Vấn đề liên quan đến hình ảnh bản thân con người ta

Tất thảy chúng ta thường đều nghĩ chúng mình ổn và những người khác cũng xoắn khít. Tiếc rằng sự thật lại nằm ở đâu đó khoảng giữa. Thiên hạ có khiếm khuyết của thiên hạ, chúng ta có vấn đề của chúng ta.

Hình ảnh bản thân (self-image) là cách thức khái niệm hóa chúng ta thiết lập trong tâm trí về kiểu dạng mình là người như nào. Chúng ta đều vẽ bức tranh tâm thần về bản thân mình, và nó là bức tranh mang hơi hướng duy trì khá ổn định theo thời gian, trừ khi chúng ta cân nhắc các bước để thay đổi nó. Một số nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ ‘sơ cấu bản ngã’ (self-schema), (với thuật ngữ ‘schema’ nhắm trỏ một khung, mẫu hoặc sự trình diễn một lý thuyết) khi nghiên cứu về hình ảnh bản thân và cách thức làm sao tạo lập nó.

Có bằng chứng hình ảnh chính mình chúng ta phát triển là dựa trên phần lớn sự đo lường của những gì chúng ta học hỏi được từ môi trường, như điều người khác bảo về bản thân ta và cách họ có vẻ đáp ứng lại với ta. Song, dĩ nhiên, hình ảnh bản thân cũng khởi lên do chính cách mình phản ứng, những diễn giải đặc thù của chúng ta về các sự kiện, và nhất là phương thức chúng ta đánh giá cả bản thân lẫn bản chất các tương tác với người khác. Rất nhiều bằng chứng khẳng định, cách chúng ta nhìn nhận bản thân mình mới đích thị là vấn đề. Hình ảnh bản thân quan trọng do đủ lý do song cơ bản, vì ở tầm mức nào đó nó tác động hết sức chính xác và nghiêm trọng tới tổng thể an lạc tâm lý và đặc trưng trong các quan hệ của chúng ta.

Hình ảnh bản thân của người ta có thể bị bóp méo, mất cân bằng hoặc chẳng hề lành mạnh với cả loạt lý do. Khi còn bé, chúng ta đặc biệt nhạy cảm với những đánh giá bởi bố mẹ mình, các nhân vật quyền thế, những ai có ảnh hướng tới chúng ta, và nhất là bạn bè cùng trang lứa. Nếu những đánh giá đó quá thường xuyên và/ hoặc rất tiêu cực, gây căng thẳng thì chúng ta dễ nội tâm hóa thành quan niệm về bản thân càng thêm phần tiêu cực. Song các tính cách nguyên sơ của chúng ta cũng giữ vai trò thiết yếu trong sự phát triển hình ảnh bản thân mình nữa. Một số người cực kỳ nhạy với sự phê bình và đẩy lên thái quá khi diễn giải về sự việc hoặc hành động gây tiêu cực cho họ. Một số khác lại có xu hướng đặt áp lực khủng khiếp lên bản thân để thành người ‘hoàn hảo’ khiến các sự việc bé tí và nhỏ nhặt mấy cũng minh chứng cho sự vô dụng và thất bại của chính họ. Thiết lập hình ảnh bản thân tiêu cực không chỉ là dạng vấn đề thuộc tự hiểu biết bản thân mà nó còn trở nên bị bóp méo thường xuyên gây trục trặc trong chiều hướng nhìn nhận. Trẻ em quen việc đón nhận được khen ngợi và chú ý quá lố đến tài năng, ngoại hình hoặc năng lực xã hội của chúng có thể đề cao cực đoan việc đánh giá tích cực và lòng tự trọng của chính bản thân chúng.

Căn cốt đối với một hình ảnh bản thân thật lành mạnh bao gồm cả việc cảm nhận, ý thức và sự cân nhắc, cân bằng đúng đắn.

Thường thì, vấn đề trong quan hệ không chỉ do đối tác mà còn phụ thuộc chính bản thân họ nữa. Mỗi người sẽ chỉ điểm người kia như tính cách gây phiền phức ghê gớm trong quan hệ trong khi mình đang tự biểu lộ bản thân như dạng khá ‘rối nhiễu’, đa phần phụ thuộc và rủi ro thành nạn nhân; mỗi người dường như gây rắc rối cho người khác đồng thời cũng gây rắc rối với chính bản thân mình.

Tại sao cách thức chúng ta nhìn nhận bản thân tạo thành vấn đề? Chủ yếu vì chúng ta thường biến làm sao tất thảy đem lại thoải mái cho chính mình. Hầu hết các kiểu dạng tính cách là “ego-syntonic” (hành vi, giá trị, cảm xúc hài hòa hoặc chấp nhận với các nhu cầu và mục tiêu của bản ngã, hoặc nhất quán với hình ảnh lý tưởng của bản thân); ví dụ, người ta tìm ra cách để nhìn nhận mọi thứ và mọi việc mình làm đều đáng tán thành và ưa thích. Tất cả chúng ta hay nghĩ rằng chúng ta ngon lành, người khác mới rắc rối, và điều này là sự thật với các tính cách quấy động… và, nếu chúng ta sắp nhấn mạnh thật đúng đắn và chính xác lỗi lầm ở người khác, như người khôn ngoan từng nói, chúng ta phải trước tiên gỡ bỏ, cất khỏi những bóp méo trong tri nhận của bản thân đang như đám mây mù che mờ đánh giá của chính mình đã…

Dưới đây là vài ba câu hỏi có thể giúp người ta phản ánh cách họ nhìn nhận về chính bản thân mình:

  • Mình thấy gì khi soi mình trước gương?
  • Mình có thấy điều người khác thấy?
  • Mình có bị khống chế bởi điều đó?
  • Mình có thể chấp nhận sự phê bình mà không đưa ra lời phát biểu (ví dụ, ‘hết sức xây dựng’ đối lập ‘rất phá hoại’)?
  • Mình có thể sống với ý tưởng luôn có cơ hội cải thiện bản thân để thành loại người mình mong muốn trở thành?
  • Mình ít khi nghĩ ngợi cho chính bản thân đến độ mình nên cảm thấy may mắn là bất kỳ ai rồi cũng sẽ thích mình?
  • Mình nghĩ mình là người hoàn hảo và người khác nên học tập?
  • Mình biết tỏng tòng tong rằng mình chẳng là gì song thích bóp méo để gây ấn tượng với người khác thay vì tự mình lo cải thiện hình ảnh bản thân?

Cách thức chúng ta nhìn bản thân mình không chỉ nói rất nhiều về sự thích ứng tâm lý mà còn phản ánh sâu rộng về các mối quan hệ mình có. Và dĩ nhiên, khi đề cập hình ảnh bản thân, nhiệm vụ suốt một đời là làm cho nó trở nên thật đúng đắn.

Lệ Rơi, lên thuyền ra khơi, hay quẩn quanh ven bờ: buông lơi bàn chơi về tính chuyên nghiệp đua chen cùng đặc thù truyền thông hiện đại

Có vẻ câu chuyện chàng nông dân Hưng Yên mang biệt danh Lệ Rơi sắp đến hồi kết.

Ở một góc độ nhất định, tất thảy chúng ta dù muốn hay không và/ hoặc vô tình hay hữu lý, đều hướng tới phục vụ cộng đồng xã hội theo tâm nguyện ‘mua vui cũng được một vài trống canh’. Vượt trên những đau đớn trái ngang của thân phận, chính tính mục đích trong biểu lộ mối quan tâm, chú mục hành động và cơ sở tạo thành những nhận xét, đánh giá nọ kia về một hiện tượng hoặc nhân vật nào đó chắc chắn chi phối giá trị bản thân chúng ta: rốt ráo, động cơ và dự định là gì, nhằm ý đồ chi?

