Thiền tập như một hệ thống

Cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với việc tập thiền (meditation) chắc chắn đem lại nhiều lợi lạc hơn hẳn so với các kiểu tiến hành ít quy củ, thiếu tổ chức chặt chẽ.

Thử hình dung một danh sách ngắn để lý giải tại sao.

Một hệ thống thiền tập (phát triển) thì…

  • 1. Có khả năng lặp lại.
  • 2. Được cấu trúc/ xác định rất rõ ràng.
  • 3. Học viên và người hướng dẫn, giảng dạy có thể so sánh tiến bộ và kết quả.
  • 4. Các thuật ngữ và khái niệm dùng nhất quán, đủ để giải thích, thấu hiểu và so sánh tiến bộ/ kết quả.
  • 5. Tính độc lập của vị thầy/ sư phụ; cho dẫu bậc thầy có mất đi sau đó thì hệ thống vẫn vận hành được. Nói khác, nó ít phụ thuộc vào ‘con người’ mà nghiêng về sự vận dụng của hệ thống.
  • 6. Tự thân hệ thống có thể được nhìn nhận như vị thầy (tựa Đức Phật tôn kính Pháp là vị thầy của Ngài vậy).
  • 7. Một hệ thống có thể được giảng dạy và phân xếp thật dễ dàng; chí ít xử lý ổn hơn so với việc kế thừa đặc thù từ nhân cách của vị thầy.
  • 8. Một hệ thống cần có yếu tố khoa học: giống như một thục nghiệm ai đó có thể thử lại hết sức thành công.
  • 9. Một hệ thống lôi cuốn người học: con đường được sắp đặt rõ ràng, nhiều học viên khóa trước có thể trợ giúp và xác lập con đường. Tiến bộ tạo nên từng bước và có thể so sánh với người khác.
  • 10. Các vị thầy của hệ thống thế có khả năng đánh giá tốt tiến bộ của mỗi học viên dựa trên kinh nghiệm của họ với cùng bộ hướng dẫn tương tự cho những người trước… Điều này làm giáo viên giỏi hơn và hệ thống càng thêm tinh tế.
  • 11. Hệ thống tốt lên, càng tường tận tỉ mỉ và vị hướng dẫn càng dễ dự liệu, đoán biết cũng như đánh giá tiến bộ của người học.

Cần lưu ý, điều diễn giải trên không hề biện hộ cho bất kỳ hệ thống thiền tập Phật giáo riêng biệt nào. Xem các kinh có thể nhìn ra cách (các) hệ thống được đặt để suốt thời Đức Phật. Và ngay cả một phương pháp luận nào đó cần thiết cho phép các biến thể dựa vào tính cách của hành giả thì chuyện ấy cũng có thể được tiếp cận một cách hệ thống.

Dĩ nhiên, khi dạng hệ thống ấy dần chỉ còn được ghi nhận qua giấy tờ và chết héo (không có sự truyền thừa, tiếp nối) thì thật khó khăn để phục hồi nó đúng như những ‘câu chữ’ vốn dùng ghi lại. Và người ta có lý do biết ơn một số hệ thống thiền tập xác thực trong vài thập niên trở lại đây như phương pháp Goenka, Mahasi, v.v…

Năng lực cải tiến của các hệ thống thiền tập này sẽ trở nên sành sỏi với các hướng dẫn (sau khi lão luyện về chúng) và nhờ cập nhật dựa trên trải nghiệm của người học các hệ thống này, và mối quan hệ của chúng với các lời chỉ dạy rõ ràng Đức Phật tất càng thêm ý nghĩa cho những ai theo đuổi…

‘Cái tôi’: sự lừa dối trên tiến trình nhận thức

Rằm tháng Giêng rồi, nhân Ngày Thơ quốc gia, lượn lờ tình cờ mà đọc được đôi câu treo trong khuôn viên Văn Miếu- Quốc Tử Giám của một cậu trai 8X khiếm thị: “Ngoài trời còn có trời cao, trong tôi biết có tôi nào tôi hơn” (Nguyễn Việt Anh, 1982, Hà Nội).

Ai thích Toán hoặc quan tâm thống kê chắc biết luật Benford. Phần phấn khích trong câu chuyện nhỏ này là cách thức nó sát gần cũng như giải pháp nêu ra lại dính kết tới ý tưởng về ‘cái tôi’ (self) mà theo đạo Phật thì chẳng khác chi trò ảo thuật lừa mị: được tạo ra như phó sản của ‘tiến trình xử lý ký hiệu tinh thần’. Đây có vẻ giải thích luật Benford thấu tỏ nhất. Theo tiến sĩ Steven Smith, hơn 70 năm qua luật Benford đã đạt đỉnh điểm của sự sùng bái; nó mạnh mẽ tuyên bố chứng thực một số bí mật hoặc thuộc tính khá bất thường của vũ trụ.

So sánh điều ấy với cuộc đấu tranh triền miên của con người nhằm định vị ‘cái tôi bên trong hoặc ở ngoài bản thân mình, trong khi con người không ngừng nhìn/ xử lý sáu giác quan. Rõ ràng, phải có một cái tôi, self, ego, một ta phỏng ạ? Tôi có thể thấy nó. Song nó đến từ đâu rứa? Và nó là cái chi chi? Câu trả lời của Phật đối với ‘vấn đề’ mà ngài tóm tắt thành ‘avijja‘ hoặc ‘sự ngu dốt/ thiếu khôn ngoan/ vô minh’, một ảo tưởng, liệu tương tự với trả lời chúng ta có thể tìm thấy với bài toán ‘bí hiểm’ này (tức thuộc vấn đề tinh thần/ logic)?

