Tếu táo và vu vơ ăn theo tí tẹo khi mưa to gió lớn não nề về xu hướng giáo dục

Việc từ bỏ thói quen đọc báo, xem TV và theo dõi tin tức thời sự hàng ngày có cái lợi nhãn tiền là chính mình tiếp tục tự khẳng định niềm tin (riêng với bản thân thôi) chắc như định đóng cột rằng mục tiêu không đạt được bằng tốc độ.

Bất chợt gặp phải đây đó nghiến răng bàn về xu hướng giáo dục là thêm một lần giật thột phát hiện thấy rất nhiều người có tham gia vào dự án mãi vẫn chưa chịu kết thúc này. Mọi nỗ lực, về mặt lý thuyết, đều đáng tưởng thưởng. Tất cả chúng ta gánh lấy trách nhiệm trong sự phát triển nghề nghiệp (dân gian truyền tụng câu cửa miệng ‘tập trung vào chuyên môn nào’), vì thế, hãy cùng nhau cống hiến cho ý tưởng rằng khoa học giáo dục sẽ trở thành chủ để nổi bật đủ đem lại lợi lạc ở hết thảy bậc học và cho mọi lứa tuổi.

Điều cần nghiêm túc lần nữa, việc định dạng các nhấn mạnh và xác lập các mối quan tâm trong chính sách và thực thi giáo dục chắc chắn sẽ khác biệt, tỷ dụ, một số thuộc phương pháp luận, số khác nằm ở triết lý, số khác nữa là chuyện tổ chức; tương tự, không giống nhau ở tông giọng: một số cần ghi chú khẩn cấp, một số khác đòi hỏi kế hoạch dài hơi,…

Đêm hôm gió máy nên nhớ đại khái là xu hướng giáo dục chi chi có thể hiểu về mặt thao tác theo chương trình đào tạo thể hiện khả năng thích nghi với cuộc sống, tổ chức hướng dẫn bằng các vấn đề nảy sinh trong cộng đồng, tăng cường trách nhiệm của học sinh cho việc lập kế hoạch trải nghiệm giữa đời, cố gắng nhắm vào sự hiểu biết những phương thức mà trẻ đang học hỏi, phải liên quan tới các phương pháp tư duy…

Nên thẳng thắn vận dụng đúng điệu xứ Quảng ‘nói phải củ cải cũng phải nghe’ đặng mong rằng sẽ là nhiệm vụ tuyệt vọng trong nỗi niềm ước ao định hình *tất cả* các xu hướng giáo dục đương thời, tuyệt vọng và chắc chắn vô ích nữa, vì một số sẽ được khai thác cạn kiệt và các xu hướng mới mẻ sẽ phát triển trước khi bất cứ điều gì có thể được thực hiện về các xu hướng đã xác lập này.

Thiển nghĩ, vì giời vừa ngưng đổ mưa và tiếng động cơ máy bay đáp xuống phi trường thành phố ồn ào quá, nên tạm thời chốt lại là cần phải làm gì đó về các xu hướng; định hình chỉ vì lợi ích của việc định hình chung quy đâu có được chi, ngoài chuyện chúng mình bận rộn quay mòng mòng suốt ngày.

Niềm tin của người nghĩ mình có khả năng kích hoạt và lo toan thay cho đời sống của kẻ khác

Một cách ngắn gọn, người tự tin vào khả năng kích hoạt là kẻ tin mình có khả năng cho tha nhân quyền lực, phương tiện, cơ hội và uy danh để làm điều gì đó; đặc biệt, người này tìm ra cách thức thao túng, dẫn dắt, điều khiển với việc duy trì hành vi hủy hoại bản thân (lạm dụng chất, chẳng hạn) nhằm quy buộc những sự hối lỗi, nuối tiếc, hoặc dễ tránh né hậu quả tiêu cực trong ứng xử của họ. Tỷ dụ, ai đó lè nhè say xỉn khi đến cơ quan gặp chef có thể kèm theo đồng nghiệp cùng đi để mình vẫn được giữ lại, chí ít tạm thời đã…

Người có khả năng kích hoạt này thường rất dễ thương. Họ có lẽ dễ động lòng xót xa trước một lầm lạc. Đôi khi, họ không hề nghĩ những gì mình đang làm mang tính kích hoạt mà như một người bạn thân thiết hoặc tiến hành vì điều tốt lành. Chỉ khi đối tượng được trợ giúp tiếp tục hành xử thiếu trách nhiệm và tránh né hậu quả thì mới phân biệt rõ ràng hơn giữa một người có thiện ý chân thành với một người thích kích hoạt.

Khá khó hiểu tại sao người biết mình đang kích hoạt kẻ khác cứ hay tiếp tục lặp lại hành vi xấu tệ. Một lý do để cố chấp kích hoạt liên quan với cả loạt niềm tin thấm đượm cảm xúc mà nó làm củng cố thêm hành vi này và tạo ra một sự ‘ngừng ngắt’ để nhìn nhận kích hoạt như biện pháp sai trái. Giống hầu hết niềm tin, không có cái nào phổ quát là sai hoặc đúng; đa phần niềm tin đóng vai trò hướng tới các cảm xúc hơn là logic khiến chúng càng khó nắm bắt.

Rõ ràng, sẽ là việc giải độc khi chỉ ra được hợp chất bổ sung cho các niềm tin để người kích hoạt thấu tỏ nguyên nhân của việc kích hoạt và do vậy, tạo nên nhiều lựa chọn tốt lành theo chiều tiến bộ, tích cực.

“Tôi là kẻ tệ hại nếu không ra tay giúp đỡ”

Cảm giác tội lỗi chắc chắn là một trong những cội rễ sâu xa của sự kích hoạt. Người ta dễ thấy tội lỗi về nỗi niềm đã không ‘trợ giúp’ (ngay cả khi đúng đắn) ai đó đang hành xử thiếu tinh thần trách nhiệm. Chắc hẳn kẻ hỏi xin ‘ân huệ’ thường gom tóm rồi lạm dụng với cảm nhận tội lỗi đó. Hầu hết chúng ta có khuynh hướng tự nhiên vui vẻ với việc giúp đỡ người khác. Khó khăn để có trực giác chống lại sự thôi thúc được cảm nhận sai trái này.

“Họ sẽ bị hãm hại khủng khiếp, thậm chí bị hành hạ đến chết mất thôi”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu mình không giúp?” có thể là câu hỏi đáng sợ. Trong khoảnh khắc bày tỏ nhu cầu khẩn thiết ấy, sự đặt cược rất cao, thậm chí không chừng trở thành chuyện sống chết. Thường, kẻ đề nghị giúp đỡ sẽ vẽ bức tranh khủng khiếp khác xa so với thực tế. Những nỗi lo lắng và sợ hãi trong chính lòng ta có thể tạo nên kích hoạt như việc phải làm. Dĩ nhiên, nếu sự đe dọa đúng là chuyện sống chết thì người trợ giúp thể hiện đúng đắn vai trò, song nếu cơ chừng sự việc bị đẩy tung, hoắng lên vì một trong các các bạn bè cùng trang lứa thì vấn đề khác đi.

“Tôi đã đầu tư vào đấy quá nhiều rồi” (ngụy biện chi phí ngập lụt)

Khi thi thoảng giúp đỡ ai đó một đôi lần hoặc nhiều dịp nọ kia, chúng ta có thể thoáng nảy sinh ý nghĩa rằng việc giúp đỡ của mình không đem lại mấy tác dụng hữu ích. Và dẫu thế, chỉ có thói quen và sức ỳ lâu nay mới trở thành kẻ thù của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng “được, mình đã đến nước này rồi, giờ không dừng lại được nữa”, hoặc “tất cả mọi điều mình làm lâu nay sẽ trở thành công cốc mất thôi”.

“Tự họ không thể làm được điều đó”

Một sự thoát ra khỏi sự kích hoạt là nhận thấy việc mình đang làm một việc mà ai đó khác đúng ra nên làm nó. Song người bạn kém may mắn của chúng ta đích thị không chịu trách nhiệm được thì tính sao giờ? Một bài trắc nghiệm tốt để tách biệt sự giúp đỡ với sự kích hoạt là tự hỏi “Điều mình đang làm có giúp người ta trở nên có năng lực hơn hay làm bê trễ sự trưởng thành của họ thêm?”

Dần ý thức rõ ràng về các niềm tin tạo nên sự kích hoạt rốt ráo có thể là rất hữu ích. Nếu chúng ta sáng suốt đủ trông chừng các niềm tin rồi xem xét chúng một cách nghiêm túc, chúng ta có cơ hội giải phóng mình khỏi cái vòng tròn của hành vi vô trách nhiệm do đóng vai đi cứu giúp kẻ khác.

