Những cơn sóng chữa lành

Đến hẹn lại lên, Viện Goethe khởi đầu mùa Giáng sinh trong giai điệu hòa tấu quen thuộc và hơi ấm nóng thơm lừng của rượu vang pha hồi quế.

Và giờ thì hôm nay, 11.12.2013, trở thành ngày của trăm năm.

Luôn thế, tồn tại khoảng giữa con số 12 và 14; cái tập tục sâu thẳm mãi còn vương vấn trong tâm trí nhân loại rồi liên kết chặt chẽ với vô vàn điều không thể lý giải rạch ròi tắp lự.

Chẳng đơn thuần gán nhãn ngay liền là mê tín hoặc vội vã phủ nhận tất tật như thói quen của một người nghĩ mình được giáo dục chu đáo, thử quan sát ở góc cạnh sát gần và kỹ càng hơn về cái phần vẫn ẩn hiện mờ tỏ ấy trong mình.

Con số ngày tháng năm gợi nhớ ngọn đèn biển tọa lạc ở mỏm ngoài cùng của bán đảo. Thức nhận của du khách khi nhìn thấy qua mỗi một cuộc thám hiểm, khởi hành nên tựa việc tích lũy vốn hiểu biết sâu xa về con người; một trạng thái thấu tình đạt lý ghi nhận chuyến lên đường mới như cơ hội cải thiện các quan hệ toàn cầu, mở rộng lòng thiện chí, và góp nhặt thêm về nỗi niềm thuộc chính thân phận mình. Thấm đẫm ta vào các nền văn hóa ngoại quốc là dịp khơi lên tâm trí dưới dạng thức tồn còn tươi tắn; bản chất tò mò cố hữu có thể giúp mình điều hướng những tinh tế trong xác lập một nền văn hóa…

Và giống như chúng ta, biển hằng hằng thay đổi. Và tựa ta thế, những đại dương rộng khắp trên trái đất hiện diện ở một khoảng cách mang tính kiên định, vững bền và tương tự. Song bên dưới mặt nạ của sự chắc cứng mà chúng ta và biển cả khoác vào, có nhiều vô kể những điều khó dự đoán, mức độ nhạy cảm tinh tế và quyền lực khôn cùng. Nhiều thứ có thể học hỏi từ biển, nó hiện hữu như những thắng cảnh, biểu tượng đời sống nội tâm của mỗi chúng ta. Âm thanh vang rền của sóng biển là sự làm bằng phẳng hết sức tâm linh, và vị muối mặn kết khối làm tinh tuyền các bản ngã thể lý… Biển cả, tồn tại trong các tâm trí thức nhận được ra, đặt để những hình ảnh chúng ta thấy và mô tả những gì chúng ta đọc. Bất kể thế nào, chúng ta dễ tiếp cận hình ảnh tâm trí đó và dùng nó như điểm khởi đầu đặng trợ giúp việc chữa lành các cảm xúc khi mình trầm ngâm suy tưởng bên bờ biển vắng.

Những con số đẹp đẽ và những cơn sóng trị liệu cứ mãi luôn ở đó bên cạnh và trong cả lòng ta.

Sự tỏ tường và độ tin cậy bỏ qua định hướng mơ hồ, vô cớ

Trên trang tìm kiếm google.com đang minh họa hình vẽ quen thuộc của test Rorschach, nhấp chuột vào đường dẫn ‘chia sẻ điều trông thấy’ thì hiện lên dòng chữ thông báo hôm nay là sinh nhật lần thứ 129 của Hermann Rorschach.

Vậy, tự hỏi mình mong đợi gì đây lúc này? Dường như tất cả chúng ta sẽ có một số ước muốn khá căn bản, và sẽ phức tạp ít nhiều khi mình mong đợi một số thứ không giống những người khác. Chưa hết, đôi điều đâu có chịu diễn ra theo ý định; vì thế, có thể chúng ta đi vào giai đoạn khủng hoảng, tùy kịch bản mà thậm chí đưa đối tượng đến cả sự lựa chọn gặp nhà tham vấn và trị liệu tâm lý… Điều gì xảy đến nếu chúng ta hành động nhờ thử vượt thoát ra ngoài một số kỳ vọng và chuẩn tắc bị đè nén bấy lâu trong đời?

… Quay lại với nỗi kính sợ, kinh hoàng một thời test Rorschach có thể vén lộ. Cấu trúc độc đáo của test khiến nó tiếp tục gây tranh cãi đa phần bởi tính biểu tượng hóa. Là một trong số trắc nghiệm hiếm hoi còn duy trì được khởi thảo từ truyền thống phân tâm và cuộc đấu khẩu chủ yếu về độ hiệu lực của các ý tưởng mang hơi hướng Freud.

Ảnh hưởng của các ý tưởng này có thể được phản ánh rõ nhất qua cách thức sử dụng nó. Một kiểu dạng test ‘phóng chiếu’ mà người làm test nhìn các tấm ảnh rồi cho biết ấn tượng. Nhà tâm lý viết xuống những gì đối tượng nói về mỗi bức ảnh rồi diễn giải điều đối tượng nói và thể hiện. Các diễn giải ấy được cho là đem lại bức tranh về nhân cách người, được định khung trong các khái niệm theo trường phái phân tâm học Freud.

Nguyên bản test Rorschach thì khá buồn cười, song vượt thời gian nó được tâm lý gia John Exner phát triển với ‘hệ thống nhận hiểu’ đủ cho phép nhà lâm sàng độc lập đi tới các kết luận tương tự khi xử lý cùng các đáp ứng. Thậm chí, độ tin cậy của test gây tranh cãi và bị xem là thổi phồng quá mức, thậm chí, ngay cả khi tin cậy chăng nữa, cơ chừng nó không tương quan tốt lắm với các công cụ đo lường tâm trí khác và mang xu hướng đặc thù trong ‘chẩn đoán’ các động thái mang tính tâm thần phân liệt ở người hoàn toàn bình thường.

Hầu hết test tâm lý đều dựa trên nguyên tắc là người làm test không hề biết trước gì hết về chất liệu tạo ra test; thuật ngữ chuyên môn gọi là sự an toàn thông qua trạng thái mơ hồ và khó hiểu nhằm đảm bảo độ hiệu lực. Các công ty chuyên cung cấp test ngày nay chỉ bán cho người hành nghề có bằng cấp với giá cao và đảm bảo bản quyền. Song mô hình này quá dễ đổ sụp trong thời đại internet vì nó có thể góp phần vi phạm hợp đồng để đưa test ra công khai.