Dự tính và hậu quả

Từng nghe ví von rằng ‘thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội đồ ra sao vẫn còn tương lai’ (chỉnh sửa tí cho nó vần êm dịu đặng tranh thủ hít thở thoải mái), soi chiếu vào tiêu chí căn bản vừa nêu lên ấy, sự khoe giọng phơi mặt của một con người trước bàn dân thiên hạ quả là một minh họa nghịch hợp quá chừng thương xót: ‘đã mang lấy nghiệp vào thân…”, chịu đựng và hứng khởi cùng phát tán đến độ gây cảm tưởng khó kiểm soát nổi, nổi tiếng và mỏi mệt, chi phối và phác thảo cái khung sườn phản ánh của diễn biến tâm tư lẫn tới lui chứng kiến đồng thời.

Chừng nào cứ quen nhìn ngó, xét soi nhân vật đình đám tựa ‘nạn nhân’ u mê bị dắt mũi hay kẻ quấy rối, chơi trội dị hợm nỏ hiểu gì về đời thì bất quá cũng không thể thoát khỏi tiền định sai lầm: tư duy nhị nguyên hướng tới phán đoán đúng sai, tốt xấu, người quan sát và đối tượng được quan sát, v.v…

Nên chi, đáng thành vấn đề nhất không chỉ là sự tinh tuyền của động cơ mà cũng cần để ý cả các hậu quả xảy đến nữa; thu hoạch mong muốn cũng quan trọng chẳng kém việc thiếu vắng nó. Liệu những ý định tốt lành có xứng biện hộ cho kết cục xấu tệ? Nảy sinh vấn đề phiền muộn vì đa phần chúng ta khởi sinh các dự tính ô hợp, thậm chí hơn một thứ duy nhất.

Không ai trong chúng ta hoàn hảo, song nơi chốn này đây nên luôn cần được làm tăng thêm tính thiện xảo (skillfulness) thay vì khiến giảm sút đi trạng thái tỉnh thức (mindfulness), về lý do rất chính xác tại sao chúng ta tiến hành những gì muốn làm, và các kết quả tiềm năng được thành tựu tác động, ảnh hưởng đến chính bản thân mình cũng như những người khác.

Lần nữa nhắc lại, khi tâm trí khởi sinh mọi sự, việc hiện diện hoặc mất bóng từ bi và khôn ngoan quyết định một biểu đạt hành động dẫn dắt tới Hạnh phúc xác thực hay không. Thực tế, nếu ai đó đích thị từ bi thì kẻ ấy sẽ nghĩ ngợi hết sức khôn ngoan gấp đôi trước khi đẩy đi món thứ có thể sẽ gây xáo trộn, mập mờ hoặc tàn hại tha nhân.Từ bi chỉ đích thị khi được dẫn dắt thực sự bởi khôn ngoan, vì chúng là hai điều hỗ tương qua lại.

Bật nhanh lên trong hiểu biết về dự tính, ý định của bản thân là tốt hay xấu, và chầm chầm lại việc xác quyết, tuyên bố về trải nghiệm mình kinh qua là tốt hay xấu.

Thiển nghĩ, sự thả xuống, rời xa, quên đi đích thực không gì khác hơn là xả bỏ dính mắc, ác cảm và hoang tưởng. Mức độ một người thả bỏ phụ thuộc vào tâm tính và tình huống riêng tư của chính anh/ chị ta. Song cái nên gìn giữ lại như nguyên tắc điều hướng là điều này thôi: việc đạt được tuyên bố đòi hỏi sự nhổ rễ, trừ tiệt toàn bộ sự thèm khát, và tiến bộ theo cùng trên hành trình là nỗi niềm thôi thúc ở tầm mức nhất định nào đó vượt qua sự thèm khát. Bẻ gãy tính chủ đạo, át vía của ham muốn chắc không hề dễ dàng song khó khăn không nào hề thủ tiêu sự cần thiết thực hiện. Khi khát thèm là cội nguồn của dukkha (vô vàn bất toại nguyện), tận diện nỗi khổ niềm đau ấy phụ thuộc việc tiết giảm thèm khát, và liên quan trực tiếp tới tâm trí muốn thả bỏ, rời xa…

Lúc này, khi ai đó nỗ lực cởi bỏ dính mắc, người ta bất chợt gặp phải một sự kháng cự ghê gớm ở bên trong. Tâm trí không hề muốn từ nhiệm chuyện nắm giữ các đối tượng mà nó cứ dần gắn bó thêm lên mãi. Cả quãng thời gian đằng đẵng nó quen thói tích góp, ôm ấp, và nắm chặt nên cơ chừng bất khả việc tháo gỡ các thói quen này nếu chỉ dựa vào mỗi hành động của ý chí. Người ta có thể dễ tán đồng nhu cầu cần phải từ bỏ, có thể rất muốn rời xa khỏi việc dính mắc ẩn sâu bên dưới, song khi tiếng gọi vang lên thì nghe chừng tâm trí dội ngược ngay liền và tiếp tục tiến bước trong nỗi khát khao thít chặt, ôm nắm những ham muốn, khát thèm sẵn có.

Biện pháp không nằm ở cách thế dồn nén; nỗ lực dẫn dắt ham muốn thoát ra với một tâm trí ắp đầy sợ hãi và kinh tởm. Cách tiếp cận này không những chẳng giải quyết được vấn đề mà còn đẩy nó chìm sâu, khuất lấp khỏi bề mặt trông thấy và vẫn phát triển âm thầm. Công cụ phóng thích tâm trí khỏi ham muốn là trạng thái hiểu biết. Sự xả bỏ, buông xuống đích thị không phải là vấn đề tự thuyết phục chính mình để từ bỏ các thứ hãy còn được ấp ủ, hoài nhớ trong lòng, mà là đổi thay viễn tượng về chúng (nhận ra chúng vô thường và không thật) đến độ chúng không còn ràng buộc ta được nữa. Khi hiểu biết bản chất của các ham muốn và thèm khát, khi điều nghiên thật sát gần nó với sự chú tâm nghiêm túc thì các ham muốn và khát thèm sẽ tự thân rơi rụng, biến mất mà không nhất thiết đòi hỏi phải đấu tranh, gạt bỏ.

… Câu chuyện của Lệ Rơi tựa các dự tính, ý định thu hút sự chú ý khác như vụ chụp ảnh khoe thân là câu chuyện của chính chúng ta, bởi vì hoàn cảnh đang chẳng ngừng chung đụng mọi thứ.

Cơn cớ chi chúng ta thù ghét nhau?

(sẽ viết tiếp các phần khác khi tiện dịp)

Chụp ảnh khoe thân: người mãi còn tần ngần, mê mải mình đến bao giờ?

Lại rộ lên việc chụp ảnh khoe thân; bên sen, trong hồ nước, với áo yếm, làn da và cơ thể phụ nữ.

