịch về bảo hiểm, dù thực tế nó còn là câu chuyện chưa ngã ngũ.

Lời cuối. Bản dạng giới thì không phải là bản dạng tính dục (sexual idnetiy). Người gặp trạng thái bất mãn giới có thể ổn thỏa trong việc thích hoặc yêu người có cùng hoặc khác giới với họ. Với đa phần chúng ta không phải rơi vào trạng thái bất mãn giới, cần hiểu cả loạt vấn đề mà các bạn bất mãn giới phải đương đầu, giải quyết như dùng đại từ nhân xưng nào gọi mình, mang một cái tên không tương thích với giới của bản thân, quyết định vào phòng vệ sinh nào cảm thấy thoải mái hơn, điền đúng vào ô khi khai các mẫu đơn thư và giấy tờ, thủ tục hành chính thường nhật, v.v…

‘Giới tính theo quy chuẩn’ có thể quen được sử dụng để mô tả cách mình nhìn nhận và cảm thấy về bản thân và về hành vi của mình tương thích với bản dạng giới. Song không phải mọi người ai cũng đều được hưởng đặc quyền tưởng chừng đơn giản như vậy.

Cùng nhau chung đụng phận này

Kêu gọi ‘đừng thương người’ không những bất nhẫn mà còn đích thị thể hiện thái độ đáp ứng thiếu trách nhiệm cũng như ít nhiều xiển dương cho lựa chọn vô cảm: chối bỏ nhu cầu yêu thương của chính mình và của những người xung quanh. Cần thể hiện đúng đắn và thấm lòng từ bi đối với người ăn xin, vì ‘ăn mày là ai; ăn mày là ta… đói cơm rách áo hóa ra ăn mày”.

Tùy hoàn cảnh sống và trải nghiệm cá nhân, đa phần chúng ta ái ngại, thường né tránh một số đối tượng nào đó chí ít vì bản thân cảm thấy tuyệt vọng hoặc chẳng biết phải làm gì mới phải. Trong tâm trạng chân thật, đều khá dễ nảy sinh cảm giác không thoải mái lắm khi đối diện, nhìn thấy và/ hoặc ứng xử với người ăn xin.

Gọi ai đó là ‘ăn xin’ để trỏ người xin tiền hoặc thức ăn nhằm đảm bảo nhu cầu sống còn. Trong các thành phố lớn, ở nơi công cộng, người ăn xin thường sống vạ vật đầu đường xó chợ, góc phố, trước cửa nhà đóng chặt về đêm.

Thực tế, dù biết họ thật đáng xót thương, song chúng ta lại không biết cách tốt nhất để thể hiện lòng từ bi sâu xa trước cảnh ngộ của đồng loại. Chúng ta nên đối xử như nào đối với người ăn xin và những ai trải qua đời sống lang thang, không chốn nương thân?

Dưới đây là vài ba chỉ dẫn cơ bản mong được lưu tâm.

1. Chào hỏi

Tuy khó thừa nhận song sự thật là hầu hết chúng ta thậm chí không nhìn người ăn xin như một con người. Chúng ta đã bị điều kiện hóa về thái độ thiếu tôn trọng và chẳng thèm quan tâm tới người ăn xin tình cờ bắt gặp đến độ mà các chất hóa sinh trong não bộ chúng ta không hề đáp ứng với họ như một con người đích thực.

Đây đó, bạo lực hướng tới người ăn xin và kẻ vô gia cư tiếp tục âm thầm gia tăng. Sau khi đã đặt câu hỏi chất vấn bản thân với thái độ khiêm cung một cách nghiêm trang thì thử tiếp xúc mắt đơn giản rồi mỉm cười với một người đang vạ vật trên đường. Nhờ nỗ lực tiến hành cử chỉ thân thiện như thế, chúng ta sẽ nhận ra rằng lý do để lòng mình nảy sinh cảm giác khó chịu lúc bắt gặp người ăn xin và kẻ vô gia cư là vì họ nhắc nhở chúng ta về những đặc quyền và lắm thứ lợi lạc mình đang được thụ hưởng. Mình không phải ngủ ngoài đường, không phải ngửa tay xin tiền ai đó để mua được bữa ăn ấm bụng.

Vấn đề là đặc ân mình được thụ hưởng không quan trọng hơn nhân tính ở người ăn xin. Nhìn vào mắt họ, gật đầu chào, mỉm cười ý nhị, chúc một ngày may mắn và làm bất kỳ điều chi đối với một đồng loại.

2. Trao tặng (nếu mình có thể)

Người ta đi ăn xin vì có lý do. Bất luận họ đã hành xử ra sao trước đây, hiện tại họ không đáp ứng nổi các nhu cầu sống căn bản như ăn, mặc, chỗ ngủ…

Trong khi truyền thông đưa tin về một số câu chuyện giả danh, lợi dụng lòng tốt để trục lợi cá nhân, thậm chí hình thành cả ‘công nghệ ăn mày’ thì đấy chỉ là mảng xám không đại diện cho đa số người đang chịu đựng bệnh tật, đói rét ở ngoài kia, trên đường phố. Đừng để một thiểu số kẻ dối trá lừa bịp ngăn chặn chúng ta trao tặng biểu hiện thương yêu cho rất nhiều người đang rất cần trợ giúp hàng ngày.

Nhiều người ngần ngại cho tiền vì sợ người ăn xin sẽ dùng vào việc ăn chơi, hút chích, bài bạc,… Nỗi sợ ấy là thái quá vì theo một nghiên cứu công bố tại San Francisco (Hoa Kỳ) vào tháng 3.2013, 94% người được hỏi cho biết họ dùng số tiền xin được cho việc mua thức ăn; chưa tới một nửa số người được hỏi tiêu vào ma túy hoặc rượu bia. Khi trao tiền hoặc thức ăn trực tiếp cho những người này, chúng ta đang trao quyền cho họ để đưa ra lựa chọn, và mình phải tin tưởng rằng tự họ đưa ra được lựa chọn tốt nhất trong hoàn cảnh sống khốn cùng như thế.

Có rất nhiều nhu yếu phẩm và dịch vụ khác mà người ăn xin và kẻ vô gia cư cần đến, dù các tổ chức và cơ quan chức năng đã trợ giúp không ít. Nếu mình vẫn không muốn cho tiền thì thử hỏi trực tiếp họ cần gì để xem mình có thể đáp ứng được không…

3. Dấn thân hoạt động từ thiện

Vậy là mình đã vượt qua não trạng hạ thấp nhân phẩm con người, và cũng đem lại cho một số người cảm giác được an ủi và no ấm trong ngắn hạn. Vậy làm sao dấn bước sâu xa hơn nữa?