Các nhà tâm lý do đó, cần khởi sự thiết kết test sao cho chất liệu test không gây nên tác động lớn lao đối với sự trình bày, mà điều này đòi hỏi một sự chuyển đổi ý nghĩa trong cách suy tư và lượng nghiên cứu ghê gớm hiện tại nhằm đem lại độ hiệu lực của các test.

… Một đời sống không đối diện với nguy cơ thất bại không phải là cuộc đời sống tràn đầy. Đặt để các mục tiêu trong những cách đo lường khả thể. Dù chỉ có vẻ là các bước vi tế, nhỏ bé thì chúng là tiến bộ. Trước khi mình biết đến niềm vui ấy, các tiếng vọng của thất bại sẽ mờ dần. Cả hai suy tư khó thể tồn tại trong cùng khoảnh khắc và mỗi khoảnh khắc là điều duy nhất mình có quyền năng dùng để thay đổi.

Nhiều người nghĩ rằng mình có thể chỉ việc ngừng ngắt ngay suy tư về sự thất bại. Song bất khả tiến hành điều đó. Mình nên thay thay thế suy tư tiêu cực bằng suy tư tích cực. Thái độ, suy tư và hành động sẽ tống đẩy mọi thứ xấu xa, tồi tệ đó văng khỏi cối xay nghiền nát. Mỗi khoảnh khắc mình thành công, đó là khoảnh khắc mình ít nuối tiếc hơn.

Do đó, cố gắng thất bại thì sẽ đúng thế thật; nếu gắng thử thành công, mình có thể hoặc không thể thất bại. Là câu chuyện 50/50, chẳng quá chênh lệch tỷ lệ. Và mình sẽ dám đặt cược, đánh cá. Tương tự, bài báo trên New York Times thật thú vị, nó chứa đựng một mức độ cân bằng giữa chuyện hay ho, chuyện xấu tệ, và chuyện ngớ ngẩn. Và lần nữa, câu chuyện nói chung còn nhắc nhở các vị cài đặt tâm trí chuyên việc cung cấp dịch vụ test thu tiền, bất chấp tính củ chuối của test.

Năng lực suy tư về các nguyên nhân và các mối liên quan là điều hết sức thiết yếu, và luôn luôn được thừa hưởng tiến hóa từ tổ tiên; tỷ như, chúng ta cần biết một loại hạt nào làm mình ốm, hoặc kiểu đám mây ra sao dự báo thời tiết xấu… Vì vậy không đáng ngạc nhiên chúng ta tự động tạo ra đánh giá theo dạng này. Chúng ta có các trực giác mạnh mẽ về những thứ nào đi cùng nhau, trực giác đó ùa tự nhiên tới tâm trí, thường sau rất ít ỏi trải nghiệm. Điều ấy tốt cho việc ra các quyết định trong một thế giới mình thường không đủ thời gian để suy nghĩ trước khi hành động, song với các tác dụng phụ chứa một số lỗi có thể đoán biết được.

Một lỗi thế gọi là “tương quan ảo ảnh“, một hiện tượng hai vật dường như được xem là có liên quan nhau song kỳ thực thì không. Trong một thực nghiệm cổ điển, người tham gia được đề nghị xem xét các điển cứu giả của nhà tâm thần học về các bệnh nhân đáp ứng với test giọt mực Rorschach. Một số báo cáo ghi nhận bệnh nhân là đồng tính, và một số thấy họ nhìn qua test những điều như áo quần phụ nữ hoặc các hạt cúc áo. Báo cáo được chuẩn bị đảm bảo không có liên quan chắc chắn nào giữa ghi nhận của bệnh nhân và đáp ứng hình test, song những người tham gia thực nghiệm– dù được huấn luyện hay tay mơ trong tâm thần học– đã báo cáo hết sức mạnh mẽ (song sai lầm) mối liên kết giữa các dấu hiệu trong test Rorschach và bệnh nhân đồng tính.

… Câu hỏi vẫn còn đây: cuộc sống quá ngắn ngủi? Bất luận thế nào, mình không vội vã. Quá ngắn với nỗi buồn bã của ta? Nào hoàn toàn thế. Chúng ta không thể đợi chờ vì hạnh phúc. Vậy khi nào thì đời sống ngắn ngủi? Nó chỉ quá ngắn ngủi khi đầy ắp các nuối tiếc vàng vọt, tơi tả. Song nếu mình có thể giữ các giấc mơ sống còn, quá khứ sẽ rớt lại và mình có thể tung cánh hướng tới một tương lai ấm áp ánh mặt trời hơn.

Điều làm nên bản tính người của chúng ta

Rồi qua mùa mùa đắp đổi, đời người tựa sông lở bồi...
Rồi qua mùa mùa đắp đổi, đời người tựa sông lở bồi…

Sau quỷ tiết Halloween í ẹ của dân chúng khắp nơi, cái đọng lại riêng tôi gần đây là buổi nói chuyện tại Viện Goethe; sự kiện này khiến bản thân mong ngóng tương tự nỗi háo hức cả ngày hội thảo về an sinh xã hội do một học viện thuộc hệ thống trường Đảng tổ chức.

Theo thống kê- xác suất kiểu gì đó, hôm nay Việt Nam có công dân thứ 90 triệu. Thời điểm hợp lý để cầu mong bé gái ấy sẽ được thực hưởng đầy đủ các quyền con người như hiến chương Liên hiệp quốc quy định.

Nền kinh tế nước nhà thì xám xịt và mờ tối. Các bộ dính dáng sâu xa với vụ nhà ngoại cảm tìm mộ liệt sĩ (trực tuyến, làm cứ liệu tham khảo; quan điểm quân phiệt trong học thuật). Và câu chuyện “miếng nhục” (cập nhật) sẽ được chọn thêm nhằm gợi hứng cho những gì sắp chia sẻ ở đây.

Dư luận ít nhiều la ó, chửi rủa, ca thán và đồng thời tách biệt mình khỏi cộng đồng. Ai cũng bức xúc và cảm thấy thật tệ hại hay rằng phi lý quá… Vậy, điều gì làm nên bản tính người của chúng ta?

