Đóng phim trong lòng đời

Người đàn ông tóc muối tiêu chỉnh sửa ống kính máy ảnh hết sức chăm chú. Rồi ưng ý thể hiện ở lời cất to với nữ nhân chẳng còn trẻ nữa đang liên tục dùng tay tạo dáng nọ kia cùng mái tóc xoã ngồi trên chiếc bàn một quãng không xa: ‘Diễn đi, bắt được góc máy rồi’. Sát cạnh bên ngoài ồn ào qua lại là xe cộ theo con đường ven hồ Tây trông mờ nhoè sau cơn mưa giải nhiệt. Họ như cặp vợ chồng muốn hồi xuân về thời mới yêu nhau ban đầu.

Tối qua [Cập nhật, 26.7: đã xem hồi tháng 6 và ghi lại ngay hôm sau khi ngồi café chờ bạn], xem phim tập thể tại Cafe Trung Nguyên Tâm Trạng Khi Yêu (In The Mood For Love, 2000) mà nguyên bản Hán ngữ là Niên Dạng Hoa Niên, tức nét vẻ đẹp nhất của một đời người. Mô tả Hong Kong thập niên 60 của thế kỷ XX. Chàng biên tập viên thời báo và nàng thư ký xinh đẹp; cả hai chung cảnh ngộ bị vợ/ chồng phản bội, ngoại tình. Họ cũng trú ngụ chung một căn hộ kề cận nhiều phòng cho thuê có cầu thang lên xuống bắt nối với con hẻm nhỏ xuôi dọc tường rào bằng xi măng cốt thép…

Không phải lần đầu xem nên ít bị ảnh hưởng và thích tăm tia hơi kỹ, nhất là khi tư thế cần uốn cong chút vì sợ che chắn tầm nhìn mấy kẻ thấp bé phía sau. Quạt cây bổ sung, hơi mát hỗ trợ vừa đủ xua tan bầu khí ngột ngạt đêm mùa hạ càng khiến bản thân chăm chú tợn. Thế là cảm nghĩ nghiêng về tính giễu nhại của tinh thần hậu hiện đại. Đâu có gì bức bối, bí bách hoặc khai thác cảnh làm tình, dục lạc chi mô; quan hệ của cặp đôi trong phim thiệt là giỡn chơi theo kiểu ‘truyện khơi đời, đời với chuyện’. Họ *diễn* vì cách í phản ánh sâu xa nỗi sợ bộc lộ cõi lòng, cả ngại ngần lo tha nhân đánh giá, những phiền muộn khó lường nếu dám đẩy đưa; toàn bộ phim phơi bày tinh thần thị dân thời hậu thuộc địa chưa bị công phá kinh hoàng bởi kỹ thuật số, ở đó cách chuyện trò trực tiếp lẫn thói quen gọi điện thoại cố định minh hoạ còn đủ sức thuyết phục cho sức chịu đựng của các giá trị truyền thống, thậm chí khó phủ nhận nổi hơi hướng đậm chất phớt Anglais.

Thói quen ăn tiệm, lập hội đánh bài, thuê phòng trọ, đặc sản Trung Hoa, kiểu phục trang một thời, hay lối dùng cái khăn mouchoir lau phẩy nước mưa rất điệu đàng cơ chừng càng khiến vị yêu lứa đôi không quá u sầu, tê tái. Đó là chuyện tình khởi phát đặng sáng tác văn chương in báo dài kỳ nghiêng hẳn tính nữ với nghĩa của sự chăm chút, thấu đáo, chừng mực, bảo bọc, trọng thị, và tương kính. Huyễn tưởng ưu tiên trú ngụ nên thực tại chạm mặt hàng ngày khỏi dằn vặt, tiếc nuối thêm phiền. Yêu trong không gian chật hẹp được bổ trợ hào phóng bởi thời gian thừa thãi: nghĩ về, ở bên… Phim gây ấn tượng quá ổn với các nữ khán giả nhỡ nhàng mộng mơ vì nó tuyệt chẳng thèm thể hiện chút chi dục tình bù trừ mãnh liệt, ào ạt, gấp gáp.

Đoạn kết chuyển đại cảnh trên nền di tích đền đài chùa Tháp ngàn năm xưa cũ cùng motif văn hoá ‘khoét lỗ thổ lộ bí mật’ ruột gan tích chứa đau thắt bấy lâu vô hình trung, cân bằng trở lại ngọt bùi- cay đắng. Bộ phim Niên Dạng Hoa Niên nương nhờ sự lên cao đạt đỉnh của cuộc đời người ta để lựa chọn phẩm tính biểu đạt độc sáng: tác nhân quyến rũ, thu hút vô vàn là do anh ấy và cô ấy thấu hiểu bản thân. E chừng có một bài thơ của Khan Zada người Ấn viết đầu thế kỷ XX mang tựa đề ‘When Love is Over’ cũng giãi bày dư âm ái tình luyến lưu tương tự.

Hoạt động mà không hoạt động

Xem tranh Chagall, bức Cuộc Dạo Chơi, thấy cảm nhận của Daniil Granin (đã mất hôm 4.7, thọ 98 tuổi) về tình yêu như một sự vắng mặt đầy phi lý.

Bài tập cho tính hiện diện ở bất kỳ nơi nào cũng đòi hỏi sự chuyển hoá; ở đây, sự chuyển hoá của ham muốn với nhà văn Soviet quá cố (tác giả cuốn sách hồi xưa từng rất ưa kèm hệ thống tính đếm thời gian mang tên nhà bác học Alexander Lubishchev một thời ứng dụng mê mải tháng ngày: Kỳ Lạ Thế Đấy Đời Này/ This Life Strange) chứng tỏ vô cùng hiệu dụng: cuộc cách mạng nếu bùng nổ thì chẳng gì khác hơn là tự mình tuyên bố quyền che đậy các phương thức dẫn dắt và thay thế bằng một sự giáo dục chuẩn tắc mới mẻ, một trải nghiệm khác xa tính bị động.

Chính trị của việc đọc phải tương thích với sự phân tích mà việc mô tả thực hành kéo dài đã tạo nên hiệu ứng nổi bật đủ khiến các thực hành ấy có khả năng chính trị hoá, chí ít vượt ngoài quy luật thông tin. Người ta thường cần đọc trong bóng tối, dẫu có đọc ngay giữa thanh thiên bạch nhật thì sự mù mờ và mơ màng và thiếu minh bạch vẫn bao quanh cuốn sách. Người ta rất dễ tự trách mình do cứ ngồi lỳ cùng một chỗ, vì việc đọc thì không có chỗ.

Viết là nỗ lực thao tác thật nặng nhọc để mô tả thành con chữ năng lực tái khám phá các di chuyển truyền thống âm thầm của việc đọc bên trong cơ thể. Phê bình lý thuyết hoạt động.

Không chỉ là về sự đồng thuận, tuân theo: thực nghiệm đi rồi thực nghiệm lại…

Vụ nữ sinh lớp 7 ở Trà Vinh bị các bạn cùng lớp đánh đập vẫn đang trên tiến trình giải quyết các hậu quả liên quan. Tính chất vào hùa của các cô cậu học lực khá, giỏi này gợi nhớ tới thực nghiệm nhà tù Standford (tham khảo) của giáo sư tâm lý học Philip Zimbardo đề cập ít nhiều tới các nguyên nhân gây tội ác do tình huống.