Làm từ thiện. Tham gia các tổ chức ở ngay địa phương đang sinh sống để ngăn chặn và làm tiêu trừ hiện tượng ăn xin là cách thể hiện lớn lao cả cho cộng đồng nói chung cũng như với bản thân người ăn xin. Hỏi các tổ chức khi nào và điều họ cần; vận dụng tài nghệ xoay sở và kỹ năng riêng có của bản thân để trợ giúp các tổ chức này. Với từng vị trí và công việc, hãy tham gia giáo dục cộng đồng về các nguyên nhân dẫn đến ăn xin cũng như không ngừng nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để làm trong sạch và lành mạnh hóa môi trường xã hội.

… Đọc loat bài cùng chủ đề lòng lại tự nhủ lòng: tay nâng bát cơm, nhớ công của bao người sẻ chia, giúp đỡ không ngừng để cho mình cơ hội sống qua cơn khốn khó mỗi ngày. Và vì muốn thành đạo nghiệp nên mới thọ nhận thức ăn này.

Nhắn (66): Một mùa Xuân lại gần để nhân quần yêu thương mãi…

Danh sắc còn trên vô thường rất khẽ, ngồi yên an thật mới đón chào xuân.
Danh sắc còn trên vô thường rất khẽ, ngồi yên an thở nhẹ đón chào xuân.

Tất niên Giáp Ngọ bó sát mặt, ngựa vẫn chồn chân, tẩy trần bốn phương chưa chứng đắc;
Khai xuân Ất Mùi nùi sừng chắc, dê khéo cần lao, tạo hứng chúng sinh thành sự nghiệp.

#########

Năm mới Ất Mùi vừa sang

tặng nhau hiện diện đàng hoàng tâm- thân;

đào hồng nương ánh thanh tân

tháng ngày bình thản tri ân người đời…

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Tên giết người, kẻ cười biếm và sự chế nhạo tế vi sinh tử: trong nỗi khổ đau chung đụng

Thế giới của những chỉ trích lại qua cao độ càng dễ làm tăng thêm mức nguy hiểm âm ỉ từ nỗi niềm hận thù tích chứa khó lường trong lòng. Vụ thảm sát ở Paris vừa qua chắc khó khiến người ta ngoác miệng nhìn nhau hỉ hả được, bất chấp tranh luận trong ngoài hiện vẫn còn tiếp diễn dây dưa…

Ai quan tâm tìm hiểu văn học- nghệ thuật Pháp chẳng khó nắm bắt các sắc thái châm biếm, trào phúng khác nhau qua các thời đại, với phong vị Rabelaisian hay khí chất kiểu Voltairean. Khởi từ thời nổi loạn ấn tượng 5- 6.1969, các bức tranh biếm họa của tờ báo ra hàng tuần Charlie Hebdo mang cả lối đả kích chính trị hồi Charles de Gaulle trộn lẫn kiểu minh họa dung dị Charlie Brown.

Nếu biếm họa quả là một truyền thống Pháp thì càng dễ hiểu cơn cớ người ta cố bảo vệ quyền tự do biểu đạt, và tính cách ấy góp phần lý giải tại sao cần gìn giữ khả năng gây sốc của nghệ thuật.

Vấn đề đáng tìm hiểu nghiêm túc: liệu các biếm họa mang quyền năng hơn hẳn nghệ thuật đích thực? Và thật phi lý khi giới truyền thông toàn cầu lờ các vụ thảm sát ở lục địa đen Phi châu và sẵn lòng hừng hực đương đầu khi sự cố chết người xảy đến ở châu Âu già cỗi? Lần cuối cùng một nghệ sĩ thị giác bị giết bởi một tác phẩm gây tranh cãi là khi nào, hay các điểm khác biệt giữa nghệ thuật bình dân với hội họa, mỹ thuật?

Không chỉ tranh biếm họa, phim ảnh cũng từng trở thành đối tượng để các kẻ cực đoan sát hại tác giả. Và lần nữa, lich sử nghệ thuật vẫn sẵn có ví dụ về sắp đặt được mua với giá $20.000 và ngay cả khi bị cho là ‘gớm chết’ thì khi khởi kiện, phía Bảo tàng vẫn thắng, bất chấp đề tài chạm tới các biểu tượng tôn kính của Công giáo La Mã.

Dĩ nhiên, đó không phải là câu chuyện nhắm tới ý khoan dung tôn giáo; kỳ thực, người làm chuyên môn có thể nảy sinh nhu cầu phân biệt giữa biếm họa và mỹ thuật. Kiểu biếm họa (cartoon) thì vẽ liền ngay, dễ xem, và thường được khởi thảo để trêu tức, khiêu khích; nghệ thuật (art) thì thường dự tính, mang ý định tạo vết cắt buốt chầm chậm về sau, nó đề xuất nhiều vấn đề và câu trả lời. Các nhà vẽ tranh biếm họa biết họ dễ bị đưa lên giá chữ thập:

Vẽ tranh biếm họa là tay cực tối giản, và những kẻ chuyên quyền, bạo chúa cũng tối giản đâu kém… Vì thế, họ hiểu quyền lực của biếm họa. Những người vẽ biếm họa thường rất giỏi chuyện chưng cất, tinh luyện, họ đánh thức theo cách hết sức dễ hiểu… và đó là lý do tại sao các bức tranh thật đáng sợ.

Và sự sinh, sinh sự nên tất xuất hiện ý kiến “tự do báo chi không có nghĩa thoát khỏi mọi phê bình” đi kèm với nhận định rằng nghệ thuật không coi trọng quá tính thiêng.

Thực tiễn nhân loại chỉ ra, duy mỗi con người trong các tạo vật trần gian mới có thể suy tư, nói năng, và làm ra các tác phẩm; trầm tư rồi nhận thấy tính Vô hạn; rằng nghệ thuật nhân loại, như nghệ thuật thần thánh bao gồm cả hai mặt của các khía cạnh định rõ và không xác lập nổi, cả cần thiết lẫn tự do, gồm trạng thái run rẩy lẫn niềm vui thú.

Nghệ thuật thế tục do vậy, được phân biệt với nghệ thuật của tính thiêng: trong nghệ thuật tính thiêng (sacred art) những gì đặt định sẵn vượt qua mọi thứ là nội dung và việc sử dụng tác phẩm, còn với nghệ thuật thế tục (profane art) những cái đó chỉ là cớ cho việc nảy nở niềm vui sáng tạo…

Chắc chắn, đấy là cuộc chung đụng bất khả chối bỏ, chẳng ít tai ương và đầy đau khổ.

Trải nghiệm tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh

Có rất nhiều lợi lạc lâu dài định hình được khi làm việc với tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh.

Trước hết, không tránh né bất kỳ điều gì. Hôm nọ, một nữ sinh viên hỏi tôi liệu sau tất cả những thực hành tâm linh rồi xử lý rốt ráo chuyện chuyển hóa thì đâu là thứ mình nên né tránh? Hồi đáp đã chia sẻ là không nhất thiết phải tránh né điều chi; một phần mình mong muốn trở thành, song cũng sẽ có phần khôn ngoan hơn ta cảm thấy lôi cuốn bản thân tới việc sống trong sự thật toàn thể, và đó là hành trình tâm linh.

