Giữa đớn đau vì mất mát, nhận ra giận dữ và thất vọng

Chắc rồi tin tức cậu học sinh lớp 10 rời xa nhà, xuống thành phố đi học ở trường tư Nguyễn Khuyến vừa lựa chọn tự tử gần đây sẽ được thay thế bằng tin tức một người trẻ nào đó lại kết thúc sớm đời mình.

Lâu nay, câu chuyện trẻ vị thành niên, mới lớn tự sát chưa bao giờ thôi gây thắc mắc, và ‘tại sao’ thường trở thành tâm điểm dò tìm, mong đợi trả lời thoả đáng. Trước một sinh mạng tuyệt tận, chúng ta ít nhiều đều bị tác động, ảnh hưởng.

Khi nghĩ tới kẻ nay đà khuất bóng, các phẩm tính nhân văn khiến chúng ta khởi sinh lòng từ bi; song khi chú mục xác định nguyên nhân gây nên cái chết, chúng ta sẽ dễ dàng cảm thấy tức giận.

Đôi khi không tức giận chi thì hoá ra đồ vô tri vô dụng, song hồ như chúng ta khó thấy rằng cơn giận chẳng mấy chốc kiểm soát chúng ta. Cần cẩn thận với sự bùng phát đột ngột. Nếu đó là sự trả đũa nhắm vào tội phạm mà không khiến những sinh linh bé nhỏ khác mang vạ, tốt; vì chẳng trả đũa gì cũng có thể sai, và nó thường bị hiểu nhầm. Và một trong những cách thể hiện bất bạo động hữu ích là vun bồi tư duy đúng đắn và có cái nhìn chắc thật, toàn diện.

Nghe xem tin tức bạo lực và chết chóc, nhiều cảm xúc xáo trộn khủng khiếp, lắm lúc thật ước gì trơ khấc, bất động đặng khỏi đau đớn, tổn thương. Song lần nữa, nếu nhìn sâu vào tâm trí mình, lối trỏ lại chỉ về hướng giận dữ. Thực tế, xảy ra điều đó cũng là bình thường, dù kỳ cùng thì không nên để cảm nhận ấy giữ mãi mức độ tức giận…

Nhân mất mát vừa qua, thử xem kiến thức tâm lý học cơ bản cho chúng ta hiểu biết gì?

Trạng thái cảm xúc bao gồm mẫu hình chứa các phản ứng nhận thức, sinh lý, và hành vi đối với các sự kiện xảy ra; nói khác, cảm xúc liên quan chặt chẽ với động cơ: chúng ta phản ứng một cách cảm xúc với các thôi thúc và mục tiêu ưng cái bụng, bị đe doạ hoặc hụt hẫng… Cảm xúc trỏ các cảm giác chứa đựng sự đánh giá chủ quan, các tiến trình sinh lý, và niềm tin nắm giữ lâu nay.

Trong khi đó, tâm trạng thì là trạng thái khuếch tán cảm xúc kéo dài mà nó quấy nhiễu ghê gớm cả suy tư lẫn các hành vi, ứng xử.

Còn stress được hiểu là mẫu hình gồm các đáp ứng mang tính hành vi và sinh lý đối với các sự kiện mà năng lực người ta phù hợp hoặc quá tải.

Nôm na, khả năng phục hồi là phẩm tính sáng giá mà ai đó bị đời đánh bầm dập, lên bờ xuống ruộng te tua xơ mướp chẳng hạn vẫn đủ sức chịu đựng, quay về ‘lợi hại hơn xưa’. Thay vì bị thất bại đè bẹp hoặc cạn kiệt giải pháp, người sở hữu khả năng phục hồi tốt có thể tìm ra cách ‘rũ bùn đứng dậy sáng loà’. Một số yếu tố đảm bảo sự phục hồi hiện thực là thái độ tích cực, lạc quan, khả năng điều chỉnh cảm xúc, và cả khả năng nhìn thất bại dưới dạng giúp mình phát hiện các khiếm khuyết cần bổ sung, thay đổi…

Làm kẻ mới lớn đồng nghĩa là tâm tính khó yên ả, cảm xúc đôi hồi bất chợt, náo động khó hiểu, áp lực học tập, lòng tự tin, kinh nghiệm sống…  Tự sát đứng hàng thứ ba sau việc bị giết hại và tai nạn với độ tuổi từ 15 tới 24.

Dưới góc nhìn tâm bệnh học, tự sát ở tuổi mới lớn là hiện tượng phức tạp, và quyết không bao giờ vì một lý do duy nhất. Đấy là cách tiếp cận đòi hỏi tăng cường phòng ngừa với các yếu tố bảo vệ, xét yếu tố nguy cơ thì lo lắng xuất hiện khả năng tự làm hại và quyên sinh,  chẳng hạn dễ nảy sinh dự tính tự sát với người nữ, điểm học tập thấp, nghèo hèn, và không sống hoặc chỉ sống cùng với bố/ mẹ (Yeojin et al, 2017); hay người ta thấy các yếu tố sẽ dễ khiến người trẻ Thái Lan tự sát: (1) bị quát mắng thậm tệ và nguyền rủa chết đi bởi thành viên gia đình; (2) không thoả ước mong hoặc bạn trai chẳng lưu tâm trong lần đầu yêu đương; (3) mang thai ngoài ý muốn, và (4) mắc rối loạn tâm thần khiến cảm xúc bùng nổ và các xung năng bộc phát chẳng khống chế nổi (Supattra et al, 2015).

Phân tích số liệu của WHO về tỷ lệ tự sát của nhóm tuổi 15-19 trên toàn thế giới, từ 1990- 2009, cho thấy (Kain et al, 2016), lý do ở các nước phương Tây con số tự sát giảm có thể liên quan tới những cải thiện trong sức khoẻ nói chung; các quốc gia Nam Mỹ tăng thì khả năng là do khủng hoảng kinh tế và tác động của nó tới các gốc gác văn hoá đa dạng, một phần cũng bởi sự tiến bộ trong việc vào sổ bộ sinh, tử…

Hẳn là, ngay cả khi không đói ăn khát uống thì não bộ và hệ thần kinh của trẻ lớn lên trong thế giới nhiều ưu đãi và sung sướng về vật chất có thể phải chịu đựng loại căng thẳng ghê gớm chẳng kém: liên quan nhiều tới tâm lý hơn là áp lực vật chất, và chúng phải đương đầu với sự thất bại thay cho nỗi lo sợ suy kiệt cơ thể…

Với tư cách là những nhà quản lý và giáo viên, chúng ta không thể chấm dứt sự căng thẳng tinh thần trong đời sống học sinh- sinh viên, song chí ít chúng ta có thể tránh thêm stress vào nữa.

Cách hiệu dụng để thực thi điều này vốn là lời tuyên thệ dùng cho những ai hành nghề trợ giúp: Trước tiên Đừng Gây Hại (Do No Harm).

Vậy chúng ta hãy ưu tiên chăm lo bản thân chu đáo, chịu trách nhiệm về tâm trí mình để tự do cho phép chúng ta dùng tâm trí thật đích đáng, và sẵn sàng học hỏi nhiều hơn đặng cảm thấy phúc lành của trạng thái hiện diện, tình bằng hữu, khả năng thực hành, và sự giải thoát.