Bài viết chủ yếu giới thiệu chi tiết hơn về tính chất tuân theo, đồng thuận (conformity) cũng như các lời tự bạch của người tham gia và các nhận xét, thí nghiệm giới chuyên môn đánh giá lại.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn gần ba mươi năm sau, Zimbardo thảo luận động cơ của việc thiết kế một trong những nghiên cứu tai tiếng nhất lịch sử tâm lý học dù nó đã góp phần phản ánh hiểu biết về việc lạm dụng được sắp đặt sẵn cùng tội a tòng, cũng như vai trò cá nhân của ông trong việc tạo ra một ‘trại tù trên đĩa nuôi cấy’.

Đại học Stanford là một trong các ngôi trường đẹp tuyệt và ở tại khoa tâm lý, tôi đã khởi tạo một địa ngục nhỏ cho các sinh viên đó. Người phụ nữ trẻ Christina Maslach, vừa nhận chức giáo sư tâm lý của đại học Berkeley và chúng tôi mới bắt đầu hẹn hò nhau.  Tôi ngước lên nhìn đồng hồ chỉ 10 giờ thường lệ, các tù nhân túi giấy ụp trên đầu, chân bị xích, tay kẻ này đặt lên vai kẻ kia, di chuyển mù lòa dọc sảnh đường dưới sự giám sát của bọn cai ngục không ngừng la hét tục tĩu… và điều tôi muốn tìm biết rồi nói với Chriss, em nhìn này. Tôi đã nói đại khái ‘lò thử thách hành vi con người’. Và cô ấy đáp, ‘Em không muốn nhìn thấy điều chi như thế này nữa!’ rồi bỏ chạy, tôi đuổi theo, và chúng tôi cãi nhau to: sao thế, anh là cái loại tâm lý gia gì vậy?

Và nàng bảo tôi rằng ‘Em không muốn nghe về sự giả lập, em không muốn nghe về quyền lực của tình huống, thật tệ hại điều anh đang làm với các cậu trai này, họ không phải là sinh viên, họ không phải là tù nhân, không phải cai ngục, họ trẻ tuổi, những gì họ thể hiện thật khủng khiếp, và anh phải gánh chịu trách nhiệm. Hết tát bên trái, nàng chuyển sang phía phải, ‘Em không chắc mình có nên tiếp tục hẹn hò với anh, cái con người giống quái vật thế này.’ Tưởng chừng có trận mưa lớn đổ ào xuống trước mắt và tôi khó ngờ nổi là cô ấy ở đó mười phút để nói rõ ràng điều ghê gớm như vậy.

Triển khai vào 1971, thực nghiệm nhà tù Standford (SPE) kín tiếng và có hai phim truyện dài sáng giá lấy cảm hứng từ nó. Các sinh viên đại học tham gia thực nghiệm được chỉ định làm cai ngục đã trở nên tàn bạo, nghiên cứu trục trặc khá sớm. Người đứng đầu cuộc nghiên cứu Philip Zimbardo cho rằng bài học rút ra là trong một số tình huống nhất định, người tốt dễ trở thành kẻ xấu.

Tờ tập san cựu sinh viên đại học Standford đã hỏi chuyện người tham gia lẫn các nhân vật liên quan sau 40 năm sự kiện SPE; đáng đọc không chỉ vì bình luận của giáo sư Zimbardo về chuyện nghiên cứu dần vụt khỏi tầm kiểm soát mà còn do nó ghi lại lời của một trong các ‘cai ngục’ (giờ là người bán hàng thế chấp), một trong các ‘tù nhân’ (giờ làm giáo viên) và nhân viên kiểm soát kêu gọi chấm dứt nghiên cứu. Rọi ánh sáng vào cả hai mặt của câu chuyện nghiên cứu lẫn đời sống của các nhân vật chủ chốt ngày ấy và bây giờ, văn bản vừa nêu cho ví dụ thú vị về cách thức chúng ta sống quen với môi trường ra sao và mọi thứ thật nhanh chóng xuất hiện khi mình không phải ‘lo nghĩ’, tắt bụp ngay tâm trí phân vân là hành động tự phòng thân trong các tình huống khó nhằn… Tỷ dụ, dưới đây trích dẫn chia sẻ của Angel, vợ giáo sư Zimbardo.

Phil đến bên rồi hỏi “Em làm sao thế?” Lúc đó tôi nghĩ “Tôi không quen anh. Anh không nhận ra à?”. Tựa như hai chúng tôi đang đứng hai bên vách ngăn cách của một vực sâu. Giá mà vẫn chưa đang hẹn hò, anh ta chỉ như thành viên trong khoa thôi thì tôi đơn giản dễ nói ‘xin lỗi, tôi ra khỏi đây’ rồi cất bước đi ngay. Song người này bấy lâu nay đã làm tôi ngày càng ưa thích nên tôi cần giải quyết vụ việc. Tôi đã ở lại, đôi co và kết cục thành cuộc tranh cãi kinh khủng khiếp với anh ấy. Tôi nào tưởng tượng chúng tôi lại có thể đấu khẩu nhau lúc đó.”

Hic, Zimbardo hẳn là một gã trai thông minh và kẻ nắm bắt vấn đề nhanh gọn; người phụ nữ rõ là đối thủ bắt mình phải câm miệng, đứng đó chịu trận mà nghe sỉ vả, rồi biết không bao giờ nên để cô ấy rời xa mình.

Ngay từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, SPE đã bị chỉ trích, và làn sóng phê bình sau đó càng tăng cao. Các chi tiết mới cho thấy, chủ yếu Zimbardo khuyến khích các ‘cai ngục’ của mình hành xử thật bạo ngược. Luận điểm phản bác chỉ ra rằng chỉ 1/3 các cai ngục thể hiện thật tàn ác (điều này phủ quyết quyền lực chi phối toàn bộ tình huống). Nhiều thắc mắc cũng nêu lên về việc tự chọn các kiểu tính cách đặc thù cho tham gia thực nghiệm. Chưa nói, nghiên cứu Nhà tù BBC do Steve Reicher và Alex Haslam tiến hành 2002 nhằm kiểm tra lại diễn giải của SPE; các nhà nghiên cứu thận trọng tránh dẫn dắt trực tiếp người tham gia như Zimbardo từng làm, và đây là lần đầu tiên các tù nhân khởi sự thành một nhóm tỏ rõ bản dạng mạnh mẽ đủ lật đổ bọn cai ngục.

Nghiên cứu SPE được dùng để giải thích các vụ hành hung tàn bạo thời nay, như Abu Ghraib (USA), và với gần 2 triệu sinh viên Hoa Kỳ đăng ký khóa học tâm lý học đại cương thì nó rất cần được giới thiệu trong giáo trình thật chính xác.

