Mình gặp nhau bao lâu thì vừa?


Lượn lờ
Lượn quanh với đời

Theo thông lệ, hàng tháng mọi người ghé quán chay hai lần, hoặc đông lắm thì bốn lần. Thường vốn ăn mặn, giờ ghé hàng chay hẳn luôn vì lý do khá đặc biệt nào đó từ chuyện kiêng khem giữ giới, muốn thành tựu lời khấn nguyện, bất chợt đổi khẩu vị, tò mò hay gặp bữa thì thoải mái thuận theo bạn bè, đồng nghiệp…

‘Tôi nên tham gia trị liệu bao nhiêu buổi thì vừa?”

Câu hỏi í một thời dễ được xử lý theo hướng đưa ra con số cụ thể, kiểu từng tuần thì hay hơn là vài tuần/ lần chẳng hạn; vì mối quan tâm thoáng qua chủ yếu liên quan tới chi phí và thời gian. Trải nghiệm dần, chuyên sâu rồi tiếp xúc lâm sàng phong phú thì ngày càng thấm hơn tính độc sáng, rất riêng biệt ở mỗi thân chủ lẫn nhu cầu của chính chúng ta.

Nhìn chung, gặp nhiều thì thường giúp các chất liệu vô thức nhanh được trồi lên rồi nhận diện sắc sảo. Mình tình cờ ngồi cùng bàn chắc khác hẳn việc đấy là quán hàng tháng hay ghé. Nếu du lịch với bạn thì chuyện nhỏ nhặt cũng có thể thành đề tài cãi cọ; năm thì mười họa, tựu trường hoặc hội ngộ đồng hương thì hiếm khi bất mãn. Tần suất làm các cảm xúc hợp trội đủ giúp mình có thể làm việc… Gặp ai nhiều thì mức hiểu biết lẫn nhau tăng cao, mối gắn bó thêm chặt chẽ; chúng ta xây dựng niềm tin tưởng, và rồi hiểu biết, thấu tỏ. Song đừng quên nói về tần suất thế là phác thảo đại khái vậy, mỗi người có hệ thống thần kinh để xác lập kích cỡ thời gian…

Ý nghĩa cho với thân chủ và với nhà trị liệu;  cơ hội cùng thảo luận và trao đổi, cả hai quyết thời gian thân chủ đến.

Điều ấy sát hợp với trị liệu, và nó cũng kết nối với các kiểu dạng công việc. Học hỏi rồi trưởng thành là một tiến trình. Ta hay tự nhiên thoát khỏi, né tránh những gì khó nhằn và lạ lùng thay, ta bị mê hoặc mãi thôi theo các cách mà chính mình tự thuyết phục bản thân rằng mình không nên làm thế.

Tâm lý trị liệu mang tính thực hành. Và giống mọi phương thức đòi hỏi tương tự, nó chứa thể lý, cảm xúc, tâm linh; bất kỳ thực hành nào xứng đáng tốt nhất với bản thân.

Và điều tốt nhất là khi bản thân ở một mình. Một số thân chủ tới trị liệu một phiên duy nhất, và họ ổn; một số theo đuổi hàng năm trời.  Quyết định tần suất với nhà trị liệu vì thế, là công việc; đến với cái tôi và biết điều gì đó xảy đến ở chốn đó, đáng giá thời gian cùng chi phí bỏ ra…

Chưa đầy 15 phút nữa

12268990_749429441828326_1343022308_o

Mỗi phút giây, khoảnh khắc thảy đều tinh tuyền và bình đẳng như nhau.

Dù biết bao suy tư, cảm nhận và hơi thở vào ra vừa kịp khởi sinh để rồi tiêu biến ngay mất thế mà rốt ráo có vẻ chẳng đọng lại chi đáng kể ư.

Cơ chừng mọi người luôn đến với tham vấn/ tâm lý trị liệu nhằm tìm kiếm phương hướng đường đời. Điều gì đó đang đi lạc nên họ thấy không có hạnh phúc lắm. Hoặc họ từng đưa ra các quyết định tồi hoặc những lựa chọn của họ ít nhiều trở nên sai trái. Họ mơ hồ biết điều mình muốn làm song lại cần yên tâm vững dạ, hướng đích hoặc chỉ cần ai đó chỉ bày cách vượt qua rồi đạt đến… Nhiều người trong số thân chủ dần tê liệt với nỗi sợ hãi khủng khiếp khi buộc phải đưa ra quyết định mới, vì họ nghĩ mình không đủ giỏi giang để tiến hành. Vậy là họ lựa chọn để không chọn lựa. Và dù quả cầu thủy tinh huyền thuật không thực sự hữu hiệu thì trong các tình huống này, luôn luôn chính xác 100% (!). Nếu mình không làm gì thì rồi chắc chắn chẳng có điều chi xảy ra.

Thậm chí ngay cả khi chẳng có ý tưởng căn bản nào, tôi khá tin rằng mình chí ít biết một số thách thức mà đứa bé này đang đương đầu. Ở mức độ tối thiểu, trẻ dường như mất hẳn động cơ và ước ao muốn rơi vào các nguy cơ đầy ghê sợ. Vấn đề khó nhằn liên quan tới suy tư, lập kế hoạch và lòng tự tôn. Cô bé có vẻ đã trải qua một số nguy cơ trước đây và giờ không hiểu nổi tại sao mình cứ buồn buồn…

Điều quan yếu cần nhớ là chúng ta không buộc phải tính đếm bất cứ điều chuyện chi; chúng ta vốn đã là gì đó rồi. Và điều gì đó có giá trị kèm mục đích. Chỉ bởi vì mình lầm lỗi đâu có nghĩa mình là thứ vứt đi hoặc vô giá trị. Khả năng lượng giá bản thân với các điểm mạnh đáng tự hào cùng tài năng riêng có, để chấp nhận mình như mình đang là. Khi có nền tảng ấy, mình có thể thay đổi bất cứ điều gì.

Với sự nâng đỡ và sự tự tin vào bản thân, mình có thể đương đầu. Ước ao nắm bắt lấy một số cơ hội rồi chấp nhận nhiều thất bại là phần dẫn tới thành công. Nếu muốn giúp đỡ kẻ lạc lối, hãy giúp họ tìm thấy phần cốt tủy tâm điểm của chính họ. Chắc chắn họ cảm thấy tốt lành về chuyện họ là ai trước khi mình khởi sự thúc ép và trừng phạt. Song nên làm điều ấy với tình yêu thương và lòng trắc ẩn.