Lần nữa, theo tác giả Steven Smith, đừng phí thời gian đặng cố thấu hiểu các ý tưởng ấy; chúng hoàn toàn đi theo vết sai lạc hẳn rồi. Không có ‘thuộc tính vũ trụ’ nào và hiện tượng này chẳng liên quan gì với các ‘đơn vị’ (units) cả. Chung cuộc, chúng ta sẽ nhận ra rằng luật Benford trông giống với một cuộc biểu diễn ảo thuật thật ngoạn mục hon là như một thuộc tính bị giấu kín của vũ trụ. Nói gọn, mẫu hình logarithm của việc dẫn dắt các con số đến từ chiêu trò thể hiện của dữ liệu (data), và không có liên quan với các mẫu hình trong các con số được xem xét…Rằng việc này làm thay đổi theo một mẫu hình dựa vào các khả năng của số 10, ví dụ thế, là phản logarithm. Không hề nhận ra rằng bộ não mình đã bí mật biểu diễn dữ liệu, mình quy mẫu hình logarithm này cho một số dấu hiệu ẩn kín nào đó của các con số độc đáo.

Từ quan điểm Phật giáo hoặc thiền định thấu tỏ, điều gì đó tương tự cũng xảy đến với tâm trí. Việc xử lý ký hiệu hoặc trải nghiệm nhận thức của tâm trí tạo nên tri giác, ý thức về cái tôi, là ‘kết quả’ của tiến trình (phó sản hoang đường) đã không hề được tìm thấy trong nội tại tiến trình cũng như là ‘yếu tính’ rốt ráo. Do vậy, ý thức, như đức Phật ghi nhận, đúng là trò lừa của ảo thuật gia:

Ví như, này các Tỷ-kheo, một ảo thuật sư hay đệ tử một ảo thuật sư, tại ngã tư đường bày trò ảo thuật. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát trò ảo thuật ấy. Do người ấy nhìn chuyên chú, như lý quán sát, ảo thuật ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong ảo thuật được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm Thức gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại… hoặc xa hay gần; Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát, Thức ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là trống rỗng, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong Thức được?

Với cái nhìn này, đạt được Niết Bàn (Nirvana) sẽ mang nghĩa kết thúc rốt ráo công việc nhà của người ta. Giải quyết phương trình luân hồi đòi hỏi nhiều việc phải làm (cần đọc bài viết của tiến sĩ Smith hoặc đơn giản hành thiền vài năm), mà việc thức nhận đoạn kết sẽ là một thứ ngắn gọn và sâu xa, và sẽ không nằm trong lĩnh vực của sáu giác quan. Như trường hợp giải quyết luật Benford, nó hàm ý một số hình thức bước ra khỏi rồi xem xét lại vấn đề từ quan điểm trung lập, chắc chắn người ta không quên việc tính đến tiến trình nhận thức riêng tư hơn là rơi vào các diễn giải khác nhau mà tâm trí thường hay nảy nở, tăng nhanh đưa thêm…

“Và chúng mình yêu nhau bắt đầu từ độ ấy”…

Yêu thương nở tại vườn tâm...
Yêu thương nở tại vườn tâm…

Một trong những nghèo nàn nhất khi biểu đạt bằng Anh ngữ là chỉ có mỗi động từ ‘love’ để diễn tả các thang bậc và chiều kích cùng sắc thái đa dạng của sự yêu thương; một từ mà định phủ trùm hết thảy đủ thứ cảm xúc rất người này, ngay dù nhiều cách thức và hình tướng của yêu thương.

Chứa toàn bộ điên rồ khi biết mình phải hy sinh bản thân cho con cái, để chăm cả cháu chắt hoặc bất cứ đứa trẻ nào máu mủ ruột rà. Làm thế nào chúng ta kiểm soát hết sức kiên định để luôn phải lòng với những sinh linh chẳng ngừng leo trèo, quậy phá, la hét ỏm tỏi và sẵn sàng nằm vạ khóc tu tu khủng khiếp nếu trái ý bất mãn để rồi chúng vắt kiệt chúng ta về mặt tài chính, thể lý, và cảm xúc? Đó hầu như là dạng kiên định nhất về tính điên rồ rất người.

Đã hết đâu… Còn có tình yêu lãng mạn, và sự thuộc về vốn là dạng điên khùng khác.

Chúng ta cũng thôi thúc phải tìm kiếm tình yêu thuần tinh thần với bạn bè thấu hiểu mình, những người yêu quý và chiều chuộng mình ngay cả khi chúng ta giống đứa trẻ, làm bộ làm tịch và bần tiện đáng khinh lại còn phát ngôn đủ thứ lố lăng nữa.

Và dĩ nhiên, khởi nguyên thì chúng ta xoắn bện với nhu cầu được đón nhận tình yêu thương của bố mẹ và người chăm nom, nuôi dưỡng. Khi thiếu hụt điều ấy từ những năm đầu đời, nó trở thành yếu tính khiến chúng ta ngụy trang để sống còn.

Tình yêu mang tính trị liệu tâm lý là sự kết nối của tất cả ba dạng ấy: tình yêu lãng mạn, tình yêu phụ mẫu, và đôi khi tình yêu ngớ ngẩn thật trẻ con. Các nhà trị liệu hiếm khi nhận ra sâu sắc sự kiện này vì nỗi e sợ thoát khỏi thân chủ và buộc phải sát gần với thực tiễn hành nghề. “Yêu thương”, cái từ mù mờ và mang tính hồi quang khó nắm bắt này mang quá nhiều ý nghĩa thật khác biệt với ai đó không giống nhau; nó không thể bị ném lung tung và buông thả. Vì vậy, chúng ta nói về nó, đôi lúc dùng thuật ngữ lâm sàng là “gắn bó” hoặc “chuyển dịch”, và khi khác đơn giản là “kết nối” hoăc “ràng buộc”.