Đã có quá nhiều ý kiến nhặng xị. Những đắng đót, cay chua, tức giận, hả hê và buồn tủi; từ cái nhìn của dân Hà thành chính gốc chê người ngụ cư, nhiếp ảnh gia làm thuê chụp xong, lấy tiền rồi hồn nhiên thổ lộ nỗi niềm khó nói, những lập luận bảo vệ quyền phản biện vòng vo đúng sai, thẩm mỹ mí đạo đức, luân thường, tom góp cả truyền thống vào với ngổn ngang hiện đại, dạy đời làm sao tròn vành đủ chữ cho tới thấu tận tâm can gái trẻ, đàn bà lu loa. lườm nguýt tị nạnh xen lẫn chửi bới, cạnh khóe nhau nghe hay như hát…

Tôi không phản đối, cũng không đồng tình với trào lưu này nhưng chúng ta hãy nhìn sự việc một cách công bằng nhất. Có lẽ ngay từ xa xưa cổ đại, nổi bật nhất là văn hóa thời Phục hưng, vẻ đẹp của phụ nữ đã được tôn vinh bộc lộ, minh chứng là những bức tượng, bức tranh vẫn còn đến ngày nay. Ở Việt Nam điều này cũng rất rõ, có thể nhìn thấy các dấu tích giao hoan trên Thạp đồng Đào Thịnh được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia,…Những gì mà các bạn trẻ đang làm hiện nay chỉ là một chiết xuất, một sự kế thừa ít nhiều phiên bản khác đi.

Việc nhìn ngắm cơ thể phụ nữ cơ chừng trở thành nét văn hóa phổ biến toàn nhân loại, nhất là ở xã hội hiện đại thì hiện tượng bình phẩm dáng vẻ bên ngoài liên quan đến cơ thể phụ nữ xuất hiện ở mọi bối cảnh lẫn tình huống riêng, chung, thậm chí không hiếm thấy ở ngay các cuộc gặp ngoại giao, mang tính chính trị nghiêm túc.

Ngoài biểu hiện của quyền lực khi chỉ trỏ, bình phẩm ngầm ẩn hoặc trực tiếp (bởi vì người nhìn vào kẻ khác là người có quyền lực: chef, bố mẹ, bác sĩ…), câu chuyện đậm chất văn hóa đời thường này còn ít nhiều mặc định ở người nữ như đặc trưng giới, kiểu với chị em thì cả thế giới hóa ra như một cuộc trình diễn lộng lẫy, phô bày cực kỳ hấp dẫn (trang trọng và dễ thấy rõ ràng là các cuộc thi hoa hậu); vì thế, vẻ ngoài là điều quan trọng nhất. Với đàn ông, phụ nữ được mong đợi là phải xinh đẹp. Phụ nữ cũng bị đối xử hết sức khác biệt tùy vào cách chúng ta nhìn ngắm họ.

Để giải thích câu chuyện đời thường này, thiển nghĩ, cần tìm hiểu 3 vấn đề: Văn hóa ca tụng tuổi trẻ và đề cao năm tháng hưởng thụ trường thọ ở đời, nhu cầu thu hút sức chú ý, và sự thiếu hụt về tâm linh. Sự trẻ trung và tuổi thanh xuân của con người có giới hạn nhất định nên ai cũng muốn lưu lại những khoảnh khắc đẹp nhất. Không chỉ có giới trẻ, hãy đặt câu hỏi tại sao những phụ nữ trung niên vẫn hay tới spa hàng tuần và chăm chỉ luyện tập yoga, đến các dịch vụ thẩm mỹ không ngừng? Đấy là minh chứng rõ nhất cho việc tự ý thức về vẻ đẹp của bản thân mình. Dễ thấy ra ngay là do sự khác nhau về gu thẩm mĩ, về môi trường sống, và về phông trải nghiệm.

Bạn sẽ thật sung sướng nếu như một bức hình của mình đăng lên được tới hàng trăm lượt Like, đó chính là động lực thôi thúc bạn đầu tư thời gian lẫn tâm trí để lên kế hoạch, chiến lược chuẩn bị rồi tung ảnh sao cho hiệu quả, nhấp nhả với lắm tư thế để làm mới phong cách của mình. Tần suất này tăng lên sẽ dễ dẫn đến “nghiện”.

Nếu một ngày, lượng Like của bạn giảm đi, bạn sẽ tự thấy mình thiếu hụt trong cuộc sống, tự thấy mình bị bỏ rơi, và điều tất yếu bạn sẽ phải tìm cách thay đổi, không còn gì khác, đó chính là cơ thể bạn, phô ra những gì đẹp nhất của mình.

Việc chụp ảnh khoe thân liên quan chặt chẽ với quan niệm về sự tự tôn (self-esteem).

Thực tiễn hành nghề, tác nghiệm cho tôi cảm nhận khá đau đớn khi chứng kiến không ít bạn gái trẻ hoặc những người phụ nữ thành đạt, giỏi giang, mạnh mẽ, sáng tạo và tài năng đến cần trợ giúp do có xu hướng nhìn nhận họ đang sống một cuộc đời không ra gì (bởi bản thân không xinh đẹp cho lắm hoặc chưa thấy hài lòng, tự thỏa mãn). Tôi được nghe nhiều câu chuyện dài tinh tế xen lẫn phức tạp về mối quan hệ trong công việc, gia đình, yêu đương giúp hiểu thêm sâu sắc cách thức xã hội vận hành và khiến người phụ nữ suy tư, cảm nhận, chịu trách nhiệm và hành động như thế nào.  Khi các nữ thân chủ của tôi nhận ra kiểu lối họ đang chia sẻ thì họ cũng có xu hướng lưu ý đến khía cạnh guốc trượt của khái niệm tự tôn, tin tưởng vào bản thân; như một thứ chén đắng phải ngậm ngùi uống vào để đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn vậy.

Ngày nay, truyền thông với sức mạnh của mình đã khai thác quá mức cơ thể của người phụ nữ. Đến dự một sự kiện (event), người ta chỉ chú ý đến nữ ca sĩ kia hôm nay mặc gì, bộ đồ ấy hở lộ như nào những điểm nhạy cảm, … điều đó vô hình chung đã đánh giá thấp giá trị của người phụ nữ.

Mặt khác truyển thông làm cho những câu chuyện điển hình như bạn nữ sinh ở Bình Dương nhanh chóng và dễ dàng lây lan hơn. Đồng thời tạo nên tâm lí đám đông, tò mò muốn biết về chuyện người khác mà thiếu đi sự khoan dung trong cách nhìn nhận, chấp nhận sự khác biệt, chấp nhận sự đa dạng về cuộc sống, và trên hết, nhìn nhận ai đó đơn giản như một con người. Từ định kiến sẽ rất nhanh chóng dẫn đến phân biệt đối xử.

Không cứ gì trong nước, truyền thông ngoại quốc cũng tranh thủ khai thác hình thể phụ nữ ngay trong các chương trình truyền hình thể thao cuối tuần. Chưa cần nói chuyện không ít các bình luận bên dưới vô số bài viết đăng tải trên mạng thể hiện sự thô lỗ hoặc đầy kích dục thì với bài viết giới thiệu nữ khoa học gia này, bạn sinh viên nọ thì cũng phải chêm nếm, thậm chí, đa phần chú trọng đề cập phần ngoại diện, vẻ đẹp hình thể thay cho việc nhắm vào thành tích, sự nghiệp của nhân vật.

Khi một cậu trai trẻ hoặc người đàn ông lịch lãm nhận được lời khen ngợi về hình thể thì thường họ chấp nhận hoặc cười xòa rồi thôi; đó không phải là câu chuyện quá bận tâm. Song với phụ nữ thì không thế. Qua thời gian, vẻ đẹp của một người phụ nữ được xem là tiêu chí nhìn nhận về sự đáng giá của bản thân; đó là lý do tại sao hầu hết phụ nữ dành nhiều thời gian và tiền bạc để chi phí, đầu tư vào tóc tai, trang điểm và ăn mặc. Nếu phụ nữ không xinh đẹp, họ có thể trở thành đối tượng bị châm chọc, phẩm bình và bị xúc phạm phẩm giá.