“Họ cần học hỏi từ chính lỗi lầm của bản thân”

Niềm tin căn bản chống lại sự kích hoạt tốt nhất là nhận ra rằng tất cả mọi sự trợ giúp phải đích thị hữu ích. Hầu hết mọi người học hỏi thông qua hậu quả. Nếu chúng ta thiếu trách nhiệm, thường nảy sinh hậu quả tiêu cực do quyết định kém. Nếu quên trả hóa đơn tiền điện, rất dễ tôi sẽ ngồi trong ngôi nhà tối om. Giành lấy cơ hội học hỏi từ hậu quả của kẻ khác, không những thiếu thông minh mà còn không thấy ra rằng điều họ làm sai rồi và việc thay đổi là cần thiết.

“Chỉ mỗi tôi loanh quanh lâu nay”

Khiêm cung là cơ chế phòng vệ đáng giá đối với sự kích hoạt. Nếu thành thật, đa phần chúng ta không có các nguồn lực to lớn để thừa ban phát nhỏ giọt cho những kẻ khác. Hầu hết họ đã sẵn lời tự biện hộ. Khi giải cứu ai đó thông qua sự kích hoạt, chúng ta thường khiến kẻ khác trả giá, thường hơn nhiều là chính chúng ta! Trước khi thế chấp để trợ giúp ai đó có thể xứng đáng hoặc không, hãy cân nhắc các cam kết khác mình đưa ra đặng tạo nên đối trọng vói xung năng tự nhiên muốn lao vào giúp đỡ ngay.

“Liệu họ có nhất thiết cần đến sự giúp đỡ của mình?”

Chỉ vì ao đó muốn xin ta giúp đỡ không có nghĩa mình phải thành kẻ giúp đỡ liền. Phụ thuộc vào kiểu khủng hoảng, có lẽ một bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý, kế toán hoặc nhân viên ngân hàng sẽ thích hợp hơn hẳn. Lưu ý đừng để người khác phó thác trách nhiệm “bạn là hy vọng duy nhất của tớ”. Mình có thể dính đòn bởi vì nhiều người khác từng lợi dụng mình trước đây.

Không bao giờ mất đi người mình yêu quý

Có lần, vị thiền sư tên Foyin đã cứu sống một phụ nữ định quyên sinh nơi dòng sông, rồi hỏi nàng tại sao nàng muốn chết, nhất lại là nàng đang còn rất trẻ.

Người đàn bà đáp, lấy chồng mới ba năm, song khi con trai mất, chồng đâm bỏ bê, không thèm ngó ngàng gì vợ. Do đó, cô cảm thấy đời sống hiện tại chẳng có gì ý nghĩa nữa. Vị thiền sư hỏi tiếp, thế đời sống của cô trước hôn nhân như nào. Hồi tưởng, người phụ nữ thấy đấy là thời thật vô lo và mọi thứ như ý. Vị thiền sư lưu ý rằng, ngay hiện tại lúc này, cô chỉ việc quay về với giai đoạn ba năm trước; lúc đó, cô đâu có chồng con, giờ cô cũng không có họ. Một cách căn bản, xét toàn thể, cô không hề có sự mất mát đích thực nào. “Công án” vị thiền sư nêu ra: nếu cô ấy có thể vô lo ba năm trước, tại sao cô ấy lại quá sầu muộn ba năm sau?

Chúng ta trả lời câu hỏi này như thế nào đây? Sự thật, chúng ta đau đớn khổ sở chỉ khi mình chăm chắm vào tình huống bất hạnh hiện tại khiến mình cảm thấy ghét bỏ không cần thiết. Kỳ thực, gọi là điều xui rủi này khi so sánh với một trạng thái từng diễn ra rồi, vốn nó tương đối may mắn, đâu nhất thiết khiến mình phải gắn bó cùng. Vì thế, những ai đau khổ nhất thường có xu hướng trước tiên đau khổ kéo dài; khi đời sống của họ được cải thiện thì lại dễ cảm thấy mất mát khủng khiếp về sau.

Bởi vì cảm nhận mất mát đến từ sự so sánh, xuất hiện nỗi tiếc thương và bao lời ai oán. Nếu nhìn vào bức tranh rộng lớn phủ trùm một giai đoạn rộng lớn hơn, gồm cả nỗi buồn lẫn niềm vui bây giờ, sẽ thấy đấy chỉ là sự xoắn bện quá độ và chỉ ra bánh xe nghiệp bất hạnh/ may mắn mà thôi. Do đó, đều ảo ảnh, hoang tưởng việc để bản thân bị quấy nhiễu, đảo lộn bởi cả điều may mắn lẫn sự xui rủi.

Vị thiền sư đã hích nhẹ giúp cho người phụ nữ trẻ siêu việt trên các trạng thái nọ kia một cách nhị nguyên mà cô đang trải qua, để buộc cô quay về với những gì rốt ráo là mình trước đây: biểu hiện trạng thái nguyên thủy của Phật tính.

Nhất là trong những thời điểm bấn loạn, chúng ta nên quay lại trạng thái tâm linh nội tại căn bản quen thuộc này, phóng thích khỏi rối rắm do gắn bó với vận may tốt đẹp và ghét bỏ, đẩy đuổi sự xui rủi, bất hạnh.

Tại sao chúng ta quá phấn khích hoặc trầm uất ghê gớm? Đơn giản nhờ mang con tim và tâm trí tỉnh thức với Phật tính sẵn có, thay cho chuyện dính bám vào các điều kiện ngoại giới vốn phù du thoáng chốc; nhất định sẽ khởi lên tâm trí duy trì trạng thái yên an.

Vấn đề thuộc các điều kiện trong hiện tại do vậy, nên được xem xét tựa như trái quả tựu thành đang dần trôi qua bởi các nguyên nhân và điều kiện tích lũy, thậm chí, trước cả khi khởi sự…

Điều này không phải là trạng thái vô cảm hoặc thiếu quan tâm nghiêm cẩn; vì các biểu tỏ bình thản thực sự luôn hậu thuẫn lòng từ bi trải đều cho tất cả mà chẳng hề xốn xang, nhốn nháo với bất cứ ai hoặc bất kỳ điều gì. Lành thay.

Rối loạn Phổ Tự kỷ (ASD): cập nhật thông tin mới nhất, thực trạng siêu phức tạp, và vài ba cách thức hỗ trợ hiệu quả

Kể từ những bài xa xưa từng giới thiệu khá chi tiết quen lệ rồi, đến nay rối loạn phổ Tự kỷ (ASD) vẫn tiếp tục được blog Tâm Ngã chọn là chủ đề ưu tiên lên trang.

Ba hôm trước, đại học Carnegie Mellon công bố đã làm rõ vai trò của tính di truyền, đột biến, và các yếu tố môi trường; theo đó, nguy cơ di truyền của ASD chủ yếu khởi phát từ các genes thông thường hơn là các biến thể hiếm gặp hoặc đột biến tự phát.

Từ nghiên cứu này, chúng ta có thể thấy rằng di truyền đóng vai trò chính trong sự phát triển rối loạn tự kỷ so với các yếu tố môi trường, góp phần quyết định gây nên tự kỷ hơn chúng ta tưởng; mỗi một trong nhiều yếu tố nguy cơ nhỏ khác thêm vào đẩy người mắc vươn ra rìa của phổ tự kỷ…  Không có các công cụ thống kê mới, không phát hiện được kết quả, và bây giờ chúng ta phải dựa trên những gì học hỏi được kèm sử dụng các cách tiếp cận thống kê để sắp đặt các nguồn lực tương lai, và quyết định hướng nghiên cứu nào hữu ích nhất đáng tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân gây ra tự kỷ.

Như thế chứng tỏ, tự thân yếu tố môi trường không quyết định hết thảy nguyên nhân gây ra ASD; và con số 55% có thể di truyền cho thấy genes chịu trách nhiệm hơn một nửa việc một đứa trẻ có khả năng mắc tự kỷ (80% di truyền liên quan đến chiều cao).