Thực tế, khá sáo rỗng về chuyện phải lòng với nhà trị liệu. Cái mà văn hóa quần chúng hay lờ đi là sự kiện rằng các nhà trị liệu cũng phải lòng thân chủ của mình. Nếu bạn đang ở trong giai đoạn cần đến trị liệu, tôi cá là nhà trị liệu của bạn đang yêu bạn. Nhà trị liệu yêu đến rồ dại mỗi thân chủ, nếu giả sử hiếm hoi mình không yêu, điều gì đó thật là sai trái lắm. Các nhà trị liệu cũng mong đợi bạn phải lòng. Cần biết rõ, phải lòng nhà trị liệu không hề yếu đuối hoặc tội lỗi hay ngu ngốc hay dở hơi; nó là dấu hiệu đích thực cho các kỹ năng quan hệ và sức khỏe tinh thần tốt lành, đúng đắn.

Phòng trị liệu là nơi chốn ấp ủ tình yêu. Chúng ta có thể thực hành yêu thương ở phòng trị liệu bởi vì cấu trúc bao bọc nó đảm bảo an toàn cho việc này. Các phiên trị liệu khởi đầu và kết thúc đều đặn mỗi tuần. Độ bảo mật và sự thân tín cùng các quy điều đạo đức và pháp luật ngăn cấm nhà trị liệu thiết lập một quan hệ tay đôi (như kiểu bằng hữu, đối tác làm ăn, hoặc bạn tình) với một thân chủ. Chúng ta gọi cấu trúc đó là “khung trị liệu” và nó được đặt để đủ cho bạn thoải mái có bất kỳ và hết thảy cảm xúc của con người, bao gồm yêu thương và hận thù, nộ khí và tri ân, bên trong bốn bức tường yên bình ấy. Phòng trị liệu là phòng thực hành, và điều chúng ta thực hành hầu như kiên định là cảm xúc và các kỹ năng yêu thương.

Chúc Mừng Năm Mới đầy tràn hoan hỉ và an lạc, với tình yêu nhà trị liệu dành cho; mình tốt đẹp, mạnh mẽ, và cực kỳ rất dễ phải lòng.

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Nguyên tắc vàng phổ quát

Đối xử với người khác như cách bản thân mình muốn được đối xử vậy là nguyên tắc vàng mang tính phổ quát.

Các nhà trị liệu tránh làm việc với những người khác niềm tin và văn hóa với mình có thể đoan chắc rằng có một nền tảng thường dựa vào để trao đổi

Làm việc với kẻ mang niềm tin khác biệt dễ là thách thức lớn lao, nhất là với ai hành nghề tâm lý trị liệu. Mỗi thân chủ tự thân không chỉ gìn giữ một số niềm tin khác biệt mà còn chứa đôi điều làm nản lòng ghê gớm thuộc các hệ thống niềm tin tôn giáo và văn hóa mã hóa sẵn rồi.

Thân chủ thường tìm nhà trị liệu có cùng nền văn hóa hoặc niềm tin, nỗi sợ (đôi khi hoàn toàn đúng đắn) rằng một nhà trị liệu ngớ ngẩn hoặc tương phản có thể ngờ vực các niềm tin căn cốt mà họ không muốn thẩm tra.

Các nhà trị liệu cũng e ngại né khỏi các thân chủ thuộc niềm tin hoặc văn hóa khác biệt, sợ rằng một sự hiểu nhầm có thể khiến thân chủ khó chịu hoăc cảm thấy bị xúc phạm, thậm chí có khả năng bị than phiền, khiếu nại. Sự thiếu tự tin thế thường không thiết lập được quan hệ tốt.

Trong khi các nhà trị liệu không thể biết hết các chi tiết liên quan đến mỗi niềm tin và văn hóa mà họ tình cờ tương tác và họ nên suy nghĩ cẩn thận trước khi nỗ lực làm việc trong các khung tham chiếu họ chẳng thể thấu tỏ rốt ráo, có một nguyên tắc thông thường đối với hầu như mọi hệ thống niềm tin: nguyên tắc vàng.

Đối xử với người khác như mình muốn họ sẽ đối xử với mình thế.// “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn, đừng làm cho người).

Một nhà trị liệu nghiêm trang sẽ không, dĩ nhiên, giả định rằng có thể đi đến tán đồng, nhất trí hoàn toàn được. Thực tế, thừa ví dụ minh họa đau đớn cho các mối hiểm họa của việc theo đuổi quá háo hức việc kiếm tìm nền tảng đặt để thông thường…

Một lời nhắc nhở luôn đáng nhớ; còn lâu mới lạc hậu hoặc thừa thãi, trong tác nghiệp.

Kháng cự lại sự thay đổi: ẩn dưới những nhiễu nhương, rối rắm

Trạng thái stress làm tăng lên ước muốn được tưởng thưởng chứ không phải niềm khoái sướng, nghiên cứu cho biết thế.

Thay đổi hiếm khi là tiến trình dễ dàng hoặc đơn giản; nó giúp chúng ta hiểu hơn các lý do chống kháng lại, và tôn trọng những khó khăn, phiền muộn dính dáng, liên quan.

Bố và mẹ đưa con gái 14 tuổi tới trị liệu bởi vì cô bé không hoàn thành bài tập ở trường, và họ đặc biệt khó chịu do phòng riêng của cô gái bày biện ‘thật bê bối’. Vấn đề mới xảy ra tạo nên khủng hoảng từ cuộc cãi vã giữa mẹ và con gái khiến cô bé ném đồ đạc rồi đe dọa tự sát. Người bố đang đi làm nhận điện thoại quay về nhà đưa con vào cấp cứu ở bệnh viện. Sau đó, họ thăm khám một bác sĩ tâm thần và được chẩn đoán khả năng cao mắc rối loạn lưỡng cực type 2, cộng khả năng bị ADHD nữa (dù cô gái có thể tiêu hàng giờ đọc truyện), rồi chỉ định 2 loại thuốc. Cô gái từng uống thuốc vì bệnh hen khá nặng, và bố mẹ đòi được trị liệu vì họ muốn tránh uống thuốc thêm.