Khi người mình thương yêu nảy sinh ý nghĩ muốn chết

Những chuyện như thế luôn dễ khiến người ta cảm thấy đau lòng nếu biết được và nghĩ tới rồi buộc phải sống cùng về sau. Thực tế, các mối quan hệ thân mật có thể trở nên vô cùng khốn khổ vào thời điểm mà một hoặc cả hai người thiếu vắng lòng tự tôn (self-esteem) cùng khả năng điều chỉnh cảm xúc.

Những mối quan hệ lành mạnh và thỏa mãn đôi bên lại thường dựa trên các nền tảng như sự tương kính, tin tưởng, và cảm nhận về lẽ công bằng, đoan chính. Đối xử với bản thân như đối tác ngang bằng để rồi xem xét các cảm xúc nảy sinh; việc này có thể làm khởi lên sự tức giận hoặc tội lỗi, song các cảm xúc ấy nên bị loại trừ, chứ không nhất thiết là nguyên tắc. Thậm chí, chúng ta còn muốn kỳ vọng vợ/ chồng, anh/ cô cảm thấy tồi tệ vì đã đối xử với mình thật cay nghiệt, thôi thúc một lời xin lỗi và bận tâm cách thức mình bị tác động đến mức nào.

Tin tưởng không đơn thuần là mong được xem mình đáng tin cậy mà còn là giả định rằng mình không bao giờ hành xử theo các cách thức cố ý gây tổn thương cho vợ/ chồng/ người yêu mình. Vậy nên, khi vợ/ chồng/ người yêu tom góp các điều bạn phát ngôn như là dấu hiệu mang ý nghĩa và dự tính gây tổn thương, chắc chắn cô ấy/ anh ấy không tin tưởng bạn đang cân nhắc, để ý tới các cảm xúc của riêng họ. Những diễn giải sai lạc ấy có thể là hậu quả của lòng tự tôn thấp ở vợ/ chồng/ người yêu bạn, song nó còn có thể liên quan tới cả niềm tin tưởng vào tình yêu bạn dành cho họ và nhận ra rằng các diễn giải tiêu cực là kết quả của tự thân vấn đề của cô ấy/ anh ấy phóng chiếu vào các bình luận, phát biểu của bạn.

Với tất cả điều trình bày trên, hành vi quá khứ của cô ấy/ anh ấy ‘làm việc’ cho bản thân bởi vì nó cho phép họ thông thoát những nỗi niềm hụt hẫng, đổ lỗi tại bạn với những gì xảy đến sai trái trong đời, và tiếp tục muốn được chăm sóc…

Khi một người thương yêu có dự tính tự sát dường như vì chúng ta thực hiện hoặc không làm điều gì đó, chuyện ấy tự nhiên dễ khiến chúng ta cảm nhận như là trách nhiệm và do đó, tội lỗi. Tuy vậy, chúng ta cần nhớ, dù nỗ lực chia tay hoặc ly hôn là thứ đào sâu ngay lập tức ước muốn tự sát, các vấn đề vốn có nguồn cơn từ lâu rồi.

Đừng ngạc nhiên nếu bạn được mong đợi phản ứng tựa như cách quen hành xử trước đây, và quả khó khăn nếu không làm thế. Bạn có thể tìm kiếm một người bạn thân hoặc người nhà biết rõ tình huống và dự tính định thực hiện đủ để người đó trở thành nguồn trợ giúp và có một cái nhìn khách quan nhất về tình huống đang đương đầu. Các ý nghĩ tiến dần đến chuyện tự sát không dễ nắm bắt và kiểm soát.

Khi chúng ta trở nên trầm uất, não bộ hành hạ với cả dãy suy tư khủng khiếp; chúng bắt đầu với những ý nghĩ buồn nản, thôi thúc tới ý nghĩ muốn chết, rồi kết cục với những suy tư tự sát và dẫn đến nỗ lực quyên sinh, chấm hết đời mình.

Danh sách tuần tự có thể diễn tiến như này:

  • Mình là một cậu con trai, con gái, bố, mẹ, vợ, chồng, người yêu, đồng nghiệp, bạn học… thất bại, v.v….
  • Mình trở thành gánh nặng cho những ai yêu thương mình.
  • Mọi người yêu mình sẽ đích thực tốt hơn hẳn nếu mình không có mặt, loanh quanh với họ ở đó nữa.
  • Mình không muốn chết, song sẽ ổn thỏa và xong xuôi hết mọi chuyện nếu mình không còn sống.
  • Hầu như mình hy vọng mình bị chết bởi một tai nạn hoặc mắc một căn bệnh chết người.
  • (mình huyễn tưởng về những cách tự sát vào lúc này: treo cổ trên cây, nhảy xuống sông, uống thuốc, v.v…)
  • (huyễn tưởng nên nói gì trong lá thư tuyệt mệnh để lại cho những người thương yêu như vợ/ chồng/ người yêu mình)
  • Mình chắc chắn nên chết đi cho rồi
  • Có thể mình thực nghiệm với các tư thế, điệu bộ khi tự sát ở thời điểm này
  • Tạo ra một nỗ lực tự sát.

Đấy là sự khởi đầu cho cả cơn lũ suy tư về chuyện tự sát đổ xuống dồn dập. Nên tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn ngay lập tức, và thường không khó điều trị song càng sớm càng tốt. Nếu mình lần lữa trị liệu, các suy tư khác sẽ chảy tràn theo về…

Không bao giờ mất đi người mình yêu quý

Có lần, vị thiền sư tên Foyin đã cứu sống một phụ nữ định quyên sinh nơi dòng sông, rồi hỏi nàng tại sao nàng muốn chết, nhất lại là nàng đang còn rất trẻ.

Người đàn bà đáp, lấy chồng mới ba năm, song khi con trai mất, chồng đâm bỏ bê, không thèm ngó ngàng gì vợ. Do đó, cô cảm thấy đời sống hiện tại chẳng có gì ý nghĩa nữa. Vị thiền sư hỏi tiếp, thế đời sống của cô trước hôn nhân như nào. Hồi tưởng, người phụ nữ thấy đấy là thời thật vô lo và mọi thứ như ý. Vị thiền sư lưu ý rằng, ngay hiện tại lúc này, cô chỉ việc quay về với giai đoạn ba năm trước; lúc đó, cô đâu có chồng con, giờ cô cũng không có họ. Một cách căn bản, xét toàn thể, cô không hề có sự mất mát đích thực nào. “Công án” vị thiền sư nêu ra: nếu cô ấy có thể vô lo ba năm trước, tại sao cô ấy lại quá sầu muộn ba năm sau?

Chúng ta trả lời câu hỏi này như thế nào đây? Sự thật, chúng ta đau đớn khổ sở chỉ khi mình chăm chắm vào tình huống bất hạnh hiện tại khiến mình cảm thấy ghét bỏ không cần thiết. Kỳ thực, gọi là điều xui rủi này khi so sánh với một trạng thái từng diễn ra rồi, vốn nó tương đối may mắn, đâu nhất thiết khiến mình phải gắn bó cùng. Vì thế, những ai đau khổ nhất thường có xu hướng trước tiên đau khổ kéo dài; khi đời sống của họ được cải thiện thì lại dễ cảm thấy mất mát khủng khiếp về sau.