Chúng ta học hỏi rằng mình lớn lao hơn các khó khăn, phiền muộn đang phải gánh chịu. Khi chúng khởi lên, chúng ta có thể đương đầu giải quyết chúng; không phải vì chúng ta đang hành hạ bản thân và muốn làm các thánh tử vì đạo, mà vì chúng ta biết rõ, khi giải quyết một cách trực tiếp, phương thức hiệu quả nhất thông qua nỗi khổ niềm đau. Chẳng hạn, ai đó sẽ thích làm vài ly, gầy độ nhậu nhằm gắng tránh đối diện với một vấn đề; cơ mà, lúc nào đấy họ sẽ say mèm và rồi lần nữa, vấn đề còn đó, thậm chí dễ lớn hơn lên so với nguyên trạng ban sơ.

Kết quả tiến hành công việc này với chính bản thân mình giúp chúng ta bước vào nơi chốn trong lòng tất sẽ ôm choàng thật vui tươi đời sống như nó lộ bày ra, bởi vì chuyến hành trình ấy mang lại cho chúng ta hạnh phúc, bình an, thỏa ý mãn nguyện và quyền lực sâu xa nhất. Chúng ta thôi quá vướng bận để tránh né bất kỳ điều chi thêm nữa.

Vậy sự khác biệt giữa lặng im với yên tĩnh trên tiến trình triển nở tâm linh? Đâu là trải nghiệm riêng có về sự khác biệt ấy? Liệu đúng là giữa hiểu biết với tích hợp này không giống nhau? Vẫn còn có một bước tiến lớn xung quanh lặng im và yên tĩnh?

Tôi tin, không ít người có nhiều trải nghiệm khác biệt về sự im lặng. Như ai đó từng nghĩ mình chỉ thiền tập trong khoảng 10, 15 phút để rồi cuối cùng 3 tiếng đồng hồ đã trôi qua. Hầu hết chúng ta ít rảnh rỗi để thiền tập nên với các trải nghiệm kiểu vậy về sự mở rộng thời gian và vô ngã chắc không thuần túy tạo ấn tượng mạnh mẽ.

Yên tĩnh thì dường như thuộc trạng thái tâm lý hơn là chuyện ngồi xuống và đắm mình lặng lẽ nơi này. Học hỏi để làm lòng mình lắng lại là kỹ năng đáng giá. Mình sẽ phải bắt đầu với khả năng làm bản thân chậm rãi rồi lắng đọng và tĩnh tại nhằm sống cùng những gì đang biểu tỏ trong nội tâm mình. Điều này đưa chúng ta đi sâu hơn vào im lặng. Hiện diện cùng những gì đang là trong từng khoảnh khắc một giúp chúng ta phát hiện rồi làm việc theo cách riêng hướng tới các bản ngã đích thực. Bản ngã đích thực nối kết chúng ta với những gì lớn lao hơn nhiều cái tôi lăng xăng, bé nhỏ.

Một cái nhìn thoáng qua về trạng thái im lặng sâu thẳm là khởi đầu cho lộ trình ổn định hóa trạng thái của ý thức hợp nhất. Sau trải nghiệm thống nhất làm một trong thiền tập, chúng ta có thể học hỏi để đan dệt trải nghiệm nổi trội này vào đời sống thường ngày, trong từng khoảnh khắc. Tuần tự, dần dần sự đan dệt, kết nối bắt chặt đến độ đời sống không còn phả vào chúng ta sự cách ngăn biện biệt nữa mà đó là hơi thở của sự liên hợp; nghĩa là, không còn chia tách giữa chủ thể và đối tượng.

Như thế, khó chối bỏ lợi lạc dài hạn khi làm việc với sự khởi phát cá nhân và tiến trình triển nở tâm linh. Thường, các trải nghiệm của chúng ta không phản ánh theo lối tiến bộ từ A tới B rồi tới C, tức không thật xác đúng với sự tiến bộ tuyến tính; thậm chí, lắm lúc chúng ta dễ nghĩ rằng chẳng điều chi xảy đến cả, dù đích thị đấy là phong cảnh nội tại trong ta đang thay đổi.

Nếu không có thời gian tiến hành đọc sách, đến phòng trị liệu, tham dự các buổi hội thảo phát triển bản thân thì thiền tập cùng các nỗ lực thử nghiệm khác trong tiến trình trở thành cái tôi tốt lành nhất, chúng ta sẽ thành công. Cần lưu ý, lúc này thành công có thể trông không hề chính xác như mình nghĩ, song nếu nó có thể giúp mình bước lùi lại và lưu tâm đến cách đời mình đã thay đổi ra sao thì chúng ta thường dễ nhận ra một sư khác biệt tích cực.

Như một nhà tâm lý trị liệu, tôi nghe đi nghe lại nhiều lần từ các thân chủ rằng họ nghĩ mọi đớn đau, khổ sở của họ sẽ biến mất ngay tắp lự nếu họ thực hiện tất cả mọi điều ‘đúng đắn’. Họ thổ lộ mình từng ghi nhớ các câu nói khẳng định, lên tinh thần, gặp người làm tham vấn tâm lý, đọc sách, áp dụng trị liệu dựa vào cảm xúc cho đời sống vợ chồng (EFT), thiền tập và cầu nguyện đủ kiểu song họ vẫn thấy buồn bã hoặc bị ruồng bỏ không ít lần. Đôi khi, tất cả chúng ta quên rằng, thời điểm ở trong nỗi đớn đau và phiền muộn thì rất khó khăn để nhìn thấy bức tranh rộng lớn hơn. Nhớ rằng, đấy là tiến bộ không hoàn hảo. Khi trưởng thành, cách định hình về nỗi khổ niềm đau (suffering) của chúng ta thay đổi và chín chắn cực kỳ. Chúng ta thực sự cảm thấy nỗi đau về mặt cảm xúc hoàn toàn khác trước. Những gì từng đẩy chúng ta rơi vào trạng thái hoảng sợ, bị kích động hoặc tê liệt thì giờ đây với một hơi thở sâu, mình cảm thấy ổn thôi…

Thân xác, như các cảm xúc, tâm trí và linh hồn, trải nghiệm các hiệu ứng cộng dồn tích cực thêm lên khi chúng ta ngày càng tích hợp, thống nhất. Ký ức thẳm sâu của sự tích hợp đó vào những thời điểm thách thức sẽ cho phép chúng ta bật tung trở lại hết sức nhanh chóng.