Giáo sư Griggs phân tích 13 giáo trình TLHĐC nổi trội tại Mỹ đều được tái bản gần đây thì 11 cuốn xử lý SPE, đưa vào từ 1 đến 7 đoạn; 9 cuốn có hình minh họa, 5 cuốn không chỉ trích gì; 6 cuốn khác chỉ phê thoáng qua, hầu hết tập trung vào khía cạnh đạo đức nghiên cứu; chỉ có 2 cuốn nêu nghiên cứu nhà tù BBC; mỗi một cuốn cung cấp tài liệu tham khảo đúng chuẩn cho việc đọc có phê phán SPE. Tại sao đa phần giáo trình TLHĐC tại Hoa Kỳ lại lờ đi tầm chỉ trích dài rộng rất cơ bản về SPE? Giáo sư Griggs cho rằng, cơ chừng các tác giả giáo trình bị thuyết phục bởi hồi đáp của Zimbardo; ngoài ra, có thể họ bị áp lực phải trình bày ngắn gọn cũng như đảm bảo giáo trình luôn cập nhật thông tin. Griggs khuyên nên đưa SPE vào chương phương pháp nghiên cứu và dùng khiếm khuyết của thực nghiệm này để giới thiệu với sinh viên về các vấn đề cốt lõi như độ hiệu lực sinh thái, đạo đức, các tính cách đòi hỏi và hậu quả kéo theo khi trình bày các kết quả mâu thuẫn. “Tóm lại, SPE và việc phê bình nó như sợi dây nối kết vững chắc hàng loạt các khái niệm nghiên cứu lại với nhau thành một ‘câu chuyện’ tốt mà nó không chỉ nâng cao việc học tập mà còn khuyến khích sinh viên tư duy phản biện về tiến trình nghiên cứu cũng như các cạm bẫy giăng đầy dọc theo…”

Vậy là còn đó câu hỏi bỏ ngỏ: liệu đúng như Zimbardo nói rằng hoàn cảnh có thể dễ đẩy đưa người tốt thành kẻ xấu? Song sẽ như nào nếu những người tham gia SPE vốn không phải ‘người tốt’? Ý tưởng tham gia vào một thực nghiệm nhà tù hoặc làm việc tại một bộ phận thẩm vấn, lôi cuốn một tính cách nào đó?

Hai tác giả kiểm tra lại nghiên cứu bằng cách đẩy lên trang báo của trường đại học, như cách nhóm Zimbardo từng làm, hai mời gọi; một cái mời nam tham gia “một nghiên cứu tâm lý về đời sống trong tù” và một cái mời tham gia “một nghiên cứu tâm lý”. Như SPE, không quan tâm chuyện ai đăng ký mà có vấn đề tâm thần, tội phạm hoặc chống đối xã hội; đáng nói, 30 người còn lại với “nghiên cứu về đời sống nhà tù”có điểm số cao hơn hẳn về sự xung hấn, cửa quyền, áp chế xã hội và điểm thấp xuống về sự vị tha và thấu cảm, so với 61 tình nguyện viên cho “nghiên cứu tâm lý”. Đối lập với cách tiếp cận tình huống, nghiên cứu mới nhắm vào quan điểm tương tác trong hành vi con người, cho rằng nhân cách người ta ảnh hưởng tới các tình huống họ thấy mình ở đó. “Chúng ta sống đời mình thông qua lựa chọn việc ở một số tình huống này và tránh rơi vào tình huống khác; ngoài ra, các cá nhân mang tâm trí giông giống nhau hay kiếm tìm các tình huống tương tự. Vì thế, dù là nghiên cứu của Zimbardo hay nhà tù thực tế Abu Ghraib, các tính cách giống nhau rất có thể “tác động qua lại khá yếu ớt với sự chống kháng việc lạm dụng và củng cố nhau thêm về ước ao dấn mình vào chuyện đó”.

Vụt thấy khoảng tối thoáng qua của tâm lý học

Một người quen đến khám bệnh, bác sĩ cho cậu ta dùng một loại thuốc được dặn trước là có thể khiến hệ thống miễn dịch suy giảm rồi dần nhiễm virus lây lan. Không có chuyện đùa tếu gì ở đây cả. Bác sĩ giải thích rằng thuốc ấy là thứ đầu tiên làm bệnh nhân dễ tổn thương và cơ thể anh ta sẽ có nhiều khả năng chống kháng các vi khuẩn trong tương lai khi hồi  phục căn bệnh. Một cơ chế phòng vệ tự động được kích hoạt nhằm chống lại sự lây nhiễm vi khuẩn.

Giống như đang đến điểm tập thể hình và luyện tập thật chăm chỉ. Mình sẽ cảm thấy khô họng, mỏi mệt rã rời vài ngày tới rồi các cơ bắp theo thời gian săn chắc hơn lên, tự điều chỉnh từ từ và sẽ càng có thêm khả năng nâng nhiều vật lớn nặng.

Đây chính xác tựa cách các bác sĩ tâm thần có khả năng chữa lành những rối rắm cũng như đưa ngược trở lại các chức năng thân- tâm an lạc.

Trong cuốn sách về tâm lý của sự thuyết phục, tác giả thảo luận về làm sao chúng ta có thể tạo đòn bẩy bằng các kỹ thuật tâm lý giúp khách hàng mua sản phẩm mình đang chào bán. Không chỉ dùng trong thương mại, các kỹ thuật ấy còn được sử dụng nhằm thuyết phục và gây ảnh hưởng cho bất kỳ sự đấu thầu hay mệnh lệnh nào chúng ta mong muốn.

Bộc lộ những sai lầm, khiếm khuyết

Một cách để giành được sự tin tưởng của tha nhân là thay vì thể hiện sức mạnh thì nên bộc lộ những sai lầm, khuyết thiếu. Khi mình có khả năng chấp nhận những lầm lạc và sai sót, người sẽ lập tức thoải mái với sự hiện diện của ta vì họ cảm thấy siêu việt hơn. Hầu hết mọi người ghen tỵ với những ai thành công hơn họ, đặc biệt với bạn bè thân thiết.

Nếu mình là nhân viên bán hàng, trước tiên nên luôn lộ ra các khiếm khuyết của sản phẩm nhằm giảm thấp sự phòng vệ của khách mua. Hầu hết nhân viên quá chăm chắm bán các ưu điểm của sản phẩm đến độ làm cho khách cảnh giác rằng nhân viên đang cố đi đến việc kết thúc cho nhanh chóng.

Luôn dành lời nói tốt đẹp về người khác

Đừng bao giờ nói xấu sau lưng. Ai đó đồn thổi với ta về những sai sót của kẻ khác thì chẳng mấy chốc, chính mình lại có thể trở thành đối tượng bị đồn thổi. Điều ấy sẽ thúc mình phòng vệ với kẻ này.

Mình nên luôn dành lời nói tốt đẹp về ai đó vắng mặt. Điều này khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi có mặt mình và sẽ tin mình vì họ biết mình dễ thương với phát ngôn tích cực. Nếu khó chịu với ai đó, mình phải đối chất ngay để khỏi giấu che sự bực bội.

Có qua có lại

Nếu cần một sự quý mến từ tha nhân, đầu tiên mình nên đề cao giá trị của họ. Tỷ dụ, đang trên tiến trình giới thiệu và rao bán sản phẩm thì mình uống nước. Ngay lập tức mình đưa một chai nước đóng sẵn khác với lời mời lịch sự, điều này sẽ nảy sinh nhu cầu qua lại khi khách cảm thấy mang ơn. Vì thế, lúc đề nghị thỏa thuận giá cả, họ sẽ cảm thấy nhu cầu đáp lại điều được nhận; làm tăng thêm xác suất họ lựa chọn mua hàng.