Liệu mình có thể dùng 5 phút để làm gì đấy trợ giúp ai đó? Gì gì, sẽ khác biệt hơn là chỉ lòng vòng và nghiêng ngả…

Điều thân chủ cần

Quên mật khẩu cài then, nhờ gió mùa nhắn lại...
Quên mật khẩu cài then, nhờ gió mùa nhắn lại…

Sự thật, điều hầu hết thân chủ tham vấn, tâm lý trị liệu cần thì vượt xa hẳn yêu cầu được can thiệp bằng thuốc men và/ hoặc tái cấu trúc nhận thức, vốn là hai phương thức thực chứng thông dụng nhất có thể cung cấp.

Vì mỗi người thảy đều kiếm tìm ý nghĩa và sự bình yên. Họ cần và xứng đáng được trợ giúp vì các khủng hoảng đau đớn, kinh hoàng, đầy hiểm họa hoặc thấm đẫm hiện sinh, đương đầu với ‘đêm tối của tâm hồn’.  Họ cần một phương pháp tâm lý giá trị đủ khiến họ đương đầu hiệu quả với những con quỷ ẩn dụ, cơn tức giận và trạng thái thù hận kiềm nén, và thực tế tồn còn của tội lỗi. Họ cần tiếp cận một thứ tâm lý trị liệu nhằm đặt câu hỏi đúng, và không e ngại đi theo đường hướng tâm linh. Họ cần một kiểu tâm lý trị liệu phục hồi tâm hồn mình.

Hơn một thế kỷ qua, từ nguyên Hy Lạp ‘psyche’ đã bị diễn giải sai lạc khi chỉ mang nghĩa là ‘tâm trí’ (mind); hậu quả, tâm thần học, tâm lý học và tâm lý trị liệu- nghiên cứu và chữa lành tâm hồn- chủ yếu quan tâm tới tâm trí mà thôi (bao gồm ý thức hoặc tư duy, tri giác, ký ức, tưởng tượng, ý chí và cảm xúc) và hành vi con người. Song thuật ngữ cổ điển ‘psyche’ chứa đựng biểu tượng hóa xưa cũ là đời sống, tinh thần, cái tôi hoặc tâm hồn. Những gì khách hàng lựa chọn dịch vụ tâm lý trị liệu cần bây giờ là tâm lý trị liệu đích thực.

Dù chúng ta hiểu biết rất nhiều về trí nhớ, thực sự chúng ta không hiểu mức độ tương tự về trầm cảm chẳng hạn. Tất cả chúng ta có ký ức ngắn hạn về những gì mình cần cho một giai đoạn ngắn, như danh sách vật dụng cần mua trong tiệm tạp hóa hoặc nơi gửi xe máy. Song bằng cách nào và tại sao mọi thứ được mã hóa thành ký ức dài hạn thì có thể vẫn còn là một bí mật. Rồi, tâm trí cứ giấu giếm. Các ký ức này có thể thuộc giác quan, phong nhiêu với các cảm xúc. Nhiều trường phái tư tưởng hàm ý nhờ xử lý chúng mà ta vén lộ các bí mật của tính cách hoặc thay đổi hành vi.

Song lần nữa, cơ chừng bất khả. Tính hiệu năng của phân tâm học luôn vẫn sơ sài lắm. Trị liệu dùng lời nói dài hạn giữ vai trò nhất định song với nhiều người, khoảnh khắc bừng ngộ sẽ không trực tiếp nảy sinh trong sự thay đổi hành vi. Buồn thay, nào dễ sở hữu thần dược.

Liệu rằng chúng ta nên cởi bỏ mọi tấm mạng che chắn? Dù hiểu biết tạo nên thay đổi, song căn bản là hành động. Nếu có thể phát hiện cái gì đằng ấy, chúng ta nên gắng sức phơi tỏ; cơ mà với một ký ức tổn thương, đau đớn đã kiềm chế quá lâu thì thông thường tốt hơn hết là để mặc?

Dẫu rằng nhiều điều có thể xích gần ấm áp bên dưới các tấm khăn che, trải nghiệm đời sống hay nhất lại theo chiều thẳng đứng. Nếu có thể sờ chạm được một số đồ đồng nát, e nên dồn lực để loại bỏ hết chúng. Không có trải nghiệm nào trong đời mà chẳng hề vướng bận sầu khổ, bất kể mình muốn hay không; song tốt nhất bỏ qua một số miếng tảng, u bướu khó nhằn.

Nếu chú mục bất tri ghê gớm vào các nỗi niềm sầu khổ, chắc chắn mình sẽ bỏ nhỡ cơ hội triển nở thật thiện lành.

Đặt câu hỏi trong tham vấn buồn đau, sầu khổ vi tế

12271277_749431878494749_342457884_o
Vắng người mùi áo nhớ thay, bóng tan nhỡ giấc đọa đày hằn in…

Thấy ai đó lọ mọ kiếm tìm trên blog Tâm Ngã theo từ khóa ‘mẫu câu nói hay trong tham vấn’…

Dưới đây là cách đặt câu hỏi trong tham vấn buồn đau, sầu khổ vi tế được dùng khi lượng giá và góp phần giúp thân chủ dễ dàng biểu đạt cảm xúc hơn, một thành phần cốt yếu thuộc tiến trình trị liệu. Các mẫu câu hỏi kèm mục đích đề ra sẽ thể hiện rõ ràng quan điểm vừa nêu.

*Các câu hỏi:

  • “Liệu cô có thể kể cho tôi nghe về cái chết?”
  • “Điều gì đã xảy ra hôm đó thế?”
  • “Cô ở đâu khi nhận được tin mất mát?”

Mục đích:

Các câu hỏi này mở ra chủ đề về buồn đau, sầu khổ và tạo cơ hội để người chịu tang nói về sự mất mát; việc ấy cũng cung cấp thêm thông tin liên quan tới bản chất và hoàn cảnh của cái chết (bất kể đã lường trước hay bất ngờ xảy đến). Chối bỏ và các cơ chế phòng vệ khác sẽ bắt đầu xuất hiện. Cảm xúc tội lỗi và giận dữ cũng khởi lên bề mặt. Chứng tỏ người chịu tang miên man nghĩ về đầy cảm xúc…

*Các câu hỏi:

  • “Liệu có thể kể cho tôi nghe về người cô từng yêu thương?”
  • “Cô đã sống rất hòa hợp với anh ấy?”

Mục đích:

Các câu hỏi kiểu thế cho phép nhà tham vấn biết rõ hơn lịch sử người đã khuất và mối quan hệ với thân chủ. Trong những đáp ứng, nhà tham vấn nên lắng lòng trước thông tin ngụ ý chất lượng quan hệ, các kỳ vọng, nhu cầu, xung đột và vai trò đang khống chế sự biểu đạt cảm xúc.  Lịch sử cùng nhau với sự tương thích giữa nội dung và tình cảm sẽ là dấu chỉ rõ ràng của trạng thái yêu ghét mâu thuẫn và xung đột lẫn lộn.  Các cảm xúc đau buồn, sầu khổ có thể được coi như là giai đoạn tiến bộ thông qua tiến trình vật vã, tiếc thương.