Nhân tiện, tôi thích ý tưởng đọc được của ai đó hiện không nhớ tên rằng mình có thể không tán đồng với một phụ nữ song chỉ trích, phẩm bình ngoại hình của cô ấy- trái ngược với ý tưởng và hành động của cô ấy- không phải là sự thiện ý, đặc ân của bất kỳ ai. Xúc phạm đến hình thể của phụ nữ thể hiện cho sự thiếu vắng hiểu biết, chứng tỏ không có khả năng suy nghĩ ở mức độ sâu sắc. Mình có thể chê bai cô ấy xấu xí, song người khác lại dễ nghĩ mình là kẻ ngu ngốc… Chúng ta đích thị thấu biết rằng phụ nữ đạt được sự bình đẳng thực sự khi đàn ông thôi nói về cách thức phụ nữ trông như nào và lắng nghe những gì chị em chia sẻ.

Sẽ hồ đồ nếu nói người trẻ thiếu ý thức, họ chỉ coi thường nguy cơ hoặc/ và đánh giá thấp hậu quả sẽ xảy ra mà thôi. Như vụ việc ở Bình Dương xuất phát từ ý nghĩ muốn lưu lại những khoảnh khắc thăng hoa của tình yêu mà các bạn ấy đã quên đi sự phiền nhiễu sẽ đến bất cứ lúc nào.

Vụ việc của nữ sinh ở Bình Dương có thể phản ánh cho niềm tin về một tình yêu lãng mạn, rằng tự thân tình yêu thôi là đủ đầy rồi và cảm xúc lứa đôi thuộc trạng thái bất biến, không thể thay đổi.

Đối với các bạn gái trẻ muốn nâng cao, cải thiện sự tự tôn và tin tưởng vào bản thân, có thể lưu tâm đến đôi điều khá đơn giản như sau. Hãy nhìn vào tất cả sức mạnh, ưu điểm và tài năng mà bạn có. Viết xuống, nói to chúng lên. Đặt bản thân vào trung tâm của câu chuyện đời mình; bạn là nhân vật chính, người mình thực sự yêu thích và tò mò muốn biết về.

Câu chuyện chụp ảnh khoe thân nơi đầm sen hồ Tây lần nữa khẳng định, vẻ đẹp hình thể chỉ là vẻ đẹp thâm trầm của làn da mà thôi. Không có gì sai trái khi người ta tổ chức kỷ niệm, thực hiện điều gì đấy để đánh dấu khoảnh khắc đẹp đẽ, đáng nhớ trong đời. Song chắc chắn đó không phải là toàn bộ bài học kỹ năng lẫn giá trị ưu tiên định dạng ý nghĩa cần nắm bắt nhằm tránh hậu họa đáng tiếc xảy đến.

Khó chối bỏ sự thật, các câu chuyện liên quan đến việc khoe thân gây ồn ào bình phẩm còn là dấu chỉ cho tác động, ảnh hưởng nhiều chiều của việc sử dụng ngôn ngữ cũng như mặc định vai trò mà người phụ nữ đảm nhận (“làm đẹp cho đời”).

“Tôi không thể cho lời khuyên”

Báo chí Việt Nam luôn tạo cơ hội để tôi cảm thấy mình cần giữ tâm trạng phấn khích và ngạc nhiên mãi hoài chưa thôi. Với lối đặt tên “Kết thúc có hậu của người đàn ông ruồng rẫy vợ con để theo bồ nhí” tựa cách khai thác tin bài vô tiền khoáng hậu vậy, thiên hạ không bức xúc đến độ chỉ chực muốn nhảy chồm chồm rồi mắng mỏ nhau lia chia qua lại mới là chuyện lạ.

Và cập nhật đây nữa: Tan nát gia đình vì chuyên gia tâm lý.

Chuyên gia khuyên em hãy đi tìm người đàn ông khác để tìm hiểu vì có thể sẽ có cảm hứng, ham muốn. Vị chuyên gia kia không quan tâm chuyện gia đình bị ảnh hưởng thế nào, chỉ lo giải quyết cái vụ “chán tùm lum” của vợ tôi, kết cục gia đình tôi tan vỡ.

Nhân vật ‘chuyên gia’ này là ‘một vị cực kỳ uy tín trong ngành tâm lý’ (!?).

Mào đầu lấy cớ, chứ ở đây không nhàn rỗi thừa hơi thêm đặng dành lời bình luận say sưa cho hơi hướng cải một mớ thế.

Giờ mời đọc đoạn phát ngôn sau.

Tôi sẽ giúp chị tìm ra câu trả lời đúng đắn song tôi không thể cho lời khuyên hoặc thông tin (trừ lúc thích hợp). Tôi không thể làm cho chị lớn lên. Chị phải tìm ra câu trả lời cho riêng mình suốt các phiên và bên ngoài tiến trình trị liệu. Tôi sẽ chấp nhận chị và các hành vi của chị trong mỗi một bước đi trên hành trình. Tôi chấp nhận các giá trị của chị sẽ thường khác biệt so với giá trị của bản thân. Tôi tôn trọng mọi nền văn hóa và các định hướng phát triển, và sẽ đương đầu với bất kỳ định kiến nào nảy nở trong lòng mình.

Nói ngay, cách nhìn này đích thực thể hiện hiểu biết căn cốt về trị liệu và phản ánh tương thích với hầu hết mối quan tâm của thân chủ. Trong khi không nghi ngờ gì vô vàn khác biệt xuyên văn hóa, đa phần mọi người tìm đến trị liệu tâm lý với kỳ vọng muốn được nhà tham vấn bảo họ nên làm gì. Đấy là nguồn cơn họ cân nhắc đặng tính chuyện trả phí: lời khuyên và kiến thức tâm lý chuyên sâu của nhà tham vấn. Nếu trị liệu khởi đi từ việc đặt thân chủ vào thỏa ước chắc chắn rằng tôi sẽ không cho lời khuyên chi cả và thân chủ phải tự tìm ra các câu trả lời thì họ sẽ chủ yếu nghe ra rằng nhà tham vấn không thể trợ giúp họ và khả năng cao là họ chẳng thèm quay trở lại trong phiên kế tiếp.

Thực tế, điều này minh họa một sự trái ngược khả thể: nhà tham vấn giữ vị trí quá chừng lý tưởng, rằng thân chủ buộc phải tìm tìm thấy câu trả lời cho bản thân, đồng thời nói rằng anh ta sẽ ‘tôn trọng mọi nền văn hóa’ và chấp nhận các giá trị khác biệt. Dĩ nhiên, thật hoàn hảo để nhận ra nhu cầu của thân chủ muốn được khuyên nhủ mà vẫn không đưa cho họ, song điều này đòi hỏi lối trình bày thiện xảo và quyết không chỉ là lời đầu môi chót lưỡi đi kèm với tuyên bố: “Tôi tôn trọng nhu cầu cần có thông tin của chị song tôi sẽ không cung cấp cho chị và đây là lý do tại sao”.

Trải nghiệm tác nghiệp hành nghề giúp ta phát hiện thấy vị thế của nhà tham vấn đã thay đổi theo thời gian, rằng tôi nhất thiết phải xem xét thấu đáo định kiến căn bản của mình với tư cách là một nhà tham vấn, rằng người khác “nên là” trong dòng chảy không ngừng của trải nghiệm và tôi phải rất tinh tuyền trong việc làm thuận lợi, dễ dàng sự trưởng thành, triển nở của thân chủ. Rất thường gặp trạng thái người ta không hề chạm tới được trải nghiệm đang là của bản thân khiến họ tìm đến nhà tham vấn nhờ trợ giúp, và cũng rất thường tình việc ít nhiều chân thành khi nhà tham vấn nắm giữ thông tin tích lũy có thể trợ giúp bằng chuyện xử lý những lối trình bày riêng biệt liên quan tới nỗi niềm bất mãn đó trong đời sống của thân chủ.