Vậy nếu cần sự ghi nhận quý mến, hãy thử cung cấp cho người ta trước tiên một giá trị nội tại mềm mại nhằm đào sâu nhu cầu có qua có lại về sau…

Sự kiểm chứng của xã hội

Khi số đông đang thể hiện một hoạt động đặc thù, nó tạo điều kiện cho chúng ta bước vào việc quyết định với một kịch bản soạn sẵn. Giả dụ mình đang làm việc tại một hội chợ khuyến mãi tưng bừng náo nhiệt và nhịp điệu diễn ra rất nhanh thì mình có thể chứng thực được cách thức làm sao tận dụng sự kiểm chứng về mặt xã hội để hưởng đặc ân. Công ty mình lo cài đặt các thiết bị âm thanh cho dân cư trong vùng, rồi không ngừng mở rộng và tăng cao thêm sự kiện là ngày càng có nhiều người đứng xếp hàng khi rất đông đang mua sản phẩm đặc biệt này.

Điều ấy thôi thúc khán giả đang nghe mình bước vào kịch bản tự động của việc quyết định mua ngay.

Trạng thái hiếm hoi

Dẫu có đông khách hàng, mình phải bảo họ rằng số lượng sản phẩm không dồi dào nhằm kích hoạt phản ứng lựa chọn mua hàng trong tâm trí họ. Biết sản phẩm sẽ loáng cái hết sạch, khách hàng sẽ không chần chừ ra quyết định đặt hàng. Với người đang lưỡng lự  hoặc phân vân xem thêm sản phẩm của đối tác cạnh tranh, sử dụng kỹ thuật này có thể khiến họ thay đổi dự tính.

Chẳng hạn, có thể bảo với khách hàng rằng công ty chỉ còn lô hàng cuối trong kho sẽ khiến khách hàng muốn vồ lấy.

Nối kết các điểm trên và mình sẽ cải tiến, hoàn thiện hơn mối quan hệ với bạn bè, người yêu cũng như thăng tiến nghề nghiệp của bản thân. Thực tế, không ai sẽ thiết tha gắn bó và yêu mến mình lắm nếu mối quan hệ quá dễ dàng đạt được. Cách tiếp cận lý tưởng là tạo cho tha nhân nhu cầu làm việc vì sự chu đáo, ân cần của mình. Như cách săn việc trong một công ty danh giá với vòng trong vòng ngoài đầy người để được lựa chọn. Thậm chí, nếu mức chi trả có ít ỏi và kém cỏi, sự bất hòa về mặt nhận thức sẽ xuất hiện và khiến chúng ta hợp lý hóa cách thức suy nghĩ rằng đây là cơ hội tuyệt vời, bởi vì mình phải tốn nhiều công sức và thi thố nên mới được vào.

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Cài đặt đồng bộ và nâng cấp hệ thống: hiểu biết tốt hơn đời sống tâm lý con người

Nhân loại lại bay trên  cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng...
Nhân loại lại vội bay lên trên cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng…

Khi cái laptop nồi đồng cối đá T42 IBM bị bánh xe ô tô cán lên làm vỡ màn hình do đặt để bất cẩn, chủ nhân của nó tiếc tiền gắn liền kỷ niệm nên nhanh nhảu nối dây cài cắm với màn hình máy tính bàn vốn tạm thời hỏng hóc ổ cứng… Thói khôn lỏi, sửa chữa vặt vãnh khó đảm bảo ổn thỏa lâu dài, chưa nói sẽ không khỏi mặc cảm tự ti khi so sánh với các dòng đời mới và vô vàn kiểu loại smartphone, Iphone, Ipad truy cập mạng lưới điểm toàn cầu cũng như tích lũy thông tin hết sức hiệu dụng.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Liệu ưu tiên khẩn thiết tìm hiểu có phải là chủ đề nóng hừng hực: tâm trí con người cần được nhận diện và rồi kiểm soát nếu em í bất chợt lêu bêu? Bởi ở mức độ nhất định, khoảng cách làm sáng tỏ cái nhìn nên đừng chú mục sát sườn: tại sao tâm trí người lớn tuổi hơn thường ít có xu hướng lang thang?

Tỷ dụ dễ hiểu rất đời là câu chuyện phân tách tính dục (sexuality) với tư tưởng dâm dục (eroticism) khá tương tự như khác biệt giữa con vật và loài người:

Động vật có sex và điều đó tự nhiên, nó là thôi thúc căn bản, thuộc bản năng, mang yếu tố sinh đẻ. Con người có đời sống dâm dục. Chúng ta thay hình biến dạng tính dục. Chúng ta xã hội hóa tính dục thông qua trí tưởng tượng. Và tác nhân cốt lõi của hành động dâm dục là sự sáng tạo, trí tưởng tượng, hoặc khả năng làm mới lại, khả năng hưởng thụ và đoán biết trước… Chúng ta có thể mường tượng hành động mà cóc nhất thiết đích thị tiến hành nó. Và đấy là sự vun bồi tự thân nỗi niềm khoái lạc.

Tư tưởng dâm dục thế, theo nữ tâm lý gia lừng danh Esther Perel, hàm ý xem sex như một trải nghiệm rung động mãnh liệt và siêu việt. Perel gọi đó là “nơi mình đi vào trong chính lòng mình cùng với kẻ khác”. Nhiên liệu cho cuộc du hành siêu việt này là sự sáng tạo riêng có của cá nhân. Và xuyên qua sự thăm dò trí dâm dục khiến các huyễn tưởng dậy lên. Các ranh giới mở rộng ra và nhiều thực tế mới mẻ được rèn giũa. Do vậy, tiêu điểm của tư tưởng dâm dục và trí thông minh gợi tình không phải ‘quan hệ” mà mang “ý nghĩa của sex”. Siêu việt là bởi thế. Perel cũng chỉ ra tính cách tân như điểm quan trọng khác giữa sex/ erotics: không phải là các vị trí hoang dại mà hơn thế là điều mình như người tham gia đem theo vào trải nghiệm: cảm xúc, sức quyến rũ, độ đam mê, tinh thần. Sự nối kết giữa sự mới mẻ và tính sáng tạo là điều bắt buộc để duy trì một mối quan hệ lành mạnh…

Dẫn chứng cách nhìn trên càng dễ chứng nhận sự thật rằng ngày nay, làm việc hoặc nói chuyện với người trong lĩnh vực kinh doanh, giáo dục, chính trị, văn hóa, xã hội… gì gì thảy đều hay được đề nghị đưa ra một mô hình hoặc tập hợp các công thức khoa học có thể ‘giải quyết’ các vấn đề hành vi giúp họ. Dẫu hiện có nhiều mô hình về cách con người ứng xử, sự tạo thành thói quen, và nhận thức khả dĩ giúp chúng ta thấy hiểu bản chất chính mình thì bất kỳ mô hình nào, theo định nghĩa, đều là việc đơn giản hóa thế giới đích thị đang là. Các mô hình tâm trí cũng cụ thể hóa hiểu biết của chúng ta ở một thời điểm nhất định. Hàng ngày, nảy nở nghiên cứu thêm và cập nhật hiểu biết về phương thức tâm trí hoạt động. Trong khi các phát hiện này phản hồi với các mô hình đang tồn tại, chúng thường đứng ngoài rìa của những khám phá kinh điển được dạy trong sách giáo khoa và các cuốn khoa học phổ thông trong một thời gian dài.