Các sự kiện tiếp diễn liên miên xoay quanh chuyện cô gái không hoàn thành bài vở ở trường và khi về nhà dễ là biểu hiện bà mẹ cứ muốn làm con gái ngộ ra các lợi ích của việc chu toàn học hành. Phản ứng từ phía cô gái sẽ cho là mình không có khả năng tập trung đủ để hoàn thành bài vở, và rằng bố mẹ cô không hiểu con gái. Trong nhiều trường hợp tương tự với vụ ai đó phải đi cấp cứu, tương tác này sẽ leo thang tới điểm ông bố có thể buộc phải can thiệp rồi làm sao cho mọi sự lắng xuống. Đây là lần đầu mà sự tương tác căng thẳng đến độ cô gái biểu đạt dự tính tự sát.

Nhà trị liệu đề xuất cách hướng dẫn bố mẹ hiệu quả dựa trên thực chứng. Ông xác định vấn đề là kết quả của việc cô gái tự nhận thấy bản thân mình thiếu khả năng và do đó, không đáp ứng được. Bố mẹ đồng ý đây là quan điểm tự đánh giá mình chẳng hay ho gì. Nhà trị liệu hỏi người mẹ rằng bà đã thắng trong cuộc tranh cãi nào với cô con gái 14 tuổi của mình chưa. Bà mẹ thừa nhận chưa bao giờ thuyết phục được con gái thay đổi. Đó là khuyến cáo bố mẹ cần đặt để thời hạn cho việc học hành ở trường hoặc dọn dẹp phòng ốc ngăn nắp. Nếu không đáp ứng thời hạn, bà mẹ nên có mặt ở phòng con gái mà không để cho con gái có các đồ chơi điện tử ưa thích cho đến khi công việc hoàn tất. Nhà trị liệu giải thích điều này sẽ truyền thông với cô gái là cô có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Bà mẹ đồng ý thử cách tiếp cận này xem sao. Ông bố, quá mệt vì phải can thiệp, nhất trí song e ngại sự leo thang của con gái sẽ đòi hỏi mình lại can thiệp.

Vào lần gặp sau đó, bà mẹ nói mình đã thử bảo con gái có trách nhiệm đưa bà vào phòng. Đứa con gái la hét, khóc ầm lên hơn cả tiếng đồng hồ, dọa sẽ chết, và rằng mình không hoàn thành công việc được. Cuối cùng, bà mẹ rời khỏi phòng với lời hứa họ sẽ làm bài tập với nhau khi cô gái bình tĩnh đã. Việc này xảy ra ba ngày trước cuộc hẹn và bài tập vẫn để đó…

Một số nhà trị liệu có thể quen đáp ứng bằng việc nói với bố mẹ là họ đang làm hư con gái do không bắt cô bé phải có trách nhiệm xử lý, hoặc đưa ra một số chỉ trích khác về hành vi của bố mẹ chống kháng đề xuất đã nêu. Tuy thế, nhà trị liệu ở đây không hề ngạc nhiên với việc bố mẹ thể hiện như thế. Ông hiểu là khi người ta khư khư với các mẫu hình hành vi, họ thường bộc lộ thế vì các nhu cầu quan trọng được thỏa mãn. Trong tình huống đang bàn, cho thấy bà mẹ ghi nhận việc con gái mình càng dễ xuất hiện cơn suyễn và mức độ trầm trọng hơn khi stress. Phó bản của nỗi sợ ẩn bên dưới này là họ kiềm chế không thể hiện quyền uy chính đáng của người làm cha làm mẹ. Nếu nhà trị liệu tỏ ra hữu ích với bố mẹ và con gái mới lớn, ông phải tìm được cách để thúc đẩy thay đổi trong khi xem xét các nỗi sợ của họ.

Ngoài sự tưởng nghĩ, chúng ta đều ngạc nhiên chân thành khi người ta tạo ra thay đổi cốt lõi trong lối sống của họ, bất kể đó là việc giảm cân, thay đổi cách làm việc như điên dại để dành thời gian nhiều hơn cho gia đình, hoặc chấm dứt chuyện ghen tuông khủng khiếp. Tất cả chúng ta biết mình nên tạo ra sự thay đổi, có lẽ cảm thấy ngu ngốc rằng mình sao không đổi thay, song gì gì thì cuối cùng mọi chuyện vẫn cứ như cũ. Thay đổi thì khó khăn đối với bất kỳ ai. Thực tế, nếu thay đổi dễ dàng thì người ta sẽ ít nhờ các nhà trị liệu trợ giúp. Điều khiến thay đổi quá khó nhọc là vì giống gia đình trên, tất cả chúng ta nhận được các nhu cầu thỏa mãn nhờ các mẫu hình hành vi mình tạo ra, và chúng ta sợ hãi (thường vô thức) mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ, hoặc chí ít không còn thoải mái như trước, nếu chúng ta tiền hành mọi thứ khác hẳn đi.

Các nhà trị liệu giỏi giang chẳng ngạc nhiên với sự kháng cự thay đổi, bởi vì họ tôn trọng và thấu hiểu người ta đang nhìn thấy các lý do cho hành vi hiện tại; chưa nói, họ hiểu cách thức người ta ngoài lúc trị liệu đôi khi vượt qua khuynh hướng giữ nguyên trạng, thói quen vi tế đến thế nào.

