Giữa đớn đau vì mất mát, nhận ra giận dữ và thất vọng

Chắc rồi tin tức cậu học sinh lớp 10 rời xa nhà, xuống thành phố đi học ở trường tư Nguyễn Khuyến vừa lựa chọn tự tử gần đây sẽ được thay thế bằng tin tức một người trẻ nào đó lại kết thúc sớm đời mình.

Lâu nay, câu chuyện trẻ vị thành niên, mới lớn tự sát chưa bao giờ thôi gây thắc mắc, và ‘tại sao’ thường trở thành tâm điểm dò tìm, mong đợi trả lời thoả đáng. Trước một sinh mạng tuyệt tận, chúng ta ít nhiều đều bị tác động, ảnh hưởng.

Khi nghĩ tới kẻ nay đà khuất bóng, các phẩm tính nhân văn khiến chúng ta khởi sinh lòng từ bi; song khi chú mục xác định nguyên nhân gây nên cái chết, chúng ta sẽ dễ dàng cảm thấy tức giận.

Đôi khi không tức giận chi thì hoá ra đồ vô tri vô dụng, song hồ như chúng ta khó thấy rằng cơn giận chẳng mấy chốc kiểm soát chúng ta. Cần cẩn thận với sự bùng phát đột ngột. Nếu đó là sự trả đũa nhắm vào tội phạm mà không khiến những sinh linh bé nhỏ khác mang vạ, tốt; vì chẳng trả đũa gì cũng có thể sai, và nó thường bị hiểu nhầm. Và một trong những cách thể hiện bất bạo động hữu ích là vun bồi tư duy đúng đắn và có cái nhìn chắc thật, toàn diện.

Nghe xem tin tức bạo lực và chết chóc, nhiều cảm xúc xáo trộn khủng khiếp, lắm lúc thật ước gì trơ khấc, bất động đặng khỏi đau đớn, tổn thương. Song lần nữa, nếu nhìn sâu vào tâm trí mình, lối trỏ lại chỉ về hướng giận dữ. Thực tế, xảy ra điều đó cũng là bình thường, dù kỳ cùng thì không nên để cảm nhận ấy giữ mãi mức độ tức giận…

Nhân mất mát vừa qua, thử xem kiến thức tâm lý học cơ bản cho chúng ta hiểu biết gì?

Trạng thái cảm xúc bao gồm mẫu hình chứa các phản ứng nhận thức, sinh lý, và hành vi đối với các sự kiện xảy ra; nói khác, cảm xúc liên quan chặt chẽ với động cơ: chúng ta phản ứng một cách cảm xúc với các thôi thúc và mục tiêu ưng cái bụng, bị đe doạ hoặc hụt hẫng… Cảm xúc trỏ các cảm giác chứa đựng sự đánh giá chủ quan, các tiến trình sinh lý, và niềm tin nắm giữ lâu nay.

Trong khi đó, tâm trạng thì là trạng thái khuếch tán cảm xúc kéo dài mà nó quấy nhiễu ghê gớm cả suy tư lẫn các hành vi, ứng xử.

Còn stress được hiểu là mẫu hình gồm các đáp ứng mang tính hành vi và sinh lý đối với các sự kiện mà năng lực người ta phù hợp hoặc quá tải.

Nôm na, khả năng phục hồi là phẩm tính sáng giá mà ai đó bị đời đánh bầm dập, lên bờ xuống ruộng te tua xơ mướp chẳng hạn vẫn đủ sức chịu đựng, quay về ‘lợi hại hơn xưa’. Thay vì bị thất bại đè bẹp hoặc cạn kiệt giải pháp, người sở hữu khả năng phục hồi tốt có thể tìm ra cách ‘rũ bùn đứng dậy sáng loà’. Một số yếu tố đảm bảo sự phục hồi hiện thực là thái độ tích cực, lạc quan, khả năng điều chỉnh cảm xúc, và cả khả năng nhìn thất bại dưới dạng giúp mình phát hiện các khiếm khuyết cần bổ sung, thay đổi…

Làm kẻ mới lớn đồng nghĩa là tâm tính khó yên ả, cảm xúc đôi hồi bất chợt, náo động khó hiểu, áp lực học tập, lòng tự tin, kinh nghiệm sống…  Tự sát đứng hàng thứ ba sau việc bị giết hại và tai nạn với độ tuổi từ 15 tới 24.

Dưới góc nhìn tâm bệnh học, tự sát ở tuổi mới lớn là hiện tượng phức tạp, và quyết không bao giờ vì một lý do duy nhất. Đấy là cách tiếp cận đòi hỏi tăng cường phòng ngừa với các yếu tố bảo vệ, xét yếu tố nguy cơ thì lo lắng xuất hiện khả năng tự làm hại và quyên sinh,  chẳng hạn dễ nảy sinh dự tính tự sát với người nữ, điểm học tập thấp, nghèo hèn, và không sống hoặc chỉ sống cùng với bố/ mẹ (Yeojin et al, 2017); hay người ta thấy các yếu tố sẽ dễ khiến người trẻ Thái Lan tự sát: (1) bị quát mắng thậm tệ và nguyền rủa chết đi bởi thành viên gia đình; (2) không thoả ước mong hoặc bạn trai chẳng lưu tâm trong lần đầu yêu đương; (3) mang thai ngoài ý muốn, và (4) mắc rối loạn tâm thần khiến cảm xúc bùng nổ và các xung năng bộc phát chẳng khống chế nổi (Supattra et al, 2015).

Phân tích số liệu của WHO về tỷ lệ tự sát của nhóm tuổi 15-19 trên toàn thế giới, từ 1990- 2009, cho thấy (Kain et al, 2016), lý do ở các nước phương Tây con số tự sát giảm có thể liên quan tới những cải thiện trong sức khoẻ nói chung; các quốc gia Nam Mỹ tăng thì khả năng là do khủng hoảng kinh tế và tác động của nó tới các gốc gác văn hoá đa dạng, một phần cũng bởi sự tiến bộ trong việc vào sổ bộ sinh, tử…

Hẳn là, ngay cả khi không đói ăn khát uống thì não bộ và hệ thần kinh của trẻ lớn lên trong thế giới nhiều ưu đãi và sung sướng về vật chất có thể phải chịu đựng loại căng thẳng ghê gớm chẳng kém: liên quan nhiều tới tâm lý hơn là áp lực vật chất, và chúng phải đương đầu với sự thất bại thay cho nỗi lo sợ suy kiệt cơ thể…

Với tư cách là những nhà quản lý và giáo viên, chúng ta không thể chấm dứt sự căng thẳng tinh thần trong đời sống học sinh- sinh viên, song chí ít chúng ta có thể tránh thêm stress vào nữa.