Hiện tại, nếu căn cứ trên kết quả nghiên cứu nắm biết thì thấy tri nhận bản thân qua gương soi (đặt để sự tự nhận thức) là khả năng học hỏi được; thậm chí trẻ nhỏ ở một giai đoạn phát triển đặc thù, việc biểu đạt điều này cũng khác biệt tùy thuộc vào mức độ thông minh, nền tảng văn hóa, và các điều kiện kiểm nghiệm. Phát hiện góp phần khẳng định rằng khả năng này dường như tồn tại trên chuỗi tiến hóa liên tục.

Và có nhiều chứng cứ (chẳng hạn, đây) thêm hiểu biết về nhận thức của khỉ dã nhân; chúng tri nhận không gian, định lượng, phân loại, tính nhân quả, và chú ý theo những cách phức tạp hơn nhiều so với chúng ta biết đến trước đây.

Vậy, câu hỏi vẫn còn đó: những gì khiến chúng ta khác biệt?

Theo nhà nghiên cứu Michael Tomasello thì cơ sở trả lời hoặc chí ít thành phần căn bản để giải quyết, có thể nằm ở năng lực hợp tác của chúng ta. Trong các thực nghiệm với các loài khỉ dã nhân và trẻ nhỏ, nhóm tiến hành đã phát hiện một số điểm khác biệt lý thú chỉ ra cách chúng ta liên kết nhau nhằm đạt được kết quả.

Các loài dã nhân, bao gồm cả chimpanzees và bonobos, hợp tác để đạt được thành tựu (thường là nhằm kiếm thức ăn). Trẻ em cũng làm điều tương tự; tuy thế, trẻ thực hiện theo các cách khác hẳn chẳng hạn, trẻ đổi hướng theo bối cảnh hợp tác trong khi các loài dã nhân thì không. Trẻ thích tìm tòi cách hết sức hợp tác, trong khi các loài dã nhân thì chỉ thích điều đó khi chúng có thể thôi. Trẻ hiểu nguyên tắc, vai trò của kẻ hợp tác, và có thể chơi đóng vai rất nhanh mà không cảm thấy quá khó khăn. Các loài dã nhân phải học lại vai mới nếu chúng chưa từng thấy trước đó, v.v…

Dĩ nhiên, những điểm khác biệt này có thể được quy cho số lượng các thứ này kia, song Tomasello tin rằng con người tiến hóa rất đặc thù khi mắc bận vào “dự tính kết nối” là điều mà các loài dã nhân không có được (đọc thêm). Trẻ sơ sinh sẽ chỉ một đối vật đủ để rồi người lớn nhìn vào đấy và kiến tạo nên sự chú ý mang tính chia sẻ; chúng cũng sẽ chỉ một đối vật với người lớn mà không làm ra bất kỳ đòi hỏi nào chứng tỏ muốn chơi đối vật đó: chúng chỉ muốn chia sẻ sự chú ý. Điều này được gọi là động lực mang tính thông tin, và nó dường như chỉ hiện hữu ở loài người.

Những hành động mang tinh thần hợp tác này “tạo nên nền tảng có ý chia sẻ sẵn nhằm truyền thông hợp tác”, và Tomasello tin rằng những sự thích nghi nhận thức khởi lên đối với sự kết nối cố ý này nằm ẩn duy nhất dưới các tiến trình nhân loại như nhận thức, truyền thông, văn hóa, và đạo đức.

Những sự thích ứng nhận thức này rốt cuộc đến từ đâu? Chúng khởi lên khi cạnh tranh thực phẩm tăng cao, khả năng là do một số loài dã nhân lớn rời khỏi cây để xuống đất; con người đáp ứng nhờ phát triển các năng lực hợp tác này đủ khiến họ có thể săn bắn rộng hơn và tiếp tục phát đạt.

… Đọc các tin tức trên báo chí điện tử quốc nội, tôi không khỏi hình dung một bối cảnh bao trùm hơn, chứ tuyệt lười biếng đặng đơn giản áp lia lịa mỗi cái lý thuyết tâm lý đám đông. Lần nữa ngẫm nghĩ về mức độ thông minh, nền tảng văn hóa, và các điều kiện kiểm nghiệm, chẳng quên liên tưởng đến thời đại kinh tế sức chú ý.

Gì thì gì, rõ ràng, khi sống trong trạng thái phục vụ cộng đồng của mình là ta cũng đang thuộc dạng một công dân tốt của hành tinh trái đất rất đáng trân quý.

Múa như là tương tác tiến hóa sống động

Em hạnh phúc vì em vâng phục
Em hạnh phúc vì em vâng phục

Múa là hành động cực đoan. Hai mươi năm trước, khi mới bước vào giảng đường đại học, lần đầu tiên tôi biểu diễn múa, chính xác hơn đấy chỉ là minh họa giản đơn cho một bài hát gì đó quên mất tiêu trong chương trình Văn nghệ của Khoa và cậu con trai duy nhất trong nhóm mặc cái áo tựa đồ thủy thủ rồi vươn vai, nhón chân uốn éo từ từ băng qua sân khấu… Tôi đoán, như cố biểu tượng kiểu làn sóng biển xanh vậy (!).

Cho dẫu thật cứng nhắc và ngượng ngập, song tôi tin múa thuộc dạng hành động cực đoan. Mình đã thấy căng thẳng và mệt mỏi vì mình thiếu sự dấn thân trong nỗ lực luyện tập để khám phá các cái tôi ẩn tàng qua tư thế, điệu bộ. Xác thân ta, vì vậy, hỗ trợ việc bộc lộ não trạng của các bản ngã khác nhau với năng lực đạo đức, nghiêng sang hướng tâm linh, và thức nhận khía cạnh sinh thái đặng làm cho chúng ta thực sự là người.

Đôi khi học sinh không múa; chúng nhảy nhót điên cuồng, vặn vẹo lung tung và cố sức giơ bảng này, giương lên dòng khẩu hiệu nọ cho rập khuôn cùng yếu tố tuyên truyền, cổ động ầm ào. Điều dở tệ của những cái trò hú hét dập dồn và cuồng loạn giật giật chân tay này, do cả chàng trai lẫn cô gái thể hiện, là nó phô ra quá chừng dễ thấy mọi thứ, chẳng còn gì là cảm hứng kích thích hoặc khêu gợi sâu xa nữa. Dĩ nhiên, tính dục là thuộc về một cái chi hơn các thân xác; nó là cảm xúc, bản sắc, và giá trị, và thường khi nó thuộc về nhân dạng khác.