Một ví dụ cho việc thân xác lưu giữ các hiệu ứng cộng dồn là khi mình còn bé xíu, mình có thể nhảy múa, hát hò và diễn kịch một cách chuyên nghiệp. Bởi vì mình từng là vũ công, cơ thể đáp ứng để chóng đi vào quyết định cụ thể. Nếu quá bận để đi tập gym thì việc giữ dáng tiến hành được nhờ ký ức biết cách chuyển động và các cơ bắp biết nên như nào… Giờ già rồi, cơ thể có thể khó khăn để tìm các hiệu ứng dĩ vãng theo vài cách thức nào đó; tuy vậy, tuổi càng lớn thì mình nhận dạng cụ thể dễ dàng hơn về mặt cảm xúc và tâm linh. Nói thế, không có nghĩa chúng ta không thi thoảng gặp lắm cảm xúc rắc rối, song rốt ráo chúng ta tích lũy cơ bắp khôn ngoan khi làm việc với nội tâm.

Nếu chúng ta điều chỉnh lối đan dệt, cài đặt cuộc đời để sống đời tâm linh, không ngừng dấn tâm trí theo cùng trạng thái thách thức niềm tin và các hệ thống cảm xúc thì khả thể là chúng ta hẳn có một đời sống cân bằng và hài lòng. Làm ơn biết cho rằng thời gian đáng giá để được chúng ta sử dụng hiệu quả, hữu ích. Việc cộng dồn của thứ lợi lạc dài hạn này càng đem lại cho chúng ta nhiều bình yên, hạnh phúc và mãn nguyện.

Tự trị, một trong các nhu cầu căn bản luôn được khuyến khích khi trợ giúp, thuộc về sự lựa chọn, chưa nói là sự lựa chọn đầy ý nghĩa. Dù chắc chắn người ta thích thú với các màu sắc, hình ảnh, chân dung được tô đậm, tôn cao trong hệ thống cung cấp tin nào đó (facebook chẳng hạn) hoặc các cuộc tập huấn hô hào lên dây cót, song điều quan trọng của bảng màu này xa lắm mới có ý nghĩa bằng sự lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn của mỗi cá nhân cụ thể.

Lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn là khả năng đưa ra các quyết định ý nghĩa đối với chính bản thân mình; các quyết định kiểu ‘điều gì quan trọng với tôi?’, ‘giá trị của bản thân tôi là gì?’

Những ‘sứ điệp’ cá nhân thẳm sâu như thế có thể giúp ai đó dấn thân vào trạng thái trải nghiệm lớn lao và kéo dài (tựa việc thay đổi hành vi mang tính lành mạnh). Hiến dâng đời mình với mục tiêu vun bồi các quan hệ phong nhiêu hoặc lên đường khám phá, phiêu lưu có thể dẫn dắt các lưa chọn đúng đắn tức thời, phục vụ cho mục đích chung cuộc rốt ráo. Đó là lý do tại sao, như các huấn luyện viên về sức khỏe, người ta cần quan tâm sâu sắc tới việc làm sao trợ giúp thân chủ vén mở rồi tích hợp các mục tiêu cá nhân.

Đích thị, tất cả những gì các huấn luyện viên có thể làm là hướng dẫn; để chuyện ấy hiệu quả, mục tiêu phải mang tính cá nhân. Các huấn luyện viên có thể đưa cho người ta các công cụ phản ánh các giá trị và tính cách của họ, để tổng hợp những gì họ biết vào một tuyên bố rõ ràng, và lưu giữ mục đích luôn ở vị trí trung tâm trước mặt, song họ không thể tạo ra hoặc sắp đặt mục đích.

Nên thi thoảng thật buồn cười khi nghe ai đó nói về chuyện tạo ‘động lực, thúc đẩy’ ai đó. Một huấn luyện viên giỏi, thiển nghĩ, sẽ ở vai trò tấm gương soi để giúp một người nhận ra động cơ cô ấy/ anh ta đang mang chứa trong lòng.

Đó là nơi ánh sáng của tia lửa bùng lên, nó dễ làm khởi phát tiến trình cá nhân và sự triển nở tâm linh đồng vọng…

Nhận ra điểm khác biệt giữa hiệu năng và sự học hỏi

Thực tế trêu ngươi là dù tiến trình học hỏi có vẻ được hiểu kỹ càng lắm rồi, thế mà chúng ta vẫn thất bại trong việc vận dụng những gì mình đã biết.

Khi thấu tỏ học hỏi là chi, và hiệu năng thể hiện khác biệt như nào với việc học hỏi, các bậc phụ huynh dễ phát hiện một điều nghịch lý rằng, đứa cháu gái mình đạt 100% tất cả các lịch biểu học tập đề ra hàng ngày lại trở thành điều tồi tệ.

Tưởng tượng có câu chuyện về hai lớp học.

Lớp đầu tiên tuy không quá đặc biệt song nó khác với hầu hết lớp học trẻ con chúng ta quen thuộc. Trong lớp này, giáo viên phát tận tay mỗi em lịch biểu công việc học tập riêng tự bản thân tiến hành, không nhờ ai giúp đỡ cả. Một nữ sinh giả dụ tên là Lan, liếc xéo tờ lịch biểu học tập; nó dưới tầm của cô bé và cơ bản hơn, gây phiền phức cho dịp được nghỉ ngơi ở nhà của Lan. Cỡ mười phút sau, Lan đã làm xong nên cô bé ngó mông lung lên trần nhà chờ bạn bè còn đang loay hoay. Cô bé đang học hỏi rằng thành công đến với mình không phải do mình chăm chỉ ra sao mà chỉ bởi vì mình giỏi giang hơn hẳn bạn bè.

Trong khi đó, cậu bé Dũng ngồi bên cạnh Lan lại đang trầy trật với câu hỏi. Cậu chàng nhìn chăm chăm vào tờ giấy và bóp đầ,u vắt trán cho tới khi lời giải lóe lên. Dù nỗ lực gắng sức hoàn thành xong lịch biểu bài tập, Dũng vẫn cảm thấy tồi tệ vì e rằng có đôi câu hỏi trả lời sai và tốn nhiều thời gian so với Lan. Cậu nghĩ thầm tại sao mình không giỏi giống như Lan.