Bởi vì cảm nhận mất mát đến từ sự so sánh, xuất hiện nỗi tiếc thương và bao lời ai oán. Nếu nhìn vào bức tranh rộng lớn phủ trùm một giai đoạn rộng lớn hơn, gồm cả nỗi buồn lẫn niềm vui bây giờ, sẽ thấy đấy chỉ là sự xoắn bện quá độ và chỉ ra bánh xe nghiệp bất hạnh/ may mắn mà thôi. Do đó, đều ảo ảnh, hoang tưởng việc để bản thân bị quấy nhiễu, đảo lộn bởi cả điều may mắn lẫn sự xui rủi.

Vị thiền sư đã hích nhẹ giúp cho người phụ nữ trẻ siêu việt trên các trạng thái nọ kia một cách nhị nguyên mà cô đang trải qua, để buộc cô quay về với những gì rốt ráo là mình trước đây: biểu hiện trạng thái nguyên thủy của Phật tính.

Nhất là trong những thời điểm bấn loạn, chúng ta nên quay lại trạng thái tâm linh nội tại căn bản quen thuộc này, phóng thích khỏi rối rắm do gắn bó với vận may tốt đẹp và ghét bỏ, đẩy đuổi sự xui rủi, bất hạnh.

Tại sao chúng ta quá phấn khích hoặc trầm uất ghê gớm? Đơn giản nhờ mang con tim và tâm trí tỉnh thức với Phật tính sẵn có, thay cho chuyện dính bám vào các điều kiện ngoại giới vốn phù du thoáng chốc; nhất định sẽ khởi lên tâm trí duy trì trạng thái yên an.

Vấn đề thuộc các điều kiện trong hiện tại do vậy, nên được xem xét tựa như trái quả tựu thành đang dần trôi qua bởi các nguyên nhân và điều kiện tích lũy, thậm chí, trước cả khi khởi sự…

Điều này không phải là trạng thái vô cảm hoặc thiếu quan tâm nghiêm cẩn; vì các biểu tỏ bình thản thực sự luôn hậu thuẫn lòng từ bi trải đều cho tất cả mà chẳng hề xốn xang, nhốn nháo với bất cứ ai hoặc bất kỳ điều gì. Lành thay.

Thiền tập tỉnh thức: câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành

Thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation) giờ không còn quá xa lạ với quảng đại quần chúng Đông Tây.

Thiền tập tỉnh thức là câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành chứ nó không liên quan chi với việc thay đổi thế giới bất công. Nói khác đi, ngay cả tiềm năng to lớn và tác dụng lâm sàng sáng giá thì cần làm rõ một điều rằng tỉnh thức không phải là giải pháp hoàn hảo cho toàn bộ vấn đề của thế giới; nó là một lĩnh vực nghiên cứu đầy hứa hẹn, đi kèm với vài ba chỉ trích rất cần nắm biết.

Ví von, làm tóc thì rốt ráo chỉ liên quan đến tóc, không liên quan chi  đến việc thay đổi thế giới bất công. Chữa lành ung thu chủ yếu thuộc về thuốc men, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công. Bay lên sao Hỏa là chuyện du lịch không gian, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công.

Một mẫu hình dần nổi trội lên ở đây: một điều thì chung quy liên quan điều ấy, không phải là thứ mà nó không thuộc về. Hoàn hảo, đó là sự tiến bộ đích thực.

Có rất nhiều lời giảng dạy, minh họa và nguyên tắc trong đạo Phật thực sự hữu ích để tạo nên sự thay đổi tích cực về mặt xã hội. Đó tuyền chuyện dân chủ; quyết định chịu trách nhiệm tạo nên nhiều tiến trình; lòng từ bi thực tế; sự thịnh vượng vượt qua sự bất bình đẳng; không hoặc chỉ dùng gọi là sự trừng phạt; nhấn mạnh vào giáo dục và trao quyền cá nhân lẫn trung gian; thoát khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử; ý tưởng thậm chí quyền năng nhất là đối tượng hướng tới pháp trị, và v.v…

Tỉnh thức không phải là một trong những điều vừa nêu; nó là sự dạy dỗ cách thức trở nên yên an và chấp nhận.

Tỉnh thức có thể thao tác trong một dãy phức tạp các mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn cùng các vấn đề xã hội nảy sinh. Từ toàn bộ tính khả thể, như tác giả bài báo chỉ ra, nó có thể trở thành trừu tượng tách khỏi bất kỳ bối cảnh ý nghĩa nào và được dùng theo các lối kiểu gây hại. Song đó không phải là vấn đề của tỉnh thức, nó là vấn đề của sự thiếu vắng các điều tốt lành khác, đặc biệt là các giá trị đạo đức. Điều ấy lý giải tại sao Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng tỉnh thức, và các thực hành thiền nâng cao khác, diễn ra trên sự đặt để của một nền tảng đạo đức rất tinh tuyền.

Rời bỏ điều đó và áp dụng sai trái, nó trở thành Tỉnh thức Lầm lạc. Vì vậy, có lẽ chúng ta nên dừng đổ lỗi cho tỉnh thức về hiện trạng không thuộc về nó.

Câu chuyện bị xâm hại thời thơ ấu: niềm đau chôn giấu, bí mật mang theo, và sự trợ giúp chuyên môn

Những vụ việc cưỡng hiếp cũng như tội ác xâm hại tình dục nói chung thường luôn diễn ra phức tạp và chứa nhiều sắc thái.lắm khi khó tóm bắt đủ đầy, chính xác.

Dạng trả lời phỏng vấn kiểu này khá dễ khiến thiên hạ thêm phần định kiến về chuyên môn tham vấn/ trị liệu tâm lý cũng như quá chừng thứ sinh động liên quan đến câu chuyện đang bàn không ngừng xuất hiện trong thực tế lại bị đơn giản hóa do thiếu vắng nền tảng tiếp cận bài bản.

Việc điều trị tâm lý phải hướng đến chuyện giúp các em coi chuyện bị cưỡng hiếp ấy chỉ là một kỷ niệm buồn, chứ không phải là sự kiện làm thay đổi đời em. Kỷ niệm buồn ấy có thể quên đi. Các em có thể lớn lên, lấy chồng lấy vợ bình thường, nhưng nếu cha mẹ làm không khéo thì vết thương ấy bị khoét rộng ra, làm tổn thương các em nhiều hơn. Câu chuyện sẽ được truyền từ nhà này sang nhà khác, từ người này sang người khác, cứ lan rộng ra thì các em khó có khả năng hàn gắn được vết thương.

Trước hết, có một câu hỏi cần nghiêm túc đặt ra ngay: liệu tôi có thể thoát ra khỏi các ký ức đau buồn và tồi tệ, nói khác đi, lám sao tôi có thể khít khớp bản thân trở lại mà không cần phải đi tham vấn/ trị liệu tâm lý không? Và bằng cách nào tôi phơi mở các ký ức, niềm đau chôn giấu bấy lâu rồi phát hiện thấy điều đích thực từng xảy đến với tôi?