Tối nay đi xem múa tại Nhà hát Tuổi trẻ. Những thông điệp lành mạnh và dễ thương; bầu không khí của mê say biểu tỏ và trình bày vẻ đẹp cơ thể ngõ hầu giúp cho chính mỗi một cá thể nhận ra cái toàn thể nhân loại. Không có nền văn hóa nào chẳng sở hữu một tiết tấu âm nhạc hoặc một điệu múa. Những cái tôi trong hình hài vật chất khi chuyển động trên sân khấu tầm vài chục phút (đa phần có tính vòng tròn hoặc/ và kết nối) là đang giới thiệu các mẫu hình ý thức, được học hỏi qua rất lâu đời.

Múa làm tiêu tốn năng lượng, và toàn bộ đời sống hầu như quan tâm đến vấn đề này. Múa thì vô hạn, trong khi đời sống hiện đại thì quá coi trọng việc ngồi lì một chỗ, coi trọng cá nhân trước hết và viết xuống.

Hãy múa, bất kể bạn là ai. Múa là một hành động cực đoan vì nó nhắc nhở rằng chúng ta là các bản ngã mang tính thân xác, tồn tại chỉ như một diễn bày của các mối quan hệ chằng chịt với bản thân, những người khác, và thế giới tự nhiên khiến chúng ta được là chính mình.

Bao giờ trở về mái nhà xưa?

Trở về nhà là trở về nơi yên ổn khỏi trốn trong mình
Trở về nhà là trở về nơi yên ổn khỏi trốn trong mình

Ác độc, cái tôi và quan điểm cần được ngăn chặn phù hợp trên tiến trình hành diễn của sự đời; đó là những gì tôi liên tưởng khi đọc thấy câu chuyện hai cha con sống cách biệt với cộng đồng gần 40 năm.

Báo chí dùng từ “người rừng trở về“… Tự hỏi, liệu đó là sự thật nếu mái nhà dấu yêu ấy lại nằm sâu trong rừng thẳm quen thuộc, thân thiết xa kia.

Cùng với việc canh tác, vỡ hoang và gieo ngô, trồng dưa thì Robinson Crusoe, Mai An Tiêm cũng dần trở thành những kẻ- đào- hang trên mảnh đất là không- gian- mang- kích- cỡ- cái- tôi. Với một số người theo kiểu bành trướng, cái tôi của họ có thể trải rộng hàng mẫu, hectares; và dĩ nhiên, một số người khác lắm khi suốt đời chỉ quẩn quanh trong kích cỡ không gian cái tôi của chính họ mà thôi.

Người sống nội tâm, theo cách Jung giải thích trong một tiểu luận, không thể tìm thấy một chỗ đứng chắc chắn với các đối vật nằm ngoài bản thân anh ta. Thế giới của người sống nội tâm được đặt để trong nếp gấp bên trong. Khác với kẻ quen hướng về ngoại giới “chối bỏ chính mình trong sự phân tán hoàn toàn bản thân vào các đối vật”, kẻ sống đời nội tâm “sẽ theo đuổi các ý tưởng… một cách thầm kín chứ không hề phô tỏ ra ngoài.”

Vấn đề là kẻ sống nội tâm cảm thấy như thể họ dần ngừng ngắt thật chầm chậm sự tồn tại trong bất kỳ phương thức vật chất nào khi mọi nguồn năng lượng tinh thần trong họ trải hết sức mong manh băng qua bề mặt của tính xã hội. Điều này lý giải tại sao những đối tượng này muốn được rút lui, ở ẩn; cốt nhằm phác thảo một đại thể về chính mình rồi tiến tới khôi phục trở lại sự độc bạch nội tại.

Dưới viễn tượng này, Jung dường như đã đúng khi ông quan sát thấy rằng “suy tư nội tâm tiến tới thành bằng chứng cho chính hiện thể chủ quan riêng có của nó”. Và trong khi kẻ sống nội tâm có thể chắn chắn tiến hành một số cuộc đột nhập vào bối cảnh xã hội vô cùng bao la và không được che chắn, người ấy phải tuần tự rút lui cố thủ trong một góc xó nào đó rộng đủ cho một ý thức đơn độc trú ngụ, nhắm để, vâng, chọn lọc bằng chứng cho chính hiện thể chủ quan của bản thân mình; nếu không, dễ từ bỏ sự tồn tại. Hãy nghĩ về Crusoe không có hang động, An Tiêm nương thân trong mái lá suốt mùa mưa gió.

Và trong khi gia tài của kẻ sống đời nội tâm đa phần thuộc thế giới của ký ức và hoài niệm thì e chừng, người đọc những câu chuyện kể về họ vừa nhấm nháp được hương vị của sự cô độc vừa lại có thể thưởng thức bữa tiệc đông người ồn ào, náo nhiệt ý kiến ý cò nữa.

Lại nói về vẻ mê hoặc phụ nữ với trai hư

Như chưa từng xảy đến chuyện chi...
Như chưa từng xảy đến chuyện chi…

Chuyện này không hoàn toàn mới, vốn từng kể khá chi tiết rồi song có thể một số người vẫn chưa hề hay biết gì, nên chi tôi vẫn nhận được thắc mắc như cũ, để tiếp tục cung cấp thông tin lần nữa về vai trò của các nội tiết tố trong việc phụ nữ cảm thấy hấp dẫn trước các gã trai ăn chơi đầy số má (bad boy).

Mối quan hệ cặp đôi này đã tạo ra biết bao tò mò. Rằng đúng là gã đó hấp dẫn, gợi tình, đẹp trai và ngông cuồng, bạo dạn lắm song gã đó thiếu để tâm, chẳng muốn duy trì quan hệ như nhất, thích lăng nhăng nên khó đảm bảo độ tin cậy cho phụ nữ nào đang cần hẹn hò và ngóng tìm ý trung nhân cho một mối quan hệ lâu dài.

Đối lập quan niệm thông thường, định kiến về trai hư như thế không quá lan rộng như mình tưởng. Nghiên cứu chỉ ra khuynh hướng phụ nữ thích một gã trai hư đích thực chỉ trong thoáng chốc, một khoảng nhất định thôi. Tính tạm thời diễn ra theo cách tái lập một lần trong tháng: phụ nữ bị hấp dẫn dần suốt thời kỳ rụng trứng.