Cách hiệu dụng để thực thi điều này vốn là lời tuyên thệ dùng cho những ai hành nghề trợ giúp: Trước tiên Đừng Gây Hại (Do No Harm).

Vậy chúng ta hãy ưu tiên chăm lo bản thân chu đáo, chịu trách nhiệm về tâm trí mình để tự do cho phép chúng ta dùng tâm trí thật đích đáng, và sẵn sàng học hỏi nhiều hơn đặng cảm thấy phúc lành của trạng thái hiện diện, tình bằng hữu, khả năng thực hành, và sự giải thoát.

Loạn thần và Phân ly: ‘tình trong như đã’…

Trong tâm tưởng dân chúng nói chung, loạn thần cơ chừng đã là cái tên gây nhiều hoảng sợ, cặp đôi với phân ly nữa thì quá dễ làm dấy lên những nghi ngại vô cùng kinh hoàng.

Cả thập niên trôi qua rồi mà vấn đề cần sa gây loạn thần vẫn chưa thể đưa ra lời cuối dứt khoát, đủ thấy câu chuyện dây dưa khủng khiếp với nhiều hệ luỵ khó lường. Thực tiễn lâm sàng cũng ghi nhận việc người ta mắc loạn thần và thái độ kháng cự dùng thuốc. Tiếp cận loạn thần như kết quả của sang chấn và các hiện tượng tinh thần thì đối lập với chuyện chú mục vào bộ não, mô hình thực nghiệm và y khoa của căn bệnh tâm thần; và nếu thế, liên quan tới các kỹ năng học hỏi. Trải nghiệm tâm thần và phân ly trong trạng thái loạn thần cũng sẽ được trình bày ở đây.

Kỹ năng học hỏi và loạn thần

Những khác biệt rõ rệt giữa trải nghiệm ảo giác và hoang tưởng giúp giải thích tại sao các đặc trưng này có khả năng cải thiện nhờ thuốc. Lưu ý rằng, ảo giác và các trục trặc cảm xúc như hoang tưởng là các trải nghiệm nội tạng, và vì thế, chúng có thể liên quan nhiều tới hoá chất bất thường ở não mà từ đó loạn thần xuất hiện. Tuy vậy, các vấn đề nhận thức và xã hội thì lại phụ thuộc vào trải nghiệm trong các thế giới tinh thần và vật chất.

Khi trao đổi nhận thức ở một người mắc tâm thần phân liệt (TTPL), khó khăn trong tư duy của họ là hiển nhiên. Các liên kết lỏng lẻo, từ rối rắm, và câu cú nghèo nàn là vài ví dụ chứng tỏ những khó khăn nhận thức ở những người loạn thần. Một thực tế hiếm khi được xem xét là những người mắc TTPL đối phó với trải nghiệm chưa hề từng được khám phá, nó mới tinh, và không hề dễ dàng để sự nỗ lực của người mắc TTPL hiểu về mặt nhận thức sự thao túng của trải nghiệm loạn thần. Tại sao thiên hạ mong đợi người mắc TTPL có khả năng nghĩ đến những trải nghiệm không phổ biến và không theo chuẩn tắc nhỉ. Không có cơ sở thực tế, không có truyền thống tư duy đích thực đặng cho phép người mắc TTPL suy nghĩ thật hiệu quả về loạn thần.

Các yếu kém rõ ràng về mặt xã hội ở người mắc TTPL phụ thuộc vào trải nghiệm trong thế giới vật chất. Do xu hướng mắc loạn thần xuất hiện ở tuổi vị thành niên và mới lớn, có những hoạt động rất thiết yếu từ khía cạnh phát triển bị buộc phải thoả hiệp do sự chín chắn về mặt xã hội. Dùng cách diễn giải của Erikson về các giai đoạn phát triển xã hội, khi TTPL xuất hiện, cá nhân ở giai đoạn ‘bản sắc đối chọi với sự rối rắm về vai trò’, hoặc giai đoạn ‘gần gũi đương đầu với cô lập’. Loạn thần dẫn tới các trục trặc trong sự hình thành nhân cách và tha hoá liên nhân. Điều này e chừng là do trải nghiệm không chuẩn tắc và trải nghiệm kiệt quệ về mặt xã hội.

Cơ bản, các kỹ năng xã hội và nhận thức yếu kém ở người mắc TTPL bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm không chuẩn tắc, và các ảo giác lẫn hoang tưởng gây hiệu ứng nhân quả tới sự nhận thức lệch lạc và thiếu hụt kỹ năng xã hội. Nếu ảo giác và hoang tưởng có thể giảm bớt ngay từ sớm trên tiến trình mắc TTPL, có thể trải nghiệm không chuẩn tắc này sẽ không gây rắc rối cho các kỹ năng xã hội và nhận thức. Rõ là, hoang tưởng và ảo giác liên quan nhân quả tới kỹ năng nhận thức và xã hội. Bất luận thế nào, hoạt động nhận thức yếu kém và kỹ năng xã hội hạn chế phụ thuộc vào trải nghiệm không chuẩn tắc trong thế giới tinh thần.

Nói gọn thì các kỹ năng xã hội và nhận thức kém cỏi là kết quả của khả năng học hỏi bị giảm sút. Tuy thế, các kỹ năng nhận thức có thể được phản ánh ở siêu nhận thức (meta-cognition) vì nó liên quan tới loạn thần. Nâng cao nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về loạn thần có thể cho phép người mắc TTPL tách rời khỏi trải nghiệm loạn thần của vị ấy. Điều này có thể chứng thực là trị liệu. Tương tự, hướng dẫn các kỹ năng xã hội có thể cũng đem tới lợi lạc trị liệu. Do những thiếu hụt trong học hỏi, các kỹ năng nhận thức và xã hội kém cỏi có năng lực đáp ứng với việc học, và đây là tương quan dương tính với thực tế là các kỹ năng xã hội và nhận thức được hình thành. (còn tiếp)

Nhận được/ bị rồi

Không có nhu cầu đọc hết thông tin, chủ đề Ngày Phòng chống Ung thư Thế giới 2016 hôm nay là ‘Chúng ta có thể, tôi có thể’ (‘We can, I can’).

Tôi nhận được/ bị rồi.