Và quả đúng là chúng ta mê những giải thích thật giản dị và chặt chẽ về các hiện tượng phức tạp. Chúng ta thích biết bao nhiêu việc trải nghiệm đời thường có thể được làm rõ ràng, minh bạch nhờ các khung lý thuyết đơn giản. Lợi lạc lớn lao việc bình dân hóa khoa học và nhờ hiểu biết các tiến trình tâm thần từng khiến chúng ta khốn khổ. Song khá nực cười để nhìn nhận bất kỳ mô hình đơn lẻ nào như nền tảng cơ bản cho hoạt động kinh doanh, marketing, hoặc quyết định sự vụ ở đời. Một mô hình có thể là khung tham chiếu có tính khai sáng đi nữa thì nó không thể hồi quang rộng khắp sự phức tạp của tâm trí.

Đó là lý do tại sao nếu mình nghiêm túc muốn làm ăn tốt đẹp và tạo lập những quyết định sống đúng đắn thì mình nên ưu tiên nghiên cứu các khoa học hành vi liên tục và suốt đời. Mình cần cập nhật thật nhất quán và tái xác lập yếu tố các viễn tượng chúng đưa ra nhằm tự bảo vệ bản thân chống lại các mô hình lỗi thời vốn gây lầm lạc hơn là làm rành mạch.

Nói khác, khởi từ bây giờ, mình nên tháo gỡ các mô hình không chính xác đã mang theo suốt từ bấy đến nay. Mỗi chúng ta có cả lố tâm lý cổ truyền chuyển giao bởi nền văn hóa, thông qua bố mẹ, và cách giáo dục thừa hưởng. Có thể nhiều ý tưởng trong đó hãy còn nhất quán với nghiên cứu đương đại, song đa phần thì không.

Chẳng hạn, hầu hết mọi người nghĩ rằng chúng ta hành động dựa trên ‘niềm tin”. Tuy thế, các nghiên cứu chứng thực, chúng ta tạo các quyết định phụ thuộc nhiều yếu tố lắm, như sự dễ chịu và việc sắp đặt (ở tiệm tạp hóa chẳng hạn), rồi đi tới tìm ra những hợp lý hóa hậu thuẫn cho những lựa chọn ấy. Nghĩa là, chúng ta không luôn luôn mua thứ gì vì thích, chúng ta thích thứ gì vì mình mua nó. Chúng ta vốn siêu trong vụ kể chuyện theo dạng biện hộ thế.

Nhiều người chúng ta đầy ứ các quan niệm sai lầm kiểu vậy. Song chúng ta khó tránh được. Nghệ thuật sử dụng khoa học hành vi không phải là điều trọng tâm trong nền giáo dục của chúng ta.  Chúng ta nên bắt đầu làm quen với việc tạo lập và tái xây dựng lại hiểu biết của chúng ta về hành vi và nhận thức con người nhờ kiểm tra, xem xét nghiên cứu mới nhất khi nó được công bố. Vẻ đẹp của cách tiếp cận gộp lãi thêm lên này là nó sẽ làm thay đổi lối chúng ta nghĩ về các vấn đề, bạn bè, và đời sống chúng ta khi chúng tiến triển, biến hóa. Tựa như chuyện nâng cấp hệ điều hành để ngày càng sát hợp hơn với thực tế. Đó là một trong những điều quan trọng chúng ta có thể tiến hành, và là cách chắn chắn đảm bảo áp dụng hết sức chính xác tâm lý học vào đời sống của mỗi chúng ta.

Cũng nên biết, mặc dù chán ngán do đánh giá quá cao động cơ song nghiên cứu của các nhà tâm lý học cũng vẫn đang đuổi theo hạnh phúc. Và bản chất con người đang tiến triển trong đáp ứng với những cách tân của công nghệ, chẳng hạn tác động của công nghệ điện thoại di động đến động năng trò chuyện hàng ngày.

Chắc chắn, vẫn còn để ngỏ gợi hứng về cách thức tâm trí hoạt động. Cần tìm biết bộ não đã tạo ra thế giới tâm thần chúng ta như thế nào, chúng sẽ chỉ ta hay cách từ vựng cơ bản của tâm lý học hiện đại về trí thông minh, hành vi, thái độ, động cơ, v.v… không phải cứ thuộc kiểu dạng bản chất mãi mãi như thế mà được cấu trúc, phân loại dựa vào mục tiêu đặc thù ở các thời điểm trong lịch sử; nhiều mục tiêu cũ mèm giờ không phục vụ được cho nhu cầu hiện tại nữa và dần gây trở ngại cho tiến bộ tương lai…

Ngược dòng thời gian đặng trầm ngâm cùng tác phẩm hiếm thấy và ít khi được thông tỏ của B.F. Skinner. Đối lập với một số diễn dịch sai trái về vị trí của ông, Skinner không những chưa từng bao giờ ngờ vực rằng chúng ta có thể mô tả các trạng thái nội tâm như suy tư hoặc cảm xúc mà còn tự hỏi cách thức chúng ta làm thế nào để tiến hành chuyện đó; câu trả lời của ông gây ngạc nhiên, tương thích với thực hành tâm lý trị liệu, và là một thách thức đối với những ai giả định chúng ta có thể biết các cảm xúc bản thân chỉ nhờ tiến trình đơn giản của việc tự nội quan.

… Tác giả Gay Watson (2008) khuyến cáo chúng ta tích hợp các cách tiếp cận thân thể và tâm trí với nhau , vẽ ra những tiếp cận dự liệu trước từ phương Đông; và như cuốn sách trình bày, các lý thuyết và mô hình tâm lý, tâm lý trị liệu có thể tìm được vết ở nhiều biến thể của tâm lý học Phật giáo 2500 năm rồi.

Điều này gợi nhắc tới tác phẩm kinh điển thể hiện các nguyên tắc của tâm lý học đồng thời nó cũng minh họa đặc sắc cho lối viết, khả năng dự báo và tuệ giác của William James từ 1890.

Như cái chết của tâm trí, các công ty internet ngày nay đang sử dụng các dữ liệu cực lớn tích lũy từ từng hành vi nhỏ nhặt của người dùng mạng để gây ảnh hưởng tới lựa chọn của khách hàng. Các lý thuyết và tư tưởng tâm lý học về cách thức tâm trí hoạt động đóng vai trò rất nhỏ bé nếu không nói là nó vắng bóng trong các mô hình được đề cập trong bài báo vốn dựa hoàn toàn vào các mô hình từ toán học.

Phê bình khá công bằng, so sánh với ngành sinh học không ngừng tiến hành các nghiên cứu nhằm chỉ cố gắng mô tả các giống loài mới, tự thân tâm lý học có vẻ cũng đang thu hẹp tâm trí của chính nó, vì sự mù quáng do sở thích dùng các phương pháp thực nghiệm trong khi hạ thấp tầm quan trọng của việc nắm bắt các hiện tượng mới mẻ và thú vị của đời sống con người.