Vậy là, với thôi thúc hẹn hò nói chung của phụ nữ khi đi tìm một bạn tình đem lại độ tin cậy, đảm bảo nâng đỡ và chăm sóc cho cô ta và con cái sau này, câu hỏi thách thức nằm ở chỗ: tại sao chị em đang kỳ rụng trứng muốn bắt cặp với một gã mang các yếu tố trái ngược hẳn? (Nếu thích thì tham khảo thêm “hiệu ứng Beer Goggles“).

Nhóm khoa học gia tại đại học Texas ở San Antonio (Hoa Kỳ) đã hỏi xem phụ nữ nhìn nhận hồ sơ hẹn hò trực tuyến một gã là trai hư hay đối tượng đáng tin cậy trong các giai đoạn dễ rụng trứng cao và thấp.

Chị em tham gia được đề nghị cho biết họ đoán mình mong đợi thế nào về người đàn ông biết chăm sóc con cái và bao quát việc nhà cửa. Khi phụ nữ càng tiến gần đến kỳ rụng trứng, họ nghĩ người đàn ông hấp dẫn và vô lại (sexy cad) sẽ mang chứa nhiều hơn các thuộc tính trách nhiệm liên quan đến gia đình.

Điều đó chứng tỏ, dưới tác dụng nội tiết tố thời kỳ rụng trứng, phụ nữ điên đảo trong suy tư rằng các gã trai đặc trưng hư sẵn sẽ đích thực thay đổi thành người yêu tận tụy và những ông bố tốt.

Liệu nói như trên thì phụ nữ chỉ việc từ bỏ đừng hẹn hò suốt thời kỳ rụng trứng ? Không phải thế. Cần sự phòng ngừa từ một người bạn đáng tin có thể làm sạch những thấu kính hoang tưởng do sự căng phồng thời rụng trứng.

Trong một nghiên cứu khác, các nhà nghiên cứu để phụ nữ tương tác trực tiếp với các nam diễn viên đúng vai trai hư và một người bố đáng tin cậy, khi đang thời kỳ rụng trứng và vào lúc khả năng sinh sản thấp.

Giống trước đấy, người phụ nữ đang kỳ rụng trứng nghĩ rằng trai hư và không phải người bố đáng tin cậy có thể là một người yêu bền chặt hơn và một người bố tốt hơn. Song trường hợp này chỉ đúng khi cô ấy từng là người yêu của gã kia. Khi được đề nghị cho biết kiểu làm bố của gã trai hư sẽ làm gì khi anh ta có con với người đàn bà khác, phụ nữ dễ dàng chỉ ra nhiều khiếm khuyết của gã trai hư.

Nôm na, nếu không chắc thời kỳ căng phồng khi rụng trứng liệu có làm mình lầm đường lạc lối, hãy thử tưởng tượng gã trai hư đang hẹn hò với bạn mình. Nếu anh ta cơ chừng không kiên định và đáng tin với cô kia, anh ta sẽ chẳng có cơ nào cặp đôi cùng với mình cả đâu nhỉ.

Lời cuối, đây là bài viết cùng chủ đề cách đây tròn trèm một năm.

Lòng yêu và điều mất mát trong phim “Rừng Na Uy”

"Một đêm bước chân về gác nhỏ, chợt nhớ đóa hoa Tường Vy..."
“Một đêm bước chân về gác nhỏ, chợt nhớ đóa hoa Tường Vy…”

Mấy ngày rồi xem hai phim cuối cùng trong đợt Liên hoan Phim Châu Âu 2013 tại Hà Nội, do liên tưởng trạng thái dính mắc đính kèm níu bám xảy đến ở cả bối cảnh Bolivia và Argentina, mới sực nhớ ra mình chưa từng giới thiệu phim Rừng Na Uy chuyển thể từ tiểu thuyết bao giờ.

Kể cũng ngộ, có những chuyện thật khó tin vì mình quá chú ý tới những tri kiến sai lầm về thiếu vắng và cảm giác sầu buồn. Ngắm tình huống đang phải chịu đựng từ một viễn tượng khác tất không còn khó thấy rằng nhờ sự lựa chọn khả thể cách thức muốn cảm nhận với từng khoảnh khắc một, mình dễ học hỏi đặng đổi thay tâm trạng bằng việc sử dụng quyền năng suy tư và dự tính thiện lành; thậm chí, ngay cả khi tình huống chẳng có gì biến chuyển cả thì mình vẫn có thể cảm thấy vui sướng và kiểm soát bản thân tốt hơn.

Nhân vật nam chính trong “Rừng Na Uy” ghi tâm mình rằng chàng không đi hết con đường kết giao bạn bè vì họ chỉ đưa tới thất vọng não nề cho mình mà thôi. Hmmm… hơi khá bi quan nhỉ. Dẫu đấy là khuynh hướng mạnh mẽ với cậu thì chắn chắn, nó không phải là trường hợp cực kỳ đơn lẻ thế thôi sao? Làm thế nào đặng làm bằng hữu chân thành mà tuyệt không mong đợi đáp trả qua lại lẫn  nhau? Đối xử với những người khác như bạn bè cũng là một lối đáp ứng trợ giúp thật vui vẻ, sẵn lòng của cái tôi ai đó nữa.

Nhân vật nam chính gặp nhân vật nữ chính, người bị mắc kẹt cùng quá khứ. Như cô ấy diễn đạt, nàng  thích an ủi trong khoảng từ tuổi 18 đến 19. Bạn trai nàng trước đây từng tự sát, cơn cớ cơ chừng thất vọng bởi không làm tình được. Hmmm… tình dục coi bộ được đánh giá quá cao ở đây, đến mức nó dẫn tới bạo lực tuyệt đỉnh– đối với đời sống riêng của cậu chàng. Nàng nhìn nhận trạng thái “ở cùng với” như là biểu tượng chấp nhận chàng, và tự đổ tội cho bản thân về việc ‘chối bỏ’ hoặc ‘không ham muốn’ chàng.

Một bi kịch khác do trộn lẫn tình dục với tình yêu. Yêu thương không phải tình dục và tình dục không phải yêu thương. Cái sau cơ chừng hoặc không thể là sự diễn bày của cái trước, và cái sau thì chắc chắn không buộc phải có để tình yêu hiện diện ở đó. Thực tế, chẳng phải tình yêu mà không vương tình dục thì càng tinh khôi thêm, không bị ô nhiễm bởi thèm khát, ham muốn sắc giới? Chúng ta chưa thành Phật để yêu thương lớn lao và tinh tuyền tất cả muôn loài, chính xác là chúng ta đã đặt để sai lầm các giá trị.