Lúc này, Hoa ngồi kế bên Dũng, lại úp mặt xuống bàn. Cô bé không hiểu tờ lịch biểu công việc này. Hoa mơ hồ về nó có thể vì hồi đêm ngủ không đủ giấc, bị chuyển tới đây học kỳ rồi, hoặc đang buồn thiu do không được chẩn đoán là gặp khó khăn trong học tập. Chẩn đoán bất thường về cô bé (do bạn cùng lớp và cả giáo viên đánh giá) là lười biếng và không thông minh cho lắm, và cô bé thật may mắn lắm thì mới theo kịp chương trình. Tỷ dụ, Hoa hình dung sẽ thế nào nếu em ngỏ lời nhờ Lan hoăc Dũng bày vẽ, giúp đỡ mà điều đó thì trái với nguyên tắc, quy định. Vả lại, gì đi nữa, cô bé Hoa biết rằng mình sẽ luôn là kẻ đội sổ lớp dù có cố gắng hay không; vậy thì quan tâm, lo lắng để làm gì cơ chứ…

Bây giờ, chúng ta chuyển sang một lớp khác: một lớp học về bơi lội. Ngôi trường này chú trọng dạy các bài học bơi với từng em hơn là bài học bơi chung cho cả nhóm. Mỗi giáo viên hướng dẫn không chỉ bơi lội giỏi mà còn hiểu biết về các tiến trình cũng như giai đoạn học sinh thường trải qua từ trình độ sơ cơ cho đến thành vận động viên tiềm năng. Vượt trên các kỹ năng vật lý của việc bơi lội, các hướng dẫn viên này có các hiểu biết thực tế về khả năng của mỗi em trong việc phối hợp các động tác cơ thể, lưu giữ chú ý, cũng như điều kiện và sức chịu đựng… Họ biết các điều ấy vì họ luôn giám sát và lượng giá đều đặn tiến bộ ở từng học sinh. Các giáo viên dạy bơi chỉ ra ngay lập tức và nhắc nhở liên tục về những thành công và vấn đề đủ cho một học sinh có vô vàn cơ hội cải thiện với từng bài học trong 30 phút.

Ấn tượng nhất là cách các hướng dẫn viên ở đây hết sức tránh việc huấn luyện kỹ năng thành lão luyện. Khi một học sinh đạt khả năng cơ bản để dùng như một kỹ năng thì người hướng dẫn tạo ra điều mới mẻ mang tính thách thức hơn chút. Chỉ cần một học sinh đã học cách đập chân ở kiểu bơi tự do (còn hơi khó khăn) thì em này đã sẵn sàng để được bày các nguyên tắc cơ bản cho kiểu bơi bướm. Sau khi thiết lập kỹ năng cơ bản, việc ôn luyện sẽ diễn ra vài tuần để kỹ năng đó ngày càng thuần thục hơn song không bao giờ để nó thành việc học gạo, diễn ra đều đều mỗi ngày. Các huấn luyện viên ‘đòi hỏi’ học sinh vươn xa hơn khả năng các em có thể đạt được, ngay cả khi việc đòi hỏi ấy tạo nên ‘sai sót’ tầm 50- 75%, vì mục tiêu là nhắm vào tạo lập các cải thiện nho nhỏ mỗi lần… Trẻ bị thách thức, động viên và đề nghị dấn thân. Bố mẹ các em ngạc nhiên biết bao bởi sau một thời gian ngắn, con em họ đã tiến bộ trông thấy.

Có hàng tá khác biệt quan trọng giữa hai kịch bản nêu trên, song ở đây chỉ muốn nhấn mạnh duy nhất một thứ. Trong lớp học truyền thống, thành công được đo bởi việc thể hiện sự giỏi giang, lão luyện, thuần thục và chính xác: một dạng thức đo lường cho hiệu năng tiến hành. Đo lường hiệu năng không xấu, song nếu chúng ta mải mê với sự kiện rằng hiệu năng là cái đợi mình sau chặng đường dài của cái gọi là ‘học hỏi’ thì rồi mình sẽ dễ thành người như bé Lan (thường học tập không cần mấy cố gắng, và không biết làm sao khi gặp chuyện khó nhằn), hoặc như Dũng (dù không ngừng học hỏi song lại cảm thấy kém cỏi vì không đạt mức hiệu năng cao như Lan), hoặc là Hoa (bị đẩy ngồi vượt cao hơn trình độ song không ai phản hồi hoặc giúp đỡ và do đó, bị tổn thương đến độ dễ thấy mình tuyệt vọng, không học tập nổi).

Cho dù chuyện hướng dẫn cá nhân cho mỗi một em học sinh là điều không thực tế lắm, vẫn tin rằng những gì các huấn luyện viên bơi lội biết rõ và thực hành xứng đáng đem vào từng lớp học. Những học sinh tài năng như Lan cần hiểu rằng tài năng của các em không phải là thứ vé ưu tiên để vào cửa hàng bánh kẹo ăn uống thoải mái, và rằng có thể các em thừa khả năng học hỏi mà không cần gắng sức bao nhiêu khi còn bé, song trừ khi các em trở nên thành thạo trong ứng dụng các kỹ năng từ chất liệu học hỏi nằm bên ngoài vòng tay nắm bắt của mình, bằng không các em sẽ khuyết tật về mặt học thuật ngay khi tốt nghiệp, rời nghế nhà trường phổ thông hoặc đại học. Tất cả học sinh tựa bạn Dũng, những người học hành chăm chỉ song thất vọng với bản thân đến độ ngóng trông sang các học sinh tài năng bay bổng nhẹ nhàng mà cóc thèm đầu tư bao nhiêu, cần biết rằng đâu là điều mà những người học hỏi thực sự đang tiến hành.

Thói quen áp dụng năng lực tập trung chú ý và chuyên cần, chăm chỉ hình như bắt đầu đã được ít nhiều đánh giá cao hơn các điểm số bài thi và bằng cấp. Và vì các em như Hoa ở đời, những học sinh sẽ bị vứt xuống đáy tháp tức khắc nếu không sẵn sàng, cần biết rằng không có khả năng thực hiện một nhiệm vụ nào đó chẳng phải là lời buộc tội, nó đúng hơn là dấu chỉ để kiếm tìm nguồn cơn của vấn đề và truy cầu một cách thức vòng qua trở ngại để học hỏi.

Nếu chúng ta xác định việc học hỏi quan trọng hơn hiệu năng thể hiện thì rồi tôi tin, chúng ta sẽ được nhìn thấy ở trong các ngôi trường hiện nay trên khắp đất nước còn vô vàn khó khăn này những gì từng chứng kiến ở lớp học bơi: cam kết đầy hứa hẹn, nhiệt tình năng động, và tiến bộ không ngừng vượt xa mọi kỳ vọng, mong chờ của chúng ta.

Nỗi niềm âu lo khôn ngoan

Lo lắng, ngại sợ bị phiền nhiễu có thể được hiểu trong bối cảnh thật hết sức tự nhiên. Tất thảy thông qua làn da, chúng ta thấm thía từ thông điệp chuyển gửi của hệ thống thần kinh báo cho biết điều gì đó không ổn.

Nếu bất kỳ phần nào trong cơ thể chúng ta quá nóng, quá lạnh, bị va chạm mạnh hoặc châm chích ghê gớm thì chúng ta sẽ tri nhận như sự đau đớn. Cơn đau không thuần túy là thông tin trừu tượng; phụ thuộc vào độ căng thẳng, nó túm bắt sự chú ý của chúng ta. Không thích thú cơn đau, hầu hết thời gian chúng ta làm bất cứ điều gì khả thể đặng giải thoát khỏi cơn đau càng nhanh càng tốt và điều ấy hầu luôn luôn là câu trả lời đúng đắn, chí ít nhằm tránh bị gây hại.