Tôi cho rằng, quan trọng cần nhớ, nhà tham vấn đang không truyền đạt kiến thức chuyên sâu từ trên cao. Lĩnh vực của chuyên gia ngành hẹp chẳng hề có nghĩa anh ta tổ chức việc tìm kiếm các giải pháp hoặc thực hiện mọi điều đặng giúp đỡ cho chính thân chủ, mà đó là việc tạo lập trạng thái sống cùng với thân chủ, theo nhu cầu của thân chủ đã được hai bên vạch ra trên tấm bản đồ đường đi nước bước cụ thể, và cả ước ao của thân chủ nhằm cởi bỏ áp lực tồi tệ của việc đang buộc phải làm mọi điều cho chính bản thân. Khi áp lực này bị làm dịu bớt cũng như đã bẻ gãy được sự cô độc hay tách biệt thì chính thân chủ, tự họ, dần tiến tới giải pháp ngay lập tức,

Song điều này là phương thức đòi hỏi kiên trì lâu dài, và thực tế thì khá bất khả vào giai đoạn khởi sự tham vấn ban đầu.

J. Soi (35): Điểm mù và góc khuất: một trò diễn tâm trí gian trá mang thi vị khó ngờ giữa tứ bề, đa diện cuộc đời

Một bộ phim hành động phản ánh các chi tiết phức tạp chẳng dễ đoán định giữa cuộc sống hiện đại và thường ngày dung tục. Gợi nhớ một bộ phim khác cũng đề cập đến trạng thái che lấp khó phát hiện; thậm chí, kéo liên tưởng về cả câu chuyện ngụ ngôn cổ xưa với motif “thầy bói sờ voi“.

Không thuần túy xấu xa và tiêu cực như đạo diễn Luxembourg chỉ ra, điểm mù và góc khuất có thể đóng góp nhiều hơn thế cho cuộc đời bề bộn này.

Chẳng hạn, “Góc Khuất” kể lại chuyện có thật về cách cậu bé bị phân biệt đối xử sắc tộc đầy thiệt thòi Michael Oher trở thành một cầu thủ bóng bầu dục tài danh thông qua trình tự chứng tỏ giá trị bản thân ở nhiều khía cạnh khác nhau, chứ không hay ho chỉ mỗi môn chơi thể thao. Gì là góc khuất đây?

Quy về chiều kích đối lập với những thứ một cầu thủ buộc phải đương đầu. Một minh họa: khi một tiền vệ cánh phải chuyền bóng, tấn công thì việc cản phá bên trái là trách nhiệm đồng đội nhằm bảo vệ góc khuất của anh ta. Căn bản, một góc khuất là phiên bản rộng hơn của điểm mù; khái niệm này của việc bảo vệ tương thuộc nhắc nhở tới lời răn dạy khi chúng ta sống giữa cộng đồng, rằng nếu mình không quan tâm đến kẻ khác thì ai sẽ thay thế?

Dưới nhiều phương thức, việc một gia đình rộng lượng bảo trợ, nuôi dưỡng Michael khi cậu còn vị thành niên đã tỏ lộ và bảo vệ các góc khuất liên quan. Chẳng hạn, Michael nhìn ra tình yêu thương và sự giáo dục đang hết sức thiếu vắng, trong khi các thành viên gia đình nhận thấy những gì họ có thể làm cho chàng trai to lớn vượt ngoài sự tử tế đúng mực. Theo lối ấy, họ quan sát rồi tự phơi bày một góc khuất vật chất và tâm linh khác, nhờ vậy thay hình đổi dạng đời sống kẻ khác thêm phần tốt đẹp hơn.

Khi chúng ta đem tặng tha nhân cơ hội chứng thực bản thân họ, chúng ta cũng cho chính mình cơ hội chứng thực tính nhân văn và giá trị con người mình.  Không có hiện thể thực hành và hoàn thiện lòng từ bi thế thì bằng cách nào chúng ta khởi lên tâm Bồ đề ngõ hầu thành tựu con đường  Bồ tát và đạt quả vị Phật?

Michael đặt nghi vấn về dự tính giúp đỡ mình. Liệu việc ấy thuần tốt lành, hoặc cốt để thỏa mãn cá nhân riêng tư? Nếu nhắm đến mục tiêu thứ hai, nó vẫn còn là lòng từ bi vô điều kiện? Đôi khi, lắm lúc chúng ta không tỉnh thức thấy ra động cơ của chính mình, thậm chí cả hành động của bản thân nào đẹp đẽ hết? Dường như gia đình bảo hộ Michael khá tinh tế dẫn dắt cậu chàng hướng tới ngôi trường lẫn nghề nghiệp ngôi sao bóng bầu dục mà họ lựa chọn… và ít nhiều điều ấy đã không được thừa nhận cũng như chúng chẳng phải tuyền bao gồm các dự tính vị tha; khi ý thức thấu tỏ, họ thành thật xin lỗi và thúc giục Michael lựa chọn vì bản thân cậu mà thôi. Một góc khuất được phát hiện và tỏ lộ! Với sự vụ ấy, cậu chàng to xác càng ngưỡng mộ, quý trọng gia đình ân nhân.

Nào, bây giờ quay vào tự phản tỉnh. Tự hỏi những góc khuất, điểm mù nào chúng ta đang sở hữu? Một vấn nạn gian trá của tâm trí, bởi vì chúng ta mù mờ về chúng, chí ít lúc này.

… Chìa khóa để hiểu câu chuyện ngụ ngôn “người mù sờ voi” nằm ở dòng cuối; rằng không ít người quá dính mắc với quan điểm bản thân và chộp bắt lấy chúng khi tranh cãi; chỉ thấy mỗi khía, góc của sự việc mà thôi.

Lời nhắc nhở về cách thiết lập một quan điểm hoàn hảo, chính xác hơn về thực tế; không nên lầm thành phần là toàn thể; cần thoát khỏi thói quen lưu giữ các định kiến cá nhân khi đánh giá, xem xét, nên tạo lập một tâm trí cởi mở đủ để quan tâm tới bằng chứng tươi mới trái ngược, đối lập.

Cũng cần biết rằng, tính phổ quát của câu chuyện ngụ ngôn về người mù và con voi còn đến độ được dùng minh họa cho nguyên lý về sự thật tương đối; theo đó, mỗi một quan điểm là sự thật xét từ góc nhìn, chỗ đứng nhất định; và nói chung, không có quan điểm nào có thể bị đánh giá là sai trái hoàn toàn.

Từ chống kháng tới cuồng loạn: vết nứt rạn căn bản

Cách nhau chỉ vài phút ngồi đợi ở bến xe bus trên phố Huỳnh Thúc Kháng, tôi đã thấy hai cảnh tượng phản ánh cùng một  xu hướng hoang đàng, nhập nhằng chung riêng; chứng tỏ người sống trong thành phố chưa chắc đã hình thành được phẩm chất căn bản của thị dân: tôn trọng luật pháp, tuân thủ quy định ứng xử nơi công cộng.

Một chiếc ô tô trờ tới trước mặt, dừng ngay giữa tim đường, cửa xe mở ra để một cậu thanh niên chạy từ trong vỉa hè bước vào… Xe máy xịch lại đúng khu vực dành cho xe bus đón đỗ khách, một vị đàn ông trung niên béo tốt nhảy xuống vẫy tay chào nhau vui vẻ và hồn nhiên băng qua bến xe bus phía đối diện.