Nhân vật nam chính cứ đợi chờ chẳng rõ ràng hạn định cô nàng chàng yêu chuyển biến, tiến triển, để chữa lành nỗi phiền muộn của nàng, và tự hỏi lòng mình rằng bản thân chàng nên gấp rút, vội vàng lên chăng– do cái sự đợi chờ hoang hoải, vô hạn định kia.

Thời gian trôi đi, nàng đầm mình trong phiền muộn còn chàng thì muộn phiền bởi trạng thái sầu buồn nơi nàng… cho tới lúc nàng rốt cục nắm lấy đời riêng. Đau lòng khủng khiếp, điều ấy như thể nàng mang đặt cả khối sầu đau cho chàng gánh chịu, một khối sầu đau khởi lên bởi cái chết của người bạn trai?

Sự thật đích đáng là nỗi sầu đau do nàng dính mắc vào chính bản thân, giống như chàng cứu vớt kia dính mắc vào nỗi sầu đau của chính chàng vậy.

Bài hát “Norwegian Wood” chứa ca từ da diết: “Tôi từng có một nàng con gái, hay mình nên nói rằng cô nàng ấy từng có tôi đây.’ Sự thật, chúng ta không thể có bất kỳ ai, khi chúng ta không thể thậm chí, dính mắc, đeo bám vào những cái tôi không ngừng thay đổi, biến chuyển; chúng ta đeo bám, dính mắc hết sức bơ vơ, không có điểm tựa vào tự thân sự đem bám với ý tưởng rằng được quý mến, người yêu thương là có ai đó để sở hữu và nắm chặt.

Liệu đã đến lúc chúng ta cần cạnh tranh nhau trong khoảng thời gian tuổi trẻ tươi đẹp, đầy tràn sức sống này: yêu thương mà không đeo bám hay dính mắc ai cả?

Tường Vy mấy đóa muộn phiền... Sầu đâu thầm nở hiện tiền hương hoa.
Tường Vy mấy đóa muộn phiền… Sầu đau lặng thấm hiện tiền hương hoa.

“Đồi Gió Hú”: tự thú đắng cay về sức mạnh của lòng hận thù

film Wuthering Heights (2011)- IMDb
film Wuthering Heights (2011)- IMDb

Tiểu thuyết Đồi Gió Hú (Emily Brontë, 1847) cùng không ít các tác phẩm cổ điển nổi tiếng thế giới, hầu hết tôi đã đọc xong lần đầu tiên từ hồi còn học phổ thông, khi đường đến thư viện thành phố hơn ba chục năm trước êm đềm hơn bây giờ nhiều.

Bộ phim (2011) lần này trông thật lạ so với nguyên tác còn nhớ chung chung, dù có nhiều bản chuyển thể thành điện ảnh và truyền hình khác nữa tôi chưa thể so sánh hết (2009, 1998, 1992, 1978, 1970, 1939).

Một câu chuyện tự thú đắng cay về sức mạnh của lòng hận thù. Đúng nơi chốn, sai địa điểm. Kỳ thực, chúng ta luôn ở đây, song chúng ta có đích thị trong hiện tại?

Đừng đánh giá người ta qua ngoại diện, vẻ ngoài mà hãy nhìn sâu vào trái tim họ. Khi một người bị lèo lái quá ghê gớm bởi chuyện yêu đương đến độ dấn thân vào ước muốn giết người khác (làm hại là đã hoàn thành khao khát gây chết chóc rồi) thì liệu sự vụ ái tình ấy có còn lành mạnh? Yêu đương kiểu như vậy thật dễ thương và rất thú vị ư? Liệu nó sẽ chỉ là việc tăng cường đụng chạm, giao thiệp hay nó càng gây thêm lên mối lo âu, xáo trộn? Tinh yêu quen thế là Tình yêu Đích thực? Nếu phải, sao Tình yêu đích thực lại nhất thiết ghét bỏ kẻ khác?

Ngay từ cái nhìn đầu tiên, người xem nghĩ nam diễn viên chính đã thực hiện một nghĩa vụ cao cả vì người mình yêu thương suốt đời. Song điều đó không thực sự là một tình yêu đích thực còn tinh tuyền, tươi mới mà tự bản chất, nó buộc phải bao gồm các yếu tố của sự gắn bó lớn lao (đối với người được yêu mến); sự ác cảm ghê gớm (hướng tới trạng thái chịu trách nhiệm của người được yêu, do đó, bị phụ thuộc) và sự hoang tưởng, phiền não khủng khiếp (về cách thức tình yêu nên được diễn đạt).

Một người có tình yêu đích thực thì có thể ước muốn hy sinh sự gắn bó, ác cảm và hoang tưởng của riêng bản thân; thay vào đó là các phẩm chất đối lập: rộng lượng, tâm từ và khôn ngoan một cách đáng kính nể.

Hãy dành thời gian hiện tại đặng kiếm tim thêm thông tin về cái đang là…

* Cập nhật (26.5.2013): Cảnh vật, không gian trong phim thật khắc nghiệt song lòng người còn cuồng nộ hơn.

Ước muốn thua đủ với người làm mình tổn thương có liên quan với cảm xúc tức giận hoặc ghét hận; nguồn cơn nguyên ủy nó dính tới nhu cầu của động vật tự bảo vệ bản thân khi bị tấn công.

Ước muốn trả thù khởi lên khi người ta thất vọng, bị nhục mạ, hoặc bị đe dọa bởi một cuộc tấn công. Khi người ta bị ngăn chặn không đạt được điều mình muốn, hoặc khi ước muốn ngừng trễ thì tất thảy đều dễ dàng cảm thấy mức độ hụt hẫng, cáu gắt và hằn học.

Phụ thuộc vào cường độ muốn báo thù, người ta có thể kiếm tìm sự rõ ràng, minh bạch. Tức giận là đáp ứng thông thường đối với sự nhục mạ. Khi ai đó nhục mạ một người, quan niệm về bản thân của họ bị đe dọa và họ có thể trải nghiệm ước muốn trả đũa lại.