Thực tế, nhiều kỹ thuật được chứng thực đảm bảo độ tin cậy trong việc giải quyết với những nỗi niềm khủng khiếp liên quan đến sang chấn thể lý và cảm xúc. Một trong những phương pháp hiệu quả là tiến hành những gì thôi thúc mãnh liệt phải thực hiện nó bất kể thế nào, tức là, nói ra với ai đó. Khi người ta “kể câu chuyện đời họ” bằng những câu chữ riêng tư, với nhịp điệu đặc thù và chấp nhận lắng nghe thì việc ấy không những cho họ cơ hội thoát ra mà còn là phương tiện giải mẫn cảm chính bản thân họ trước vô vàn nỗi niềm khốn khổ gắn dính với các ký ức đau thương. Tên gọi cho kỹ thuật này là “xử lý nhờ kể ra” và nó dễ biểu tỏ đàng hoàng dưới dạng ai đó ước mượn được một đôi tai không định kiến hoặc làm việc với chuyên gia. Đôi khi, mình phải kể đi kể lại câu chuyện vô số lần, tốt nhất với ai đó mình tin tưởng, nhằm giải quyết thật hữu hiệu tất cả mọi cảm xúc đeo bám để rồi cảm thấy thuyên giảm, buông bỏ được nỗi đớn đau.

Cũng nên khuyến khích người ta bước từng bước phù hợp để duy trì sự tự tin rằng mình có thể vượt qua nỗi đau chấn động. Kỹ thuật này hữu kiệu ngay cả khi không có ai mình tin tưởng hoặc người muốn nghe mình tâm sự. Điều quan trọng là kể câu chuyện và ước muốn thôi thúc nói về cái tên xấu xí cứ cứ nghẹn nơi cổ họng mình bấy lâu. Càng kể câu chuyện và cho phép bản thân thoát ra khỏi cảm xúc kết nối với nó thì mình càng tuần tự giải mẫn cảm với nỗi đau gắn chặt luôn theo cùng.

Liên quan với sự vụ này, cần biết rằng không có lĩnh vực nào của tâm lý bị trở thành đối tượng soi mói cho bằng chủ đề tiết lộ, khởi động lại ký ức kiềm nén bấy lâu.

Ký ức giấu che không phải là trạng thái mất trí nhớ (amnesia): ký ức bị thất lạc do một số hư hỏng các trung tâm ký ức ở não bộ; hơn thế, giấu che ký ức được nhìn nhận như là một dạng chiến lược phân ly nhằm tách rời, không tạo nên kết nối giữa tâm trí ý thức của người ta với điều gì đó quá khủng khiếp hoặc đớn đau nếu lưu giữ, ghi nhớ nó trong đầu.

Một số nghiên cứu cho thấy, các ký ức được “vén màn” không đáng tin cậy thường là loại được diễn ra trong tiến trình trị liệu thông qua khả năng “ám thị, gợi ý” của nhà trị liệu. Vì thế, mình không nhất thiết cần đến trị liệu để chỉ mà phơi tỏ các thứ bị kiềm nén, giấu che. Những gì cần thiết là ở trong bầu không khí cho mình cảm thấy an toàn và tin cậy đủ để kết nối với các cảm xúc và ký ức của bản thân. Mình cũng không nhất thiết cần đi trị liệu để chữa lành hoặc giải quyết với sự sút giảm bất thường tình dục sau này (nếu có). Điều mình cần tính đến là sự thành thật với chính bản thân về bản chất của các mối quan hệ và những gì mình tin tưởng phải tạo ra sự khác biệt đặng làm cho các khía cạnh về mặt tình dục, cảm xúc và thân mật lành mạnh hẳn lên.

Thực tế, nếu thời gian càng lùi xa thì khá khó khăn để phân biệt một ký ức đích thực từng bị giấu che với cái giờ đây có thể được phục hồi từ ký ức giả tạo… Rốt ráo ra, tuy thế, tham vấn/ trị liệu tâm lý vẫn có thể là ý tưởng tốt, đặc biệt khi làm việc với một chuyên gia trong lĩnh vực mình vướng mắc cần giải quyết; một nhà trị liệu được đào tạo bài bản có thể giúp mình xử lý để thoát ra khỏi những ám ảnh theo cùng năm tháng.

Những người sống sót sau khi bị cưỡng hiếp, nhất là trẻ em, không ngừng tìm cách để đối phó với cơ thể họ, và chuyện tình dục sau đó thường là khoảng trống mù mờ về thông tin và dịch vụ hỗ trợ. Xét về mặt giới thì hầu như tất cả nữ giới từng bị cưỡng hiếp đều thổ lộ về ảnh hưởng họ phải chịu đựng liên quan đến cơ thể họ và chuyện quan hệ tình dục sau đó. Những từ như “cô đơn”, “lạc lõng”, “xa lánh”, “bối rối” và “cách biệt” cứ lặp đi lặp lại sau các cuộc trao đổi chứng tỏ điều ấy.

Đây cũng là lúc cần hiểu biết về những sự khác biệt giữa bị cưỡng hiếp hồi thơ ấu và thời đã lớn.

Thường người ta có xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nguyên do khiến đối tượng bị cưỡng hiếp (trẻ trung, hấp dẫn, ăn mặc hở hang, trông khêu gợi, uống bia rượu ngà ngà, ở một nơi kín đáo, không tuyên bố rõ ràng hoặc bày tỏ sự tán đồng, v.v…) Tuy thế, rất khó khăn để đổ tội cho một đứa trẻ, nhất là khi cháu còn bé tí, về chuyện cưỡng hiếp vì chúng ta thường hay nhìn nhận trẻ em không phải là đối tượng quan hệ tình dục, hoặc không có đủ khả năng kiểm soát trước một số tình huống, điều kiện nhất định. Có vẻ loạt bài báo trên tờ Thanh Niên tiếp tục minh họa cho cảm giác giận dữ của người đời trước chuyện một đứa bé bị xâm hại, lạm dụng. Kẻ lạm dụng trẻ em dù dưới bất kỳ hình thức và kiểu dạng ra sao thì thảy đều bị đối xử tồi tệ ngay cả trong trại giam vì các phạm nhân trong tù cũng không ưa thích hoặc chấp nhận họ.

Có một số điều khác biệt có thể chỉ ra giữa trẻ em và người lớn. Thứ nhất, cơ thể trẻ em nhỏ bé hơn nên thường dễ bị tàn hại lớn hơn về mặt thể lý. Thứ hai, trẻ ít có trải nghiệm về thế giới và cuộc đời nên khả năng chống đỡ của chúng thấp hơn hẳn người trưởng thành. Ví dụ, nếu mình biết đa phần đàn ông là những gã tử tế và lịch sự thì mình sẽ khó mà kết luận đấy là tất cả đàn ông đều thô lỗ và bạo lực. Thứ ba, các xã hội nói chung thường tin rằng người lớn có nhiệm vụ bảo vệ trẻ em, không được làm hại chúng; do đó, cảm giác bị phản bội khi biết trẻ em bị cưỡng hiếp hiển nhiên là lớn lên rất nhiều. Cuối cùng, trẻ em không có đủ cơ hội để phát triển các kỹ năng đối phó, do đó, năng lực giải quyết các cảm xúc bản thân của chúng thấp hơn so với người lớn. Tuy thế, dẫu các khác biệt và sự kiện mọi người muốn bảo vệ trẻ em, không nhất thiết rút ra kết luận logic rằng người lớn sẽ tự vượt qua được hoặc nên biết cách để bảo vệ chính bản thân mình.