Lần nữa, qua thượng dẫn sơ bộ, điều ngạc nhiên ở nghiên cứu là các nguy cơ di truyền gây tự kỷ đa phần nằm ở các biến thể genes thông thường chứ không phải các đột biến dị biệt. Một đột biến nhỏ trong một gene đơn lẻ có thể gây một căn bệnh chẳng hạn như Huntington, và đột biến gene BRCA1 làm tăng lên khả năng phụ nữ phát triển ung thư vú. Các đột biến như thế chỉ chiếm 2,6% nguy cơ gây tự kỷ, so với 52% biến thể genes thông thường; với phần lớn trường hợp gây mắc tự kỷ, không có một gene sai lạc nào mã hóa rối loạn này mà chính sự kết hợp các biến thể thông thường với nhau mới dự đoán nguy cơ tự kỷ. Và dù chỉ ra các yếu tố môi trường không phải là nguyên nhân chính, song nhóm tác giả không chắc cụ thể những yếu tố môi trường nào quy cho việc mắc tự kỷ.

Liên quan đến thực trạng phức tạp gây tranh cãi, bất chấp mấy thập niên nghiên cứu khẳng định điều ngược lại thì niềm tin tự kỷ có thể là do nguyên nhân trục trặc trong quan hệ gắn bó mẹ- con vẫn thịnh hành. Trước thông tin nghiên cứu rằng có mối liên quan giữa độ tuổi cao của bố mẹ với việc mắc tự kỷ khiến một số bố mẹ còn chưa thôi lo lắng quyết định có nên sinh con sau độ tuổi 30 thì công việc của nhóm nghiên cứu quốc tế do nữ khoa học gia thuộc đại học Carnegie Mellon đứng đầu giải thích chủ yếu do genes.

Sự trộn lẫn các yếu tố nguy cơ không dễ cảm nhận thấu đáo và việc chẳng rõ ràng nguyên nhân gây ASD có thể khiến một số bố mẹ lựa chọn các giải pháp liều lĩnh và cảm tính. Một ví dụ sống động kéo dài là chuyện bố mẹ quy cho hóa chất thimerosal (đã bị gỡ bỏ hơn 10 năm nay) vốn có mặt trong vacine trẻ em gây tự kỷ, tạo điều kiện cho phong trào chống tiêm phòng thành công và gây ra nguy cơ cho con cái họ mắc một số bệnh mà chúng ta đã biết cách tránh…

Với tỷ lệ 1/ 68 trẻ em Hoa Kỳ mắc ASD, trong độ tuổi 6-17 thì chẩn đoán mắc tự kỷ tăng khoảng 1% từ 2007 đến 2012. Các triệu chứng tự kỷ đa phần không hợp trội, nổi bật cho đến khi trẻ lên 2 hoặc 3 tuổi, và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán. Nguyên nhân hiện chưa sáng tỏ hoàn toàn, sau nhiều năm nghiên cứu có thể nghĩ tới chừng mực: các biến chứng khi sinh, thuốc trừ sâu, không phải do thiếu thốn tình yêu thương, không phải vì nhiều giun sán.

Nhân tiện, xin nêu một vài nghiên cứu liên quan: trẻ có bố mẹ làm các nghề kỹ thuật mang tỷ lệ tự kỷ cao hơn; thiếu hụt kỹ năng vận động càng làm mức độ tự kỷ nghiêm trọng; suy yếu khả năng chú ý không phải là thành phần tự thân của tự kỷ; cảm giác thứ phát hay thường thấy ở người mắc tự kỷ; chết đuối là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ ASD; chụp quét não bộ có thể hỗ trợ công tác chẩn đoán; có việc làm giúp cải thiện các triệu chứng tự kỷ ở người trưởng thành; nghiên cứu DSM-5 chỉ ra tác động của việc chẩn đoán và sự phổ biến ASD, v.v…

Chẳng nhất thiết phải nghi ngờ một điều rằng, tự kỷ thực sự khó hiểu đối với những ai không trải nghiệm trực tiếp. Với hầu hết mọi người, tự kỷ cơ chừng là ai đó lạ kỳ, cách biệt và khuyết tật tinh thần; các tường rào ngăn cách trong đời sống người mắc tự kỷ có vẻ là khó hiểu thấu; những trở ngại và thách thức họ phải đương đầu là thực tế lạnh lùng, một thực tế của ai đó khác. Con số 1/68 trẻ em mắc ASD cho thấy hầu hết mọi người dễ bắt gặp, nghe thấy hoặc tiếp xúc khá gần gũi với ai đó mắc tự kỷ; tiếc thay, phải chờ cho đến khi tự mình trải nghiệm cá nhân trực tiếp những con người ấy độc đáo và đặc biệt như thế nào thì mới phần nào nắm bắt câu chuyện.

So với ASD, ngu dốt mới đích thị là căn bệnh lớn nhất trong xã hội. Bố mẹ các trẻ mắc tự kỷ chắc chắn trải nghiệm sống động khía cạnh với người xung quanh họ; một khía cạnh tồn tại ở nhiều người song nó chỉ bộc lộ ra khi bị thách thức bởi điều gì đó khác thường, như kiểu giao tiếp với người mắc tự kỷ. Đó không phải là tội ác, chỉ là ngu dốt mà thôi.

Có rất nhiều vấn đề xoay quanh ASD. Một đứa trẻ mắc tự kỷ ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong gia đình theo các cách thức khác nhau. Bố mẹ/ người chăm sóc giờ đây phải đặt để ưu tiên chú tâm trong việc trợ giúp con em họ, xử lý stress nảy sinh ngày càng mãnh liệt trong đời sống hôn nhân, ở các đứa con khác, công việc, tài chính, và các trách nhiệm lẫn quan hệ liên nhân cách khác nữa. Bố mẹ có con mắc tự kỷ phải chuyển khá nhiều nguồn lực thời gian và tiền bạc cho việc cung cấp phương thức điều trị và can thiệp cho đứa trẻ, hạ thấp các ưu tiên cấp bách khác.

Bố mẹ trẻ thường quen đối mặt với các thái độ và dịch vụ bất công trong xã hội. Họ bị thúc ép đương đầu và giải quyết với sự ngu dốt. Vượt trên việc xử lý các vấn đề sự vụ đời thường, hàng ngày liên quan đến tình trạng rối loạn của con em mình, họ cũng buộc phải trở thành người biện hộ và đấu tranh, các chuyên gia y tế cung cấp thông tin chính xác cho cộng đồng họ thường tiếp xúc, bởi vì định hình các chương trình can thiệp sớm thích đáng, độ an toàn và phù hợp trong chẩn đoán cũng như tự thân việc trị liệu và chăm chữa y tế tương xứng dĩ nhiên không phải là điều dễ dàng chút nào ở một đất nước đang phát triển bộn bề như Việt Nam.

Các cơn thịnh nộ, đập phá từ nhẹ tới nặng, khó khăn trong ăn uống, đủ thứ rắc rối với việc ngủ nghỉ, nhiều giới hạn bó buộc của tiến trình xã hội hóa và tương tác với những người khác, đi kèm lắm thiếu hụt xử lý cảm giác và lượng giá môi trường… chỉ là một vài vấn đề mà trẻ em cũng như người lớn mắc ASD phải đối phó thường xuyên.

Điều quan trọng hiểu tự kỷ là trạng thái rối loạn phổ rộng, nghĩa là các cá nhân sẽ thể hiện nhiều triệu chứng khác biệt nhau, một số thì nhẹ và một số thì nặng, số khác vừa vừa… Tương tự, cơ bản là bóc trần huyền thoại người mắc tự kỷ không có khả năng biểu đạt các cảm xúc bản thân hoặc cảm nhận về tình yêu thương, nỗi niềm hạnh phúc, buồn rầu, đau đớn như mọi người khác. Đơn giản vì họ không thể biểu đạt các cảm xúc bản thân theo cách của đa phần mọi người, không có nghĩa họ không có cảm xúc. Đây là sự ngu dốt và thiếu giáo dục chu đáo khiến thiên hạ tiếp tục mang vác huyền thoại vừa nêu.

Nếu nói với bố mẹ của trẻ mắc tự kỷ, mình sẽ thường nghe thấy các câu chuyện dũng cảm không thể ngờ nổi, sự kiên nhẫn vô bờ bến, những nỗ lực khủng khiếp và nỗi buồn bã, tuyệt vọng trong những ngày đen tối luôn ít nhiều phảng phất trên khuôn mặt. Mình cũng có thể nghe thấy các câu chuyện về tình yêu thương vô điều kiện, sự trân trọng đời sống, hành trình khám phá bản ngã mà họ không hề nuối tiếc dấn thân cũng như không lãng quên ước mơ, hy vọng về một tương lai tươi sáng cho con cái.