Tha nhân – trọng tâm trị liệu: một cách tiếp cận thú vị khác

Thường các nhà trị liệu tâm lý rất đặc trưng trong cách làm việc với lối hỏi “nhưng giờ thì chị cảm thấy thế nào?” Song thay vì quấy rầy thân chủ khỏi câu chuyện của họ về thế giới như thế, chính người theo cách tiếp cận tha nhân- trọng tâm (Other- Centred) lắng nghe hết sức cẩn thận rồi đặt câu hỏi trái ngược về đối tác có hành vi khiến thân chủ đang phàn nàn: “nhưng điều gì mà anh ấy thích?”

Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận này phản ánh sự dấn thân đầy ý thức với những người khác, gồm cả các quan hệ con người và tiếp xúc của chúng ta với môi trường xung quanh; là kiểu trị liệu sinh thái (ecotherapy), nó đưa các công việc trị liệu ra ngoài trời và kết nối vởi cả các loại hình nghệ thuật sáng tạo cũng như mối quan tâm xã hội.

Cụ thể hơn, phương pháp tha nhân- trọng tâm thể hiện sự khám phá tri nhận đã điều kiện hóa sẵn rồi và tái lượng giá về các mẫu hình chú ý và hành vi. Những chuyển đổi tri nhận như thế dẫn tới thay đổi tâm lý cá nhân người ta như sự định dạng thích ứng với các điều kiện mới. Phương pháp tích hợp, một mặt thẩm tra các động năng của trải nghiệm, và mặt khác, truy vấn tính xác thực của hiện thể đang tri nhận. Toàn bộ công việc diễn ra bên trong khung đạo đức, sự chú ý hợp trội, tính thấu cảm và các kỹ năng tỉnh thức (mindfulness skills).

Với bài trinh bày tại Hội thảo (2012) của mình, tác giả Caroline Brazier đã thể hiện sáng rõ cách tiếp cận trị liệu rất khác vừa nêu. Theo đó, Brazier làm nổi bật sự cân bằng giữa phát hiện cá nhân, với kết nối thể lý và các bài tập chú ý cũng như các câu hỏi giúp tri nhận dễ dàng hơn, đi kèm khung lý thuyết dựa trên cách tiếp cận của Carl Rogers, các truyền thống nhân văn- hiện sinh và con người- trọng tâm, đề cao mối quan hệ và thấu cảm như các yếu tố chính yếu quyết định trị liệu thành công, và nhà tham vấn từ căn bản tương tự dường như đạt được giá trị tối ưu khởi đi bởi các trực giác mới mẻ…; khi nền tảng được đặt để rồi, trong dạng thức nhân cách và biểu đạt thành niềm tin cá nhân, chúng ta tiến tới ‘tâm lý học Phật giáo’ với khái niệm cốt lõi là các ‘quan hệ đối vật’.

‘Định dạng quan hệ đối vật’ trong ý nghĩa tâm lý học Phật giáo hơn là cảm nhận của Phân tâm, khái niệm này biểu đạt việc “tâm trí bị điều kiện hóa bởi đối vật của sự chú ý”. Và đối vật chúng ta đang chú tâm vào (bất kỳ con người, đồ vật, trải nghiệm gì) thì không nhiều ít, hơn kém chi so với đối vật được tri nhận. Chún ta mong đợi thấy thứ gì, chúng ta thấy thứ đó, và khi thấy thứ đó rồi thì mình lại càng mong thấy nó hơn, và vì thế bị mắc kẹt. Vòng tròn tự củng cố của mong đợi và phản ứng hàm nghĩa chúng ta xây dựng xung quanh mình một bức tường tâm lý nhằm giữ cho bản thân thoát khỏi những điều mình sợ hãi và kháng cự. Và do cuộc đời vốn không dự đoán nổi, có đầy rẫy nỗi sợ hãi và vô vàn kháng cự. Chúng ta bắt đầu dựa cậy, mời gọi cấu trúc tâm thần hoặc phòng vệ này, cái gọi là ‘của tôi’: một định dạng được tạo dựng bao quanh các thói quen chúng ta thiết lập để giúp mình khỏi nhọc trí, bảo bọc bản thân, hoặc lập tức lãng quên luôn.

Sự tạo tác thế giới này, thế giới của chúng ta, hoặc ‘của tôi’, gồm nhiều đối vật khác nhau (người, các trải nghiệm) để nâng đỡ cảm nhận của mình về cái tôi và về thực tế cũng như độ an toàn của các thế giới do mình tạo tác. Chúng ta kiếm tìm các đồ vật và con người hỗ trợ phương cách mình đang muốn nhìn thấy (có thể chúng ta chỉ chọn những ai tán đồng với mình, hoặc có thể mọi người là kẻ thù). Đây là mẫu hình khá quen thuộc trong trị liệu và trong tài liệu tâm lý học, ví dụ, người bị lạm dụng thường duy trì các quan hệ mới và những gì họ thu được càng giống như trước; tựa điệp khúc, ‘làm sao tôi có thể thoát khỏi mẫu hình đó đây?’

Câu trả lời Brazier đưa ra: tập trung chú ý sâu xa vào các đối vật mà ta tri nhận như trạng thái có ý nghĩa đối với bản thân và cách nó điều kiện hóa lối mình suy nghĩ và cảm nhận. Brazier hướng chúng tới thuật ngữ Phật giáo gọi là ‘sắc’ (rupa). Từ này không chỉ mang nghĩa ‘các đối vật được tri nhận’ mà còn trỏ điều gì đó mà quyền lực của nó gây phấn khích và thu hút sự chú ý của chúng ta; có thể gọi nó là một ‘nút bấm’, ‘cú lẩy cò’, hoặc chủ đề quán xuyến khởi lên trong đời chúng ta lặp đi lặp lại, hết lần này đến lần khác.

Nhà trị liệu chú ý tới các rupas, làm bộc lộ chúng ra rồi khám phá sức mạnh của chúng. Các chiến lược khác biệt từ việc thổi phồng ‘phẩm chất rupa’ của đối tượng cho đến việc tạo nên được khoảng cách tách biệt khỏi nó, để tái dựng lại nó khác đi với đầy đủ chi tiết liên quan, trong phòng trị liệu…

Dĩ nhiên, một rupa có thể tương đối khủng khiếp vì thế cần có một sự đánh giá sâu sát về cách thức làm sao giúp thân chủ tương tác với khoảng cách an toàn, làm sao giải quyết với các hồi tưởng, và sang chấn, tạo ra các kỹ thuật nền tảng cũng như cảm nhận về sự nương tựa.

Từ những kỹ thuật dùng tâm kịch (psychodrama) với chiếc ghế trống, các đối vật có thể xem là các mỏ neo, ký ức, hoặc thành phần của tiến trình tạc tượng (sculpting), Brazier tiến tới thảo luận về “tỉnh thức” (mindfulness) với lưu ý rằng, trong khi sử dụng nó như kỹ thuật nhằm nắm bắt những gì đang diễn ra hiện tại với từng khoảnh khắc thì bà còn dùng thuật ngữ này để chỉ việc có một mối quan hệ đáng tôn trọng với thực tế, tưởng thưởng sự khác biệt của nó, và sự kiện là nó không hề diễn ra dưới sự kiểm soát của chúng ta hoặc vận hành theo ước muốn của chúng ta. Đây là điều nhắc nhở cần cởi mở với những người khác và không nên xoắn bện thực tế khớp khít với cảm nhận riêng của chúng ta về bản ngã, dù nó tích cực hoặc tiêu cực đi nữa; nó cũng nhắc nhở về chiều kích tâm linh và tính thiêng, ngay cả khi những thứ này không nên mang vào quá đặc thù trong quan hệ trị liệu.