Mình chắc chắn đủ thông minh để ‘nhận được/ bị rồi’ chỉ bởi việc đọc tóm tắt 140 ký tự của bất kỳ điều chi. Song dĩ nhiên, điều ấy không có nghĩa mình hiểu nó, hoặc nó đã thay đổi mình. Tất cả chỉ có nghĩa rằng mình nhanh chóng sắp xếp nó vào một loại thứ thích hợp, để tạo ra quyết định tùy xem nó thuộc về ngăn tủ tinh thần cần gọt sao cho vừa vặn nào.

Các trải nghiệm tốt nhất và các ý tưởng lớn lao nhất thường chẳng khít khớp ổn thỏa vào một phân loại. Chúng thay đổi nó, chúng không thể bị mài giũa, tống đẩy đi được; chúng chuyển hóa ta.

Khả năng hoàn toàn là mình có thể xử lý và sắp đặt nhiều thông tin hơn bất kỳ ai đến trước mình. Và hoàn toàn như kiểu mài giũa này đang ngăn ngừa mình không triển nở, và thay đổi, và đương đầu với nỗi sợ hãi đang kéo mình lùi lại.

Mình nhận được/ bị rồi. Chưa đâu. Bởi vì tất cả những gì mình nhận được/ bị rồi là một tiếng kêu chiêm chiếp (một ‘tweet’, nếu muốn lọc lõi tân thời).

Đọc thông tin. Toàn bộ. Dùng sản phẩm. Một đôi lần. Nhiều hơn vài lượt ngẫu hứng.

Nhúng chìm, ngấm đẫm; nó có thể thay đổi mình.

“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”: trong trập trùng thế giới của huyễn tưởng

Quờ tay vào huyễn mộng- thấy đong đầy thuyền mơ...
Quờ tay vào huyễn mộng- thơ đong đầy thuyền mơ…

Bộ phim Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh cố ghi nhận những chuyển biến tuổi phơi mặt chìa tay mưa nắng thời đói nghèo chưa xa ở nông thôn miền Trung; dĩ nhiên, câu chuyện thật thơ trên cảnh sắc Việt Nam ấy thừa gợi hứng về chủ đề ghét bỏ, bảo bọc và cạnh tranh khi yêu thương vơi đầy mơ hồ trong tâm tưởng nhân loại lúc người ta còn nhỏ dại.

Đứng trước viễn cảnh huyễn mộng giã từ, khán giả ít nhiều dễ nhận ra cái phong cách rập khuôn điện ảnh Hollywood, lối diễn xuất Hàn quốc và kiểu kể chuyện hiện đại tin rằng không khó để thỏa mãn xu hướng hội nhập toàn cầu. Mặt khác, chúng mình cũng nhanh chóng bắt mắt bởi thế giới của vô vàn huyễn tưởng mà các nhân vật nhí lớn lên không ngừng được dựng xây từ sách vở, chuyện kể truyền miệng, lịch sử vùng đất duyên hải, văn hóa cổ xưa, tập tục gia đình, thảm trạng kinh tế nghèo đói. Đấy là tình thương yêu, các mối quan hệ gắn bó thân mật, nỗi niềm chia ly hụt hẫng, giai đoạn quá độ mất mát, khủng hoảng và biến cố đời sống.

Bộ phim về tuổi bé tí song có vẻ dành ưu tiên cho những ai lớn rồi mà vẫn muốn nhấm nháp trở lại ý vị những rung động đầu đời. Vì lối dàn dựng đôi khi khá phô nghiêng truyền hình, chèn vô quá háo hức ước muốn đặc tả chi tiết bầu không khí sinh hoạt nông thôn tháng năm lam lũ đói khát với bài hát Thằng Cuội, ngôi trường sập xệ, tiếng trống thùng thình và ánh đèn Trung thu tự tạo diệu kỳ cho nên rốt ráo, yếu tố huyễn mộng mông lung buông chùng thiếu thuyết phục, và dấu ấn chuyển đổi nửa cuối phim cơ chừng hụt hơi, giảm sút chất hư cấu đáng giá khiến lần nữa mộng mị đâm ra rã rời hơi vội trước ánh sáng đời thường trần trụi.

Bị bỏ rơi là thứ cảm xúc đầu đời con trẻ. Không đơn giản chứa chan ý nghĩ khát khao mãi cứ chưa thôi, huyễn mộng tự thân nó dính dáng cả quá khứ lẫn vọng tưởng tới tương lai. Như người trưởng thành, ta không có khả năng, xét từ khía cạnh kỹ thuật, bị bỏ rơi (trừ khi bị phụ thuộc thuốc, chẳng hạn); lý do là người trưởng thành lành mạnh về mặt tinh thần, ta đích thực không bị bỏ rơi trong cảm nhận thời thơ ấu. Cảm giác diễn ra thuở đầu đời đó thường liên quan với quãng thời gian bị người lớn hoặc bố mẹ bỏ rơi; ấy là thứ cảm xúc thoái lùi, điều kéo mình quay về thời thơ ấu hoặc trạng thái cảm xúc bé con.

Vậy đối đáp sao với ý kiến bảo rằng người mê xem TV hoặc ghiền điện ảnh thì đa phần là kẻ giết thời gian vô bổ, chẳng bù lỗ bao nhiêu tính cách, rằng các fan hâm mộ truyện dài cũng như thích xem trình diễn e cùng lắm chỉ là sự mê mải vô hại? Không đơn giản thế.

Tại sao chúng ta thích xem các bộ phim lãng mạn, chuyện tình sướt mướt, éo le ngăn trở…? Tại sao quan tâm chú mục vào vụ việc lãng mạn ai đó khi ta biết nó không đích thị lãng mạn chút nào? Bởi vì những gì chúng ta cơ chừng đang thực hiện không phải thứ mình đang tiến hành. Những thứ mình thực sự làm khi theo đuổi một câu chuyện tựa như bộ phim đang bàn tạm bó vào hai loại: 1) giả lập các trải nghiệm ấy cho chính bản thân, và 2) bước ra ngoài các trải nghiệm rồi tự hỏi bản thân mình có thể học hỏi hoặc dần dần hiểu thấu tốt hơn hẳn thông qua việc suy ngẫm chúng. Người hâm mộ từ từ tỏ tường vài ba kiến thức quan yếu, các bài học dính với điểm 1) vừa nêu ở chỗ ta cảm thấy mình trải nghiệm ít nhiều các sự kiện ở đời đi cùng các nhân vật trong truyện; khi dấn sâu điểm 2) là rời ra để nhìn ngó từ góc nhìn khác thì mình có thể thêm lớp trầm tư cho lớp thuộc trải nghiệm.