Người mắc ASD cũng là nhân loại chúng mình. Mỗi người thì khác nhau và ai cũng độc đáo. Điều họ cần chí ít là đừng ai đánh giá, xa lánh, đối xử bất công và thể hiện sự ngu dốt hướng về họ. Những gì họ cần là tình yêu, xử sự công bằng, tôn trọng, thấu hiểu và đủ đầy ý thức để xã hội nâng cao hơn nữa khả năng trợ giúp, nâng đỡ họ cùng với gia đình họ nhiều hơn nữa. Họ cần nhiều phương thức trị liệu đúng đắn và hiệu quả, tiếp cận được, chẩn đoán và can thiệp sớm, và nhiều nghiên cứu cũng như ủng hộ quỹ, vận động chính sách, tài trợ nhiều hơn nữa.

Bố mẹ cũng cần giúp đỡ với nhiều chi phí phải trả, các chương trình phù hợp giúp con em họ có việc làm, nơi học tập, được hỗ trợ cảm xúc và tâm lý, hội thảo và giáo dục đặc biệt đặng giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh với trẻ mắc tự kỷ. Chúng ta cần mở rộng các mạng lưới, cộng đồng khuyết tật phủ khắp và tạo điều kiện để các gia đình có cơ hội tương tác với nhau, trao đổi thông tin, ý kiến, tiếp cận được ngày càng nhiều dịch vụ và nhiều hỗ trợ từ phía nhà trường cũng như xã hội.

Dưới đây là vài bước khuyến cáo cụ thể từ giới chuyên môn mong có thể trợ giúp cho người mắc ASD.

1. Giải thích từng giai đoạn một những gì mình định làm, những gì sẽ xảy đến tiếp theo và tại sao.

2. Cho người mắc ASD đủ thời gian để hiểu thông tin mình đang chia sẻ và đợi đáp ứng chứ đừng vội vàng, mong ngóng.

3. Các câu hỏi nên được đặt ra thật dễ hiểu theo cách sử dụng ngôn ngữ trực tiếp, dùng tranh ảnh khi cần thiết; đừng phụ thuộc vào việc trẻ làm quen, nắm bắt được tình cờ nghĩa của các câu hỏi nêu ra hoặc ngôn ngữ cơ thể.

4. Người mắc tự kỷ dễ nghiêng theo hướng nắm lấy lời mình nói theo nghĩa đen nên cần tránh dùng từ ngữ mang nghĩa nước đôi và thể hiện tính hài hước rất dễ bị hiểu nhầm.

5. Duy trì công việc và thói quen hàng ngày; tương tự là điều quan trọng đối với người mắc tự kỷ.

6. Các khó khăn trong giao tiếp xã hội có thể bao gồm việc tiếp xúc mắt, các ngôn ngữ cơ thể bất thường, nói chuyện vào những lúc bất tiện hoặc nói về các chủ đề không thích hợp lắm.

7. Các hành vi lặp đi lặp lại có thể là cơ chế đối phó, và đo đó nên được tôn trọng.

8. Mội trường rất quan trọng. Một số người mắc tự kỷ đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng, chuyển động, tiếng ồn và sự sờ chạm. Cố gắng thiết lập môi trường yên an, tĩnh lặng để giúp bình hòa nỗi lo lắng, sợ hãi.

9. Luôn luôn thử đặt mình ứng xử, hành động như người mắc tự kỷ dù đó quả là thách thức ghê gớm.

10. Hỏi người mắc tự kỷ, bố mẹ, người chăm sóc hoặc vị giám hộ họ những gì họ cần.

@ Cập nhật, 15h42′ cùng ngày

Phương thức dạy nhận thức về Tự kỷ giúp giáo viên đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều hiểu được rối loạn và giúp đỡ trực tiếp bạn mắc ASD; nâng cao nhận thức về những nhu cầu và khó khăn mà người mắc Tự kỷ gặp phải, giải thích ASD là gì, và tại sao nó ảnh hưởng các kỹ năng truyền thông, xã hội và tư duy.

Hướng dẫn nhấn mạnh không những nhu cầu của cách tiếp cận cá nhân khi làm việc với học sinh mắc ASD mà còn bao gồm một số chiến lược “nắm trọn” như cách bắt đầu bài học với các hoạt động ngắn, vui và thực tế nhằm giúp có được cấu trúc ngay lập tức rồi đề cao các điểm tưởng thưởng để chào đón trẻ. Khẳng định những thay đổi trong môi trường lớp học là giảm tiếng ồn xung quanh, sử dụng ánh sáng tự nhiên và tránh các tranh, ảnh gây ‘bắt mắt’.

Ý tưởng cho ngân hàng chiến lược làm việc với trẻ mắc ASD là đi theo các quy định rất rõ ràng ở lớp học, hỗ trợ việc trình bày miệng với bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh, xác lập nhiệm vụ với các mục tiêu rõ ràng, và hướng dẫn ngắn, đơn giản.

Một vài mẹo thực hành cho giáo viên như khung làm việc SPELL: nhắm vào cấu trúc (structure), hành vi tích cực (positive behavioir), thấu cảm (empathy), ít gây kích thích (low arousal), và liên kết (link) với nhiệm vụ ở nhà. Mục tiêu là giảm bất kỳ trải nghiệm lo lắng nào ở trẻ, để chúng làm việc hiệu quả hơn trong một môi trường khiến chúng cảm thấy an toàn.

Nhằm giúp giáo viên giảm thiểu nguy cơ trẻ bị bắt nạt, hướng dẫn nhắm vào “tính đa dạng thần kinh” giúp học sinh hiểu những khác biệt trong cách người ta suy nghĩ hoặc tri nhận thế giới; được thiết kế để khuyến khích nhận thức nhóm bạn cùng trang lứa, chấp nhận về mặt xã hội, thấu cảm và hòa đồng ở mọi học sinh cho dù một số bạn có thể biểu lộ hành vi khó thấu hiểu hết được…

Về nhà dễ đổ lệ quá độ

… Cách đây khoảng 1 năm cháu cũng đã gửi lá thư đến chú với bao nỗi lo lắng về tương lai về nghề nghiệp về tình yêu… Cứ ngỡ rằng nỗi phiền muộn ấy sẽ dần sẽ ổn nhưng càng thời gian gần đây cháu lại càng thêm lo sợ. Cháu biết rằng Thất nghiệp luôn là nỗi ám ảnh với tất cả các bạn sinh viên mới ra trường nhưng với cháu thì đúng là cháu cảm thấy hết sức nặng nề. Bốn năm dưới giảng đường đại học cháu cảm thấy bản thân mình quá thụ động quá vô nghĩa và khi nhận ra được điều đó hình như đã muộn màng ạ. Cháu vừa tốt nghiệp 31/5 vừa rồi nhưng cháu chưa thể xác định được cho mình 1cv muốn làm, và bây giờ cháu rơi vào tình trạng làm công việc gì cũng đc miễn là nuôi nổi bản thân và dĩ nhiên là không được phép vi phạm pháp luật. Thế nhưng những công việc như vậy cũng thật khó tìm ạ. Cháu rơi vào trạng thái căng thẳng vô cùng, cháu rất sợ ra trường rồi mà vẫn không có việc làm để nuôi nổi mình, cháu cứ sống ngày ngày dưới cái mảnh đất Thủ đô bon chen này để tìm việc càng tìm càng khó về nhà thì cháu không muốn mà nói đúng ra là cháu không dám ạ. Bố mẹ cháu cũng có khuyên về nhưng cháu sợ hàng xóm nói đi học Đại học mà lại không có việc (vì miền quê nghèo nhà cháu ít bạn đi học a). Cháu thực sự cảm thấy vừa mệt mỏi vừa sợ vừa lo lắng. Còn về chuyện tình cảm yêu đương thì càng thê thảm ạ. Trước cũng có vài bạn con trai có ý nhưng hình như bản thân cháu cũng k biết là mình nghĩ gì và cũng k biết cái tình yêu là gì nữa, bằng tuổi cháu có bạn đã lấy chồng, có bạn sắp lấy, và đa phần là đã có người yêu nhưng cháu thì chưa có gì nhiều người nghĩ rằng có thể do cháu nói dối hoặc có vấn đề gì đó. Nhưng cháu cảm thấy bản thân mình k sao. Chú ơi liệu con người có duyên số không hả chú? Hay mình phải đấu tranh giành cái số đó ạ? Cháu thực sự rất hoang mang về cái số của cháu ạ… Từ rất sớm ngay từ khi năm 2 khi các bạn của cháu vẫn vô tư hồn nhiên không nghĩ tới, tuy nhiên hơn nửa cuộc đời sinh viên của mình cháu lại sống quá thu mình, cháu chỉ biết đến giảng đường nghe thầy cô giảng, gần như cháu không tiếp xúc va chạm với bên ngoài mấy, cũng không theo học thêm bất kỳ một thứ gì khác, chỉ đến cuối năm 3 cháu mới nhận ra điều này cháu cố gắng để hòa mình nhiều hơn (mặc dù nỗi lo tương lai sẽ đi đâu về đâu vẫn tăng). Cháu cảm nhận được niềm vui nhiều hơn, có nhiều kỉ niệm hơn với bạn bè với thầy cô thì thời gian lại không còn nhiều. Cháu dần thấy nuối tiếc nhiều hơn… Nhất là trong những ngày cuối cùng của cuộc đời sinh viên, hôm nay chính thức chia tay cháu thấy rất buồn và hẫng hụt nhiều quá chú ạ. Cháu biết là chắc chắn phải chia tay bạn bè, thầy cô giáo nhưng mà cháu vẫn cứ muốn được có thêm nhiều thời gian hơn nữa, mấy ngày gần đây cứ những lúc một mình nước mắt cháu lại rơi ra. Cháu cứ muốn sống trong hoài niệm xưa. Có đôi lúc cháu có ý nghĩ thật điên rồ là thi lại đại học nhưng mà nghĩ lại thi lại bạn bè mình cũng có còn đó đâu. Cháu không biết làm sao và cảm xúc đó có dần biến mất không và rồi cháu sẽ phải đối diện với cuộc sống mới với những con người xa lạ như thế nào ạ. Chú cho cháu lời chia sẻ với ạ.