… Trong phiên làm việc thứ hai, nhà trị liệu trước tiên lấy làm hối tiếc vì đã không lường hết nhiệm vụ khó khăn mà bố mẹ phải đương đầu để giúp đỡ con mình. Ông đề nghị họ đưa con gái đến bác sĩ chuyên khoa điều trị bệnh hen suyễn rồi thảo luận về các nguy cơ do stress tăng lên thêm như kết quả của trị liệu. Rồi họ đi đến chọn lựa nghiêm túc về chuyện tiếp tục trị liệu.

Vào phiên thứ ba, bố mẹ báo tin là bác sĩ bày vẽ cho họ xử lý trạng thái tăng thêm các cơn hen suyễn nhờ sử dụng các dụng cụ y tế thích hợp. Bác sĩ bảo họ rằng cơn hen suyễn không nên được dùng như là cái cớ tránh né trách nhiệm. Cả hai bố mẹ tuyên bố mình đã quyết lựa chọn trị liệu tiếp bất chấp gánh nặng chi phí. Nhà trị liệu khuyến cáo họ là trẻ vị thành niên đầu tiên nên được thử thách hạn chế thôi, và sự thay đổi chỉ diễn ra khi cô gái nhận thấy bố mẹ mình đã giải quyết kỳ vọng của chính họ bằng sự tôn trọng cô đích thực. Nhà trị liệu nói thêm là các đề nghị ban đầu có thể đã làm sự việc vận động quá nhanh và việc chuyển dịch hướng tới thay đổi chậm hơn sẽ khiến mọi người chịu đựng được, ngay cả nếu thời gian kéo dài ra. Rồi ông đề nghị bố mẹ dùng thời gian phạt ‘time-out’ trong phòng với việc đầu tiên chơi điện tử chỉ mỗi 30 phút thôi, rồi tuần tự tăng thời gian phạt nếu vi phạm.

Gia đình trở lại trị liệu hai tuần sau với thổ lộ là đã có tiến bộ đáng kể. Hai ngày sau chế độ phạt 30 phút, họ quyết định muốn cải thiện nhanh hơn lên và đã giữ con gái trong phòng hết cả buổi chiều bởi vì cô gái không làm xong bài tập. Mặc cho cô gái đập cửa thình thịch khoảng hai giờ đồng hồ, họ cũng không xiêu lòng. Họ quan tâm chút ít khi cô gái im tiếng, đã kiểm tra và thấy cô gái ngủ với hơi thở không quá nặng nhọc. Đêm kế tiếp họ dọa phạt cô gái tương tự, và bài tập đã được làm đầy đủ trong một tiếng đồng hồ.

… Một số độc giả có thể thắc mắc sao nhà trị liệu ban đầu nói chuyện rất ít với cô gái nhỏ. Điều ấy là cố ý. Nhà trị liệu quan niệm trẻ vị thành niên đang có quá nhiều quyền lực, và do đó, không muốn đưa cô bé vào trong các quyết định cho đến bố mẹ cô thiết lập uy quyền. Với một số tiến bộ tạo ra, nhà trị liệu tập trung quan tâm nhiều hơn vào cô gái. Ông hỏi cô gái mô tả về điều tự do mới mẻ nào cô ưa thích, khi cô gái cho thấy mình đang ngày càng tỏ ra có trách nhiệm.

Tóm lại, kháng cự là phản ứng tự nhiên và dễ đoán định trước đổi thay. Vượt qua sự kháng cự thay đổi đòi hỏi trình tự tìm ra các cách thức mới nhằm đạt được các nhu cầu căn cốt, trong khi lảng tránh các vấn đề tồn đọng. Sự tôn trọng của nhà trị liệu với tiến trình này là một hợp phần hết sức thiết yếu.

Trải nghiệm tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh

Có rất nhiều lợi lạc lâu dài định hình được khi làm việc với tiến trình khởi phát cá nhân và sự triển nở tâm linh.

Trước hết, không tránh né bất kỳ điều gì. Hôm nọ, một nữ sinh viên hỏi tôi liệu sau tất cả những thực hành tâm linh rồi xử lý rốt ráo chuyện chuyển hóa thì đâu là thứ mình nên né tránh? Hồi đáp đã chia sẻ là không nhất thiết phải tránh né điều chi; một phần mình mong muốn trở thành, song cũng sẽ có phần khôn ngoan hơn ta cảm thấy lôi cuốn bản thân tới việc sống trong sự thật toàn thể, và đó là hành trình tâm linh.

Chúng ta học hỏi rằng mình lớn lao hơn các khó khăn, phiền muộn đang phải gánh chịu. Khi chúng khởi lên, chúng ta có thể đương đầu giải quyết chúng; không phải vì chúng ta đang hành hạ bản thân và muốn làm các thánh tử vì đạo, mà vì chúng ta biết rõ, khi giải quyết một cách trực tiếp, phương thức hiệu quả nhất thông qua nỗi khổ niềm đau. Chẳng hạn, ai đó sẽ thích làm vài ly, gầy độ nhậu nhằm gắng tránh đối diện với một vấn đề; cơ mà, lúc nào đấy họ sẽ say mèm và rồi lần nữa, vấn đề còn đó, thậm chí dễ lớn hơn lên so với nguyên trạng ban sơ.

Kết quả tiến hành công việc này với chính bản thân mình giúp chúng ta bước vào nơi chốn trong lòng tất sẽ ôm choàng thật vui tươi đời sống như nó lộ bày ra, bởi vì chuyến hành trình ấy mang lại cho chúng ta hạnh phúc, bình an, thỏa ý mãn nguyện và quyền lực sâu xa nhất. Chúng ta thôi quá vướng bận để tránh né bất kỳ điều chi thêm nữa.

Vậy sự khác biệt giữa lặng im với yên tĩnh trên tiến trình triển nở tâm linh? Đâu là trải nghiệm riêng có về sự khác biệt ấy? Liệu đúng là giữa hiểu biết với tích hợp này không giống nhau? Vẫn còn có một bước tiến lớn xung quanh lặng im và yên tĩnh?