(còn tiếp, tiệp dịp viết sau)

Phải làm sao khi trầm cảm đang âm thầm trở lại ?

Nữ 25 tuổi. Khi còn bé là một cô gái sống nội tâm và trầm lặng. Không có nhiều bạn bè, và suốt thời mới lớn tuyền bị bắt nạt.

Cô ấy cảm thấy bị mắc kẹt, không biết phải làm sao. Nhỏ đi học thì đạt toàn điểm chín, mười song trầm cảm đã thay đổi tất cả; sức học chợt giảm sút, tầm 12 tuổi bắt đầu tự hành hạ bản thân rồi trải nghiệm cơn đau nửa đầu khá thường xuyên; 16 tuổi, nảy sinh dự tính tự sát. Tự nhờ vả người quen đưa đi khám và uống thuốc chống trầm cảm Prozac.

Tuy thế, cô gái không ngừng chuyện tự gây hại hoàn toàn; bẵng vài năm nay lại thi thoảng quay về từ dăm tháng gần đây trước khi chấm dứt hẳn. Cô không chắc vụ này có liên quan với các mối quan hệ riêng tư. Chuyện yêu đương thì khá đau đớn, từng trải qua một mối quan hệ bị chửi bới, chì chiết, nhục mạ nặng nề bằng câu chữ khoảng gần hai năm rưỡi. Hiện vòng tròn bạn bè mở rộng, tăng lên song vẫn thấy khó kết nối hoặc bày tỏ cảm xúc bản thân chân tình được. Ngại nói về gia đình vì ở nhà bị bố đổ tội cho nhiều thứ, so sánh với các cậu bạn khác ở trường; ông bố cũng chẳng nhận ra cô ấy bị trầm cảm mà cứ ngỡ con mình ám ảnh điều gì đó mang tính mê tín, siêu nhiên nọ kia vớ vẩn.

Cô gái nhận ra mình có nhiều thay đổi trong hành vi. Dễ cáu gắt, lúc nào cũng thấy mỏi mệt, thường trằn trọc cả đêm, ăn uống ngon dở thất thường, hay khóc lóc, và thường thích giấu mình trong phòng hơn là đi ra ngoài chơi. Các cơn đau nửa đầu xuất hiện mạnh hơn, chẳng có hoạt động gì khiến cô ấy thấy phấn khích để dấn thân vào, bài vở thì chểnh mảng… Mọi thứ nghe chừng quá quen thuộc, giông giống thuở nào, nhắc nhở cô rằng đã mười năm trôi qua. Tuy không còn ước muốn tự sát nữa song cô gái lại cố sức chống chọi với ý nghĩ đọa đầy bản thân. Cô gái gửi thư chia sẻ, không muốn lộ diện hay đưa mình đến thăm khám bất kỳ đâu vì ngại nỗi lo lắng sẽ thành sự thật; cùng lúc, cô lại cảm thấy không chịu đựng nổi lối sống như thế này thêm nữa. Cô tự hỏi thế nào mới là hạnh phúc, dù thổ lộ rằng càng ngày có vẻ hạnh phúc càng là điều gì quá chừng xa vời, nằm ngoài tầm tay với. Cô đánh mất niềm tin vào con người, cũng chẳng tìm ra nổi động cơ để kết thúc năm cuối đại học.

… Dễ nhận ra là cô gái cho dù kháng cự song trầm cảm đã quay trở lại, thứ hội chứng khá dễ nảy sinh nhiều cơn tái phát bất ngờ. Các triệu chứng, dấu hiệu cô kể minh họa điều ấy. Những đám mây tâm trạng sầu buồn, xám xịt và trầm uất khiến suy nghĩ trở nên nặng nề, khó đưa ra quyết định và lựa chọn tốt lành cũng như nhìn đâu cũng tuyền thấy tiêu cực, u ám.

Do cô không cho biết trước đây từng trị liệu có bao gồm cả tâm lý hay chỉ dùng mỗi thuốc uống mà thôi, nên tôi động viên cô thử tìm kiếm sự trợ giúp từ bộ phận tham vấn học đường hoặc ai đó làm tâm lý trị liệu ở trường đại học; tính cả việc tìm đến một bác sĩ tâm thần khác để lượng giá hàm lượng Prozac hoặc chọn lựa sử dụng loại khác với liều dùng phù hợp… Nếu chuyện kết thúc khóa học là khó khăn thì cô có thể xuống phòng y tế của trường để xin giấy khám sức khỏe, nhập viện để đảm bảo được nghỉ học một thời gian hợp pháp, cho tới lúc cô cảm thấy tiến bộ, cải thiện tâm trạng chung nhờ tham vấn tâm lý bên cạnh việc uống thuốc chống trầm cảm; giữ liên lạc với bạn bè để thi thoảng có thể tham gia tụ bạ vui vẻ…

Như một người trưởng thành, tôi tin cô gái có quyền để chọn lựa cách trị liệu mà không nhất thiết hỏi ý kiến của gia đình hoặc chia sẻ thông tin với ông bố. Cơ chừng ông bố không phải là nguồn trợ giúp cảm xúc ổn thỏa thời điểm này. Thực tế, nhiều nền văn hóa, tôn giáo, hoặc thế hệ hay yếu tố khó bao quát hết có những quan niệm thiết lập niềm tin không đích thị chính xác về trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác. Quả là bất lợi khi ông bố không đủ hiểu biết và trợ giúp điều trị trầm cảm hữu hiệu cho cô con gái.

Bởi vì cô gái từng có tiền sử tự hành hạ bản thân và nảy sinh dự tính tự sát, thật đáng quan tâm trước các suy tư muốn tự làm hại bản thân. Vì cô gái đã từng chịu đựng trầm cảm hồi còn trẻ nhỏ, các trải nghiệm này là tạm thời, nên chi cô gái sẽ dễ tìm thấy sự nguôi ngoai và khuây khỏa buồn phiền nếu được trị liệu thích đáng.

Cầu mong mọi điều yên an, thư thái và như ý ít nhiều.

Chết kiểu Vietnam: chính trị, tâm lý, và quyết định kết liễu bản thân

Cái chết của một ông tướng công an vốn mang trọng bệnh sẵn trong người rồi tiếp tục làm dấy lên làn sóng dư luận bàn tán theo điệu dè bỉu sâu cay, phản ánh hơi hướng lý thuyết âm mưu và lần nữa, chứng tỏ sự bất mãn xã hội vượt trên cả kết quả xử lý về một vụ án cụ thể. Dĩ nhiên, cái chết đau đớn ấy còn mang cả tính tôn giáo của chính trị về việc kết- thúc- cuộc- đời.

Riêng tôi lại thấy lòng mình nhói lên cảm giác khó chịu khi có một cái chết khác bị bỏ lơ không ai thèm tham gia trao đổi cả: bị cáo tự tử vì xấu hổ.