Chứng kiến sự kiện này sau khi tham dự buổi trao đổi với khách mời về chủ đề thanh niên với công tác chống tham nhũng, dĩ nhiên không thể không nhắc tới minh bạch và liêm chính.  Gần 200 sinh viên của Học viện, đa phần theo đuổi chuyên ngành Công tác Thanh niên nói chuyện riêng rổn rảng, chẳng thấy các nét mặt chăm chú lắng nghe hay tập trung cao độ cho vấn đề quốc nạn, hoặc cất lên vài ba câu hỏi thể hiện tư duy hết sức sâu sắc, đầy tràn tinh thần trách nhiệm của người lãnh tụ tương lai dẫn dắt phong trào “thanh niên anh dũng tiến lên”.

Chiều nay, tin nhắn từ tổng đài 1080 của VNPT gửi vào mobile cá nhân của người dân nội dung trích trong công điện Thủ tướng chính phủ về đảm bảo an ninh trật tự (nguyên trọn điểm 2, song có thay đổi trật tự câu.)

2. Tuyên truyền vận động nhân dân không có những hành động vi phạm pháp luật, không nghe theo kẻ xấu, cùng nhau giữ gìn an ninh trật tự, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống và góp phần cùng cả nước bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc theo đúng luật pháp của nước ta và luật pháp quốc tế.

Như thế là chính phủ có phản ứng chính thức một cách công khai với tầm mức rộng rãi nhất khắp toàn quốc liên quan đến vụ việc chống kháng dẫn đến cuồng loạn ở Bình Dương, Vũng Áng (và có thể vài ba nơi khác trên đất nước). Lịch sử chắc chắn khi ghi nhận giai đoạn này không những thêm đậm dấu chỉ truyền thống của sự thù hận, ghét bỏ bè lũ bành trướng Trung Hoa mà còn khó phủi sạch nổi nghịch lý đấu đá nội bộ xen lẫn nỗi niềm rúng động khi lòng dân ly tán, bất an được đính kèm trêu ngươi hòa cùng tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc.

Đúng vậy, nếu việc chống kháng, bất đồng là điều tự nhiên trong xã hội dân sự thì cuồng loạn, bạo động khó được thế giới văn minh thừa nhận như quyền. Và từ dự tính chống kháng ban đầu thông qua biểu tình lại dẫn đến cuồng loạn hậu họa dây dưa thì câu chuyện đã mang bản chất hoàn toàn khác hẳn: vết nứt rạn căn bản ở đây là người ta không còn e sợ, ngần ngại nhà chức trách, giới cầm quyền nữa.

Dù động cơ tham gia là vui vẻ, hùa vào đám đông đặng tranh thủ cướp bóc, hôi của, đập phá thì khó mà chấp nhận quyền cuồng loạn, bạo động; tương tự, cũng khá ngây thơ và lý tưởng lắm lắm khi xem xét các điều kiện nhằm thỏa mãn một định đề tâm lý phổ quát: không có công lý, không có hòa bình.

Thực tế, bạo động và cuồng loạn không bao giờ xảy ra ở các quốc gia mang danh đàn áp nhất; những kẻ chuyên quyền khủng khiếp hầu như chưa từng phải lo lắng việc bạo động và cuồng loạn. Việc này không bao giờ xảy ra ở các nước mà người dân dè chừng chính quyền, và tại nơi mà sự bất công bộc lộ gay gắt nhất; bạo động và cuồng loạn cơ chừng dễ xảy đến ở nơi mà người dân KHÔNG còn sợ hãi chính quyền nữa và tại nơi mà sự bất công được cho là khá nhẹ nhàng, chịu đựng được.

Xin mời đọc thêm lúc rảnh rỗi, thư giãn: 1, 2, 3.

@ Cập nhật, 9h41 ngày 16.5.2014: Tôi đã đọc phần 1 trước khi gõ xuống bài này, giờ đưa vào như tài liệu tham khảo do mới biết phần 2.

Không lãng quên chốn cũ đi về

Gió thổi vài ba chiếc lá rớt vào phòng… Gió làm cho cây khế trông như mảng màu xanh dúm dó ấn vào bầu trời, nhăn nheo lại. Gió không nói cho ai biết về cách thức quyến rũ của cung đường vòng vèo sau cơn bão. Thành phố tỏa cái mùi bị bỏ rơi và lãng quên kể từ dạo cơn mưa xuân ướt át kéo qua vội vàng, chiếu lệ…

Tôi nghĩ tới mức độ lẫn thực trạng hiểu biết nhau của chính chúng ta. Ngày Hiền Mẫu đích thị không phải của Mẹ; nó hiện diện bất ngờ để dành cho những đứa con mãi chưa thôi ứa nước mắt mỗi lần ngồi nhớ về lối rẽ ra cánh đồng làng đầy các dấu chân trâu đọng nước, đó có thể là chuyến hành hương của vị khách ngoại quốc cao lớn chầm chậm đọc tên trên các ngôi mộ trong nghĩa trang khuất lấp sau rặng núi xa, là tấm bia nơi góc lũi lầm ven con phố vương chút bó hoa bé nhỏ đã tã cánh, rời cành, v.v…

Chí ít điều gì vừa xảy ra, như đã từng tiến hành rồi; thời sự không chỉ với người đã nằm xuống mà cả cho bao kẻ đang hít thở giữa trần gian này. Lần nữa, các món quà di tặng khiến chúng mình được như ngày hôm nay. Những lời tri ân dù chưa đáng giá song e chừng cũng góp phần cất bớt đi chút đau đớn của tủi hèn và mặc cảm. Vì sự hy sinh đã cho tất thảy tự do, với bạn và với tôi.

Ôi mẹ ơi, chúng ta không yêu đất nước Việt Nam của mình à? Có thể nói quá nhiều và thật ít lắng nghe; thử một lần đi sẽ thấy vượt trên các khía cạnh thể lý và cảm xúc, nỗi buồn ứa tràn trên mỗi cánh tay. Ngay cả khi tính vị tha chẳng chứa chút giá trị gì.

Hôm nay, mình vinh danh Hiền Mẫu, Trái Đất, Tổ quốc và thân phận riêng mình. Dẫu sự duy nhất và độc sáng không khiến cho nhiều quý vị chúng sinh thay đổi.

Giảm bớt, dừng lại, hoặc tái chế điều gì đó. Và nếu khả thể, xin lắng nghe tiếng gọi của Mẹ mình.

‘Hạnh phúc’, nghe chúc mãi thành quen tai và nhàm tẻ

Thế là Việt Nam lại có thêm một hoạt động màu mè, theo nghĩa lập lòe át vía để  ít nhiều cố tình che đi những nhiễu nhương và bất mãn trong sâu thẳm lòng người. Xin cứ tự nhiên tham gia lần thứ hai phong trào thế giới do Liên Hiệp Quốc phát động mang sắc thái tâm lý học tích cực để tạo nên cam kết cá nhân nhằm vinh danh rồi tái khám phá trở lại, một cơ hội học hỏi nhiều hơn đồng thời tăng cường sức mạnh riêng có nhằm làm cho chính bản thân mình hiểu biết hạnh phúc thêm nữa vào hôm nay.

Hạnh phúc tuyệt không hời hợt cũng chẳng hề xa xỉ. Đó là nỗi niềm ước ao thẳm sâu đặt để trong mọi thành viên của gia đình nhân loại. Hạnh phúc không nên loại trừ ai và cần tương thích với hết thảy. Khát vọng ấy được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cam kết như cách thức nâng cao hòa bình, công bằng, quyền con người, tiến bộ xã hội và cải thiện các chuẩn mực đời sống.