*Các câu hỏi:

  • “Chuyện gì xảy ra khi người ấy mất đi?”
  • “Những chuyện vậy có ý nghĩa ra sao với cô, gia đình và bạn bè?”

Mục đích:

Các câu hỏi này tạo điều kiện tìm hiểu gia đình và các mẫu hình xã hội trong tương tác với người đã mất; nó bao gồm các yếu tố văn hóa- xã hội có thể ảnh hưởng tới tiến trình đau buồn. Tập trung chú ý vào sự giao thiệp sẽ giúp mình đánh giá mức độ chấp nhận của thân chủ về sự kéo dài mất mát.

*Các câu hỏi:

  • “Cô từng trải qua thời điểm khó khăn nào trước sự kiện mất mát này chưa?”

Mục đích:

Câu hỏi này giúp đánh giá chuyện đã xảy ra hoặc mới thêm vào gần đây dễ gây tác động tới sự đau buồn, sầu khổ, thương tiếc. Đặt câu hỏi kiểu thế có thể khám phá khả năng ‘bị tước quyền’ mà thân chủ đang phải chịu đựng.

Lời cuối, việc mất mát người thương yêu, thân thiết tác động tới mọi khía cạnh đời sống  cả hiện tại và tương lai của người ở lại, có thể phá vỡ nghiêm trọng sức khỏe tâm lý của họ nếu không được giải quyết đúng đắn và kịp thời.

Vào – ra, ra- vào, …

Mây bay cùng những dùng dằng hoa lá và người...
Mây trắng bay cùng những dùng dằng hoa lá và người…

Đích thị là may mắn nhỉ? Một năm của sự chuẩn bị và trải nghiệm; khởi đầu bằng điểm số đời chấm ngẫu nhiên rồi đưa bản thân vượt lên trên cùng thế giới ta bà.

Hơn 40 công việc, từ rửa bát quét nhà nấu cơm trông em cho tới học làm quản lý (chính mình). Đâu đếm nổi vô vàn thành tựu lớn bé cùng phần thưởng to nhỏ lấp đầy, lèn chặt tủ sách, máy tính và ký ức còm cõi năm tháng vờ vật với đời. Không có gì quan trọng hơn các cái tôi và tâm trí dở hơi thích ương bướng nổi loạn; thành thật tự thú, đó là điều duy nhất mình từng phục vụ chu đáo, cần mẫn và đam mê nhất. Tiền mặt trả cho nghiệp riêng, chường giao diện luôn luôn và mãi mãi chẳng ngừng đến độ hiện chưa rõ lúc nào chấm dứt hẳn nhiệm vụ.

Cơ mà gì là những thất bại thảm hại? Danh sách e còn dài ngoằng hơn. Trên 40 công việc trước đây đã không thao tác thật tốt đẹp. Một tủ quần áo (tạm quy ước thế) sắp xếp, thu gom, vứt bỏ và dè dặt khoác vô bao nhiêu tiền kiếp với đủ eo kiểu dạng loại. Một tài khoản ngân hàng thường hằng mở ngỏ. Và một tâm thế cơ chừng tỉnh thức liên tục. Những ghê sợ và tia chụp quét chiếu đẫm lệ, gai góc dẫm phải khó lành và đôi khi gãy đổ thi thoảng kịp liền miệng. Tôi đã làm chi để phụng sự cho hết thảy chuyện ấy?

Như cái vụt tay đánh khẽ lướt dọc theo bộ ảnh ký ức rối rắm (dù đâu thử selfie bao giờ), chút tì vết sầu muộn của vài ba khoảnh khắc từng ngang qua. Tốt, xấu, và hàng triệu di vật điều khác bị rũ rượi, sụp đổ đến độ đòi buộc cất tiếng và thành hình ống cuộn chỉ màu đa sắc xuống lên, sáng tối. Tự hỏi gì đây xuất hiện nở bóng trong bộ ảnh kế tiếp?  Ai hạnh phúc, ai khổ sở? câu trả lời chắc rõ ràng thôi vào khoảnh khắc nến đèn bừng chói lọi. Giả nhời là ‘vâng’ khi quỳ gối cúi đầu cảm tạ tất cả cho những gì mình là và sẽ tựu thành. Nó thuộc nghiệp chướng, hồng ân, đức tín, hoặc đơn giản là do xui rủi quên đánh con đề khi dạo bộ trên bờ đê đầy gió.

Cám ơn. Vào- ra, ra- vào, …. tiếp tục thở theo cùng khoảnh khắc mới.

Làm thế nào để mở lòng ra thành thật?

Mới ngoài 20, thích giao tiếp và nhìn đời tích cực. Người luôn tràn đầy nhiệt huyết song một tháng trở lại đây thì đâm lo lắng, mất kiên nhẫn và cáu gắt; muốn ở riết trong nhà, không đi ra ngoài nữa vì nghĩ sẽ gặp đủ chuyện lắm người khiến mình bực bội; ngay cả bạn bè thân thiết nói làm gì cũng gây cho bản thân tức giận hoặc khó chịu. Biết là vấn đề nằm ở mình; bắt gặp bản thân nghĩ điều sai trái kiểu bạn bè chẳng còn thích mình nữa; tưởng tượng như có quả bóng lo lắng lớn dần lên trong lòng. Cảm thấy mệt dù không ngủ được, nằm trằn trọc suốt, và lúc nhắm mắt lại nhớ các tình huống tồi tệ và buồn bã.

Hôm nay thì kinh khủng khiếp. Định chỉ gặp mỗi bố để đi dạo cho khuây khỏa thế mà cuối cùng lại bắt điện thoại nghe một số lạ gọi tới… Thấy người rung lắc nhẹ, vài dấu hiệu cảnh báo lan khắp cơ thể và tim như nổ bùng song khi kiểm tra mạch thì khá bình thường. Hủy hẹn. Sau đó thấy quả bóng to đùng trong lòng bắt đầu lục bục rồi nước mắt chảy dài… Không nghĩ nên gặp bạn bè để khuây khỏa trở lại, vì e ngại người ta sẽ nhìn mình giống kiểu mình thích ở nhà vậy. Xấu hổ nhờ bạn bè khuyên nhủ hoặc giải thích giúp về tình trạng. Chưa từng thế này bao giờ nên sợ không thể kiểm soát thân thể lẫn cảm xúc. Thường tự đánh giá mình là kẻ độc lập, thực tế và tính cách mạnh mẽ; quen âm thầm xử lý các vấn đề cùng tình huống phát sinh rất hiệu quả.