Nhìn chung, chúng sinh cảm thấy chẳng dễ dàng tẹo nào để nói về cái chết và các hình thức quyên sinh nọ kia; nhiều người vẫn thừa độ tự tin để phán quyết tắp lự ngay rằng họ sẵn sàng trả một giá lành mạnh để kéo dài đời mình lâu hơn, tốt đẹp hơn; đoạn cuối đời thường là giai đoạn kéo dài ra vốn mang theo một cái giá nặng nề thuộc cảm xúc, thể lý, đạo đức, và tài chính khiến cho cái chết trở thành điều cấm kỵ lớn lao nhất. Khái niệm một ngày bỗng biến mất (dù đẹp giời hay không) đích thị đối lập  với nhiều giá trị văn hóa được xác lập quen thuộc bấy lâu; sự khởi lên ghê gớm của cái tôi càng làm tăng cao nỗi niềm phiền nhiễu đặng thức nhận trắng phớ ra rằng các bản ngã cá nhân của chúng ta sẽ không tồn tại lâu thêm được.

Đương đầu với nỗi sợ hãi muôn phần về cái chết đòi hỏi phải hiểu biết rồi thực tập nghiêm cẩn. Và khoảng thời gian đầu đời định hình thái độ chính trị của chúng ta, dựa trên môi trường bố mẹ dạy dỗ.

Vậy nên tự sát– tất thảy các dạng thức tự kết liễu đời mình–  là hành động chính trị, nó hàm ý chỉ trích xã hội? Ở đây biểu tỏ hai hệ thống giá trị kiến tạo hai con đường khác biệt nhằm giải quyết các cảm xúc nảy sinh: xấu hổ và tội lỗi. Theo đó, luân lý xấu hổ là hệ thống giá trị đạo đức mà trong ấy điều ác nhất là ô danh và nhục nhã và điều thiện lành nhất thì ngược lại, chẳng hạn, kiêu hãnh và vinh dự. Còn luân lý phạm tội là hệ thống giá trị đạo đức mà điều ác nhất là tội lỗi và điều thiện lành thì ngược lại, chẳng hạn, sự trong trắng.

Cái chết do đó, chứa đựng thành phần chính trị nhằm buộc tội xã hội thiếu lòng trắc ẩn và không đủ khả năng đáp ứng đủ đầy các nhu cầu của công dân. Mỗi trường hợp tự tử vì vậy, là một hành động chính trị đang ủy thác với lời tuyên bố tuyệt đối rằng xã hội đang khiến cho một số kẻ trở thành vô dụng còn một số người khác thì đáng được vinh danh.

Lòng vòng khát khao định danh

khủng
khủng

Quả hơi ngại ngần xen lẫn mệt mỏi chút khi bất chợt buộc phải chạm tới vài ba khái niệm tưởng chừng nắm vững lắm rồi song hốt nhiên phát hiện ra rằng bé cái nhầm. Ấy là khi người ta cứ tưởng thế quá rõ ràng, song đối tác thì tuỵệt không thèm nghĩ như vậy.

Chẳng hạn, trước hết phân biệt giữa “cần” và “muốn”. Để làm sáng tỏ, có thể dẫn mục từ “Cần” (need) trong Từ điển Tâm lý học (Cambridge, 2009):

  1. Bất kỳ thứ gì thiết yếu cho sự sống còn của một sinh thể (organism);
  2. Khao khát bất kỳ thứ gì thiết yếu cho sự sống còn của một sinh thể;
  3. Một khát khao điều, họat động, hoặc trạng thái khá đặc thù thiết yếu cho sự trải nghiệm an lạc của một sinh thể, như nhu cầu sáng tạo hoặc vui chơi.

Như thế, hình dung các tầng bậc, mức độ của sự khát khao (desire):

  • Ước ao (wish)
  • Want (muốn)
  • Cần thiết (need)

Nói khác đi, cần là điều phải có cho sự sống còn như chúng ta cần không khí để thở; vì thế, chúng ta muốn không khí trong lành, sạch sẽ; trong bối cảnh này, muốn là nỗi khát khao. Tức, cần là điều nhất định phải có để người ta tồn tại, muốn là sự tham lam, khát khao là thứ mình ước ao. Cần có thể sẽ bị hạn chế; muốn sẽ bị ngăn cấm; còn khát khao, tức cần thì mang tính cưỡng bách, thúc ép; muốn là sự lựa chọn, khát khao thì tìm kiếm…

Ở góc nhìn khác, cần thể hiện sự đau đớn, thiếu thốn; muốn: đòi hỏi, khát khao thì mong mỏi, thuộc về.  Ví dụ, giá mà có nhiều tiền, muốn có chiếc xe mới, cần nhiều thời gian hơn.

Vậy tình dục là một nhu cầu, điều cần thiết hay một ham muốn? Để khẳng định tình dục không phải là điều bắt buộc phải có để sống còn, không nhất thiết thuộc nhu cầu cơ bản như ăn uống, ngủ, hít thở không khí thì cũng nên biết rằng động cơ nôm na chính là khát khao để thực hiện, muốn làm. Nó là yếu tính đặt để và duy trì mục tiêu, và nghiên cứu chỉ ra rằng mình có thể tác động, bị ảnh hưởng các mức độ riêng tư bởi động cơ và sự kiểm soát bản thân. Vậy phát hiện ra những gì mình muốn, dùng năng lượng băng qua giai đoạn đau đớn, và khởi sự ở trong trạng thái mình muốn là.

Theo nhà nghiên cứu tình dục tiên phong Alfred Kinsey, điều phổ quát nhất trong tình dục của con người là chính sự khác biệt của nó. Từ hành vi tự thân cho tới các định hướng, tình dục có thể là vấn đề của người ta ở giai đoạn nào đó trong đời. Dù các tòa án dễ duy trì các hàm ý thuộc khía cạnh đạo đức và chính trị thì chí ít không khó đi đến một sự nhất trí rằng đó là lý do giải thích tại sao còn tồn tại đến hôm nay và là điều trước tiên thế hệ tương lai phụ thuộc vào.

Dẫu vậy, đó không nhất thiết phải là nhu cầu phải có từ góc độ cá nhân.

Thứ đến, ngoài việc xâm hại tình dục trẻ em thì thực tế, việc giết người man rợ là điều thật khó thấu hiểu tỏ tường. Tại sao những người dường như hiền lành, chân chất lại ước muốn giết chết chính đứa con mà họ dứt ruột đẻ ra– hay gặp là các bé gái mà họ mang thai, sinh nở rồi dành thời gian nuôi nấng, chăm bẵm cả một thời gian dài– vì danh dự gia đình, do giận chồng/ vợ nên con cái thành nạn nhân…

Bởi vì dưới góc độ tiến hóa thì thường người ta không giết kẻ mà họ chia sẻ hầu hết nguồn gene (ví dụ, con cái chẳng hạn); họ nên ước muốn chết vì con cái– chí ít thì nuôi dưỡng hay bảo vệ chúng– chứ không giết chúng.

Tuy nhiên, từ góc độ tâm lý và văn hóa thì khả thể có thể lý giải vài điều như sau.