Tôi tin, không ít người có nhiều trải nghiệm khác biệt về sự im lặng. Như ai đó từng nghĩ mình chỉ thiền tập trong khoảng 10, 15 phút để rồi cuối cùng 3 tiếng đồng hồ đã trôi qua. Hầu hết chúng ta ít rảnh rỗi để thiền tập nên với các trải nghiệm kiểu vậy về sự mở rộng thời gian và vô ngã chắc không thuần túy tạo ấn tượng mạnh mẽ.

Yên tĩnh thì dường như thuộc trạng thái tâm lý hơn là chuyện ngồi xuống và đắm mình lặng lẽ nơi này. Học hỏi để làm lòng mình lắng lại là kỹ năng đáng giá. Mình sẽ phải bắt đầu với khả năng làm bản thân chậm rãi rồi lắng đọng và tĩnh tại nhằm sống cùng những gì đang biểu tỏ trong nội tâm mình. Điều này đưa chúng ta đi sâu hơn vào im lặng. Hiện diện cùng những gì đang là trong từng khoảnh khắc một giúp chúng ta phát hiện rồi làm việc theo cách riêng hướng tới các bản ngã đích thực. Bản ngã đích thực nối kết chúng ta với những gì lớn lao hơn nhiều cái tôi lăng xăng, bé nhỏ.

Một cái nhìn thoáng qua về trạng thái im lặng sâu thẳm là khởi đầu cho lộ trình ổn định hóa trạng thái của ý thức hợp nhất. Sau trải nghiệm thống nhất làm một trong thiền tập, chúng ta có thể học hỏi để đan dệt trải nghiệm nổi trội này vào đời sống thường ngày, trong từng khoảnh khắc. Tuần tự, dần dần sự đan dệt, kết nối bắt chặt đến độ đời sống không còn phả vào chúng ta sự cách ngăn biện biệt nữa mà đó là hơi thở của sự liên hợp; nghĩa là, không còn chia tách giữa chủ thể và đối tượng.

Như thế, khó chối bỏ lợi lạc dài hạn khi làm việc với sự khởi phát cá nhân và tiến trình triển nở tâm linh. Thường, các trải nghiệm của chúng ta không phản ánh theo lối tiến bộ từ A tới B rồi tới C, tức không thật xác đúng với sự tiến bộ tuyến tính; thậm chí, lắm lúc chúng ta dễ nghĩ rằng chẳng điều chi xảy đến cả, dù đích thị đấy là phong cảnh nội tại trong ta đang thay đổi.

Nếu không có thời gian tiến hành đọc sách, đến phòng trị liệu, tham dự các buổi hội thảo phát triển bản thân thì thiền tập cùng các nỗ lực thử nghiệm khác trong tiến trình trở thành cái tôi tốt lành nhất, chúng ta sẽ thành công. Cần lưu ý, lúc này thành công có thể trông không hề chính xác như mình nghĩ, song nếu nó có thể giúp mình bước lùi lại và lưu tâm đến cách đời mình đã thay đổi ra sao thì chúng ta thường dễ nhận ra một sư khác biệt tích cực.

Như một nhà tâm lý trị liệu, tôi nghe đi nghe lại nhiều lần từ các thân chủ rằng họ nghĩ mọi đớn đau, khổ sở của họ sẽ biến mất ngay tắp lự nếu họ thực hiện tất cả mọi điều ‘đúng đắn’. Họ thổ lộ mình từng ghi nhớ các câu nói khẳng định, lên tinh thần, gặp người làm tham vấn tâm lý, đọc sách, áp dụng trị liệu dựa vào cảm xúc cho đời sống vợ chồng (EFT), thiền tập và cầu nguyện đủ kiểu song họ vẫn thấy buồn bã hoặc bị ruồng bỏ không ít lần. Đôi khi, tất cả chúng ta quên rằng, thời điểm ở trong nỗi đớn đau và phiền muộn thì rất khó khăn để nhìn thấy bức tranh rộng lớn hơn. Nhớ rằng, đấy là tiến bộ không hoàn hảo. Khi trưởng thành, cách định hình về nỗi khổ niềm đau (suffering) của chúng ta thay đổi và chín chắn cực kỳ. Chúng ta thực sự cảm thấy nỗi đau về mặt cảm xúc hoàn toàn khác trước. Những gì từng đẩy chúng ta rơi vào trạng thái hoảng sợ, bị kích động hoặc tê liệt thì giờ đây với một hơi thở sâu, mình cảm thấy ổn thôi…

Thân xác, như các cảm xúc, tâm trí và linh hồn, trải nghiệm các hiệu ứng cộng dồn tích cực thêm lên khi chúng ta ngày càng tích hợp, thống nhất. Ký ức thẳm sâu của sự tích hợp đó vào những thời điểm thách thức sẽ cho phép chúng ta bật tung trở lại hết sức nhanh chóng.

Một ví dụ cho việc thân xác lưu giữ các hiệu ứng cộng dồn là khi mình còn bé xíu, mình có thể nhảy múa, hát hò và diễn kịch một cách chuyên nghiệp. Bởi vì mình từng là vũ công, cơ thể đáp ứng để chóng đi vào quyết định cụ thể. Nếu quá bận để đi tập gym thì việc giữ dáng tiến hành được nhờ ký ức biết cách chuyển động và các cơ bắp biết nên như nào… Giờ già rồi, cơ thể có thể khó khăn để tìm các hiệu ứng dĩ vãng theo vài cách thức nào đó; tuy vậy, tuổi càng lớn thì mình nhận dạng cụ thể dễ dàng hơn về mặt cảm xúc và tâm linh. Nói thế, không có nghĩa chúng ta không thi thoảng gặp lắm cảm xúc rắc rối, song rốt ráo chúng ta tích lũy cơ bắp khôn ngoan khi làm việc với nội tâm.