… Nghe như người này đang đương đầu với cả trầm cảm và lo âu. Các triệu chứng bao gồm sự phấn khích tâm vận động (bồn chồn và mất tinh thần), khó ngủ say, giảm thiểu mối quan tâm với các hoạt động hàng ngày, và với đối tượng trẻ hơn, dễ cáu kỉnh. Thứ ‘cảm xúc kỳ lạ’ lưu ý khi nghe điện thoại giống như nỗi sợ bị tấn công vậy, thường gồm biểu hiện là tim đập thình thịch, người rung lắc, cơ thể nóng sốt, và sợ mất kiểm soát.

Nhiều người chưa từng trải qua các rắc rối tình cảm trước kia đột ngột thấy mình đang kinh nghiệm, đặc biệt khi họ tiếp chạm giai đoạn đầu trưởng thành. Đây là giai đoạn phát triển mang tới rất nhiều thay đổi ấn tượng bởi vì sự quá độ từ tuổi thơ và nhà trường sang tuổi trưởng thành và đi làm nên không ngạc nhiên lắm đòi hỏi thích nghi.

Các cảm xúc phiền muộn không có gì tội lỗi cả; chúng là sự kiện đời sống với rất nhiều người. Điều quan trọng giúp mình vượt qua giai đoạn khó khăn này là với tay ra và đề nghị trợ giúp. Tha nhân có thể cũng trải qua tương tự nên có thể đưa lời khuyên về cách thức xử lý; cũng có thể tham gia các nhóm tham vấn hoặc trị liệu cá nhân nếu thấy phù hợp.

Điều tồi tệ nhất là duy trì sự cô độc và tách biệt nội tâm cũng như ỳ ra, không làm gì như lơ là ăn uống do trầm cảm và lo âu. Nếu mình cứ đớn đau mãi thế thì tình hình sẽ càng thêm tồi tệ, chứ khó tốt hơn lên. Sơ khởi, có nhiều kỹ thuật hành vi làm giảm thiểu các triệu chứng trầm cảm và lo âu. Vấn đề chỉ là làm sao tìm ra chúng.

Ví dụ khác. Suốt thời trẻ, theo bố di chuyển và đi du lịch rất nhiều nên không gắn bó ai quá lâu. Chưa từng nhỏ lệ hoặc phải quan tâm cảm xúc quá mức; chỉ không nhận thấy tầm quan trọng của chúng trong những gì đang làm, cũng không thật thấy chúng giúp ích cho bản thân trong dài hạn. Thi thoảng khi biểu đạt cảm xúc ra xong rồi thì chỉ cảm thấy tồi tệ; thất vọng với bản thân khi bày tỏ chúng, ngay cả với riêng mỗi mình thôi.

Năm mới lên 12 tuổi, bố mẹ đã bảo là lạnh lùng, xa cách và đố mà ai ưa nổi chứ nói gì chuyện lấy được chồng. Hầu hết thành viên trong nhà và vài người bạn còn thấy có vẻ hăm dọa và đáng sợ. Tầm năm, sáu năm gần đây thì làm việc cởi mở hơn hẳn, thành người thân thiện nhờ đi theo các bước hướng dẫn đọc được trong các cuốn sách tự trợ (mỉm cười, gặp gỡ người tích cực, cười thoải mái, v.v…). Song việc cởi mở ấy chỉ làm mọi sự ổn thỏa ngắn hạn, vì để lại trong lòng mình rất nhiều cô độc hơn trước đây, là nguyên nhân khiến bố con lại tự dưng đâm cãi vã nhau. Song phải thừa nhận là tuy việc cởi mở bản thân tuy đem lại tiến bộ thật, nó dần tao nên sự đứt gãy về mặt cảm xúc, thậm chí ít tin tưởng vào người xung quanh.

Biết không hay ho, đúng đắn chút nào vì chẳng tin tưởng hoặc thể hiện cảm xúc ‘thật’ với người khác. Song hiện tại chưa tìm thấy cách hàn gắn, kết nối hay các bước phải thực hiện nhằm giúp bản thân cởi mở hơn, thậm chí vá sửa các vấn đề không mong muốn nảy sinh vì nỗ lực cởi mở.

… Thật vui vì nhân vật khao khát cởi mở hơn nữa với người khác. Có vẻ đấy đã là một tiến trình hết sức hụt hẫng, chắc bởi vì chưa chạm tới tâm điểm của vấn đề. Có thể người này bị xem là bắt chước hành vi chứa cảm xúc (mỉm cười, cười thoải mái) chứ không đích thị đem lại cảm nhận về chúng và thiên hạ thường hay đáp ứng kiểu thế (các khóa học kỹ năng mềm áp dụng chiêu tương tự). Đối tượng tiếp xúc có thể nghĩ mình thiếu thành thật, thậm chí, nhạo báng họ.

Bước đầu tiên chỉnh sửa là dừng biểu tỏ các cảm xúc ghê gớm. Thực tế, cảm xúc rất quan yếu; chúng cung cấp cho ta thông tin về bản thân và về môi trường xung quanh cũng như chỉ bày cho ta cách để kết nối thật ý nghĩa với những người khác. Cảm xúc còn giúp cơ thể mình mềm mại, tươi mát. Nếu đè nén cảm xúc quá lâu, cơ thể sẽ báo động trục trặc. E chừng đây chính là chỗ nhân vật đang trải qua. Do chôn giấu cảm xúc lâu quá đến độ giờ không biết làm sao để tiếp cận với chúng.

Các cảm xúc thường gây cho mình cảm giác tồi tệ vì chúng có thể đau đớn và khiến mình dễ tổn thương. Có thể hình dung là do bảo bọc bản thân tránh khỏi nguy cơ bị tổn thương mà mình quyết định ngay từ đầu là ngắt tách cảm xúc liền thôi. Trong khi đấy có thể là giải pháp tự vệ hữu ích ngắn hạn, nó có thể gây tàn phá nặng nề lâu dài về sau vì không có sự cân bằng. Mình có thể không thích cảm nhận các cảm xúc đau đớn song đóng sập chúng cũng có nghĩa là mình không cảm nhận được các cảm xúc tốt lành luôn. Cảm xúc dễ là điều kỳ diệu, cho mình trải nghiệm đam mê, tình yêu và niềm vui, và chúng còn cho mình cách thức phát triển các mối quan hệ đầy thỏa mãn sâu xa. Tuy thế, điều ấy kèm theo một số nguy cơ vì cảm xúc có thể và hay là nguyên nhân gây đau khổ; lý giải tại sao cảm nhận cảm giác và thậm chí, biểu đạt chúng không khiến mình yếu đuối nếu không muốn nói là làm mình mạnh mẽ thêm vì ước ao cảm nhận chúng bằng bất cứ giá nào. Ví von, dũng cảm chẳng phải là vắng mặt sợ hãi mà là làm mọi điều cần thiết phải thực hiện.