Dạng thức truyện, phim hư cấu cho phép người ta tưởng tượng bản ngã hòa với các hoàn cảnh của tha nhân; họ mở rộng mức độ nhất định cảm nhận về chính mình. Khi độc giả, khán giả thả lỏng lơi là nhân cách để thâm nhập tương tự tính cách nhân vật, hoặc khi họ bước vào các tình huống về mặt tâm trí so với những ai họ quen thuộc, họ thay đổi để dần trở thành chính mình hơn.

Kể quãng đời thơ ấu của bộ ba Thiều- Tường- Mận, đạo diễn bộ phim cho thấy sức hút mãnh liệt của cây đa, giếng nước, sân đình, bãi biển, bờ ruộng, làng xóm đã không ngừng nuôi dưỡng, vun bồi tâm hồn bao thế hệ. Các huyễn tưởng chẳng hề phù phiếm; chúng chẳng những có thể dùng để giải trí, phân tâm, đáng sợ, thậm chí kích thích mà còn tạo điều kiện khởi phát sáng tạo và giúp ta lập kế hoạch cho tương lai. Chừng nào mình không lầm lỗi đánh đồng các huyễn tưởng với thực tế (như trong rối loạn loạn thần hoặc tâm thần phân liệt) hoặc để mặc chúng trở nên quá chấp thì chúng có thể cung cấp một bước trốn thoát khỏi ở- đây- và- ngay- bây- giờ, vì các huyễn tưởng cho mình trải nghiệm trong đời thực những thứ mình không thể hoặc chẳng thèm muốn nổi: viếng thăm sao Hỏa, khám phá kho báu, sống vào năm 1900s, là tên trộm xuất chúng hàng đầu thế giới, hoặc có các trải nghiệm tình dục khác biệt; các huyễn tưởng là cách thức kéo căng sự tưởng tượng và cho mình thành kẻ nắm bắt nguy cơ song lại không buộc phải đối diện với bất kỳ nguy cơ đích thực nào, chưa nói khi mình huyễn tưởng, mình tiếp nạp năng lượng cho mọi thứ, mình có đủ đầy khả năng kiểm soát, tức là chẳng có chi nguy hiểm hoặc giới hạn vì nếu khó chịu lắm thì mình có thể luôn luôn dừng ngắt hoặc xác định huyễn tưởng…

Ngoài tí chút tiếc nuối với những bức hoạt hình dễ thương ghê gớm trước khi kết thúc, có vẻ bộ phim trập trùng huyễn mộng do đầu tư trau chuốt cảnh quay, và suy đoán, cơn đói khủng khiếp nhất trên thế giới ta ba này đang mở ra trước màn ảnh, hôm nay, là tình yêu; và những người đàn ông, phụ nữ, trai gái khổ sở bất chấp bao tiện nghi hiện đại thụ hưởng. Cảm giác bồng bềnh bồi hồi tuổi thơ mà bộ phim nếu tiết chế kỹ càng e sẽ lây lan mãnh liệt hơn phản ánh nhu cầu tội nghiệp của chúng ta thuộc về tình yêu, tình yêu đích thực, tình yêu không vị kỷ, thứ tình yêu tự bộc lộ nó trong hành động phục vụ và quên đi chính bản thân mình.

Hy vọng, như một khái niệm tỏ mờ hư thực

Mấy đoạn bên dưới kèm tiêu đề và hình minh họa trên được soạn tròn trèm ba tháng rồi; tức trọn một kỳ tam cá nguyệt, nghĩa là cũng vừa khép xong cả quý luôn.

Trong cuốn sách gợi ý từng sáng tạo, đề nghị cho cái ngày thứ 265 của 2015 hôm nay (tức 100 ngày nữa là hết năm đó): làm sân golf ngay tại nhà riêng, thậm chí đào đủ 18 lỗ rồi rủ thêm người khác chơi cùng.

Khi mình ngồi ngắm ánh nắng ngoài kia nhảy nhót tưng tửng, với không gian yên ắng thoáng đãng phả đầy hơi mát khá lạnh song thi thoảng vẫn nghe rõ xen lẫn giọng Quảng quá chân chất nữ nhân cất tiếng vang vang thì thế giới còn tiếp tục lấp ló vô vàn bi hài nhân duyên thuận nghịch. Liếc thấy tin đưa rằng một căn nhà xây dựng lâu đời ngay giữa thủ đô bị sập bất ngờ; cứu hộ, thương vong, hoảng loạn và sợ hãi.

Và tí chút đừ người bởi cơn cảm mạo gây ứ nghẹn cổ họng khiến lòng dễ dãi chấp nhận dùng ngay quà tặng tình cảm gồm vỉ Strepsils 12 viên vị cam thảo với hộp ngậm Fisherman’s Friend bạc hà; nghe chừng thiệt lạ lẫm hay ho bởi lần sử dụng đầu tiên cái đồ gắn danh xưng ngoại quốc bay bướm, chứ quen thuộc đầy hiệu nghiệm thủy chung nghiêng về món nước pha muối truyền thống da diết.

Dọn dẹp nội tâm đặng tìm đủ không gian thúc ta nhúc nhích tương tác vào những khoảnh khắc biếng lười e chẳng quá khó, vì mẹo nhỏ sẵn bày: để khơi lên dopamine thì nên đưa liền một dự đoán, cóc buộc nhất thiết phải lớn lao mà chỉ cần thu hút tới trạng thái tập trung chú ý hoặc gia thêm tẹo năng lượng; tỷ dụ, cậu bạn đang làm công chức chắc kẹt việc đột xuất, hay cuộc gặp của các vị khởi nghiệp chắc chắn thành công, hoặc mai mấy giờ thì máy báo có thư điện tử, v.v…

Như thế, khiêm cung tự tại chẳng hề lùng bùng với lối biểu đạt hào hứng, tâm thế sống đời tri ân càng giúp bản thân thoải mái chịu đựng, và rốt ráo, vô vàn rào chắn hay ranh giới cảm xúc nỏ ngăn nổi khả năng nhìn thấu tỏ tính quan yếu điệp tô lòng cao cả tỏa rạng nơi chính tha nhân.

—————————————–

Khá dễ hiểu là đa phần mọi người trong đời sống thường ngày chẳng thấy mấy khó khăn khi nói về ‘hy vọng’, dù thực tế chủ đề nghe chừng quá quen thuộc này phải sau một thời gian mới thấy xuất hiện trong y văn tâm bệnh học.