Nếu chúng ta điều chỉnh lối đan dệt, cài đặt cuộc đời để sống đời tâm linh, không ngừng dấn tâm trí theo cùng trạng thái thách thức niềm tin và các hệ thống cảm xúc thì khả thể là chúng ta hẳn có một đời sống cân bằng và hài lòng. Làm ơn biết cho rằng thời gian đáng giá để được chúng ta sử dụng hiệu quả, hữu ích. Việc cộng dồn của thứ lợi lạc dài hạn này càng đem lại cho chúng ta nhiều bình yên, hạnh phúc và mãn nguyện.

Tự trị, một trong các nhu cầu căn bản luôn được khuyến khích khi trợ giúp, thuộc về sự lựa chọn, chưa nói là sự lựa chọn đầy ý nghĩa. Dù chắc chắn người ta thích thú với các màu sắc, hình ảnh, chân dung được tô đậm, tôn cao trong hệ thống cung cấp tin nào đó (facebook chẳng hạn) hoặc các cuộc tập huấn hô hào lên dây cót, song điều quan trọng của bảng màu này xa lắm mới có ý nghĩa bằng sự lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn của mỗi cá nhân cụ thể.

Lựa chọn mang tính ý chí, ước muốn là khả năng đưa ra các quyết định ý nghĩa đối với chính bản thân mình; các quyết định kiểu ‘điều gì quan trọng với tôi?’, ‘giá trị của bản thân tôi là gì?’

Những ‘sứ điệp’ cá nhân thẳm sâu như thế có thể giúp ai đó dấn thân vào trạng thái trải nghiệm lớn lao và kéo dài (tựa việc thay đổi hành vi mang tính lành mạnh). Hiến dâng đời mình với mục tiêu vun bồi các quan hệ phong nhiêu hoặc lên đường khám phá, phiêu lưu có thể dẫn dắt các lưa chọn đúng đắn tức thời, phục vụ cho mục đích chung cuộc rốt ráo. Đó là lý do tại sao, như các huấn luyện viên về sức khỏe, người ta cần quan tâm sâu sắc tới việc làm sao trợ giúp thân chủ vén mở rồi tích hợp các mục tiêu cá nhân.

Đích thị, tất cả những gì các huấn luyện viên có thể làm là hướng dẫn; để chuyện ấy hiệu quả, mục tiêu phải mang tính cá nhân. Các huấn luyện viên có thể đưa cho người ta các công cụ phản ánh các giá trị và tính cách của họ, để tổng hợp những gì họ biết vào một tuyên bố rõ ràng, và lưu giữ mục đích luôn ở vị trí trung tâm trước mặt, song họ không thể tạo ra hoặc sắp đặt mục đích.

Nên thi thoảng thật buồn cười khi nghe ai đó nói về chuyện tạo ‘động lực, thúc đẩy’ ai đó. Một huấn luyện viên giỏi, thiển nghĩ, sẽ ở vai trò tấm gương soi để giúp một người nhận ra động cơ cô ấy/ anh ta đang mang chứa trong lòng.

Đó là nơi ánh sáng của tia lửa bùng lên, nó dễ làm khởi phát tiến trình cá nhân và sự triển nở tâm linh đồng vọng…

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.

Các dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em

Bài này ôn lại một vài dạng thức nhân cách cơ bản ở trẻ em như nhạy cảm quá mức, miệt mài một mình, ngang bướng, hay lơ đễnh, và gây hấn/ xung động.

Theo Greenspan & Salmon (1995), nhân cách một đứa trẻ không chỉ đơn giản là sản phẩm của tự nhiên và nuôi nấng mà còn là sản phẩm do ảnh hưởng qua về không ngừng của bản chất cùng chăm sóc; sự ảnh hưởng ấy xảy đến giữa trẻ và bố mẹ chúng. Tỷ dụ, bố mẹ nuôi dưỡng con với sự nồng ấm và yêu thương thì một mẫu hình tương tác mới sẽ được tạo ra. Dạng thức quan hệ mới mẻ này giúp trẻ phát triển sự nồng ấm và tự tin mà chúng cần.

Khí chất đứa trẻ (tự nhiên) được xem là những gì vốn vậy khi bé ra đời. Nếu một đứa trẻ tính tình khó chịu, chúng có thể đương đầu với nhiều thách thức ghê gớm trong đời. Các trẻ kiểu thế thường ngủ ít, quen đòi hỏi và thích gây gổ. Dù khí chất trẻ có thể lưu giữ cùng trẻ ở một phạm vi nào đó và định dạng nhân cách, điều ấy dễ bị biến đổi lớn lao bởi cách thức chúng được yêu thương (nuôi dưỡng). Chẳng hạn, nếu trẻ lớn lên trong một môi trường mang tính nâng niu, bồi bổ và có khả năng biểu đạt các cảm xúc bất kể buồn vui thế nào, trẻ thường bước đi trên con đường bằng phẳng hơn so với đứa sống trong môi trường đầy áp lực căng thẳng hoặc bị bỏ rơi (Cooper, 2006).

Hai tác giả Greenspan & Salmon mô tả 5 mẫu hình nhân cách cơ bản và các đặc trưng cảm xúc kèm theo.

Đứa trẻ nhạy cảm quá mức

Trong vài tháng đầu đời, các bé nói chung học cách để bản thân tự điều chỉnh và cảm thấy yên ả. Chúng thường duy trì mối quan tâm và hoạt bát, song đứa nhạy cảm quá mức thì nhận ra mình thật khó khăn để làm chủ các kỹ năng cảm xúc này. Chúng khó khăn với chuyện liên hệ với con người, cảnh trí, âm thanh, mùi vị, và thậm chí ý nghĩ bộ râu tua tủa của bố cọ vào cũng đủ gây phiền muộn. Lớn lên thêm chút, chúng thường đỏi hỏi khắt khe và thích bám níu, đeo dính.