Khoảnh khắc chia tay thầy cô, bạn bè, trường lớp dẫu thật ngậm ngùi song sẽ không kéo dài lâu, cả nỗi sợ hãi tương lai cùng với niềm tiếc nuối dĩ vãng êm đềm quá dễ khiến mình rơi lệ, lo âu bâng quơ rồi cũng đi qua…

Trước tiên, tôi muốn chỉ ra rằng ngay việc cô gửi lá thư này đã là minh chứng cho một dạng thức của tính quyết đoán: nhận ra mình cần cải thiện điều gì đó và tiến hành bước đi đúng để sửa chữa, điều chỉnh nó. Nếu cô rà soát lại cả ngày, chắc chắn cô đã tỏ ra quyết đoán không ít lần… song đó không phải là kiểu quyết đoán đang gây cho cô phiền muộn.

Hầu hết các tình huống xã hội đòi hỏi tính quyết đoán thường trực. “Đây là bài kiểm tra tiếng Anh của tôi” hoặc “Tôi sẽ không la cà phố xá với đám bạn vào tối thứ Sáu”. Người ta gặp khó khăn ghê gớm với các tình huống quyết đoán mang chứa theo kèm các cảm xúc mãnh liệt. Như cô đã mô tả rất chính xác, khi một tình huống cảm xúc khởi lên, cơ thể mình phóng thích adrenaline và các hóa chất khác tạo nên một cảm nhận đầy cảm xúc “chiến hay biến”. Phóng thích các hóa chất này thường chuyển một tình huống quyết đoán vào một tình huống xung hấn như cô trải nghiệm. Nó cũng có thể gây cảm giác ngập tràn và tạo nên một hàm lượng cảm xúc quá tải, làm mình bật khóc, ứa nước mắt, bàn tay run nhẹ, lạnh cóng, căng cơ, và chân rung…

Khi chúng ta tê mỏi về mặt cảm xúc, bị bao vây bởi các tác nhân gây căng thẳng tinh thần (bố mẹ, công việc, tiền bạc, yêu đương, v.v…) và cơ chừng không thể chạm tới được mục tiêu ao ước (sự độc lập) thì trạng thái bi ai đó thường chứng tỏ một hạn mức stress cao độ.

Các mức độ cao về stress gây khó khăn trong việc ra quyết định những gì cần làm đầu tiên, tiếp theo, và những gì ngay lúc này đây không nên lo lắng. Điều đầu tiên cô sẽ cần tiến hành là giảm thiểu stress và nỗi niềm bi ai trong đời. Xác định các điều nào tạo nên stress và nhắm vào nhẹ bớt đi mức độ gây căng thẳng tinh thần. Nếu chúng ta có một người bạn hoặc thành viên trong gia đình hết sức căng thẳng, tỷ dụ thế, hãy đưa họ ra một khoảng cách an toàn hơn về mặt cảm xúc. Nói với họ sẽ gỡ khỏi sự dính mắc của mình trong nỗi niềm bi ai của chính họ chẳng hạn. Kiểm tra tình huống riêng của bản thân ta. Mình có đang làm việc chi hoặc mang thái độ khiến sự vụ tồi tệ đi? Nếu chúng ta đang có các quyết định không tốt, có thể chia sẻ với bố mẹ nếu điều ấy không gây cảm giác ngột ngạt.

Hạnh phúc, vui sướng thường là mức độ thể hiện cho việc các hành vi đưa chúng ta tiến tới với mục tiêu mong đợi. Nếu cô muốn độc lập, liệu cô có đang thực hiện hướng về chiều đó, hay hơi tệ chút, mình đang ứng xử hoặc suy tư theo cách khiến mọi người nghĩ mình khó mà trở thành người độc lập được? Cũng thử cố gắng tiến hành các kỹ thuật cá nhân quen thuộc làm giảm thiểu stress. Nếu thuận tiện, một nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu có thể giúp cô sắp xếp, phân loại các tác nhân gây stress cũng như xem xét ưu tiên cho các nỗ lực của bản thân cô.

Nguyên nhân lớn nhất cho các vấn đề nêu trên có thể lý giải như sau.

  • Thiếu hụt kinh nghiệm xã hội. Điều này thường gặp ở người mới lớn, chưa va chạm bao nhiêu với đời. Tuổi này có các phản ứng cảm xúc mạnh mẽ, kéo dài những rắc rối của giai đoạn thay đổi cuộc sống và biến chuyển nội tiết tố. Các bạn trong độ tuổi này cũng có thể ít kinh nghiệm xử lý các tình huống phức tạp đòi hỏi một số tính quyết đoán rất lớn song cảm xúc lại được kiểm soát. Qua nhiều năm, người trưởng thành phát triển các kỹ năng xã hội tạo nên tính quyết đoán, thậm chí trong các tình huống đầy cảm xúc thì họ vẫn đủ sức kiểm soát. Nói cho công bằng, thực tế, không phải người trưởng thành nào cũng thiện xảo, điệu nghệ trong việc quyết đoán kiểm soát cảm xúc, và các cơn thịnh nộ cũng không hiếm thấy trong những nơi chốn công cộng, địa điểm giao dịch, làm ăn. Trong tình huống mới tốt nghiệp này, cô có thể từ từ thực tập nâng cao hơn tính quyết đoán mỗi ngày. Định rõ dạng ý kiến, quan điểm quyết đoán mà cô có thể luyện tập.
  • Ký ức chan chứa cảm xúc thường tạo nên tình huống như cô đang trải nghiệm. Bộ não chúng ta ghi nhớ các tình huống cảm xúc và lưu lại cả tình huống và các cảm xúc mình cảm nhận lúc đó. Nếu chúng ta bị một con chó cắn, lần sau nhìn thấy một con chó chúng ta cảm thấy ghê sợ, kinh hãi (cảm xúc) và nhớ lại lần bị cắn trước đây (tình huống). Nếu bố mẹ hoặc những người khác có thái độ xung hấn khi cô biểu đạt ý kiến trong quá khứ thì cô có thể tạo thương đau hóa với những gì chính mình đang trải nghiệm. Việc cô khóc và cảm thấy phiền muộn về mặt cảm xúc đích thị là sự lưu giữ nỗi sợ hãi về những hậu quả cô từng nghĩ tới và gặp phải trước đây… Tôi từng có cơ hội làm việc với một cô gái trẻ mang bộ mặt nhăn nhó khi cô í biểu đạt bản thân rất cảm xúc. Chúng tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng mẹ cô gái trẻ này từng có thói quen tát vào mặt cô gái mỗi khi bà ta không hài lòng với lời giải thích của con gái. Những cái nhăn nhó ấy là “ký ức cảm xúc” của việc bị tát không ít lần và não bộ của cô gái trẻ sẵn sàng cho một cái tát khác mỗi khi cô í biểu đạt bản thân, thậm chí với người khác không phải mẹ mình.
  • Sự tự tin thấp cũng có thể tạo nên phản ứng như của cô. Có thể cảm thấy ý kiến của mình không đáng giá hoặc chẳng thích hợp. Nếu cô từng bị chỉ trích vì quan điểm, ý kiến hoặc phát biểu trong quá khứ (nhắc lại ‘ký ức cảm xúc’), cô có thể rất ngần ngại biểu đạt bản thân. Cô có thể tìm kiếm trên mạng hoặc mua, mượn sách đọc viết về sự tự tin và lòng tôn trọng chính con người mình. Cô cũng có thể bắt đầu bằng việc biểu đạt bản thân trong những tình huống không mang tính đe dọa gì lắm, tuần tự tăng dần lên độ căng cảm xúc của các biểu đạt. Tỷ dụ như kiểu đi từ ý “Tôi không quan tâm khoa học về nền điện ảnh tài liệu” tiến tới việc nói với người lớn “Cháu nghĩ chú đã không đối xử công bằng với cháu” hoặc với một cậu bạn trai nào đó “Mình không đáng bị đối xử với sự thiếu tôn trọng như vậy! Nếu nó xảy đến lần nữa, quan hệ giữa bọn mình sẽ chấm hết!” Ở tuổi của cô, có nhiều thời gian dành cho việc cải thiện các kỹ năng nêu trên.
  • Một mức độ stress cao độ trong đời cô có thể cũng dễ làm cho việc biểu đạt cảm xúc khó khăn. Thử tìm đọc sách báo về stress. Nếu các mức độ stress cao quá, tìm cách giảm thiểu nó và cùng lúc tăng cường sự tự tin. Nếu có điều kiện, nên cân nhắc việc tìm tới một nhà tham vấn tâm lý.