Hy vọng trở thành mối quan tâm của nhân loại băng xuyên nhiều thế kỷ và nền văn hóa. Chẳng hạn, trong thần thoại Hy Lạp, nó thuộc loại tội lỗi chứa ở hộp Pandora là quà tặng thần thánh trừng phạt con người. Theo truyền thống Do Thái- Kitô giáo trái lại, hy vọng được xem như một món quà tâm linh thiện lành Chúa trời trao ban. Nó cũng là đề mục triết học quan yếu.

Vị đầu tiên giới thiệu hy vọng như khái niệm khoa học xã hội e là Karl Menninger (1959); đưa vào Tâm thần học, quan trọng cho khởi sự thay đổi có tính trị liệu, ước ao học hỏi và trạng thái thân- tâm an lạc của cá nhân. Từ thời điểm đó, hy vọng thu hút người ta nghiên cứu làm tăng lên số lượng các bài báo xuất bản. Tổng quan xác định có 32 công cụ đo hy vọng dựa trên các bài báo đã đăng (Schrank và cs. 2008).

Nhìn chung, các lý thuyết và thang đo về hy vọng được phân nhóm: (1) các khái niệm chủ yếu dựa trên cảm xúc; (2) các khái niệm chủ yếu dựa trên nhận thức; (3) các khái niệm kết hợp cảm xúc với nhận thức; và (4) các khái niệm đa chiều kích.

Chẳng hạn, Lynch (1965) xem hy vọng là một “hiểu biết và cảm xúc căn bản cho thấy rằng có cách thức vượt khỏi sự khó khăn, có nhiều giải pháp, và rằng là con người nên chúng ta ít nhiều khả dĩ trông nom thực tế nội tâm và ngoại giới”. Tương tự, Larazus (1999) cung cấp hai lý do xem xét hy vọng như một cảm xúc: đa phần khởi lên từ ước muốn hiện diện mạnh mẽ trong tình huống khó khăn; và thứ hai, phát triển ấn tượng là điều có thể, thông qua các nỗ lực của bản thân chúng ta hoặc do các lực lượng bên ngoài. Obayuwana & Carter (1982) xem hy vọng như trạng thái tâm trí tựu thành tích cực nhờ cái tôi cường tráng, ghi nhận trợ giúp của gia đình, tôn giáo, giáo dục và các tài sản kinh tế. Hinds (1984) thì xem hy vọng ở phạm vi rất rộng mà cá nhân đoán trước tương lai; là “một cấu trúc cảm xúc cai quản bởi các quy tắc nhận thức” (Averil và cs., 1990)…

Làm sao trợ giúp bạn mình đang mắc Trầm cảm?

Thật khó khăn khi phải trông chừng ai đó mình quan tâm đang trải qua giai đoạn nặng nề vì mắc trầm cảm, thậm chí nảy sinh dự tính tự sát, trong khi mình có thể là người duy nhất được tin tưởng.

Có thể nảy sinh cảm giác dính dáng sâu xa như thể mình là người còn lại bên đời, hoặc mình phải có trách nhiệm với bạn. Dẫu khá hay ho là bạn còn tiếp tục muốn trò chuyện, song mình lại càng cảm thấy bất lực với cơn trầm cảm đặc hiệu và ước muốn chết đi.

Dễ căng thẳng ghê gớm để giữ vai trò chăm nom cho ai đó đang trải qua các trục trặc về thể xác hoặc tinh thần. Nhằm ngăn ngừa sự kiệt sức hoặc tâm trạng phẫn uất, mình nên tìm thấy các cơ hội nghỉ dưỡng, tạo niềm vui vẻ và giao lưu cùng nhiều người đỡ đần phần nào cho mình.

Trầm cảm có thể là dạng rối loạn gây tác động không chỉ cho người đang kinh qua mà cả những ai chăm sóc họ nữa. Thường khi người yêu, bạn thân hoặc thành viên gia đình chống chọi với trầm cảm thì dễ khiến chúng ta cảm thấy trách nhiệm cần giúp họ bất kỳ cách nào khả dĩ. Một trong những điều mình có thể quên là tự chăm sóc chính bản thân mình; tuy thế, quan trọng là nhớ mình không thể chăm sóc tốt cho ai nếu trước hết mình chẳng biết lo cho mình đã… Tốt lành, thực tế, tự chăm sóc là thành phần sinh động của việc trợ giúp người khác; theo cách xa lạ, mình dễ tạo nên nhiều cố chấp, gay go nếu mình thuộc dạng khá ích kỷ.

Dưới đây là vài nguyên tắc cơ bản trong việc trợ giúp:

Chia sẻ điều lành mạnh

Nghĩa là đừng dừng các việc mình đang tiến hành cần thiết vốn đảm bảo vui vẻ và sức khỏe. Duy trì sinh hoạt thường ngày, ăn uống ngủ nghỉ, tập thể dục và tuân thủ thời khóa biểu. Một cách giúp bạn là rủ đi cùng mình lúc thích hợp, với vài vận động ngoài trời. Điều gì tốt cho mình có thể cũng tốt cho bạn: ngồi ăn cùng nhau, tập thể hình một chỗ, làm điều bản thân thích thú.

Biết giới hạn của chính mình

Giúp đỡ và hàn gắn là hai chuyện khác nhau lắm. Biết rằng mình không thể hàn gắn cô ấy; hiểu là cô ấy, và chỉ cô ấy thôi, đích thị mới kiển soát thành tựu liên quan đến tình huống cô ấy đang trải qua. Mình không thể ngăn cô ấy không cảm thấy trầm uất, cũng không thể dừng việc cô ấy tự gây hại cho bản thân. Nếu cô ấy dần ước muốn chết hoặc làm thân thể đau đớn thì mình có thể giúp bằng cách tiếp xúc với những ai cần nắm biết chuyện này: bố mẹ, thầy cô giáo, cảnh sát, hoặc người có thể tìm ra phương thức điều trị cô ấy cần; điều đó cũng hàm ý, biết khi nào vượt quá khả năng của mình.

Trợ giúp và nâng đỡ là điều tốt nhất chúng ta có thể làm. Thường mình dễ khởi sinh cảm giác tội lỗi và muốn bản thân chịu trách nhiệm cho các hành động của người khác. Cẩn thận đừng để bị rơi vào cái bẫy của những niềm tin phi lý.