Ở một mức độ rộng lớn, những vụ giết người dã man và kinh hoàng liên quan đến con cái thường tỏ bày tính đàn ông át trội và do đó, cũng góp phần phản ánh tình trạng thấp kém của phụ nữ; lý giải các ông bố hay giết con gái; ngoài ra, nó có thể dính dáng tới việc ngăn chặn tình dục: các bố mẹ “mất trí” giết con cái hết sức khủng khiếp nhằm để trừng phạt cho bản năng con người rất lành mạnh và tự nhiên (yêu thành viên thuộc nhóm, cộng đồng khác, ‘nạn nhân’ của một sự hiếp dâm, quan hệ trước hôn nhân, v.v…)

Tựa như rất nhiều hành vi ‘điên khùng’, các vụ giết người man rợ liên quan đến con cái thường phát sinh từ một cảm nhận mang tính hiện sinh của sự tổn thương và bất toàn. Dưới dạng thức những áp lực của tình huống, khi tương tác với năng lực và điều kiện thì tất khơi gợi lên những định hướng riêng biệt về mặt đạo đức. Chẳng hạn, trong môi trường nâng đỡ và nồng nhiệt thì khía cạnh đạo đức dấn thân của chúng ta được nuôi dưỡng; song khi cảm thấy bị đe dọa thì tầm nhìn bị thu hẹp và chúng ta có thể nghĩ rằng hữu ích để tự bảo vệ bản thân… Nói khác đi, những cách thức giết người lắm khi có thể khó dự đoán và không ai mong muốn…

Có một nghiên cứu tiến hành vào thập niên 60 của thế kỷ 20 đã chỉ ra động cơ bố mẹ giết con cái, ngoài sự vị tha còn là vì loạn thần cấp, đứa trẻ không mong đợi, bất ngờ (phần vỏ não thùy trán trước PFC nếu bị thương tổn thông qua uống rượu bia quá mức có thể dẫn đến kém kiểm soát các xung năng và cảm xúc và ít khả năng đoán định được các hậu quả của hành động), và hận thù chồng/ vợ. Thậm chí, tác giả này còn chia thành 2 kiểu: giết trẻ sơ sinh không mong muốn và giết một đứa trẻ với một nơi chốn rõ ràng trong gia đình. Trẻ càng nhỏ thì nguy cơ bị giết càng cao; và khi trẻ càng lớn, thì khả năng cao tội đồ chính là ông bố.

Phụ nữ trong nghiên cứu của tác giả Resnick đa phần là có mưu toan tự sát hoặc hoang tưởng, và thường có xu hướng nhìn đứa con đã chết là có khiếm khuyết, nên cần được cứu vớt khỏi một định phận tồi tệ về sau, hoặc bị quỷ ám; một số phụ nữ giết con còn nỗ lực che giấu tội ác. Trong một nghiên cứu cho thấy, các bà mẹ giết trẻ sơ sinh đa phần ở độ tuổi 16-38, song khoảng 90% là 25 hoặc trẻ hơn; chưa tới 20% lập gia đình rồi và chưa tới 30% bị loạn thần hoặc trầm cảm; hầu hết còn độc thân, không có các nguồn lực và giấu giếm việc sinh nở với xung quanh: họ thường sinh con một mình và tống khứ bé nhanh nhất có thể (nhớ lại vụ cô gái trẻ ở Hà Tây thì phải đã ném con xuống ao trước nhà í).

Vậy, có thể nghĩ tới lý do bệnh lý tâm thần, sự vô ý thức, ngu ngốc hoặc thậm chí vô cảm. Và bài học có thể rút ra ở đây? Chắc chắn là nên, chí ít như thế này.

– Sự thiếu vắng và không được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm trí cũng như tính định kiến về tham vấn và trị liệu tâm lý. Ngoài sự chăm sóc, quan tâm và nâng đỡ của cả người thân và cộng đồng, họ rất cần được giới chuyên môn trợ giúp kịp thời.

– Người cảm thấy nỗi đớn đau thống khổ về mặt tâm lý như thế thường cảm thấy bản thân đang lâm vào cảnh nguy hiểm, và đe dọa tính mạng của chính họ lẫn những người khác.

– Các đối tượng trong nỗi đau trầm luân như thế càng nguy hiểm khi họ có thể tiếp cận được các điều kiện có thể dẫn đến chết người (thuốc trừ sâu, vũ khí gây sát thương, v.v…).

ADHD ở người lớn

Dù đã qua tháng tìm hiểu về ADHD (hội chứng tăng động giảm chú ý) thì rối loạn tâm thần quen thuộc này vẫn rất cần lưu tâm kỹ càng, bài bản.

Ước tính cỡ 5% dân số người trưởng thành mắc ADHD. Cho đến bây giờ đa phần thiên hạ cứ tiếp tục nhìn nhận ADHD như là một rối loạn trẻ nhỏ mà các triệu chứng sẽ biến mất khi đối tượng bước vào tuổi dậy thì.

Các bằng chứng khoa học chứng thực rằng, ADHD lưu diễn tới cả thời trưởng thành (tỷ dụ, bé gái mắc ADHD lớn lên dễ muốn tự tử). Trong khi hầu hết người lớn từng nhận kết quả ADHD khi còn ấu thơ thì còn nhiều đối tượng vẫn chưa được chẩn đoán.

Một số triệu chứng ADHD mà chắc chắn đa phần độc giả ít nhiều đều đã biết:

  • Gặp phiền nhiễu trong việc tập trung và chú ý các chi tiết.
  • Khốn khổ khi cần ngồi yên lặng những khoảng thời gian dài.
  • Bồn chồn, căng thẳng (dây cháy chậm).
  • Lần lữa nhiều thứ.
  • Chậm chạp, đờ đẫn.
  • Hay quên các họat động thường ngày.
  • Quen bị chỉ trích vì ngắt lời người khác.
  • Nhà cửa, chỗ làm việc ở cơ quan hoặc nhà xe rối rắm, bừa bộn.
  • Khởi sự các dự án mà không suy nghĩ thấu đáo các bước thực hiện.
  • Các công việc dở dang, không thể hoàn thành.

Đáng chú ý hơn, những người lớn mắc ADHD rất dễ xuất hiện các dấu hiệu sau:

  • Mua sắm bốc đồng và tiết kiệm tiền khó khăn.
  • Nhận nhiều giấy phạt vì đỗ xe không đúng nơi quy định.
  • Dính dáng các vụ đâm xe mà họ là tác nhân gây ra.
  • Hút thuốc lá và/ hoặc chơi ma túy.
  • Chạy xe liều mạng, ngang tàng khi cơn giận nổi lên.
  • Bị đuổi việc hoặc tự bỏ việc vì buồn chán.
  • Nếu làm quản lý hoặc giám sát thì là người thích hành xác mình.
  • Có tỷ lệ đời sống hôn nhân bất mãn, song không chiếm tỷ lệ ly hôn cao.