Như thế, đối lập khá dữ dội với các nhà trị liệu khác, người tiếp cận theo phương pháp tha nhân- trọng tâm đi sâu vào các câu chuyện của thân chủ rồi xem xét chúng mang ý nghĩa ra sao với thân chủ, nhắm vào các cảm xúc và định dạng chúng như là cái làm tăng thêm vấn đề hơn là giúp ích cho thân chủ… Brazier hướng tới quan điểm là một người lành mạnh khi họ dấn thân trọn vẹn vào những gì họ đang tiến hành hoặc với người mà họ đang quan hệ, hơn là khi họ quan sát một cách có ý thức các trải nghiệm của bản thân; với cách nghĩ ấy, bà cân nhắc về vai trò của trị liệu: liệu nó đáng giá so với việc cải thiện các điều kiện vật chất trong đời sống của con người ta, để được tiếp xúc với những ai quanh mình, hoặc làm việc cho sự tồn tại mãi mãi của hành tinh, hơn là đơn giản ngồi trong phòng trị liệu để phân tích các cảm xúc của mình với một người lạ?

Kết luận rút ra là một sự mời gọi cân bằng, cho một kiểu trị liệu có nền tảng vững chắc và yếu tính của nó cởi mở với những người khác, không xem trị liệu như cái gì đặc biệt tự thân mà chỉ là một phần khác tích cực, hữu dụng của thế giới liên thuộc của chúng ta. Thân chủ cũng cởi bỏ khỏi thái độ tương tự về những gì tiền định sẽ được khám phá và vui thú…

Não trạng của bạn như nào?

Mọi sinh thể đều có tiềm năng lớn lên và triển nở, song con người không hoàn toàn học hỏi để tựu thành được điều ấy.

Với kẻ có não trạng bất động thì họ nhìn các năng lực của mình như thực thể cố định. Họ thường cảm nhận về sự thất bại của bản thân như hậu quả của những năng lực thiếu hiệu quả để thực hiện tốt đẹp mọi sự. Họ diễn giải và nghĩ hiểu về trải nghiệm thông qua các kiểu dạng gọi là quy cho.

Người mang não trạng cố định có kiểu dạng của sự học hỏi vô vọng: họ quy thành công nhờ các yếu tố bên ngoài, không cho mình có thể gây ảnh hưởng, và nhìn thất bại như sự thiếu hụt của bản thân. Họ không hề ý thức rằng các thất bại thường là hệ quả của nỗ lực chưa tới cùng.

Với người có não trạng triển nở, các năng lực được xem như phát triển không ngừng. Họ tin mình có thể cải thiện bản thân nhờ làm việc chăm chỉ. Họ biết các mục tiêu dễ đạt được với sự nỗ lực đúng mức, và nỗ lực là chuyện thưởng phạt. Họ quy thành công vào các yếu tố nội tại như các năng lực riêng có và họ tin mình có quyền lực gây ảnh hưởng.

Người mang não trạng triển nở lại theo các dạng quy cho hướng tới việc nắm vững, tỷ dụ: “Tôi biết mình có thể đạt được mục tiêu này với sự nỗ lực đúng mức”. Như thế, người ta tin mục tiêu nằm trong vùng làm chủ của họ. Người ấy cũng hay quy cho việc thất bại hoặc kết quả tiêu cực là do chưa đủ nỗ lực thích đáng.

Thiên hạ có thể phát triển một não trạng cố định hoặc não trạng triển nở; điều ấy phụ thuộc vào cách thức họ học hỏi khi nhìn nhận mình và các năng lực bản thân. Họ có thể thay đổi hoặc xem xét lại các não trạng khi những trải nghiệm học hỏi mới mẻ xảy đến. Từ thuở bé tí, trẻ nhỏ bắt đầu khởi sự phát triển não trạng riêng, khi chúng trải nghiệm cách chúng tác động lên thế giới và lối những người khác đáp ứng chúng.

Trẻ em có thể nội tâm hóa các kỳ vọng của bố mẹ và thầy cô giáo. Những mong đợi của người khác đóng vai trò như những tiên đoán tự diễn biến đến độ chúng ta nỗ lực hoàn thành các kỳ vọng ấy. Chẳng hạn, nếu bố mẹ mong đợi và nhìn nhận năng lực của con cái là không ổn thỏa thì rồi đứa trẻ có thể cũng tưởng nghĩ tương tự.

Sự ca tụng, tán dương cũng phụ thuộc vào sự phát triển não trạng. Bất chấp các niềm tin thông thường cho  ca tụng năng lực đủ sức thúc đẩy người ta, nghiên cứu cho thấy lời khen ngợi trẻ vì sự nỗ lực, gắng sức thúc đẩy trẻ nhiều hơn là khen ngợi nó vì năng lực. Nếu người ta tán tụng vì năng lực, chúng sẽ ít bày tỏ sự kiên trì bền chí, thực hiện nhiệm vụ với ít niềm vui thú hoặc vắng bóng động cơ, chúng giảm thiểu phong độ và quy kết lắm tiêu cực nhiều hơn.

Theo tác giả Carol Dweck, nếu người ta có não trạng cố định, họ hay nảy sinh ngờ vực chính mình. Họ nhìn các năng lực bản thân như một thực thể cố định và do vậy, ghi nhận các thất bại như vấn đề của sự thiếu hụt từ cá nhân mình. Quá dễ tưởng tượng sự quy kết vậy gây nên sự căng thẳng đến thế nào. Một não trạng cố định có thể khiến người ta nhanh chóng bỏ cuộc, bởi vì họ không hề nhận thấy rằng thành công là chuyện nỗ lực đúng mức.

Người có não trạng cố định hiếm khi thách thức bản thân hoặc thử kiếm tìm các giải pháp mới cho một vấn đề, bởi vì họ e ngại thất bại hoặc thấy mình sai. Đừng quên, nếu họ sai, họ chỉ đổ tội là do chính mình thôi. Người có não trạng triển nở thì chỉ quy về chuyện đã không nỗ lực đúng mức.

Vậy, não trạng bạn như nào? Cách thức độc giả đương đầu với các thách thức ở đời, mức độ duy trì sự kiên trì theo đuổi mục tiêu đặt định? Liệu bạn có nghĩ rằng chúng ta đủ khả năng để thay đổi và tạo tác lại não trạng bản thân, và đâu là trải nghiệm riêng có của chính bạn?