San bớt gánh nặng

Bất cứ ai ở vị trí đang trợ giúp một người bạn cần đặt để thật rõ ràng các giới hạn với bạn bè (và thậm chí với bản thân) về những gì mình có thể và không thể làm… Thường hữu ích cho người mắc trầm cảm khi mình tìm ra các nguồn lực cần thiết khác: các nhóm trợ giúp, nhà trị liệu tâm lý, bác sĩ tâm thần, tu sĩ, nói chuyện với gia đình bạn và bằng hữu về việc chia sẻ gánh nặng. Người mắc trầm cảm cần nhiều hơn một hoặc hai người có thể cung cấp. Đó không phải là sự thất bại trong chăm sóc về phần mình, chỉ là tình huống đòi hỏi thế.

Nhớ rằng khi chăm sóc người khác thì tạo nên sự thư giãn, chậm rãi, biết mình không làm được gì, và đừng cho phép tội lỗi dẫn dắt trong điều mình làm vì bạn; bởi tội lỗi dễ gây kiệt sức để rồi mình chẳng còn thể giúp ai được, ngay cả bản thân.

Cuối cùng, tiếp tục là bạn tốt: cho bạn thấy hiệu lực của bản thân, thấu cảm và nâng đỡ, lắng nghe, khuyến kích tham gia tích cực và tiến bộ trong trị liệu, và không ngừng động viên họ dấn thân vào các hoạt động. Sẽ chẳng hữu ích gì để cố gắng nói với bạn về các cảm giác của cô ấy hoặc bảo cô ấy ‘bợ đỡ’ hay ‘khắc phục’ các triệu chứng trầm cảm. Cảm giác tốt hơn khi mắc trầm cảm không hề đơn giản vậy; trầm cảm chẳng phải là điều đơn giản là ‘dừng ngay’ hay ‘vượt qua’ được liền…

Với sự trợ giúp từ giới chuyên môn và mối quan tâm, chăm sóc từ những ai nâng đỡ giống như mình, người mắc trầm cảm có thể vượt qua nỗi niềm khốn khổ, đớn đau để rồi khôi phục lại đời sống trước đây.

Tại sao có những người thế mạng cho niềm tin phi lý?

Đọc lướt báo chí quốc nội về những vụ việc thời sự như quan điểm chặt 6.700 cây để trồng thay thế trên đường phố Hà Nội hay chuyện công an đang xác minhdư luận viên‘ ngăn người tưởng niệm liệt sĩ đảo Gạc Ma, hay phân tích bên lề dự toán ngân sách 2014 đều không cười nổi.

Trên mạng xã hội facebook, cô cựu sinh viên gửi tin nhắn thật thao thiết rằng “em nhận thấy mối nguy hiểm cho nhân loại khi có nhiều kẻ thái nhân cách giữ vị trí quyền lực trong chính phủ, nhà nước. Nhưng sự thật đau lòng là đa số mọi người ko biết những nhà chính trị nước họ là kẻ thái nhân cách. Nguy hiểm hơn nữa là những kẻ thái nhân cách chính trị đó còn điều khiển cả các tổ chức truyền thông, báo đài, để mị dân…”

Các kẻ thái nhân cách (psychopaths) vừa nêu trên không lạ lẫm gì với sách báo ngoại quốc, thậm chí có cả bộ môn nghiên cứu về tội ác chính trị (ponerology); chẳng hạn, tác giả, nhà tâm lý học Martha Stout thuộc trường Y khoa Harvard ước tính 4% dân số là kẻ thái nhân cách xã hội (sociopath) có ý thức, tức thuộc loại không thấu cảm, cảm xúc chi chi với người hay vật; chỉ xét đất nước Hoa Kỳ chẳng hạn, 4% là tầm 12 triệu dân Mỹ.

Vậy, nếu chỉ khoanh vùng ở một phạm vi chừng mực và ít cực đoan hơn, liệu đâu là những lý giải đưa ra với những ai thế mạng cho niềm tin phi lý?

Chắc chắn, điều thách thức nhất về sự điên khùng của vòng cung bảo thủ khi giữ rịt cái vai con tin thế là băn khoăn khó hiểu nổi cách thức họ có thể đẩy xuống trong lòng thế giới quan lý tưởng sâu kín đến mức không hề nhận ra những gì mình đang tiến hành đích thị tự hủy hoại bản thân? Làm thế nào mà họ si mê ghê gớm khiến không thấy nổi điều ấy?

Câu trả lời khả dĩ chẳng đến từ chính trị mà thuộc lĩnh vực tâm lý học xã hội. Nghiên cứu cách chúng ta xác định quan điểm chứng tỏ, ta đẽo gọt quan điểm đến độ chúng nhất quán với những ai nằm trong nhóm người sát gần nhất với bản dạng chính mình. Động cơ để lập luận theo cách ấy, có lẽ xuất phát từ sự kiện là động vật xã hội, chúng ta dựa cậy vào nhóm của mình vì sức khỏe và an toàn của bản thân. Vì thế, chúng ta muốn nhóm chấp nhận mình như một thành viên tốt đẹp hiện hành; điều ấy tạo cảm giác an toàn. Chống kháng với nhóm hội ư? Nguy hiểm vô cùng. Cứ xem xét điều mình cảm nhận khi dám tranh cãi với niềm tin thiết lập vững vàng lâu nay trong nhóm đi; mình sẽ thấy ớn ghê cảm giác bị đe dọa chối bỏ và sự căng thẳng tinh thần. Một cách sinh học, đó là stress, tức sản phẩm trực tiếp của đáp ứng chiến- hay- biến hoặc tê cứng trước nguy hiểm thể lý đích thị.

Và khi phụ thuộc vào nhóm để giữ mình an toàn, cũng sẽ cảm thấy về mặt nội tạng, sự khó chịu dễ nhận ra trên thân xác khi nhóm mình thua trong khi tỉ thí với các nhóm khác, bất kể đó là đội bóng đá ưa thích, đất nước, hoặc đảng chính trị. Nên nhân danh sự an toàn và trạng thái sống còn, chúng ta bị thôi thúc chấp nhận quan điểm nhất quán với nhóm của mình, cốt nhằm duy trì độ cố kết và tính thống nhất đặng giúp nhóm mình thành công trong trận chiến với các nhóm khác giành lấy quyền thống trị và đưa ra quy tắc vận hành xã hội.

Nhận thức văn hóa (cultural cognition) về các nhóm mình định dạng theo không đơn giản chỉ là các nhãn mác chính trị- xã hội quen thuộc mà hơn thế, còn nằm ở sự ngay hàng thẳng lối nhóm xoay quanh các cách thức cơ bản nhóm chúng ta muốn xã hội vận hành.