Ghi nhớ trong tâm trí mình rằng có một phản ứng cảm xúc khi mình biểu đạt bản thân là điều bình thường. Khi nhận diện, kiểm soát và sử dụng đúng đắn, nó tạo nên ‘chất lửa’ trong phát ngôn, tính kịch của hành động thể hiện, ‘độ mãnh liệt’ trong sự biểu tỏ đậm tính nghệ thuật, và sự chắc thật trong một lời hứa.

Hãy đơm hoa kết trái cho tương lai đầy hứa hẹn vẫn không ngừng mời gọi còn mở rộng trước mặt.

Huấn luyện viên và nhà tham vấn/ tâm lý trị liệu: vài khác biệt cơ bản

Vài năm trở lại đây, hướng đạo đời sống và các huấn luyện viên (coaches) mở rộng vị thế trong các ngành nghề liên quan đến chức trách trợ giúp. Tuy thế, ranh giới giữa những gì là một huấn luyện và gì là một nhà tham vấn và trị liệu tâm lý (counselors/ therapists) vẫn thiếu vắng xác định nghiêm túc, từ cả phía khách hàng lẫn bên cung cấp dịch vụ. Tôi nghĩ tới việc chỉ ra vài khác biệt cơ bản giữa huấn luyện viên và nhà trị liệu tâm lý do nhận được đề nghị bình luận với các thông tin liên quan (1, 2).

Ngoài điểm khác biệt nền tảng thuộc giáo dục (bằng cấp, kéo theo đòi hỏi các tiêu chí đào tạo chuyên biệt, tính chuyên nghiệp và đạo đức hành nghề) thì có một vấn đề rất cốt lõi cả huấn luyện viên lẫn nhà tham vấn tâm lý dễ dàng tán đồng ngay: huấn luyện viên không ngụ ý điều trị các rối loạn tâm thần; ranh giới này thường đặt để rõ ràng trước phiên làm việc đầu tiên.

Với tỷ lệ không hề nhỏ dân số có thể sẽ được chẩn đoán mắc một dạng kiểu rối loạn tâm thần nào đó thì cơ hội một người phát triển trạng thái rối nhiễu còn lâu mới là điều vớ vẩn. Và khi một rối loạn nổi trội, điều cuối cùng thân chủ muốn thường là thay đổi người cung cấp dịch vụ. Một huấn luyện viên nghiêm túc có thể chuyển gửi thân chủ, song họ không phải là chuyên gia trong nhận diện và chẩn đoán rối loạn tâm thần do đó, vẫn tiềm tàng nguy cơ bỏ sót các dấu hiệu, triệu chứng… Thực tế, hiếm khi nghe thấy việc chuyển gửi thân chủ sang trị liệu tâm lý do đó, biết hay không, các huấn luyện viên đang làm việc với rối loạn tâm thần.

Đặt sang bên các sự kiện khách quan về huấn luyện viên và nhà tâm lý trị liệu, cả hai nhóm này có văn hóa và niềm tin khác hẳn nhau. Hơn thế, huấn luyện viên thường phân biệt họ với nhà tâm lý trị liệu về các vấn đề này, và điều ấy hết sức đúng đắn. Tuy vậy, một số điểm khác biệt thường nghe lại đặc trưng hóa sai lầm tiến trình trị liệu, và vì thế thật hoan hỉ để nói về nhà trị liệu tâm lý với tư cách một nhà trị liệu tâm lý.

Thường nghe rằng các nhà trị liệu tâm lý bảo thân chủ điều nên làm trong khi huấn luyện viên giúp thân chủ phát hiện những gì họ muốn thành tựu. Ngay cả khi huấn luyện viên tuyên bố đúng đắn họ đề cao các mục tiêu của thân chủ thì đấy là sự thật tương tự với nhà trị liệu tâm lý: được huấn luyện cách đặt để các mục tiêu với thân chủ; nhận ra rằng các mục tiêu do thân chủ chọn lựa là dạng mang tính động cơ nhất và vì thế, thuận ý họ.

Các huấn luyện viên gắng định vị bản thân như người biện hộ và bênh vực cho các thân chủ khao khát thành công rực rỡ còn các nhà trị liệu tâm lý nhắm vào các rối loạn và trục trặc liên quan sức khỏe tâm thần. Trong khi các nhà trị liệu tâm lý chắc chắn thành thạo để làm việc với người mắc rối nhiễu tâm lý theo cách thức mà huấn luyện viên không đáp ứng được thì nhà trị liệu tâm lý như một nguyên tắc, không hề hạn chế bản thân chỉ trong phạm vi điều trị rối loạn tâm thần; kỳ thực, nhiều thân chủ khao khát thành công rực rỡ sử dụng tham vấn/ trị liệu tâm lý như một nguồn dậm nhảy đặng vươn tới các mức độ hiệu năng lớn hơn và phát triển cảm xúc dồi dào.

Tiến trình trị liệu tâm lý đôi khi hay được đặc trưng hóa là thuộc dài hạn, đau đớn và nhắm vào quá khứ, đối lập với việc huấn luyện thường nhanh chóng và nhắm vào các thành tựu tích cực của tương lai. Có rất nhiều dạng thức trị liệu tâm lý đòi hỏi dài hạn và nhắm vào quá khứ mà rõ nhất là các cách tiếp cận tâm động (psychodynamic psychotherapy) truyền thống; dẫu vậy, các nhà trị liệu tâm lý đa phần không thực hành dạng thức trị liệu này và xu hướng trị liệu tâm lý tiến về các cách tiếp cận cho các thay đổi nhanh chóng trong các hành vi tiến bộ. Trị liệu ngắn hạn nhắm vào giải pháp (SFBT) thông dụng nhất thuộc các cách tiếp cận nhanh lẹ, hướng về phía trước vừa nêu.

Cả huấn luyện viên và trị liệu tâm lý đều là các nghề nghiệp tiến triển. Hy vọng ranh giới các vấn đề giữa trị liệu tâm lý và huấn luyện sẽ sớm được chuyển đối theo thời gian. Huấn luyện viên và nhà trị liệu tâm lý nợ chính thân chủ của mình sự xác định thật chính xác và đúng đắn cách tiếp cận và phạm vi thực hành.

Nhân đây, cũng cần biết rằng, với bất kỳ ai đang gặp phiền nhiễu ghê gớm và với ai đó tin rằng vấn đề trục trặc của họ có thể do nguyên nhân thuộc cơ thể, sinh lý thì khuyến cáo đơn giản quan trọng nhất là đến nhờ một bác sĩ tư vấn trước đã.

Mức độ hiểu biết y khoa và tâm thần học mà các nhà tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể nắm giữ, tinh thông trong công việc thì khác biệt khá lớn giữa các cá nhân và giữa các quốc gia, và dĩ nhiên, ngay tại Việt Nam, vẫn có các nhà tham vấn hoặc trị liệu tâm lý hiểu biết ít ỏi kiến thức y khoa, tâm thần thậm chí, không hay biết chút gì.