Song có những trạng thái mà cơn đau không thể hiện chức năng như dự tính, nó kéo dài lâu hơn lúc vết thương đã lành, hoặc khi khó làm thuyên giảm, êm dịu đi được. Các trạng thái đau đớn trường diễn kiểu thế đòi hỏi một đáp ứng cách khác, vì giờ đây tín hiệu gây hại là lầm lạc rồi.

Quan ngại và âu lo có thể rất giống với con đau thể lý. Ở tầm mức nhất định, con người ta có thể cảm nhận không chỉ những gì đang xảy ra trong hiện tại mà còn có thể cảm nhận cả cơn đau tương lai, nhờ khả năng tưởng tượng, dự đoán và cân nhắc hậu quả…

Lo lắng giúp chúng ta bớt nhẹ nguy cơ tương lai, tựa cơn đau khiến mình tránh bị thương thêm nữa. Và, giống cơn đau thể lý, lo lắng cũng gây ác cảm. Chúng ta không thích điều kinh hãi của sự bất hạnh cơ chừng sắp đổ ụp xuống; chúng ta muốn rời xa không chỉ tương lai kinh hoàng mà cả khoảnh khắc hiện tại gây nỗi niềm u ám. Lo lắng còn bỏ lơ mục đích, và quấy rầy chúng ta về các sự kiện sắp đến là bất khả hoặc không thể thuyên giảm được, giống như cách cơn đau mãn tính khiến chúng ta nghĩ rằng chẳng lợi lạc gì.

… Đôi khi, mọi chuyện chỉ cần một từ, một ý nghĩ, hoặc một cảm giác là đủ bao vây tâm trí và nhúng chúng ta vào một trải nghiệm, như thể mình đang xem bộ phim kinh dị bằng công nghệ 3D sắc nét, sống động vậy. Thưc tế, nếu lượng giá các âu lo cùng các tiêu chuẩn như đánh giá phim ảnh, chúng ta sẽ dần nhận ra chúng là thứ phim khủng khiếp chẳng đáng xem. Nếu các nỗi lo âu của chúng ta là các bộ phim, mình sẽ rời khỏi chúng trước khi cảnh đầu tiên kết thúc, bởi vì chúng đầy vẻ mờ ám và lặp đi lặp lại kinh hoàng, vô vàn bất hạnh đâu đâu, các vai chính vớ vẩn, và kịch bản nhiều lỗ thủng.

Trong những cơn đau dữ dội của nỗi âu lo, cần dành nỗ lực đích thực để tách biệt huyễn tưởng với thực tế. Tin tốt là chẳng mấy chốc, mình nhận ra ngay rằng nỗi niềm âu lo là phim tồi tệ, và mình lựa chọn ‘bước ra’; thậm chí hay hơn, mình hiểu bản thân không chỉ là khán giả ngồi xem các thứ phẩm mà mình cũng là tác giả kịch bản và đạo diễn. Điện ảnh hiện đại, như ở phương Tây, tạo cho khán giả cảm nhận rằng các anh hùng trong phim có thể chịu đựng khốn khổ xong rồi sẽ được minh oan, giải thoát vào đoạn kết; kỳ lạ nhất, phim ảnh trong đầu chúng ta thường chạy theo hướng các câu chuyện cổ tích Grimm nguyên bản mà chỉ tồn tại tí xíu hoặc chẳng hề có chút tẹo hy vọng nào trong đó. Trầm cảm và lo âu làm mên một đội ngũ khủng khiếp, khi trầm cảm gắng bảo ta kém cỏi hoặc không có khả năng đối phó trong khi lo âu gieo ném mình vào toàn các hoàn cảnh tưởng tượng thảm khốc; chúng cướp đoạt hy vọng của ta về tương lai.

Tại sao mình không cập nhật các kịch bản tinh thần theo các tiêu chí hiện đại? Khi lo âu chỉ là một bộ phim do mình đang tạo tác, tại sao không để bản thân tự đóng vai người hùng đang gặp thời cơ thuận lợi. Thực tế, khi xu hướng mình thường xuyên hạ thấp năng lực bản thân, tại sao không làm cho mình cao hơn và mạnh mẽ hơn so với thực tế? Cứ để mặc sự vụ thế đi, thay vì khiến chúng lớn lao hơn thì chỉ cần để chúng như thực tế là… Biết mình có các tiếp điểm tốt và xấu trong đời, và cho phép chúng tô vẽ trí tưởng tượng. Cuối cùng, để bản thân có cái kết tốt đẹp, và khi mình tái chế lại các bộ phim tinh thần theo cách ấy, nhận ra rằng lo âu chuyển sang đúng vai trò của nó là hệ thống khuyến cáo và lập kế hoạch giúp mình thoát khỏi rắc rối trước khi nó bộc lộ ra.

Thay hình chuyển dạng, biến hóa nỗi niềm lo âu vớ vẩn thành kế hoạch hữu ích là cách hiệu quả giúp vượt qua lo lắng. Cách khác là sống nhiều hơn với thế giới ngoài kia chứ không phải bận tâm cái trong đầu, cho phép phần còn lại trong ngày giành lấy nhiều mối quan hệ khác, sau khi chỉ định một khoảng thời gian nào đó là ‘thời gian lo âu.

Lựa chọn việc tập trụng, chú ý vào hiện tại là nơi chốn mình có thể gây tác động tích cực, khiến lo âu giảm đi tác dụng trong thế giới nội tâm. Đừng nên để nỗi lo âu vật chất hóa, và nếu mình bận rộn trong lúc đợi chờ vì đoán biết trước xui rủi, bất hạnh sẽ ập đến thì mình cũng không buộc phải, nhất thiết cần trải qua đớn đau, khổ sở ở đời.

Cảm giác tội lỗi và hành động vội vàng trong vụ việc ngoại tình

Nhận điện thoại từ số lạ khi đêm hôm khuya khoắt sắp sang ngày mới; giọng nữ khang khác cất lên và kể liên hồi mà không cần xưng tên… Định thần, nhận ra người quen, vụ việc đã từng nghe, giờ thêm chi tiết mới về cảm giác cơ thể gấp gáp như kiểu bị phân ly, thấy dạ dày co thắt, khó thở, v.v…

Đó chẳng phải là trạng thái phải lòng hay rộn ràng như đang yêu lần đầu gì cả, chi chi nó rõ ràng không đem lại cảm giác tích cực cho bạn. Và e chừng sắc thái đa dạng của vô vàn câu chuyện ngoại tình sớm muộn rồi sẽ chạm tới vấn đề niềm tin trong hôn nhân; kỹ năng xử lý; thái độ ứng xử với bản thân, đối tác và tương lai; thường khó tránh thoát nổi pha trộn ám ảnh, huyễn tưởng và mất an toàn.