Ví dụ, trái với nhóm những người ưa thích tôn thờ tự do cá nhân, nhóm thích thứ bậc muốn sống trong một xã hội vận hành bởi các thang bậc xếp sẵn theo tầng lớp kinh tế- xã hội, mọi người ở vị trí đúng như trật tự truyền thống vốn đem lại sự thoải mái, vững bền ‘lâu nay vẫn thế’. Về mặt chính trị, người theo thứ bậc tôn ti thường bảo thủ, ưa thích thị trường tự do hằm duy trì vị thế nguyên trạng và khó ưa việc chính quyền ‘quấy rầy’ vì gắng sức nỗ lực tạo nên nhiều điều công bằng và linh hoạt cho tất cả.

Không có gì sai trái cả cho đến khi nhu cầu tâm lý/ cảm xúc dính dáng với độ cố kết và tính thống nhất của nhóm khiến người mang não trạng bảo thủ và lưu giữ quan điểm phòng vệ cực đoan đến nỗi họ quây ý thức hệ lại và đối xử với những ai bất mãn, trái ngược quan điểm với mình như kẻ thù; thậm chí đẩy xa thành sự thỏa hiệp và tiến hành rằng *tất cả* chúng ta cần giải quyết các vấn nạn to lớn đang đặt ra trước mặt *tất cả* chúng ta. Thôi thúc mang chất đấu nhau của tính não trạng bảo thủ nhóm đến từ đâu? Cái gì giục giã đầy đam mê để các não trạng lập luận thế?

Lần nữa, câu trả lời khả dĩ, nhờ tâm lý học, cụ thể là tri nhận về nguy cơ (risk perception). Mỗi dịp sợ hãi, chúng ta kiếm tìm những điều triển khai cho mình cảm giác kiểm soát, vì cảm giác kiểm soát tạo an toàn hơn hẳn trạng thái mất mát uy quyền và bất lực. Trợ giúp nhóm mình và nâng cao sức mạnh của nó rồi làm tăng thêm điều tương tự đủ để phe ta chiếm ưu thế, tái đảm bảo cảm giác kiểm soát. Và càng ngại sợ bao nhiêu, chúng ta càng dễ tiến hành như thế… càng dữ dội và mãnh liệt cái tâm trí xét đoán bất kỳ sự kiện nào xung đột với quan điểm của nhóm mình, vì vậy chúng ta dễ duy trì tính thống nhất của nhóm đồng thời cho bản thân cảm giác kiểm soát và an toàn.

Đấy có thể là cách ý thức hệ khiến chúng ta mù lòa trước thực tế đời sống, thừa đất sống cho các hình nhân thế mạng cũng như góp phần lý giải tại sao các niềm tin phi lý đi kèm lợi lạc thụ hưởng vô bờ tiếp tục hiện hữu.

Kháng cự lại sự thay đổi: ẩn dưới những nhiễu nhương, rối rắm

Trạng thái stress làm tăng lên ước muốn được tưởng thưởng chứ không phải niềm khoái sướng, nghiên cứu cho biết thế.

Thay đổi hiếm khi là tiến trình dễ dàng hoặc đơn giản; nó giúp chúng ta hiểu hơn các lý do chống kháng lại, và tôn trọng những khó khăn, phiền muộn dính dáng, liên quan.

Bố và mẹ đưa con gái 14 tuổi tới trị liệu bởi vì cô bé không hoàn thành bài tập ở trường, và họ đặc biệt khó chịu do phòng riêng của cô gái bày biện ‘thật bê bối’. Vấn đề mới xảy ra tạo nên khủng hoảng từ cuộc cãi vã giữa mẹ và con gái khiến cô bé ném đồ đạc rồi đe dọa tự sát. Người bố đang đi làm nhận điện thoại quay về nhà đưa con vào cấp cứu ở bệnh viện. Sau đó, họ thăm khám một bác sĩ tâm thần và được chẩn đoán khả năng cao mắc rối loạn lưỡng cực type 2, cộng khả năng bị ADHD nữa (dù cô gái có thể tiêu hàng giờ đọc truyện), rồi chỉ định 2 loại thuốc. Cô gái từng uống thuốc vì bệnh hen khá nặng, và bố mẹ đòi được trị liệu vì họ muốn tránh uống thuốc thêm.

Các sự kiện tiếp diễn liên miên xoay quanh chuyện cô gái không hoàn thành bài vở ở trường và khi về nhà dễ là biểu hiện bà mẹ cứ muốn làm con gái ngộ ra các lợi ích của việc chu toàn học hành. Phản ứng từ phía cô gái sẽ cho là mình không có khả năng tập trung đủ để hoàn thành bài vở, và rằng bố mẹ cô không hiểu con gái. Trong nhiều trường hợp tương tự với vụ ai đó phải đi cấp cứu, tương tác này sẽ leo thang tới điểm ông bố có thể buộc phải can thiệp rồi làm sao cho mọi sự lắng xuống. Đây là lần đầu mà sự tương tác căng thẳng đến độ cô gái biểu đạt dự tính tự sát.

Nhà trị liệu đề xuất cách hướng dẫn bố mẹ hiệu quả dựa trên thực chứng. Ông xác định vấn đề là kết quả của việc cô gái tự nhận thấy bản thân mình thiếu khả năng và do đó, không đáp ứng được. Bố mẹ đồng ý đây là quan điểm tự đánh giá mình chẳng hay ho gì. Nhà trị liệu hỏi người mẹ rằng bà đã thắng trong cuộc tranh cãi nào với cô con gái 14 tuổi của mình chưa. Bà mẹ thừa nhận chưa bao giờ thuyết phục được con gái thay đổi. Đó là khuyến cáo bố mẹ cần đặt để thời hạn cho việc học hành ở trường hoặc dọn dẹp phòng ốc ngăn nắp. Nếu không đáp ứng thời hạn, bà mẹ nên có mặt ở phòng con gái mà không để cho con gái có các đồ chơi điện tử ưa thích cho đến khi công việc hoàn tất. Nhà trị liệu giải thích điều này sẽ truyền thông với cô gái là cô có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Bà mẹ đồng ý thử cách tiếp cận này xem sao. Ông bố, quá mệt vì phải can thiệp, nhất trí song e ngại sự leo thang của con gái sẽ đòi hỏi mình lại can thiệp.