Sự báo thù có nền tảng di truyền căn bản. Cạnh tranh được xếp vào ước muốn báo thù. Thái độ báo thù có thể duy trì suốt một thời gian dài và có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Sự báo thù có thể nhận được sự tưởng thưởng tự thân. Các hệ thống pháp luật hiện đại ngày nay cung cấp cho người ta phương tiện không bạo lực nhằm thỏa mãn ước muốn báo thù. Nó có thể được nhìn nhận như sự công chính, vốn Kinh Thánh cũng từng minh họa thế.

Nếu bất kỳ các phát ngôn sau là sự thật thì hãy biết rằng ước muốn trả thù là rất quan trọng đấy:

1. Mình gặp rắc rối trong việc kiểm soát cơn tức giận.

2. Mình là người hay xung hấn, gây gổ.

3. Mình thích cạnh tranh.

4.Mình tiêu nhiều thời gian tìm cách trả thù.

Cũng cần biết rằng, ước muốn trả thù không những tạo nên nhu cầu định kỳ cần trải nghiệm sự phẫn nộ và cạnh tranh mà nó còn làm phát sinh nhu cầu trải nghiệm lòng từ bi, tử tế và gìn giữ hòa bình như một phương pháp kiểm soát bản chất bạo lực. Người ta có tiềm năng thỏa mãn phức cảm này thông qua đời sống tâm linh.

Nhân vụ “nude để thiền”, thử bàn ẩn dụ tinh tế về thân xác

Chết mất thôi, giờ Việt Nam cũng tòi ra cả vụ “nude để thiền“; cơ chừng, đấy như một chỉ dấu dở hơi trong nỗ lực đầy ám ảnh và gắng sức quá mức nhằm nối kéo mọi thứ vào với nhau, tựa biểu hiện vật vã cập nhật cho nỗi niềm ao ước chứng tỏ tinh thần bình đẳng, dân chủ, hậu hiện đại chăng.

Gì gì không rõ, khá dễ suy đoán rằng vụ việc giời ơi trên đã vượt thoát chiêu thức PR  của giới người mẫu, biểu diễn và những ai máu me tận dụng truyền thông đặng đánh bóng tên tuổi bản thân. Rồi sẽ có không ít đấng mày râu tơ tưởng mà lục tìm sốt sắng thêm một dáng hình khỏa thân, cánh chị em thì được dịp buôn dưa miên man về một cơ thể gợi dục khiến họ nảy sinh phức cảm yêu ghét khó diễn tả rạch ròi.

Ở đây, chỉ muốn nhìn nhận lần nữa điều vốn cũ rích và đích thực đáng cười giễu cợt: thân xác; xa gần dính dáng tới sự trầm tư mặc tưởng khi ngồi thiền mà người ta “trải nghiệm vui sướng, hân hoan với thân xác”.

Hầu hết mọi diễn dịch trạng thái buông xả, định sâu (jhanas) thế là các trải nghiệm thuần túy tinh thần, dựa trên sự hợp nhất giữa tâm trí (mind) – ý thức (consciouness), và nó bất khả trải nghiệm bất kỳ thứ gì thông qua năm giác quan trong trạng thái như vậy.

Song, chúng ta không thể buộc mọi người đồng ý ngay tắp lự mọi chuyện, bởi vì điều đó đúng là mờ tỏ. Cho nên, một số người hiểu từ ‘thân xác’ (body) hoàn toàn theo nghĩa đen, và rằng điều ấy cho thấy chúng ta có thể trải nghiệm thân xác (và các cảm quan thể lý khác) trong trạng thái jhana.

Bạn chắc đang đoán tôi sắp băng ngang qua kiểu giải thích không nệ vào nghĩa đen, và bạn hoàn toàn đúng. Ở đây, tôi chỉ lưu ý chút dòng kinh nhỏ mang lại bản chất đầy ẩn dụ của ngôn ngữ được dùng thật dễ thương. (Kinh tạng Nikàya; Tăng Chi Bộ, chương IV. 189, phẩm Chiến Sĩ, Chứng Ngộ)

1.- Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp này cần phải chứng ngộ (realized). Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, có pháp cần phải chứng ngộ bằng thân (body); có pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng niệm (mindfulness); có pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng mắt (eye); có pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ (wisdom).

2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng thân? Tám giải thoát (eight releases), này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng thân.

3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng niệm? Ðời sống trước (previous births), này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng niệm.

4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng con mắt? Sanh tử của chúng sanh (the disappearing and appearing of beings), này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng con mắt.

5. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ? Sự đoạn diệt các lậu hoặc (the destruction of desires), này các Tỷ-kheo, cần phải chứng ngộ bằng trí tuệ.

Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp này cần phải chứng ngộ.

[Dòng chua tiếng Anh trong ngoặc đơn là của người viết bài này, N.T]

Đặc biệt, mong độc giả lưu tâm tới việc sử dụng ‘thân’ (body) và ‘con mắt’ (eye) trong bản văn. Rõ ràng, hoàn hoàn không thể nghĩ rằng ‘con mắt’ mang nghĩa một con mắt thể lý; sẽ không ai tán đồng rằng người ta có thể nhìn thấy theo cách thể lý các chúng sinh được tái sinh. Trong bản văn thâm thúy và tinh tế thượng dẫn, con mắt không phải là con mắt thể lý mà là một ẩn dụ cho một cái nhìn hiển thị nội tại tinh tuyền.

Và cùng cách thức tương tự, thân xác không phải là cơ thể vật lý mà là một ẩn dụ cho tính toàn thể và trực tiếp của kinh nghiệm. Ngay cả khi điều này chưa thật đủ sáng tỏ trong bản văn, cần lưu ý mọi điều (các pháp) được nhận ra (chứng ngộ) là tám sự tự do (giải thoát), bao gồm cả tứ vô sắc định. Những điều này được định nghĩa, xác nhận vượt trên bất kỳ thực tế thể lý nào…

Thân xác như thế, không còn là thân xác, đôi mắt không là đôi mắt, và suy tư không là suy tư. Đấy chỉ là các từ; các từ không tương xứng, đấu đá, lộn xộn đang dần bò trườn ra khỏi bùn nhờn tiến hóa, dò dẫm và vươn nắm bắt lấy về phía ánh sáng.