Nên chi, một nhà trị liệu thuần thục sẽ khuyến cáo thân chủ tìm đến một vị bác si nếu anh/ chị ta nghi ngờ vấn đề rối nhiễu của thân chủ có thể do nguyên nhân thực thể, thậm chí, rất có khả năng ngay cả với các dự tính thiện lành, anh/ chị ta đã không phát hiện được các triệu chứng, nên lần nữa, nếu bạn nghi ngại bất kỳ trục trặc nào thì cách tốt nhất đảm bảo an toàn là sự lặp lại đáng giá: đến nhờ một bác sĩ tư vấn trước đã.

Nhờ một bác sĩ tư vấn cũng là bước đầu tiên quen thuộc của nhiều người khi tìm kiếm một nhà trị liệu tâm lý. Không ít cơ sở y tế liên kết, tổ hợp trong hệ thống các dạng thức dịch vụ tư vấn/ trị liệu tâm lý nọ kia. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cũng sẽ ít hơn hoặc không có lựa chọn với các định hướng lý thuyết thuộc tham vấn/ trị liệu tâm lý có thể được tiếp cận dễ dàng thông qua mạng lưới tham chiếu thuộc ngành y tế…

… Câu cửa miệng hay nghe là “thực hành tạo nên sự hoàn hảo”; thậm chí, có thể đẩy lên thành ‘thực hành không tạo nên sự hoàn hảo, chỉ có thực hành hoàn hảo mới tạo nên sự hoàn hảo’. Song, những gì tạo nên sự hoàn hảo và làm thế nào để mình hoàn hảo việc thực hành thì đó là chủ đề để dành cho một bài viết khác.

“Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử?”

Thiệt là mắt làm hại não, vì do cái nhìn xớn xác thiếu tập trung nên tôi liếc thấy tiêu đề bài báo quả dễ gây tò mò.

Và trong phần tranh luận với đại diện VKS, trong phần đối đáp cũng kéo dài chừng 120 phút, bị cáo Nguyễn Đức Kiên lại đặt thêm một câu hỏi khác: Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử không? Minh chứng cho câu hỏi này, ông Kiên nói mình đã tuân thủ pháp luật Việt Nam và thực hiện mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Sở dĩ ông Kiên đặt ra câu hỏi đó bởi vì có hàng ngàn người đang kinh doanh cổ phần, cổ phiếu giống như ông Kiên, họ cũng góp vốn và đầu tư giống như ông Kiên, họ cũng ký hợp đồng ủy thác giống công ty mà ông Kiên đại diện pháp luật nhưng chỉ một mình ông Kiên bị khởi tố vì tội kinh doanh trái phép, trốn thuế và cố ý làm trái quy định của Nhà nước.

Bị cáo Kiên lý luận rằng trong cùng một điều luật, một nền tư pháp nhưng chỉ một mình ông bị phân biệt đối xử, trong khi mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật.

Bị cáo này cũng cho rằng nếu không phải VKS đang phân biệt đối xử với ông thì hàng ngàn cá nhân, doanh nghiệp khác đang đứng trước nguy cơ bị khởi tố, còn các cá nhân đảm nhiệm các chức vụ trong các cơ quan chức năng sẽ phải đứng trước nguy cơ bị cáo buộc về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng bởi đã không ban hành kịp thời các văn bản luật để hướng dẫn các doanh nghiệp.

Không ngó ngàng các vụ án hình sự đã lâu, đặc biệt lại chẳng quan tâm hành tung chi chi của vị đầu bạc này nên hầu như u ơ tình tiết đúng sai, phải tội. Điều duy nhất tôi biết chắc dù chưa nghe đài, đọc hoăc đoán về bản kết luận vụ án là kẻ nào trở thành đối tượng bị phân biệt đối xử tất sẽ gánh chịu hậu quả bất công, và nếu anh ta lại còn la làng phản đối thì càng bị vít đầu gấp đôi oan ức.

Hiện tượng này chẳng quá hiếm thấy trong xã hội. Nhiều nghiên cứu không chỉ nhắm vào khía cạnh sắc tộc mà đề cập cả tình dục như những đối tượng bị bêu riếu và phải lên tiếng khi trải nghiệm cảm giác bị đối xử không mấy thiện chí.

Ví dụ liên quan đến một trong các thực nghiệm; người tham gia đọc tin một người Mỹ Phi châu bị điểm kém trong một bài test. Một số học hỏi rằng không có khả năng nào bị đánh điểm vì nan phân biệt đối xử với người da den cả; một số khác được bảo là có khả năng 50%; và số còn lại thì nghe nói rằng sự phân biệt đối xử là chắc chắn 100%. Một vài người trong từng nhóm  được kể rằng kẻ làm test nói anh ta bị đánh rớt vì sự phân biệt đối xử; một số khác thì được bảo anh ta quy điểm số của mình do các yếu tố khác như mức độ khó của bài test hoặc chất lượng câu trả lời của bản thân.

Người đọc thấy rằng kẻ làm test quy điểm số do bị phân biệt đối xử thảy đều coi anh ta như rơm rác. So sánh với những ai đọc thấy anh ta quy điểm số vì các yếu tố khác, người đọc về sự phân biệt đối xử có xu hướng nói người đàn ông ấy là kẻ gây rối hoặc hạng người hay kêu ca, phàn nàn; họ cũng tỏ ra ít thích anh ta hoặc không hề nghĩ anh ta sẽ là một người bạn tốt.

Phát hiện kế tiếp còn gây ngạc nhiên hơn hẳn. Không thành vấn đề xác suất khách quan rằng người đàn ông ấy đích thực bị phân biệt đối xử. Ngay cả khi hoàn toàn chắc chắn rằng anh ta bị điểm kém vì người chấm thể hiện thái độ phân biệt đối xử chống lại người Mỹ gốc Phi thì mọi người vẫn cứ đánh giá anh ta càng thêm tiêu cực khi anh ta tuyên bố mình bị phân biệt đối xử chứ không im lặng.

Có lẽ, người ta muốn những kẻ khác chịu trách nhiệm hơn là đổ lỗi kết quả của bản thân sang các yếu tố ngoài mình. Song chỉ ra các yếu tố ngoại giới khác hơn là sự phân biệt đối xử (ví dụ, độ khó của test) không làm hạ thấp được mức độ tiêu cực và việc chửi rủa do sự phân biệt đối xử tạo nên.

… Khi một người là đối tượng nhắm tới của sự phân biệt đối xử thì đấy là điều tốt lành và cao quý để tỏ thái độ bảo vệ cho người đó. Tuy nhiên, một nghiên cứu lại chỉ ra rằng có một cái giá đắt cho cả người quan sát khi họ trỏ rằng kẻ khác là đối tượng bị phân biệt đối xử. Lần nữa, người quan sát kẻ khác bị phân biệt đối xử nhìn nhận quá gắt gao, khó chịu nếu họ biết rõ đối tượng bị đối xử bất công và bị phân biệt hơn là khi họ không hay biết gì về điều đó. Họ, cũng nhìn đối tượng bị phân biệt đối xử như những kẻ gây rối và hay ca cẩm, những kẻ đa sự và nhạy cảm quá.

Lúc một người quan sát đang chỉ ra sự phân biệt đối xử, điều ấy không thể nói rằng người quan sát nên chịu trách nhiệm cá nhân cho kết cục xấu tệ. Người quan sát không phải là kẻ trải nghiệm kết  cục xấu tệ. Các tác giả nghiên cứu tin rằng những gì đang thực sự diễn ra là nhiều người muốn tin tưởng hệ thống công bằng, bình ổn. Nếu ai đó đạt được một điểm số tốt hơn hoặc nhận công việc ngon lành thì điều ấy là do họ giành được và xứng đáng hưởng. Một tuyên bố phân biệt đối xử đe dọa niềm tin về một hệ thống chính trực và thế giới công bằng.

Quay lại về vụ ‘bầu Kiên”; những lời phát biểu sau cùng  của bị cáo này trước hội đồng xử án vẫn tỏ rõ khí phách và không hề nhận tội. Tôi còn nghĩ đến tâm cảnh của bạn phóng viên viết mục Sổ tay trên báo Tuổi trẻ đã thượng dẫn. Dường như có một tâm lý ngấm ngầm không hề báo trước ở đây, khi dư luận cơ chừng bức xúc trước sự bó vỉa khủng khiếp của sự phân biệt đối xử rờ rỡ, tựa như đang thể hiện kiểu lối đồng vọng sâu xa thông qua việc chính bản thân trải nghiệm ít nhiều cảm giác bị đối xử bất công và oan trái vậy. Và dĩ nhiên, lực lượng đối lập và có quan điểm trái ngược cũng không hề im hơi lặng tiếng…

Cơn vận bất trị

Hiền, điên và tình, tiền dính liền: phiền
Hiền, điên và tình, tiền dính liền: phiền

Những ý kiến nổi loạn là thứ phản ánh không thuộc dạng con gái quê kiểng nhà lành ngoan ngoãn.