… Chồng bạn có thể khá hạn chế về mặt cảm xúc hoặc thậm chí không được giáo dục cảm xúc. Gia đình gốc dạy cho chúng ta việc biểu đạt cảm xúc. Một số gia đình biểu đạt cảm xúc như ôm, hôn và thể hiện nâng đỡ về mặt cảm xúc; một số nhà khác thì lạnh lùng và tách biệt, để mặc thế mà chẳng ngó ngàng cảm xúc bao nhiêu. Chồng bạn có thể không được giáo dục về mặt cảm xúc: hiểu biết kém cỏi về nhu cầu nâng đỡ, cách làm sao định hình cảm xúc của người khác, khớp nối với cảm xúc của chính bản thân. Anh ta có thể không hiểu rằng các mối quan hệ đòi hỏi sự duy trì về mặt cảm xúc. Anh ta có thể cần được giáo dục và đào luyện để thành người biết biểu đạt và bộc lộ về mặt cảm xúc.

Một vấn đề khác có thể bùng khởi trong mối quan hệ vợ chồng. Sự hiện diện của stress làm tăng lên nhân cách bình thường của chúng ta. Dưới áp lực stress, các cá nhân hạn chế về mặt cảm xúc trở nên tách biệt xa hơn về mặt cảm xúc; các cá nhân thích biểu đạt thì lại thấy cần biểu đạt cảm xúc thêm nữa. Dường như các tác nhân gây stress hàng ngày trong đời sống hôn nhân có thể khuếch đại ở cả hai nhân cách, khiến quan hệ càng khó khăn, trục trặc.

Một vụ ngoại tình chỉ là huyễn tưởng nghĩ rằng đem lại điều hữu ích. Đâu tầm hơn 70% vụ ngoại tình xảy đến trong những thời điểm căng thẳng. Dù chúng có thể tạo ra một vài xao nhãng đủ lãng quên các tác nhân gây stress thông thường, một vụ ngoại tình kỳ thực rốt ráo lại thêm mức độ stress hơn và có thể phá hoại hôn nhân lâu dài.

Các lý do đều khả thể: kẻ kia không mang gánh nặng trách nhiệm, áp lực, nghĩa vụ, v.v… Ngoại tình giống như ghé đến nơi chốn ăn chơi nổi tiếng. Các tác nhân gây stress giờ dồn dập, em bé nảy sinh nhiều nhu cầu cần được chăm sóc chu đáo hơn, vợ căng thẳng nên khó tập trung chú ý sắc đẹp ngoại hình, bố vợ ốm, v.v… Khi ở trong bối cảnh như thế, chúng ta bị lôi kéo mạnh mẽ vào các tình huống mà trách nhiệm giảm thiểu thấp nhất hoặc trở thành số 0. Người nữ có thể tương tự. Mình lao cùng cô ấy vào chuyến đi chơi đến điểm nổi tiếng: đầy tràn niềm vui, tiếng cười, xốn xang bắt mắt, và không phải lo hóa đơn tiền điện hoặc học phí của con. Buồn thay, thăm viếng, ghé chơi không giống với việc đang sinh sống nơi đó. Quan hệ ngoại tình thì không nở hoa, nó thuộc dạng giải trí. Nó chỉ duy trì niềm vui thú chờ đời sống thực trần trụi xâm nhập vào. Đây là lý do khoảng 95% các cuộc ngoại tình kết thúc trong hư rỗng.

… Bạn đang bỏ chạy khỏi nhà từ góc độ tâm lý, đa phần do bởi trách nhiệm tăng lên ghê gớm theo tháng năm. Sự kiện bạn đang xem lại băng hình quay dịp đám cưới rồi tự hỏi không rõ mình có yêu vợ không phản ánh khả năng khốn khổ vì stress nếu không mắc trầm cảm rồi. Đánh giá lại các chuyện đã xảy ra là triệu chứng cơ bản của trầm cảm.

… Ngoại tình chắc chắn không bất thường trong các mối quan hệ, và nó có thể tồn tại bởi nhiều lý do. Đôi khi việc ‘lừa dối’ của người ta được xem là triệu chứng của vấn đề trong quan hệ mà anh ta không thể nhấn mạnh trực tiếp. Không đáng lo về trạng thái một vợ một chồng hoặc sự cam kết, song có thể chuyện thuộc điều hoàn toàn khác hẳn mà anh ta đang khốn khổ đương đầu. Chưa nói, một người chồng có thể nói anh ta muốn cam kết nhưng hành vi thể hiện thì lại trái ngược. Các lý do ‘tại sao’ ngoại tình xảy ra có thể phức tạp, song điều quan trọng nhất là nỗi đau mà hành vi ấy là nguyên nhân, rồi tìm ra các cách giải quyết vấn đề và tạo những thay đổi.

… Bạn cho rằng chồng mình rất quan tâm chăm sóc vợ. Anh ta khả năng cao gặp khó khăn để thể hiện. Bạn có thể êm ả giáo dục anh ta (thiên hạ quen với ‘dạy chồng’ hơn). Khi chúng ta không được giáo dục thấu đáo về mặt cảm xúc, chúng ta không biết cần làm gì và cảm thấy khó chịu với các cảm xúc. Ở đây, khi chồng bạn bộc lộ một phản ứng cảm xúc mà bạn thích, hãy tán dương anh ta. Nói thành lời để anh ta biết là bạn thích thú với điều đó và biểu tỏ với anh ta một vài cảm xúc nữa. Các cử chỉ, hành vi được khen ngợi và tưởng thưởng thì rất dễ xuất hiện lại. Cũng hữu ích chung khi bạn thể hiện cảm xúc bản thân thật sống động. Anh ta càng bộc lộ tình cảm thì sẽ dần thấy thoải mái hơn với việc biểu đạt cảm xúc.Nhân tiện, sự hấp dẫn và quyến rũ đồng nghiệp của bạn khoảng 98% là huyễn tưởng: huyễn tưởng của bạn. Tất cả điều bạn thực sự biết về nam đồng nghiệp là chuyện anh ta ham nhìn và tìm cách đi theo bạn. Các huyễn tưởng của chúng ta có thể gây ra rắc rối thực tế trong đời sống hàng ngày.

(còn tiếp)

Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm (2)

Khi thuốc chống trầm cảm lại là nguyên nhân gây trầm cảm thì tỉnh thức (mindfulness) càng nên được dùng như một liệu pháp để làm giảm các triệu chứng liên quan ở môi trường học đường.

Tiếp theo sự khơi mào cơn tức giận hôm nọ, giờ chúng ta thử xem xét thế hệ trẻ ngày nay có thể học hỏi được gì từ rối loạn khá quen thuộc này.

Tôi muốn theo sát chủ đề vừa nêu bởi mới đây, một cậu bạn trẻ làm trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật bất chợt thổ lộ rằng chắc chàng ta cần uống thuốc trầm cảm mất thôi (antidepressant).