Bước kế tiếp là cho phép bản thân cảm nhận các thang bậc tình cảm khác nhau. Dành thời gian và không gian để mình có thể nghĩ về các ký ức riêng biệt (hạnh phúc, buồn bã, đáng sợ…) rồi cảm nhận về chúng. Để bản thân mình khám phá mỗi một cảm xúc ứng hiện trên cơ thể mình. Ghi nhật ký cách cảm nhận ra sao ký ức hoặc các cảm xúc. Nói với người hiểu biết về các cảm xúc của mình (một nhà tham vấn sẽ là lý tưởng để giúp mình tiến trình này). Hoàn thành nhiều lần để các cảm xúc dần trở nên tự nhiên. Khi làm thế được rồi, có thể tưởng tượng người khác cảm nhận ra sao rồi dùng các quan sát mới mẻ này khi trò chuyện. Hãy để mọi người biết cách mình cảm nhận mọi thứ. Hỏi họ về các cảm xúc của họ và xem xem mình có thể tìm thấy một vài điểm chung… Các quan hệ vững bền được xây dựng trên việc trao đổi qua lại các cảm xúc; đấy gọi là sự thân mật cảm xúc và nó có thể vô cùng vui vẻ, hồ hởi.

Có lẽ, khi mình đủ khả năng tạo dựng sự thân mật về mặt cảm xúc, trạng thái  cởi mở với mọi người sẽ đến từ lòng mình sâu xa chứ không phải cái đầu tính toán.

Thấy gì qua huyền thoại ‘nhà tâm lý có thể đọc vị tâm trí kẻ khác’?

Chưa cần tốt nghiệp rồi vừa không ngừng bổ túc kiến thức lẫn kỹ năng vừa mò mẫm hành nghề, chỉ mới gặp mặt hoặc nghe nói mình học Tâm lý thôi là có vẻ dễ khiến thiên hạ hay bạn bè quen biết nghĩ ta thừa sức xem tướng, coi bói, rành chuyện này chuyện nọ hay giỏi đến mức đọc vị được tâm trí họ.

Các bình phẩm suýt xoa thường kiểu ‘Nè, nói chuyện cẩn thận nghe, vì nhà tâm lý học ở đây có thể đoán biết những gì bọn mình suy nghĩ đó’. Khởi sự ấy có thể là tấm lòng thán phục chân thành hoặc lời đùa tếu vô tư; rằng nhiều người nghĩ làm một nhà tâm lý học thì sở hữu quyền năng ghê gớm: dễ dàng khám phá những gì kẻ khác che giấu. Tin tắp lự (đáng ngờ vực vô cùng) là người này có khả năng mở cái đầu ta và nhìn thấy những gì nằm trong đó.

Điều ấy không chỉ là niềm tin sai lầm duy nhất từng nghe về công việc tâm lý học. Còn nhiều nhiều vô kể. Chúng gây phấn khích đến độ đủ khiến ta một ngày muốn nhặt nhạnh rồi đặt cái tên: những trò mèo tâm lý; dù lắm lúc dùng giải lao, buồn cười vui vẻ phết song đôi khi trở thành vấn đề quan ngại thực sự.

Chẳng hạn, nghĩ tới cách một thân chủ cảm nhận khi anh ta tiếp cận tham vấn tâm lý và nghĩ về nhà trị liệu như thể vị này đã biết tuốt các suy tư của mình đến độ không cần thiết dành nhiều thời gian kể lể, mô tả cảm xúc bản thân: ‘Quái lạ, nhà tâm lý này cứ hỏi đi rồi hỏi lại mãi. Tại sao? Chẳng phải ông này biết mọi thứ chỉ đơn giản nhìn vào mình thôi mà? Có lẽ tay nghề ông này không giỏi lắm, hoặc có thể đây chưa là dạng trị liệu xịn, hoặc tự thân cái môn tâm lý học e có vấn đề chăng! Đúng thế, tâm lý học đích thực đồ đểu giả; chỉ tổ làm tốn thời gian và tiền bạc!’

Nghiêm túc mà nói, rất quan trọng việc cần có ý tưởng thực tế những gì người ta có thể và không thể mong đợi khi làm việc với một nhà tâm lý, và đôi khi có thể bảo vệ họ khỏi cảm giác bị lừa dối. Vì vậy, phải nói to lên và rõ ràng (nếu ai đó cảm thấy quá thẳng thừng thì mong được cảm thông) rằng nếu nghĩ một nhà tâm lý biết mỗi một suy nghĩ của mình chỉ nhờ quan sát thì ta đã sai.

Làm thế nào những trò mèo tâm lý này lại có thể khởi lên rồi lớn nhanh dễ dàng đến thế? Chúng không thể sinh ra từ sự rỗng không. Hãy thử gắng tưởng tượng xem chúng từ đâu tới. Khi trò mèo về ‘nhà tâm lý thấu thị’, khả năng cao giữ vai trò lý giải ở đây là khái niệm “vô thức” (unconscious). Nhờ Freud nghiên cứu, hầu hết người làm tâm lý biết ý nghĩa của từ đó; bất chấp vài khác biệt giữa các trường phái phân tâm học, tất cả đều tán đồng rằng nó là điều trong tâm trí mà chúng ta không nhận ra được. Freud làm việc dựa trên khái niệm này; ông nghĩ một bệnh nhân có thể cải thiện sức khỏe tâm lý nhờ dần nhận biết nền tảng vô thức trong các cảm xúc của bản thân. Vậy nên ông đặt để điều ấy như là mục tiêu trị liệu và gắng giúp các bệnh nhân của mình nhìn thấy những gì nằm bên dưới bề mặt đời sống ý thức. Đấy là điều nhà phân tâm học vẫn còn làm việc cho tới ngày nay.

Chẳng nghi ngờ chuyện một người không làm tâm lý phát hiện bao điều huyền bí ở đây. Được giúp đỡ để nhìn ra điều nằm sẵn trong tâm trí mình dù nó vốn chẳng hề rành mạch gì thì nghe ra như sự bói toán vậy. Và người ta dễ nghĩ những ai có thể giải mã cảm xúc của họ giỏi đến thế khác chi thầy phù thủy có phép lạ. Kỳ thực, không bí hiểm gì cho cam; nó đơn giản là vấn đề của kỹ năng.