Lại nhớ tới lý thuyết bất hòa về mặt nhận thức…

Lý thuyết bất hòa về mặt nhận thức (cognitive dissonance) của Leon Festinger (1957) cho thấy suy nghĩ của chúng ta có thể biểu lộ dưới ba mối quan hệ căn bản:

  • Thuận hòa (consonance): “Tôi là một sinh viên tốt”, và “Tôi luôn luôn chuẩn bị bài trước khi đến trường”
  • Nghịch hợp (dissonance): “Tôi hút thuốc lá”, và “Hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”
  • Không tương thích (irrelevance): “Tôi là sinh viên tốt”, và “Hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”

Theo lý thuyết bất hòa, nghịch hợp về mặt nhận thức thì chúng ta có động cơ nội tại để thành tựu hoặc lưu giữ sự bất hòa về mặt nhận thức, do nó củng cố một cảm nhận khoái sướng cho bản thân; khi chúng ta có những suy tư thuận hòa thì mình càng đúng đắn, phù hợp hơn với chính bản thân mình.

Cũng thế, khi kinh qua sự bất hòa, chúng ta thường có xu hướng trải nghiệm độ căng thẳng hoặc các cảm xúc tiêu cực, khó chịu ủ thêm vào thái độ và sự thay đổi hành vi đủ để mình đạt được hoặc lưu giữ sự thuận hòa về mặt nhận thức.

Một ví dụ kinh điển cho lý thuyết này được hai tác giả Festinger và Carlsmith (1959) thực hiện; theo đó, những người tham gia thực nghiệm được đề nghị đánh giá về một công việc buồn tẻ. Những người tham gia được trả 1 Mỹ kim đánh giá công việc như vui vẻ hơn và thú vị hơn những người tham gia được trả 20 Mỹ kim.

Những người tham gia nhận giá 1 Mỹ kim đã tự lừa dối chính mình vì tại sao họ sẽ làm một công việc buồn tẻ chỉ có 1 Mỹ kim nếu nó không được vui vẻ và thú vị? Những người tham gia được trả 20 Mỹ kim không buộc phải phải làm thế khi họ được trả mức giá tương đối tốt.

Có thể hình dung các cách cụ thể giúp ta tránh trạng thái bất hòa về mặt nhận thức.

  1. Thay đổi hành vi đến độ nó xứng hợp với suy tư, thái độ hoặc niềm tin của chúng ta
  2. Thay đổi suy nghĩ khiến cho nó xứng hợp với hành vi của chúng ta
  3. Tìm thấy và tin tưởng vào thông tin xứng hợp với hành vi của chúng ta
  4. Tránh thông tin trái ngược với các niềm tin của bản thân
  5. Tránh các tình huống khiến mình gặp nguy cơ hành động theo các cách gây trái ngược, mâu thuẫn với suy tư, thái độ hoặc hành vi của chúng ta

Nếu muốn thay đổi thái độ của ai đó, mình nên cố gắng tạo ra sự hòa thuận nhận thức trong suy tư của người đó.

Tỷ dụ, ai đó tin rằng hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe song vẫn cứ hút thuốc lá như thường thì khả năng là họ dễ trải nghiệm sự bất hòa về mặt nhận thức. Mình có thể gắng nhấn mạnh sự bất hòa này đến độ anh ta khởi sự nhận ra rằng các suy nghĩ của anh ta là bất hòa, nghịch hợp.

Lưu ý, nhiều người dường như đối phó thật ổn thỏa với sự bất hòa. Tại sao thế? Mức độ người ấy trải nghiệm về sự bất hòa về mặt nhận thức phụ thuộc chí ít vào hai yếu tố:

  1. Sự cân đối giữa các ý nghĩ bất hòa và các ý nghĩ nghịch hợp
  2. Tầm quan trọng của các ý nghĩ

Thứ nhất, nếu tôi tin rằng mình có lối sống lành mạnh, sự cân đối của các ý nghĩ hòa thuận hỗ trợ cho niềm tin này càng lớn thêm lên so với sự phù hợp của các ý nghĩ bất hòa bác bỏ nó. Tiếp đến, ai đó nghĩ rằng các suy tư bất hòa của anh ta không có ý nghĩa hoặc tầm quan trọng nhất định với bản thân thì sẽ ít khả năng muốn thay đổi chúng; ví dụ, “Tôi hút thuốc lá”, “hút thuốc lá gây nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe”, song “Tôi không thể bị thương tổn được”.

Wow, vậy đó, lắm lúc, bất luận mọi giá người ta phải tìm cách bảo bọc (suy nghĩ của) bản thân thôi.

Trong trạng thái yêu và đang yêu ai đó

Bông giấy vì đời thắm đỏ, có hiền ngoan chỉ đợi vẫy lòng…

Hôm nọ, có người hỏi làm sao phân biệt sự khác nhau giữa việc mình trong trạng thái yêu với chuyện đang yêu ai đó.

Một đôi điều trong đời được giải thích bằng cách chuyển bật- tắt, kiểu cái chết và việc mang thai chẳng hạn. Mình hoặc thế này hoặc thế kia thôi, không hề có sự lừng khừng ở giữa hay thậm chí cả vùng màu xám. Một số khía cạnh khác của cuộc sống thì được đặt lên bàn cân, và có cảm giác “yêu đương” rơi vào cách phân loại này; chắc chắn tồn tại nhiều kiểu yêu và người ta xác định nó bởi thành phần, mức độ.

Thử tưởng tượng Yêu trên bàn cân thì đáy của thang đo có thể là “Tình yêu của chúng ta đối với toàn thể Nhân loại”, tức niềm tin rằng mọi người nên được hạnh phúc và không phải chịu đựng khổ đau, bất hạnh. Đứng đầu thang đo là Tình yêu Đam mê Ghê gớm, là dạng nối kết tình yêu lãng mạn, cuồng si dục tính, dành cả đời- mình- cho- cuộc- tình.

Xếp theo thứ tự thấp đến cao: 

  1. Tình yêu với toàn nhân loại,
  2. Tình yêu/ thích thú với người và vật (“Tôi yêu thích cái Ipad mới mua!”),
  3. Yêu/ thích dựa trên các quan hệ như bà con, thông gia,
  4. Yêu dựa trên các ký ức đẹp về các mối quan hệ trước đây như với bồ tèo gắn bó lâu năm thuở còn thơ bé,
  5. Yêu dựa trên các trải nghiệm cá nhân riêng tư các quan hệ đang diễn tiến như bạn bè thân thiết hiện còn gắn bó,
  6. Yêu dựa trên lịch sử quan hệ và sự thân mật mang tính cảm xúc,
  7. Yêu dựa trên mối dây tình cảm mãnh liệt thắt chặt như con cái hoặc bố mẹ,
  8. Tình yêu lãng mạn dựa trên lịch sử thân mật tình dục và cảm xúc, và cuối cùng
  9. Tình yêu đam mê ghê gớm dựa trên sự thân mật quá chừng sâu sắc của tình dục và cảm xúc như với một người yêu.

Chúng ta cũng có thể thấy sự khác biệt giữa việc đang yêu ai đó với trạng thái yêu. Nôm na, đang yêu ai đó có thể nhìn như một tình huống tĩnh tại, bền vững như khi chúng ta yêu thương bố mẹ, bạn bè, v.v… Còn “trạng thái yêu” khẳng định một tiến trình chủ động mà nó bộc lộ cảm xúc mỗi ngày, đặc thù diễn tiến trong một chiều kích dương tính, tích cực.

Nhân tiện, đây là những lời dễ thương song không kém phần sắc sảo đồng thời cũng rất hiện đại của một nữ văn sĩ lừng danh về tình yêu.