Song trước khi bàn đến thuốc, liệu có ai dám quả quyết là tinh thần lạc quan sẽ phá hủy tất cả chúng ta. Dĩ nhiên, trả lời ngắn gọn một cách nghiêm túc: không.

Chẳng phải chờ đến sáng nay để đọc bài trên NYT; suy nghĩ tích cực, như chỉ trích cho thấy, kế thừa lịch sử dài lâu, đặc biệt ở Hoa Kỳ. Tại sao nó dễ khiến chúng ta phải lòng nhanh chóng quá vậy? Đơn giản vì chúng ta quá hạnh phúc (đất nước của những người bán trà đá vỉa hè cũng thừa tiền sắm Iphone 6) nên vì rứa, cả tin và bị lừa chăng? Tất cả các dạng kiểu ‘khoa học’ (trăm hoa đua nở hội thảo và chuyên đề, khóa học nọ kia) cùng tâm lý học đang không ngừng kể câu chuyện chúng ta háo hức muốn biết tường tận: hạnh phúc là điều tốt lành (hic, dính dáng vào khiến tôi cảm thấy bản thân thật tội lỗi).

Đạo Phật đã thành công dưới thương hiệu ‘tâm lý học tích cực’; theo lối nhìn thế thì lại rất thích hợp với những trào lưu phát triển hiện đại trong đạo Chúa như phái tả Phúc Âm (evangelist) chẳng hạn. Về mặt lịch sử, Công giáo (Christianity) thường được nhìn nhận là thuộc tâm lý cực kỳ tiêu cực, dựa trên việc quy rút cá nhân thành con sâu cái kiến bé nhỏ qua cái nhìn của đức Chúa nên nó dễ được hưởng hồng ân quan phòng che chở của đấng Christ, hoặc sát gần hơn, Nhà Thờ; cơ chừng đạo Chúa hiện đại đa phần từ bỏ các cách thức đun sôi sùng sục và ám ảnh bởi tội lỗi trong quá khứ. Song các dịch vụ happy-clappy của những tân Phúc Âm không hề khởi từ truyền thống cổ đại, chẳng xa hơn hậu Thanh giáo (Puritan) Hoa Kỳ.

Cần biết thêm chút, đạo Phật bảo con người ta chịu trách nhiệm với niềm đau nỗi khổ của chính họ. Tại sao lo lắng về các điều kiện xã hội, nghèo đói, hoặc phân biệt đối xử… Điều này trái ngược với sự nhấn mạnh tới lòng từ bi (compassion) trong đạo Phật hiện đại, dù chúng ta không thể phủ nhận rằng các lực lượng mang tính ái kỷ ‘tôi và hạnh phúc của tôi’ hiện đang tồn còn và đầy quyền năng. Đúng ra, đạo Phật đích thực thì gây ấn tượng về sự cân bằng; vì mỗi tích cực có một tiêu cực…

Hễ khi nào chúng ta lý tưởng hóa hạnh phúc, chúng ta giận ghét một con người buồn bã. Vâng, các bản văn thiền định Phật giáo không những hay trình bày về hạnh phúc mà chúng còn biểu tỏ ‘trầm cảm tâm linh’ (một ví dụ so sánh) khởi lên khi lặng ngắm Pháp (dhamma) diệu kỳ mà người ta chưa từng đạt được.

Với những ai cảm thấy lạc lõng và bơ vơ trong biển cả đầy ắp các khuôn mặt cười, có rất nhiều các bản kinh làm mình phiền muộn để mà giải khuây. Và nghệ thuật đủ sức khiến ta chùng xuống và thoát khỏi các cảm xúc hạnh phúc giả tạo ghê gớm; thời buổi internet ngày nay đâu khó tìm thấy các minh họa về một bài hát quá chừng buồn luôn, một truyện ngắn đau thương, hoặc một bộ phim làm ta khóc ngất… Và nếu chưa xứng, luôn có các chương trình phim kinh dị trên TV với bản tin thời sự ‘cướp- giết- hiếp’ hàng ngày.

… Giờ chính thức chạm tới đề tài thuốc men và sự giải trí.

Để cảm thấy tốt hơn, uống một viên thuốc đi nhé.

Đó đích thị là thứ logic ẩn bên dưới việc dùng thuốc men phục vụ cho việc giải trí, tiêu khiển, đỡ đau đầu; và nó cũng là logic sát đúng với cả y khoa hiện đại.

Điểm khác biệt ở chỗ, nếu một người quyết định ý chí để uống thuốc, hoặc hút điếu, hoặc tiêm gì đó. v.v… để bản thân thấy vui vẻ thì rõ là họ biến mình thành tội đồ hư hỏng đáng bị trừng phạt (?!)… Dĩ nhiên, không phải không có khác biệt nào giữa y khoa và việc dùng thuốc cho mục đích giải trí; chắc chắn có, và chắc chắn ở đó hiện diện vai trò của các chuyên gia sức khỏe. Vấn đề là các điểm khác biệt ấy thuộc phổ dài rộng của việc sử dụng, và tần suất bao gồm các tiền chất giống nhau, rồi chưa nói các cấu trúc hợp pháp đương đại tạo nên cuộc ly dị giả vờ giữa chúng nữa cơ.

Lần nữa, về mặt lịch sử, hầu hết các loại thuốc mang tính giải khuây đều có ứng dụng y khoa theo kèm: thuốc phiện, cần sa, LSD,..; tương tự, nhiều thuốc y khoa theo toa vẫn quen dùng cho mục tiêu thông thường, bất kể được phép hay dùng lậu.

Vấn đề căn cốt hơn: việc tạo tác một thời đại hữu hiệu của uy quyền, thiết chế y khoa kiến lập một thứ văn hóa khiến người ta nồng nhiệt tin tưởng rằng uống thuốc là giải pháp cho vấn đề, và nó dẫn tới vui vẻ, hạnh phúc. Nếu đúng thế, y khoa hiện đại quy về lỗi trực tiếp lẫn gián tiếp: tạo nên quá nhiều thuốc có khả năng gây nghiện và điều kiện hóa về mặt xã hội cho việc kiếm tìm giải pháp nhờ thuốc men.

Đáp ứng hữu lý, cả sức khỏe thể chất lẫn tâm lý, là chuyển khỏi cách tiếp cận lấy thuốc men làm trọng tâm để bước sang cái nhìn tổng thể, toàn diện. Trị liệu cả con người, chứ không chỉ nhắm vào bệnh tật. Cách tiếp cận này đặc biệt thích hợp trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nơi các liệu pháp dựa vào tỉnh thức (mindfulness-based) được chứng thực là mang lại hiệu quả hơn thuốc men trong việc xử lý hàng loạt vấn đề, gồm cả rối loạn trầm cảm.