Các kiểu dạng công việc thảy đều cần những kỹ năng chuyên biệt. Một thợ may áo quần giỏi việc ướm đo, chọn vải, cắt và ráp vá.  Anh ta sẽ cho điều ấy là tự nhiên và không hề nghĩ rằng việc may vá là chuyện gì to tát lắm, dù với không ít cánh đàn ông ấy thật bất khả vì họ không hề có kỹ năng.

Nhà tâm lý cũng cần các kỹ năng chuyên biệt. Công việc là trợ giúp và để trợ giúp, nhà tâm lý phải giỏi giang trong việc lắng nghe và thấu hiểu mọi người tốt hơn… thường dân. Do vậy sự thật kém lãng mạn hẳn đi: các nhà tâm lý học đơn giản tập trung chú ý vào những gì nghe được và nhìn thấy, và biết các lý thuyết có thể lý giải mọi chuyện liên quan. Lý thuyết và trải nghiệm giúp nhà tâm lý học lưu ý tới các chi tiết nhỏ nhặt mà hầu hết mọi người không hay nhìn ra và thậm chí còn thấy chúng thú vị, và nhà tâm lý giúp người ta nghĩ về những ý nghĩa bị giấu kín.

Song khoan, đợi chút nhé: nếu dừng tại đây, người ta chắc đúng khi tin rằng một người được đào tạo bài bản có thể đọc vị tâm trí họ. Người ta dễ phát biểu dạng: “Ồ, chỉ là do học hành chăm chỉ và nghiên cứu thấu đáo thôi ư? Nên kẻ không nhiều trải nghiệm thật khó, còn chuyên gia được đào tạo ngọn ngành thông tỏ có thể thực sự đọc được suy tư của mình chứ nhỉ.’

Anh ta không thể đâu. Điều giảng dạy cốt lõi trong đào tạo tâm lý là không có nhà tâm lý được đào tạo hoàn hảo nhất cũng như lý thuyết tốt nhất trên thế giới thì không thể chứng thực sai sót. Sự thật, kết quả tốt nhất một nhà tâm lý giỏi có thể thành tựu là chọn lựa nhiều đầu mối rồi tìm ra một cách lý giải cung cấp vài ý nghĩa liên quan nhất.  Song sẽ luôn luôn có điều gì đó không khít khớp, phù hợp.

Con người ta vốn phức tạp, phức tạp hơn lý thuyết nhiều, và mình phải luôn sẵn sàng thay đổi các giả thuyết của bản thân. Thử làm một bước tiến xa hơn: mình không thể đưa ra bất kỳ diễn giải nào có sẵn vì chẳng những con người phức tạp mà họ còn luôn tiến hóa, thay đổi rồi phát triển theo nhiều cách thức mới mẻ nữa. Ví von khi nghĩ về điều này là đừng ‘phải lòng’ bất kỳ chẩn đoán nào, ngay các chẩn đoán sát hợp và làm ta say mê ghê gớm. Một nhà tâm lý giỏi nhất thiết phải luôn giữ một không gian tự do trong lòng để anh ta có thể khai sinh các giả thuyết mới.

Lý do khác để mọi người có những niềm tin sai lầm về nhà tâm lý: các nguồn không luôn luôn đáng tin cậy. Nghĩ về cách các nhà tâm lý được mô tả trên phim ảnh và truyền hình nhiều tập thì tất rõ. Các nhà tâm lý là sự nhào trộn từ sự kiện và hư cấu; ngay cả khi lấy cảm hứng bởi công việc của một nhà tâm lý thực thì nhiều điều trong đó vẫn thừa yếu tố bịa đặt, dựng chuyện. Và mình thường quên mất một bộ phim là một bộ phim, và một bộ phim có thể không bao giờ mô tả thực tế đúng như nó là, chưa nói nhiều lúc gây phản cảm và buồn chán…

Hy vọng những câu từ trên thuyết phục ai còn mơ hồ, hoài nghi  và mong sẽ ngày càng ít đi người sẽ cảm thấy bị lột trần trước một nhà tâm lý.

Lời cuối. Chỉ nghĩ thôi sẽ buồn cười ngay chuyện có thể đoán biết trúng phóc tất cả các câu trả lời trong chương trình truyền hình Ai Là Triệu Phú nhỉ mà không phải đầu tư học hỏi, tích lũy kiến thức lẫn cóc cần ai trợ giúp téo tẹo gì cả.

Khi nỗi sợ biến bé thành đứa trẻ ngỗ ngược, khó ưa…

Câu hỏi của độc giả làm tôi muốn chia sẻ sâu thêm về nỗi sợ hãi có thể biến trẻ nhỏ thành đứa ngỗ nghịch, bạo ngược khó ngờ.

Hầu hết chúng ta chống chọi với nỗi sợ bằng cách này hoặc cách khác. May mắn, đa phần chúng ta học được cách sống với hoặc vượt qua chúng ở một phạm vi kiểm soát nhất định mà không bị quá nhiều ảnh hưởng nặng nề.

Song nếu nỗi sợ của người ta dễ thuộc bản chất gây tê liệt thì khi sự vụ xảy đến, sống với nỗi sợ tương tự như sống với một tên bạo chúa vậy: đòi hỏi quá mức ảnh hưởng tới mỗi một hành động. Hơn thế, thường bắt gặp các thành viên khác trong gia đình cũng cảm thấy như đời mình đang bị khống chế ghê gớm lúc người thân trải qua sức ép do nỗi sợ làm tàn tạ. Rồi khi, thông qua nỗ lực đầy ý nghĩa đặng giải quyết thật tốt lành cùng người sợ hãi, các vị khác cảm nhận việc đang sống dưới ách chuyên chế hơn lên do đã ‘cho phép’ một cách vô ý khiến nỗi sợ dai dẳng thêm hoặc thậm chí còn tiếp tục leo thang.

Trẻ em có thể đương đầu với nhiều lo âu và sợ hãi xuyên suốt thời kỳ tuổi hoa. Rất nhiều bé dường như trải qua các giai đoạn muốn thoát khỏi hoặc chiếm ưu thế đủ dạng nỗi sợ nọ kia đến độ việc chống kháng nỗi niềm sợ hãi trở thành hợp phần tự nhiên của sự phát triển.

Song lắm khi trẻ dần bị chốt khóa trong vòng kiềm tỏa của nỗi sợ gây liệt kháng khủng khiếp khiến chúng hống hách, làm chúa tể ở nhà mình. Ví dụ, trẻ đang trải qua cơn sợ côn trùng biết bay (do đó, không dám liều ra ngoài mùa sâu bọ sinh sôi) có thể dẫn đến kết cục phá vỡ chuyến đi chơi công viên của cả nhà. Trẻ sợ động vật có thể làm gia đình mất vui khi bố mẹ bố trí xem xiếc thú. Trẻ e ngại các trò cưỡi lái dễ biến ngày nghỉ du ngoạn cuối tuần thành trải nghiệm tồi tệ, nhất là với bố mẹ và người chịu trách nhiệm trông nom, vì các cơn tam bành và hành vi né tránh của chúng.