Vào lần gặp sau đó, bà mẹ nói mình đã thử bảo con gái có trách nhiệm đưa bà vào phòng. Đứa con gái la hét, khóc ầm lên hơn cả tiếng đồng hồ, dọa sẽ chết, và rằng mình không hoàn thành công việc được. Cuối cùng, bà mẹ rời khỏi phòng với lời hứa họ sẽ làm bài tập với nhau khi cô gái bình tĩnh đã. Việc này xảy ra ba ngày trước cuộc hẹn và bài tập vẫn để đó…

Một số nhà trị liệu có thể quen đáp ứng bằng việc nói với bố mẹ là họ đang làm hư con gái do không bắt cô bé phải có trách nhiệm xử lý, hoặc đưa ra một số chỉ trích khác về hành vi của bố mẹ chống kháng đề xuất đã nêu. Tuy thế, nhà trị liệu ở đây không hề ngạc nhiên với việc bố mẹ thể hiện như thế. Ông hiểu là khi người ta khư khư với các mẫu hình hành vi, họ thường bộc lộ thế vì các nhu cầu quan trọng được thỏa mãn. Trong tình huống đang bàn, cho thấy bà mẹ ghi nhận việc con gái mình càng dễ xuất hiện cơn suyễn và mức độ trầm trọng hơn khi stress. Phó bản của nỗi sợ ẩn bên dưới này là họ kiềm chế không thể hiện quyền uy chính đáng của người làm cha làm mẹ. Nếu nhà trị liệu tỏ ra hữu ích với bố mẹ và con gái mới lớn, ông phải tìm được cách để thúc đẩy thay đổi trong khi xem xét các nỗi sợ của họ.

Ngoài sự tưởng nghĩ, chúng ta đều ngạc nhiên chân thành khi người ta tạo ra thay đổi cốt lõi trong lối sống của họ, bất kể đó là việc giảm cân, thay đổi cách làm việc như điên dại để dành thời gian nhiều hơn cho gia đình, hoặc chấm dứt chuyện ghen tuông khủng khiếp. Tất cả chúng ta biết mình nên tạo ra sự thay đổi, có lẽ cảm thấy ngu ngốc rằng mình sao không đổi thay, song gì gì thì cuối cùng mọi chuyện vẫn cứ như cũ. Thay đổi thì khó khăn đối với bất kỳ ai. Thực tế, nếu thay đổi dễ dàng thì người ta sẽ ít nhờ các nhà trị liệu trợ giúp. Điều khiến thay đổi quá khó nhọc là vì giống gia đình trên, tất cả chúng ta nhận được các nhu cầu thỏa mãn nhờ các mẫu hình hành vi mình tạo ra, và chúng ta sợ hãi (thường vô thức) mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ, hoặc chí ít không còn thoải mái như trước, nếu chúng ta tiền hành mọi thứ khác hẳn đi.

Các nhà trị liệu giỏi giang chẳng ngạc nhiên với sự kháng cự thay đổi, bởi vì họ tôn trọng và thấu hiểu người ta đang nhìn thấy các lý do cho hành vi hiện tại; chưa nói, họ hiểu cách thức người ta ngoài lúc trị liệu đôi khi vượt qua khuynh hướng giữ nguyên trạng, thói quen vi tế đến thế nào.

… Trong phiên làm việc thứ hai, nhà trị liệu trước tiên lấy làm hối tiếc vì đã không lường hết nhiệm vụ khó khăn mà bố mẹ phải đương đầu để giúp đỡ con mình. Ông đề nghị họ đưa con gái đến bác sĩ chuyên khoa điều trị bệnh hen suyễn rồi thảo luận về các nguy cơ do stress tăng lên thêm như kết quả của trị liệu. Rồi họ đi đến chọn lựa nghiêm túc về chuyện tiếp tục trị liệu.

Vào phiên thứ ba, bố mẹ báo tin là bác sĩ bày vẽ cho họ xử lý trạng thái tăng thêm các cơn hen suyễn nhờ sử dụng các dụng cụ y tế thích hợp. Bác sĩ bảo họ rằng cơn hen suyễn không nên được dùng như là cái cớ tránh né trách nhiệm. Cả hai bố mẹ tuyên bố mình đã quyết lựa chọn trị liệu tiếp bất chấp gánh nặng chi phí. Nhà trị liệu khuyến cáo họ là trẻ vị thành niên đầu tiên nên được thử thách hạn chế thôi, và sự thay đổi chỉ diễn ra khi cô gái nhận thấy bố mẹ mình đã giải quyết kỳ vọng của chính họ bằng sự tôn trọng cô đích thực. Nhà trị liệu nói thêm là các đề nghị ban đầu có thể đã làm sự việc vận động quá nhanh và việc chuyển dịch hướng tới thay đổi chậm hơn sẽ khiến mọi người chịu đựng được, ngay cả nếu thời gian kéo dài ra. Rồi ông đề nghị bố mẹ dùng thời gian phạt ‘time-out’ trong phòng với việc đầu tiên chơi điện tử chỉ mỗi 30 phút thôi, rồi tuần tự tăng thời gian phạt nếu vi phạm.

Gia đình trở lại trị liệu hai tuần sau với thổ lộ là đã có tiến bộ đáng kể. Hai ngày sau chế độ phạt 30 phút, họ quyết định muốn cải thiện nhanh hơn lên và đã giữ con gái trong phòng hết cả buổi chiều bởi vì cô gái không làm xong bài tập. Mặc cho cô gái đập cửa thình thịch khoảng hai giờ đồng hồ, họ cũng không xiêu lòng. Họ quan tâm chút ít khi cô gái im tiếng, đã kiểm tra và thấy cô gái ngủ với hơi thở không quá nặng nhọc. Đêm kế tiếp họ dọa phạt cô gái tương tự, và bài tập đã được làm đầy đủ trong một tiếng đồng hồ.

… Một số độc giả có thể thắc mắc sao nhà trị liệu ban đầu nói chuyện rất ít với cô gái nhỏ. Điều ấy là cố ý. Nhà trị liệu quan niệm trẻ vị thành niên đang có quá nhiều quyền lực, và do đó, không muốn đưa cô bé vào trong các quyết định cho đến bố mẹ cô thiết lập uy quyền. Với một số tiến bộ tạo ra, nhà trị liệu tập trung quan tâm nhiều hơn vào cô gái. Ông hỏi cô gái mô tả về điều tự do mới mẻ nào cô ưa thích, khi cô gái cho thấy mình đang ngày càng tỏ ra có trách nhiệm.

Tóm lại, kháng cự là phản ứng tự nhiên và dễ đoán định trước đổi thay. Vượt qua sự kháng cự thay đổi đòi hỏi trình tự tìm ra các cách thức mới nhằm đạt được các nhu cầu căn cốt, trong khi lảng tránh các vấn đề tồn đọng. Sự tôn trọng của nhà trị liệu với tiến trình này là một hợp phần hết sức thiết yếu.

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…