Nhân đây, thiển nghĩ, cũng cần đề cập đến một số hiểu biết lầm lạc về ADHD:

  • ADHD không hiện diện do bởi các nhà khoa học thông đồng với nhau ngõ hầu y khoa hóa con người. ADHD đích thị là một trạng thái bệnh lý thực sự, có nguồn cơn sinh học đặc thù.
  • ADHD không đơn giản là thiếu hụt quyền năng ý chí.
  • Bố mẹ kém cỏi không phải là nguyên nhân dẫn tới ADHD. Tuy vậy, nghiên cứu cho thấy, có một thành phần di truyền mắc ADHD trú ngụ trong các gia đình.
  • Người trưởng thành mắc ADHD không ngu ngốc hoặc lười biếng. Các nghiên cứu gần đây tỏ lộ, người mắc ADHD nghiêng theo hướng thể hiện trí thông minh trên mức trung bình, song IQ thấp không chứng tỏ là nguyên nhân mắc ADHD.
  • ADHD có thể được trị liệu mà không cần dùng thuốc. Nghiên cứu mới khẳng định, mình có thể cải thiện chức năng não bộ bằng việc luyện tập trực tiếp, cân nhắc đàng hoàng. Đấy thuộc về điều gọi là độ thần kinh mềm dẻo (neuroplasticity). Các bài tập thư giãn, tập trung và quản lý bản thân khác nữa có thể góp phần cải thiện khả năng duy trì sức chú ý ở một số người.
  • Trước khi bắt đầu sử dụng bất kỳ loại thuốc nào, nên được chẩn đoán thật chính xác. Lo lắng, trầm cảm hoặc khiếm khuyết chuyện học tập đều có thể bị chẩn đoán nhầm là ADHD.

Tất cả các phương thức đánh giá ADHD nên được thấu hiểu, đồng thời cũng phải lưu tâm tới các yếu tố cảm xúc và ảnh hưởng của các tác nhân gây căng thẳng (stressors).

Chất lượng sống, hiệu quả trong công việc lẫn riêng tư ở nhà cũng như các mối quan hệ có thể lợi lạc nhờ hiểu rõ rằng mình đích thị có mắc rối loạn ADHD hay không.

“The Hours”: ví dụ điện ảnh về chuyện khởi đầu quan hệ và kết thúc đời người

Một bộ phim đẹp hoàn hảo. Một minh chứng bằng băng hình da diết về cuộc đời, hạnh phúc, luyến ái, sự sống và cái chết.

Đó là những thời khắc hàng ngày, dài lâu, ngưng đọng, trọng đại, sung sướng, tê dại, bệnh lý hay giản dị,…– tất thảy, tùy thuộc cảm nhận và góc nhìn của mỗi một nhân vật, và mỗi một khán giả.

The Hours (2002) trộn chứa trong mớ rối rắm sắp đặt của tâm trí những mưu toan lưu giữ kỳ vọng, níu kéo thời gian và duy trì quan hệ; là nỗi mất mát thầm lặng chẳng thể nguôi ngoai, lãng quên của tuổi thơ ấu ám ảnh lo âu dây dưa sợ bị bỏ rơi, và tháng tháng năm năm trưởng thành mơ hồ diện kiến trên cõi trần gian cứ chực chờ cơ hội buông thả tất cả những gì đang sở hữu…

Nhấn mạnh chủ đề các rối loạn tâm thần quen thuộc, bộ phim này tạo dấu ấn mạnh mẽ đáng ngợi khen bởi chuỗi suy tư bồng bềnh hư thực, loạn thần và phi lý hiện sinh xen lẫn khuynh hướng xiển dương phong trào nữ quyền đương đại. Triết lý tự tử ở đối tượng nữ giới– nhất là khi nó phát sinh từ các cá nhân trí thức, có học– chắc chắn, khiến kẻ khác (bất kể danh xưng đồng tính, song tính hay dị tính) cộng hưởng bàng hoàng.

Lối tư tưởng cấp tiến âm thầm chảy trong huyết quản đàn bà dọc dài xuyên thế kỷ muốn hiểu biết rốt ráo đặng làm chủ thấu đáo vận mệnh chính mình quyết không bao giờ là thói buồn đau, sầu muộn thời thượng xa xỉ; nhất định tâm trạng ấy, phẩm chất ấy, lối tề gia nội trợ và quản lý tình yêu, gia đình, chồng con ấy cơ chừng phải thổ lộ sâu xa cho chúng ta biết về một sự thật trụi trần không thể chống kháng: sinh ra đời, tồn tại, tái tạo (đẻ con và viết ra tác phẩm nghệ thuật), thiết lập quan hệ với tha nhân và chuẩn bị cách thức từ giã thế giới.

Cái giai điệu âm nhạc quyến luyến trong phim cùng những cú máy quay lia qua vội cuống vội quýt; kiểu cắt cảnh kỹ càng, điêu luyện bởi các lọ hoa, cánh cửa, cảnh trí địa lý tự nhiên và tâm cảnh lòng người run rẩy lây lan; lời thoại hô ứng bắt vận nhịp nhàng, tới lui chặt chẽ… như chỉ càng thêm cố gắng góp phần thúc đẩy mãnh liệt đến độ cao trào, đỉnh điểm của ước muốn kết thúc, thả rời, chấm hết.

Một bộ phim hay về giá trị sống được liên kết bởi các tầng mức văn bản khác nhau đan cài thuộc nhiều bình diện của chức năng nhân cách: tính khí, sinh học, tâm lý nội tại, nhận thức/ trải nghiệm, xã hội và văn hóa, và sự thích ứng.

Lần nữa, bộ phim chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên này khơi gợi cái nhìn đa dạng, tôn trọng trải nghiệm riêng tư với vô vàn biểu hiện phong phú của dãy hành vi bình thường ở những con người bất thường; lối khai thác đề tài vừa quá nhạy cảm nâng niu, vừa cấm kỵ trình bày đối nghịch vốn dính dáng nền tảng quan hệ xã hội (gắn bó, truyền thông, phát triển) ít nhiều nhắc nhở nghiêm túc rằng, ngay cả khi diễn đạt thành phương trình toán học tường minh [B = f (P, E), trong đó B là hành vi, P là nhân cách và E là môi trường] thì ứng xử của con người mãi chẳng bao giờ thôi hết nét vẻ bí ẩn, khôn lường và bất định.

Nhìn nhận sự phù du, vô thường của đích thực cuộc đời, kỳ cục thay, bộ phim thanh lọc cơn cớ sợ hãi nhỏ, to truyền kiếp và càng làm ta thêm trân quý sự sống, được làm người huyền diệu.

Và những sẻ chia ao ước quyên sinh của nam khán giả trẻ tuổi cũng như tâm sự của bà mẹ có con gái đang lớn cảm thấy cuộc sống nhàm chán vô nghĩa, sau khi xem một ví dụ điện ảnh về chuyện khởi đầu và kết thúc đời người tại TPD (Hà Nội) chiều nay– vô hình trung– chợt đồng vọng hun hút vô thức chung, xóa nhòa dễ dàng ngăn cách Đông – Tây của thân phận chúng sinh khổ đau cùng nhau rất thật.

Xem “The Hours“, để tiện dịp phát hiện thú vị chiều kích lớn lao của năng lực sáng tạo; tái lượng giá tầm mức tác động khó đoán của việc làm do bởi lòng vị tha, cam kết, bao dung; và tiếp tục vinh danh vai trò dẫn đạo yêu thương của chị em phụ nữ.