Khi nỗi sợ gây liệt kháng, hầu như mọi người liên quan đối tượng đang sợ đều bị ảnh hưởng, và đời sống chợt rắc rối với tất cả. Điều tương tự cũng xảy ra trong các gia đình khi một thành viên bị cơn nghiện vây khốn rồi cơn nghiện rốt ráo khống chế ít nhiều đời sống của mọi người trong nhà (ý nghĩa của cái gọi là ‘làm khổ lẫn nhau’/ codependency).

May thay, tin tốt lành là nỗi sợ hãi và cơn lo âu nằm trong số trục trặc tâm lý có thể trị liệu được. Hiện có nhiều cách tiếp cận ‘nỗ lực và xác thực’ mà thảy đều đem lại tỷ lệ thành công tốt đẹp; một giải pháp mỹ mãn quen thuộc là phơi nhiễm (exposure).  Để vượt thắng một nỗi sợ, mình buộc phải đối đầu rốt ráo, bất kể nỗi sợ vốn khó định hình thật thấu tỏ (vốn là điều thuộc về lo âu) hoặc nỗi sợ là điều gì đó cụ thể hay tình huống riêng biệt (ám sợ gán nhãn). Kiên trì phơi nhiễm bản thân với thứ thường né tránh và cho phép mình trải nghiệm sự kiện rằng các hậu họa ghê gớm mình quen tưởng tượng đã không xảy ra là cách hay nhất làm giảm thiểu hoặc thậm chí dần tiêu trừ đáp ứng đầy sợ hãi. Bây giờ để người ta đối đầu với những gì thích né tránh là chuyện rất thách thức, vì thế, nói chung, việc chỉ thành tựu ‘một cách có hệ thống’; dùng lối tiếp cận sao cho người ta ngày càng dễ tiến sát gần hơn với điều họ sợ nhất, để họ cảm thấy an toàn ở mỗi một bước nhỏ tiến bộ, tuần tự ‘giải mẫn cảm’ họ trước các tình huống khơi dậy nỗi niềm sợ hãi.

Các phương pháp phơi nhiễm khác dùng cách thức mãnh liệt và ngay liền hơn, như độ căng thể hiện trong kỹ thuật ‘nhâm ngúng’ (immersion) và ‘ngập tràn’ (flooding). Trong khi người lớn khá sẵn các nguồn lực để giải quyết với các cách tiếp cận mang tính đụng độ sát sườn thế, trẻ em quá nhạy cảm để rồi chúng dễ làm bản thân thân tổn thương hơn, do đó, rốt cuộc chỉ tổ làm tăng thêm nỗi niềm sợ hãi. Đứa trẻ nào cũng tự nhiên cưỡng lại bất kỳ nỗ lực phơi nhiễm, nhất là lúc ban đầu, nên quan trọng là khởi sự đơn giản thôi rồi củng cố sự già dặn dần bằng mỗi một bước nhỏ tiến tới. Có lẽ, mưu mẹo nhất để giúp trẻ vượt qua nỗi sợ là đồng thời xử lý cách thức các thành viên khác trong gia đình sơ xuất ‘gây nên’ nỗi sợ làm trẻ càng nảy bật lảng tránh khiến kéo dài thêm điều khó chịu.

Giúp trẻ đương đầu và tuần tự vượt qua sự suy yếu do nỗi sợ đòi hỏi điều nôm na ‘lòng thương yêu cứng rắn’, trong khi mình không những luôn luôn thể hiện mối quan tâm mà còn lưu ý không củng cố các ý niệm rằng thực tế có điều gì sợ hãi đang tồn tại hoặc cách an toàn là tránh tình huống làm trẻ sợ hãi. Và đó đích thị những gì xảy đến khi người trong nhà chấm dứt việc mua vui bằng việc dọa trẻ.

Trẻ em vượt thắng các nỗi sợ và ám ảnh của bản thân với lối trị liệu đúng đắn thường được hưởng nhiều lợi lạc khác. Khi tăng lên khả năng đối đầu các tình huống chúng thường quen né tránh mà không cảm thấy tê liệt, trẻ căn bản cảm thấy vừa quyền làm chủ vừa hiệu lực vào bản thân. Chúng không chỉ dần điềm tĩnh vì nỗi sợ lắng xuống mà còn tự tin hẳn. Trẻ cũng học hỏi được cách biết nhắm tiêu điểm tập trung đời mình. Không còn bị nỗi sợ kiểm soát nữa, trẻ cảm thấy cần tự chịu trách nhiệm đảm đương nhiều hơn.

Các thành viên gia đình khác trải nghiệm lợi lạc tích cực tương tự. Không còn bị nỗi sợ hãi kiềm nén từng gây phiền phức cho trẻ nhỏ, họ thoải mái khỏi kinh qua vô vàn chiêu trò ngạo ngược của tiểu bạo chúa trong nhà.

Thiền tập như một hệ thống

Cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với việc tập thiền (meditation) chắc chắn đem lại nhiều lợi lạc hơn hẳn so với các kiểu tiến hành ít quy củ, thiếu tổ chức chặt chẽ.

Thử hình dung một danh sách ngắn để lý giải tại sao.

Một hệ thống thiền tập (phát triển) thì…

  • 1. Có khả năng lặp lại.
  • 2. Được cấu trúc/ xác định rất rõ ràng.
  • 3. Học viên và người hướng dẫn, giảng dạy có thể so sánh tiến bộ và kết quả.
  • 4. Các thuật ngữ và khái niệm dùng nhất quán, đủ để giải thích, thấu hiểu và so sánh tiến bộ/ kết quả.
  • 5. Tính độc lập của vị thầy/ sư phụ; cho dẫu bậc thầy có mất đi sau đó thì hệ thống vẫn vận hành được. Nói khác, nó ít phụ thuộc vào ‘con người’ mà nghiêng về sự vận dụng của hệ thống.
  • 6. Tự thân hệ thống có thể được nhìn nhận như vị thầy (tựa Đức Phật tôn kính Pháp là vị thầy của Ngài vậy).
  • 7. Một hệ thống có thể được giảng dạy và phân xếp thật dễ dàng; chí ít xử lý ổn hơn so với việc kế thừa đặc thù từ nhân cách của vị thầy.
  • 8. Một hệ thống cần có yếu tố khoa học: giống như một thục nghiệm ai đó có thể thử lại hết sức thành công.
  • 9. Một hệ thống lôi cuốn người học: con đường được sắp đặt rõ ràng, nhiều học viên khóa trước có thể trợ giúp và xác lập con đường. Tiến bộ tạo nên từng bước và có thể so sánh với người khác.
  • 10. Các vị thầy của hệ thống thế có khả năng đánh giá tốt tiến bộ của mỗi học viên dựa trên kinh nghiệm của họ với cùng bộ hướng dẫn tương tự cho những người trước… Điều này làm giáo viên giỏi hơn và hệ thống càng thêm tinh tế.
  • 11. Hệ thống tốt lên, càng tường tận tỉ mỉ và vị hướng dẫn càng dễ dự liệu, đoán biết cũng như đánh giá tiến bộ của người học.