Có thể bạn không khớp khít hoặc chẳng đủ điểm trắc nghiệm về chủ đề liên quan; mặt khác, hạnh phúc thì nào giống với việc theo đuổi, truy tầm hạnh phúc. Sức khỏe, sự khôn ngoan, trí tuệ, giàu sang và tài năng; một đời sống hạnh phúc không đồng nghĩa một đời sống có ý nghĩa.

Làm thế nào để nhìn nhận về tính vô thường của cuộc đời đang sống một cách thật tích cực?

Làm thế nào để biết thưởng thức đời sống tràn đầy hơn?

Những gì là hạnh phúc vững bền và rốt ráo?

Tại sao chúng ta ở đây?

Tự do vượt thoát khỏi tâm trí và vật chất. Tập luyện tỉnh thức chân chính để giảm thiểu khổ đau, từng khoảnh khắc một, từ giây phút này sang giây phút khác; thường xuyên và liên tục. Trạng thái an lạc, không bị xáo trộn bởi bất kỳ điều kiện nội tại hoặc ngoại giới nào, hạnh phúc hoàn hảo được khởi sự bởi khôn ngoan (nhìn thấy cách thức mọi thứ đích thực đúng vậy) và từ bi (tử tế với những ai thiếu vắng sự khôn ngoan ấy) là mang hạnh phúc đến với tha nhân.

Nhận rõ ngu xuẩn khi cố thuần dưỡng tự do ngôn luận

Chọn lựa là các bài học. Trạng thái thiếu quyết đoán cơ chừng là hậu quả của nỗi sợ thất bại, và có thể nảy sinh cảm nhận rằng nhờ không làm gì hết sẽ hạn chế các cơ hội tạo lựa chọn sai lầm. Kỳ thực, khám phá các cảm nhận ngờ vực lại có  thể giúp người ta vượt qua tính thận trọng quá mức; e mình có thể nghĩ tới mọi thành tựu, tự hỏi bản thân kịch bản tồi tệ nhất khả dĩ, và cách nó ảnh hưởng đời mình. Người ta không chỉ cân nhắc các tiềm năng mất mát, thiệt thòi mà cả kiến thức bổ ích thu lượm được trên tiến trình thực hiện. Thay đổi quan điểm về tình huống phản ánh các thấu hiểu mới mẻ giúp người ta nhận ra tất cả lựa chọn có thể dẫn dắt họ tiến về thành tựu tích cực, vì mình có thể luôn đạt được một hiểu biết sâu thẳm hơn về chính cuộc sống.

Thanh lọc, cố gắng tẩy trừ rồi tuyên phạt blogger vì anh, chị ta chọc giận, công kích mình càng quá dễ củng cố một sự phá cách đáng lo sợ. Bởi vì quả sắc sảo ý tưởng cho rằng kẻ nào muốn ném vứt sự tự do của một quốc gia thì thường phải bắt đầu bằng việc bắt thần phục tự do ngôn luận.

Tuy nhiên, cũng giống như các dạng tự do chính trị khác như tự do tín ngưỡng và tôn giáo, và tự do báo chí thì tự do ngôn luận, dĩ nhiên, không hoàn toàn tuyệt đối. Ta không thể la lên “Cháy!” lúc mọi người đang xem kịch trong nhà hát khi thực tế không có điều gì như thế cả; cũng như mình không thể dứ dứ nắm tay đe dọa trước khoảng không gian mũi người khác được. Nói khác đi, tất cả chúng ta tự do trong các giới hạn nhất định.

Việc luôn luôn thế và trong xã hội dân sự luôn cần phải thế. Hầu hết chúng ta không lưu ý nhiều tới các giới hạn ấy vì đa phần chúng ta được lập trình thậm chí để chẳng hề nghĩ tới việc vượt thoát khỏi chúng. Và ngay cả khi ai đó muốn đấm vào mũi người khác, sự đe dọa bị trừng phạt không là lý do duy nhất khiến họ ngừng lại (hy vọng thế) mà còn là cảm nhận rằng chúng ta không nên xâm phạm vào quyền của người khác chẳng bị đấm vào mũi.

Tiến bộ trong nghiên cứu khoa học thần kinh cũng nhanh chóng nhóm hội tương tự. Khái niệm ‘vô thức’ của Freud hoàn toàn có một nền tảng thần kinh, và bây giờ chúng ta biết thành phần lớn nhất của suy tư và ý nghĩ chúng ta đích thị diễn ra bên dưới cảm nhận ý thức của chúng ta. Và điều đó thật may mắn cho chúng ta. Bởi như tác giả Thinking, Fast and Slow chỉ rõ, ‘hệ thống 1’ (người suy tư nhanh chóng và vô thức) đảm bảo sống còn; ‘hệ thống 2’ (phần tâm trí được định dạng là ‘chúng ta’) bị quy định hết sức mạnh mẽ bởi năng lực làm việc của hệ thống 1. Nếu dành thời gian, chúng ta có thể phóng thích mình khỏi một số thứ thuộc hệ thống này song không thể hoàn toàn thoát được, và không phải lúc nào cũng làm được. Sự thật khó nhằn là ‘chúng ta’ không thoát ra khỏi các bản ngã vô thức của chính mình; dĩ nhiên, chúng ta biết điều này từ lâu rồi trước khi Daniel Kahneman đưa ra hai khái niệm trên…

Và cơ chừng chúng ta cũng không thực sự có tự do ý chí. Nghiên cứu chỉ ra rằng xung năng để thực hiện các hành động cơ bản (giơ một ngón tay, chẳng hạn) nảy sinh trong não chí ít một giây trước khi chúng ta nhận ra hoàn toàn, ý thức đủ đầy về ước muốn chuyển động nó. Dường như tâm trí vô thức, hiểu biết chức năng bị tước đoạt của ngôn ngữ, có thể kiểm soát rất lớn đến việc ra quyết định có ý thức nhiều hơn là chúng ta tưởng.

Chẳng hạn, chúng ta không đơn giản quyết định dừng cảm thấy buồn bã hay trầm uất. Tuy thế, có các con đường gây ảnh hưởng khác đối với các tâm trí vô thức vẫn đang hiện diện. Chúng ta dẫu không thể, chí ít ngay tức khắc, ngừng ngắt bản thân khỏi cảm giác tức giận (khác biệt, dĩ nhiên, với chuyện ngừng bản thân không hành động khi đang tức giận) song chúng ta có thể, theo thời gian, truy tìm những điều gì đào sâu sự tức giận rồi tháo ngòi nổ, giảm thiểu khả năng gây tức giận của chúng lên bản thân mình. Do đó, chúng ta thực tế có khả năng rèn tập một dạng tự do gián tiếp, thứ tự do từ các tâm trí ý thức của chúng ta để điều khiển chiều kích cơ bản đời sống nhờ rèn tập các bản ngã vô thức của mình đi vào con người mà các bản ngã ý thức muốn chúng trở thành. Bằng cách đó, dù chúng ta có thể không ý thức đủ đầy các cú đấm thì các cú đấm sẽ chỉ được tung ra khi chúng ta tán đồng nên thế.

… Bi kịch rất chết người của tự do ngôn luận và sự gia tăng thói cố chấp, không khoan dung.

Vượt qua nỗi sợ bất tri giúp chúng ta đưa ra các quyết định. Nghĩ về điều tồi tệ nhất có thể xảy đến quả là một tiến trình kinh khủng, song khi đối đầu với nỗi sợ hãi, nắm lấy nó khiến chúng ta nhụt chí. Cho phép bản thân nhìn sự tồn tại của bản thân như một loạt các bài học cần biết hơn là các quyết định phải đưa ra thật chính xác sẽ làm thay đổi cuộc đời chúng ta. Thay vì bị tê liệt bởi sự do dự, chúng ta bắt đầu thưởng thức các hương vị của những trải nghiệm mới mẻ nảy nở từ các lựa chọn của bản thân. Nhìn mỗi một quyết định tạo ra như cơ hội để học hỏi, thay đổi và lớn lên tất không khó thấy rằng các lựa chọn của chúng ta sẽ dẫn dắt mình tới một sự thức nhận mới về chính bản thân và cả thế giới xung quanh.