Có thể xem là kỳ cuối chuẩn bị tiến tới ngày tự tứ, với những dằng dặc lo toan và bồi hoàn cho vô vàn sám hối, thú tội lẫn nỗi niềm thoáng vội.

Dù bản chất chẳng tương hợp chút nào với mớ khái niệm cỡ vậy thì đâu khó nhận ra cảm xúc bản thân trái ngược vô cùng với thường lệ hàng ngày.

Nổi loạn là hạt giống gieo trồng của thay đổi và tiến hóa. Tôi nghe thấy điều ấy khi nhận ra biết bao tức giận, bất mãn, phản kháng ở người đối thoại. Không có cuộc chiến nào mỏi mệt và dễ thua cuộc từng chặng bất ngờ như lúc người phụ nữ hoài thai; cái sự đau đớn bảo bọc hợp với niềm vui cưu mang: độ căng của cảm xúc lý giải tại sao trạng thái mất cân bằng quá dễ xảy ra sau sinh, vốn được gán nhãn cho dạng rối loạn lưỡng cực.

Chứng kiến sự dũng cảm và sức mạnh khủng khiếp đối chọi với thứ suy nghĩ, quan điểm chính thống và hiện diện những lối cách mới ngõ hầu nhìn vào thế giới tất cả chung đụng và chia sẻ.

Không sở hữu bất an dây dưa ấy thì hiếm ai đố dám nhìn các sự, điều theo kiểu thức mới, xã hội do vậy thách có mà tiến bộ cái mồm. Bởi khởi sự một cuộc thảo luận các ý tưởng, người trong cuộc trợ giúp kẻ khốn cùng ôm ấp và chứa đựng quyết định dám làm cuộc thay đổi, chuyển hướng tình hình vào chính thời điểm sát hợp.

Người đời quen thói kiếm tìm trạng thái thoải mái của nguyên trạng. Mang nặng đẻ đau là liều lĩnh dấn thân vào cuộc phiêu lưu đặng nhìn vào điều bất tri, chưa tỏ tường và những bất khả mơ hồ từ xó xỉnh nào ló dạng…

J. Soi (20): Mở sao chớ tạo cớ ơ thờ

Những ngày mùa hè nắng nóng khiến làn da và cơ thể nói chung dễ bị chán ghét. Cơ mà, đó chỉ là vài ba dịp gây khó chịu nhất thời với lý do hoàn cảnh rất đáng thông cảm thôi, còn thì hiếm khi người ta dám nghiêm trang ngẫm nghĩ kỹ càng rằng chỉ có kẻ điên mới mê thích cơ thể, thân xác mình.

Vật thiết thực, gần gũi vô cùng với hầu hết chúng ta chắc là cây quạt. Đôi khi, mình lại nổi cáu và mệt mỏi bởi đồ, món sở hữu và các thứ đích thị bốc mùi. Chúng ta băng qua thời gian này với bời bời suy nghĩ nhiều, ít và đa phần là về những thứ nên làm. Hình như luôn luôn có nhiều chuyện cần tiến hành song chẳng điều nào được hoàn thành cả. Sau đó, sự trần tục dồn đống lên và chúng ta thành ra tê liệt với đủ mớ ba hoa đẩy lên facebook. Thiệt tình, nào có gì xấu xa, tồi tệ cả, ngoại trừ nó là hơi chút mòn chán, nhạt nhẽo.

Giải pháp quen thuộc, dễ cầm nắm lấy ngay là hướng tới đồ vật mới. Thay thắt lưng vì cái cũ gắn bó đến độ cũ mèm và tơi tả quá mức; tậu bình đựng nước à la mode; trữ vài chục miếng phổ tai; thay lưỡi dao cạo râu trước khi nó để lại dấu sẹo hầm hố… Tất cả, sự mát lành của mối quan hệ dan díu thầm kín tơ tưởng lâu nay ấy đến từ trải nghiệm tinh khôi, có một phương cách siêu tuyệt đặng làm con tim bồi hồi đập lại vô cùng bềnh bồng.

Dẫu là đồ vật mới hay các quan hệ bắt đầu khởi động thì tính mới mẻ, tươi tắn, nguyên khai vẫn kịp đổ đầy đời ta với niềm vui tưng bừng, ngây ngất. Song, khoái cảm (vốn do chất adrenaline thúc đẩy ghê gớm) cần được thận trọng đề phòng bởi trạng thái quá cởi mở. Lần nữa, không gì sai trái trước chuyện săn đuổi mệt nhoài các giấc mơ cơn mộng, thú thiệt là tất cả những gì triển khai rốt ráo ra chúng ta sẽ không bao giờ biết chắc mình rồi đây mình tìm thấy thứ gì. Thật dễ dàng để lạc lối, đánh mất mình trong cái lạnh.

Điều huyền bí khởi đi thông qua trạng thái mở chỉ đủ để cảm thấy mát lành mơn man mà không buộc phải tràn vào bóng tối lạnh lẽo. Thậm chí, ngay cả khi chúng ta nghĩ mình đang cũ rích và gãy đổ, luôn luôn có một lý do cho trải nghiệm khe khẽ của sự đổi thay.

Và nếu nó trở nên quá lạnh lùng thì cũng chẳng cần lo lắng lắm. Chúng ta có thể nhìn vào sự ấm áp của bạn bè và người thân trong gia đình mà tạo lập, gia cố thêm cho sự mát lành nhè nhẹ và phơn phớt tình thương mến thương cuộc đời này.

Trong sự xoắn bện mơ hồ của nỗi sợ hãi và bối rối…

Vụ việc hàng trăm học sinh bị rút máu không khó để quy trách nhiệm đầu tàu cho đại học Vinh cũng như dễ dàng nhìn ra rằng nó gắn chặt hết sức sâu xa với vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.

Điều khiến tôi quan tâm khi tình cờ đọc thấy thông tin trên là cảm nhận nguy cơ ác cảm (loss aversion)– thích lảng tránh những sự mất mát, thiệt thòi để hướng tới của kiếm được, lợi lạc– một khuynh hướng hết sức quyền uy.

Sự kiện này tiếp tục phản ánh tri nhận của giới bác sĩ y khoa về đối tượng bệnh nhân (tiềm năng).

Có nhiều thứ đối với nền y khoa tốt lành hơn là một kỹ thuật viên giỏi giang.

Biết thật rõ ràng cách thức thông tin được trình bày trong các quyết định ngầm sẵn định kiến có thể bổ ích cho cả bác sĩ lẫn bệnh nhân ngõ hầu kiến tạo nên nhiều quyết định hữu lý hơn hẳn.

Tôi cũng khá băn khoăn rằng liệu hiện diện bất kỳ lý do nào khiến người ta không có nguồn năng lượng để lo lắng cho tha nhân? Sở hữu lòng từ bi (compassion) và thấu cảm (empathy) vì con người, chúng sinh đâu đồng nghĩa mình sử dụng nó. Lòng từ bi cũng tựa như tình yêu vậy: càng cho đi nhiều thì mình càng có thêm nhiều để cho đi.

Tâm lý học vốn hay sử dụng rộng rãi với độ tin cậy cao trắc nghiệm Big Five để đánh giá các nét nhân cách căn bản. Nét nhân cách lớn nhất của Big Five là sự tận tâm (conscientiousness). Nghiên cứu chắc chắn và nhất quán cho thấy nét tính cách này là đòi hỏi tối thiểu cho sự thành công trong công việc. Theo đó, người đạt điểm số cao ở nét nhân cách này được tri nhận là đối tượng mang tính kỷ luật bản thân (self-discipline), hành động đầy tinh thần trách nhiệm, mục tiêu hướng tới thành tựu, có óc tổ chức và  đáng tin cậy.

Chúng ta không mong đợi các bác sĩ y khoa cũng là nhà tâm lý học. Song chúng ta có thể kỳ vọng việc tiếp tục giáo dục y tế có thể cung cấp các kỹ năng truyền thông và những sự thấu hiểu tâm lý cần thiết đặng trợ giúp các bác sĩ ngành y trở thành kiểu dạng người mà họ muốn được là…