Cần lưu ý, điều diễn giải trên không hề biện hộ cho bất kỳ hệ thống thiền tập Phật giáo riêng biệt nào. Xem các kinh có thể nhìn ra cách (các) hệ thống được đặt để suốt thời Đức Phật. Và ngay cả một phương pháp luận nào đó cần thiết cho phép các biến thể dựa vào tính cách của hành giả thì chuyện ấy cũng có thể được tiếp cận một cách hệ thống.

Dĩ nhiên, khi dạng hệ thống ấy dần chỉ còn được ghi nhận qua giấy tờ và chết héo (không có sự truyền thừa, tiếp nối) thì thật khó khăn để phục hồi nó đúng như những ‘câu chữ’ vốn dùng ghi lại. Và người ta có lý do biết ơn một số hệ thống thiền tập xác thực trong vài thập niên trở lại đây như phương pháp Goenka, Mahasi, v.v…

Năng lực cải tiến của các hệ thống thiền tập này sẽ trở nên sành sỏi với các hướng dẫn (sau khi lão luyện về chúng) và nhờ cập nhật dựa trên trải nghiệm của người học các hệ thống này, và mối quan hệ của chúng với các lời chỉ dạy rõ ràng Đức Phật tất càng thêm ý nghĩa cho những ai theo đuổi…

‘Cái tôi’: sự lừa dối trên tiến trình nhận thức

Rằm tháng Giêng rồi, nhân Ngày Thơ quốc gia, lượn lờ tình cờ mà đọc được đôi câu treo trong khuôn viên Văn Miếu- Quốc Tử Giám của một cậu trai 8X khiếm thị: “Ngoài trời còn có trời cao, trong tôi biết có tôi nào tôi hơn” (Nguyễn Việt Anh, 1982, Hà Nội).

Ai thích Toán hoặc quan tâm thống kê chắc biết luật Benford. Phần phấn khích trong câu chuyện nhỏ này là cách thức nó sát gần cũng như giải pháp nêu ra lại dính kết tới ý tưởng về ‘cái tôi’ (self) mà theo đạo Phật thì chẳng khác chi trò ảo thuật lừa mị: được tạo ra như phó sản của ‘tiến trình xử lý ký hiệu tinh thần’. Đây có vẻ giải thích luật Benford thấu tỏ nhất. Theo tiến sĩ Steven Smith, hơn 70 năm qua luật Benford đã đạt đỉnh điểm của sự sùng bái; nó mạnh mẽ tuyên bố chứng thực một số bí mật hoặc thuộc tính khá bất thường của vũ trụ.

So sánh điều ấy với cuộc đấu tranh triền miên của con người nhằm định vị ‘cái tôi bên trong hoặc ở ngoài bản thân mình, trong khi con người không ngừng nhìn/ xử lý sáu giác quan. Rõ ràng, phải có một cái tôi, self, ego, một ta phỏng ạ? Tôi có thể thấy nó. Song nó đến từ đâu rứa? Và nó là cái chi chi? Câu trả lời của Phật đối với ‘vấn đề’ mà ngài tóm tắt thành ‘avijja‘ hoặc ‘sự ngu dốt/ thiếu khôn ngoan/ vô minh’, một ảo tưởng, liệu tương tự với trả lời chúng ta có thể tìm thấy với bài toán ‘bí hiểm’ này (tức thuộc vấn đề tinh thần/ logic)?

Lần nữa, theo tác giả Steven Smith, đừng phí thời gian đặng cố thấu hiểu các ý tưởng ấy; chúng hoàn toàn đi theo vết sai lạc hẳn rồi. Không có ‘thuộc tính vũ trụ’ nào và hiện tượng này chẳng liên quan gì với các ‘đơn vị’ (units) cả. Chung cuộc, chúng ta sẽ nhận ra rằng luật Benford trông giống với một cuộc biểu diễn ảo thuật thật ngoạn mục hon là như một thuộc tính bị giấu kín của vũ trụ. Nói gọn, mẫu hình logarithm của việc dẫn dắt các con số đến từ chiêu trò thể hiện của dữ liệu (data), và không có liên quan với các mẫu hình trong các con số được xem xét…Rằng việc này làm thay đổi theo một mẫu hình dựa vào các khả năng của số 10, ví dụ thế, là phản logarithm. Không hề nhận ra rằng bộ não mình đã bí mật biểu diễn dữ liệu, mình quy mẫu hình logarithm này cho một số dấu hiệu ẩn kín nào đó của các con số độc đáo.

Từ quan điểm Phật giáo hoặc thiền định thấu tỏ, điều gì đó tương tự cũng xảy đến với tâm trí. Việc xử lý ký hiệu hoặc trải nghiệm nhận thức của tâm trí tạo nên tri giác, ý thức về cái tôi, là ‘kết quả’ của tiến trình (phó sản hoang đường) đã không hề được tìm thấy trong nội tại tiến trình cũng như là ‘yếu tính’ rốt ráo. Do vậy, ý thức, như đức Phật ghi nhận, đúng là trò lừa của ảo thuật gia:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm Thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, Thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong Thức được?

Với cái nhìn này, đạt được Niết Bàn (Nirvana) sẽ mang nghĩa kết thúc rốt ráo công việc nhà của người ta. Giải quyết phương trình luân hồi đòi hỏi nhiều việc phải làm (cần đọc bài viết của tiến sĩ Smith hoặc đơn giản hành thiền vài năm), mà việc thức nhận đoạn kết sẽ là một thứ ngắn gọn và sâu xa, và sẽ không nằm trong lĩnh vực của sáu giác quan. Như trường hợp giải quyết luật Benford, nó hàm ý một số hình thức bước ra khỏi rồi xem xét lại vấn đề từ quan điểm trung lập, chắc chắn người ta không quên việc tính đến tiến trình nhận thức riêng tư hơn là rơi vào các diễn giải khác nhau mà tâm trí thường hay nảy nở, tăng nhanh đưa thêm…