Lâu dài, dây dưa chừng nào chúng ta còn bị giữ rịt bởi sức nặng của những thứ trần tục, chúng ta có thể không bao giờ nói đến những điều cao cả hơn. Và khi những điều cao cả ấy là những điều thuộc tâm trí, nếu chúng ta không thể nói về chúng, chúng ta không thể tưởng tượng ra chúng được. Và điều ấy thì quả là một trạng thái sự vụ quá chừng buồn bã…

“Đồng hồ bấm giờ nội tại” của não bộ: Cảm xúc và tri giác của chúng ta về thời gian

Albert Einstein từng có lời giải thích nổi tiếng về lý thuyết Tương đối của ông; đại khái, khi một người đàn ông ngồi bên cạnh một phụ nữ xinh đẹp thì một tiếng đồng hồ chỉ như tầm một phút thôi, còn nếu anh ta ngồi trên một lò sưởi nóng bỏng thì một phút hóa ra kéo dài hơn cả tiếng đồng hồ.

Đó cũng là cách thức bộ não làm việc “nói với ta về thời gian”.

Hai nhà sinh lý học thần kinh trong nghiên cứu này chỉ ra, dù chúng ta có năm giác quan dùng để đo lường vũ trụ xung quanh mình, bộ não chúng ta lại không hề có một thụ cảm thể (receptor) chuyên biệt nào nhắm tới việc đo thời gian.

Thông lệ, hầu hết chúng ta quản lý thời gian theo hướng mình luôn có ý tưởng khá tốt về những gì xảy đến “đúng giờ” hoặc “không đúng giờ”, và sau 6 tuổi, chúng ta có thể ước tính tương đối chính xác khoảng thời gian— dài bao lâu để các hành động bình thường xảy ra.

Qua tuổi lên 8, chúng ta cũng bắt đầu phát triển các năng lực hết sức đáng giá đặng “tính đếm thời gian”, mang nghĩa nói hết sức chính xác bao nhiêu giây hoặc phút đã trôi qua giữa một khởi sự kích thích “Bắt đầu bây giờ” và kích thích kết thúc “Dừng ở đây”.

Các nhà nghiên cứu não bộ vào đầu thập niên 60 của thế kỷ 20 lý thuyết hóa rằng, cảm quan “thời gian chủ quan” này là do một cơ chế trong não chúng ta tương tự như một cái đồng hồ bấm giờ, nó thao tác y hệt tiếng tích tắc của đồng hồ. Khi chúng ta chú ý đến nó, đồng hồ nội tại này cho phép chúng ta phát triển một cảm quan khá tốt về thời gian khách quan.

Song, “cái đồng hồ não bộ bấm giờ” này cũng luôn luôn tích tắc cùng một nhịp?

Tỷ dụ, bạn từng gặp một tình huống nguy hiểm như bị tai nạn xe máy và tri giác thời gian “chậm dần”, cứ như thể tự thân thời gian khách quan đang trôi qua rề rà hơn? Liệu bạn đã có cuộc trò chuyện với một người xinh đẹp nào, theo lời Einstein bên trên, đặng cảm thấy thời gian trôi qua hết sức chóng vánh? Làm thế nào việc đó xảy đến nếu chúng ta có được một cái đồng hồ bấm giờ nội tại trong bộ não cứ không ngừng tích tắc liên hồi thế chứ?

Nhằm kiểm tra, hai nhà nghiên cứu Droit-Volet và Gil tiến hành một loạt thực nghiệm trong đó các đối tượng được cho xem trích đoạn 3 kiểu phim dễ gợi hứng cảm xúc, sau đó họ được đề nghị ước tính cá nhân quãng thời gian của một kích thích thị giác. Một nhóm phim thiết kế đánh thức nỗi sợ hãi, nhóm phim khác đánh thức sự buồn bã, và nhóm phim thứ ba đánh thức các phản ứng trung tính.

Sau khi xem các phim đánh thức nỗi sợ hãi, đối tượng tham gia thực nghiệm luôn tri nhận kích thích kéo dài hơn so với thực tế nó diễn ra; cảm xúc sợ hãi có vẻ đào sâu một sự “chậm rãi” về mặt thời gian. Không có sự bóp méo thời gian như thế sau khi xem hai nhóm phim kia.

Suy đoán các nguyên nhân khả thể, hai nhà nghiên cứu cho rằng hiện tượng đa phần thuộc sinh lý– cảm xúc về nỗi sợ gây ra một trạng thái căng thẳng thể lý  mà nó có thể làm tăng tốc “các đồng hồ nội tại”. Khi mình e sợ, nhịp tim mạnh lên, huyết áp vụt cao, đồng tử mở to, và cơ thể mình hết sức vô thức bước vào lối “chiến hay biến” sẵn sàng chuẩn bị phòng vệ lại hoặc bỏ chạy ngay. Các phim buồn bã hoặc trung tính không làm ảnh hưởng cảm nhận thời gian ở đối tượng thực nghiệm nhiều đến vậy, bởi vì không hề có thay đổi tương ứng trong các chức năng sinh lý.

Hai tác giả Gil và Droit-Volet cũng phát hiện thấy sự giãn nở thời gian này tác động khi đối tượng chỉ cần nhìn vào khuôn mặt ai đó sát gần đang biểu đạt một cảm xúc tủi hổ. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra, khi chúng ta nhìn thấy sự tủi hổ ở người khác, chúng ta cố gắng bắt chước, một cách bản năng, trạng thái cảm xúc của tha nhân.

Theo lời giải thích của tác giả Droit-Volet,

Hành động phản ánh này quấy nhiễu sự chú ý thoát khỏi việc xử lý thời gian, đủ để thời gian được ước tính dường như ngắn hơn so với thực tế diễn ra.

Nữ tác giả cũng tỏ lộ rằng, những sự thay đổi như vậy trong tri giác thời gian của chúng ta không phải là hậu quả lệch lạc chức năng các đồng hồ nội tại mà là một sự chuyển dịch sự chú ý nhằm đáp ứng với các sự kiện:

Không có thời gian duy nhất, định dạng sẵn mà chúng ta trải nghiệm các kiểu thời gian phức tạp hơn nhiều. Sự bóp méo thời gian là một sự phiên dịch trực tiếp của phương thức bộ não và cơ thể chúng ta thích nghi với những kiểu thời gian phức tạp này, những loại thời gian của đời sống.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu thực hiện nhằm hiểu biết thật chính xác cách thức thay đổi tri giác về thời gian, song có một điều chắc chắn là chúng thay đổi.

Đích thị, thời gian tương đối mà thôi.