Nói thêm về một nền tảng lập luận dạy học

(Bài này khởi thảo đã gần nửa tháng nay rồi mà giờ dây dưa mãi chưa chịu kết thúc)

Vụ thầy, trò đánh nhau trên lớp dẫu có bổ sung hay khai thác thêm thông tin mới để rồi sẽ càng làm tăng độ kịch tính hơn song rốt ráo thì chẳng thể khiến bản chất của câu chuyện khác đi được khi việc dạy trở thành công tác thúc ép, gán vào người học.

Đọc bài viết của một giảng viên Đại học Sư phạm ngậm ngùi thấu hiểu thêm; thậm chí, ngay cả các ý kiến bình luận mang tiêu đề “Bạo lực với học trò là tối kỵ” cũng không thoát ra khỏi tâm thế níu giữ cái bóng quyền lực của người thầy và còn đó nỗi khát khao thầm lặng về một môi trường học đường bị điều khiển, có kiểm soát.

Đây chính là lúc cần nói rõ ràng về điểm yếu trong phương pháp Makarenko vốn được ngành sư phạm Việt Nam cực kỳ xiển dương.

Trước hết, kiến thức về não bộ- thần kinh cho chúng ta biết rằng cách hay nhất để trừng phạt là không làm điều đó; khi trừng phạt, chúng ta tạo động cơ để sự trừng phạt quay lại, còn khi sự trừng phạt bị từ bỏ và không tiến hành thì chúng ta dễ nghiêng theo hướng làm vui.

Học sinh cần người kèm cặp mà vị ấy không biểu tỏ quyền lực trên chúng, không cố đạt được lợi lộc và thu vén riêng tư, là những người giúp các em học hỏi điều quan trọng, cả đời sống nghề nghiệp và đời sống cá nhân; đừng quên, chìa khóa của việc kèm cặp, dạy dỗ là quan hệ.

Cùng với thành công, phương pháp của Makarenko cần một môi trường được điều khiển và coi trọng uy quyền. Nhấn mạnh đến kỷ luật bản thân, Makarenko đòi hỏi tính cương quyết và tự kiểm soát ở cả giáo viên lẫn học sinh, và khuyến cáo giáo viên cần được huấn luyện để kiểm soát tông giọng, động dung khuôn mặt, và cử chỉ điệu bộ (mang tính diễn xuất). Với “giáo dục”, ông hàm ý việc đó không chỉ là truyền đạt kỹ năng và kiến thức mà còn phải rèn đúc nhân cách để cá nhân đồng nhất với tập thể (tr.397).

Ngoài ra, phương pháp của Makarenko dựa vào lời dạy của Lenin, Marx và Engels còn cho thấy rằng nó xa lạ với mọi người thời điểm đó. Giáo dục ở Nga luôn trung thành với đường lối truyền thống và lấy giáo viên làm trọng tâm; nó đi theo mô hình công ty. Makarenko tin rằng cần phải ra lệnh. Dù ông không có tập hợp các quy tắc chuyên biệt nào khi khởi sự song một nguyên tắc rõ ràng của ông là nguyên tắc nghiêm ngặt.

Một điểm then chốt trong việc giảng dạy mà Makarenko ý thức là khả năng nhận ra được tầm quan trọng của cảm xúc. Ông lưu ý, các giáo viên và nhà tâm lý trang bị đầy đủ kiến thức và nói bằng thứ ngôn ngữ thể hiện trình độ được đào tạo bài bản, không biểu lộ cảm xúc với trẻ em được xem như là các bộ từ điển bách khoa vô nhân tính: ứ tràn các thông tin song lại chẳng dính dáng gì tới đời sống thực tế hàng ngày. Đứa trẻ mà Makarenko làm việc là đối tượng mồ côi và ông nhận ra rằng trước khi được truyền tải kiến thức, chúng phải được chăm bẵm và trạng thái cảm xúc phải ổn định. Hơn nữa, các trẻ này không ý thức về bất kỳ quyền lực nào vì chúng vốn tự tung tự tác quen rồi khi sống lê la trên đường phố. Ông nhấn mạnh mối quan tâm của trẻ vào đất nước, sự biết ơn lâu dài, và tiềm năng để có hạnh phúc sâu xa. Ông muốn khiến trẻ cảm thấy tự hào về công việc chúng làm được và cho chúng cảm thấy bản thân cần thiết.

Tuy thế, Makarenko cũng thấy tầm thiết yếu của các mục tiêu ngắn hạn đủ để trẻ nhìn thấy ngay kết quả tạo ra và là động cơ để phấn đấu tiếp.

Makarenko thậm chí còn cảm thấy rằng dù động cơ nội tại là quan trọng thì điều ấy cũng khiến người ta ích kỷ. Ông thực sự cảm nhận rằng trừng phạt là yếu tính cho việc học hỏi. Ông không nhìn sự trừng phạt như thế kiến lập nên sự thống trị, chủ soái mà nghĩ rằng đấy là cách thức để cho trẻ cảm nhận về tình huống chúng sẽ có thể bắt gặp khi vào đời. Ông tuyên bố rằng mình chỉ trừng phạt những trẻ nào ông quan tâm và đảm bảo các học sinh của mình không điên lên khi ông làm điều đó.

Nghiên cứu gần đây chỉ ra, đánh phạt vào mông trẻ gây ra ba hành vi không đáng có ở trẻ phải chịu: sự không phục tùng ngắn hạn, không phục tùng về sau, và xung hấn; lĩnh vực nghiên cứu này khó tiến hành ở nhà bởi vì đánh phạt hiếm khi xảy ra ở trước bàn dân thiên hạ hay có mặt người lạ. Nó cũng khó thực hiện tại phòng thí nghiệm vì ngăn cấm gây đau cho đối tượng.

Một nghiên cứu khác với 2461 trẻ chứng tỏ, sử dụng thường xuyên việc trừng phạt thân thể trẻ (ví dụ, mẹ tét mông con hơn hai lần tháng trước) khi trẻ lên 3 thì có khả năng làm tăng lên nguy cơ cao hơn sự xung hấn khi trẻ 5 tuổi.

Thực tế, quan sát lâm sàng cho thấy người thành đạt nghề nghiệp có nét tính cách ám ảnh phát hiện ra rằng các phẩm chất thích ứng của họ giảm bớt đi trong bối cảnh không phải nơi làm việc. Họ là những người khó tính khi sống cùng vợ con và ít chấp nhận các nhân cách kiểm soát của bản thân đối với thuộc cấp ở công sở. Khi một nhu cầu ám ảnh cần kiểm soát xung đột ít nhiều với thế giới thực tế và người ta đành chối bỏ trạng thái kiểm soát thì thường liên quan tới nỗi niềm tức giận và lo âu.

Rõ ràng không quá khó hiểu khi những bất toàn, lộn xộn và nhố nhăng xảy đến hiện nay xung quanh càng dễ khiến nảy sinh ước ao trật tự hoàn mỹ và cảm giác thuộc về cái thời cuộc sống đơn giản xưa cũ đã một đi không bao giờ trở lại. Tiến trình lạc hậu và già cỗi với sự hiện diện bôi bác luôn nhắc nhở của nó về đạo đức quả thật là gánh nặng đau buồn cho nền giáo dục nước nhà.