Chúng dễ nổi quạu, hay cau có trước các tình huống mới mẻ và có thể sợ hãi trẻ nào thể hiện tính quyết đoán hơn hẳn chúng, kết quả làm tăng thêm sự xung hấn (thông qua sợ hãi) và chúng không chọn chơi cùng với trẻ khác. Khi trẻ nhạy cảm đến trường học, những nỗi sợ hãi dường như lớn dần khiến chúng càng dễ bị tổn thương với các cảm xúc ngượng ngập và bẽ mặt. Chúng cũng dễ trải qua các huyễn tưởng thấy mình “giỏi nhất” mà thi thoảng làm chúng đầy tâm trạng, cho mình là trung tâm và đòi hỏi khắt khe.

Đứa trẻ miệt mài một mình

Trẻ miệt mài một mình thường có vẻ rất hài lòng với niềm đam mê chơi đùa với các ngón tay hoặc ngủ tít. Sau khi bò quanh, đứa bé thu mình cơ chừng rất hài lòng với vụ chỉ ngồi đó thôi rồi đợi một đồ chơi. Khi biết đi chập chững, thay như thích khám phá tựa trẻ khác, chúng chỉ thích ngồi thật lặng lẽ vậy thôi.

Đứa thu mình thường tự tạo niềm tin và thích thế giới tưởng tượng riêng có hơn là thực tế, do vậy đích thị là thách thức khi chúng trao đổi về các tình huống ở đời như ngày tới trường học diễn ra thế nào. Đôi khi, chúng thích gần gũi với bố mẹ và thường có một, hai người bạn. Chúng dễ từ bỏ ngay khi gặp chuyện rắc rối, buộc phải đương đầu.

Đứa bé ngang bướng

Hay tỏ ra ương ngạnh, tiêu cực và kiểm soát, đứa trẻ ngang bướng phản ứng theo các cách thức phủ định đối với hầu hết tình huống dẫn đến bị mắc kẹt trong bối cảnh “không”. Hành vi ngang bướng của chúng có thể phát triển thành các mẫu hình tiêu cực, dễ biểu lộ ra ở mọi lứa tuổi và mở rộng sang khắp các khía cạnh trong đời. Tầm giai đoạn 2 đến 4 tuổi, các suy tư và ý nghĩ mang tính cảm xúc dễ trở nên cứng nhắc, cố chấp. Trẻ ngang bướng cực thích điều khiển và kiên quyết là chúng đúng về đủ thứ như giờ đi ngủ, áo quần đang mặc và thức ăn ưa dùng.

Đến lúc đi học, chúng dường như càng đông cứng hơn và nhắm vào việc lập kế hoạch cho các việc nhỏ nhặt trong thế giới riêng hơn là chấp nhận toàn bộ. Khi rất sáng dạ và chăm chỉ, chúng có vẻ đặt nhiều kỳ vọng cao với phẩm chất của kẻ tự cho mình hoàn hảo. Chúng quen đối phó với khuynh hướng bị lấn át, áp đảo bằng cách kháng cự với bất kỳ thứ cảm xúc đặt để nào và lảng tránh các tình huống gây thách thức cho bản thân.

Đứa bé hay lơ đễnh

Trẻ gặp khó khăn với việc tập trung chú ý không đáp ứng tốt với điều gì có vẻ phức tạp. Không dễ dàng thiết lập một cuộc nói chuyện với chúng vì trẻ cứ thay đổi chủ để. Trường chú ý của chúng hạn chế khiến trẻ tuân theo sự chỉ dẫn rất giới hạn và việc thiếu khả năng duy trì sự tập trung biến chúng thành kẻ lắng nghe kém cỏi. Trục trặc này tạo cho trẻ nghĩ mình gặp khó khăn trong chuyện biểu đạt bản thân, ví dụ mô tả một ngày hoặc trả lời câu hỏi của thầy, cô giáo.

Trẻ lơ đễnh có vẻ tập trung trong lớp học song thân xác ngồi đó còn tâm trí thì lang thang vô định qua cả một trời ý tưởng, đầy ắp hình ảnh lung linh. Thường, kết quả học tập của chúng sẽ phản ánh trạng thái thiếu vắng kết nối với các hoạt động ở lớp và tính thiếu quả quyết càng khiến chúng bị lờ đi rồi mất hút trong đám đông (Moore, 2000).

Đứa trẻ lơ đễnh, hay chểnh mảng thường có khuynh hướng không gắn kết với suy tư, biểu đạt, sáng tạo, sách vở, câu từ, con người và các cảm xúc của chúng. Những đứa trẻ này thường bị gán nhãn là mắc rối loạn thiếu chú ý (ADD). Trẻ mắc rối loạn ADD dễ có mức độ thấp cả về hình ảnh bản thân lẫn lòng tự trọng khiến chúng trải nghiệm lặp đi lặp lại những thất bại, hiểu nhầm và gán nhãn lung tung ví dụ, bị gọi là kẻ đần độn, đứa ngu xuẩn, lù đù, và lười biếng.

Trẻ hay lơ đễnh, chểnh mảng thế vốn bị xếp vào loại ‘hão huyền, mơ mộng”; chúng rất dễ bị phân tán, mắc các lỗi lầm vô tâm và thường bị ngập trong các tình huống gây phấn khích. Điều này khác với trẻ mắc tăng động giảm chú ý (ADHD) là đứa thi thoảng mới có dịp mộng tưởng mơ màng, sốt ruột, nói nhiều, gặp khó khăn khi ngồi yên và thường bị kích thích bởi các tình huống gây phân tâm. Trẻ hay lơ đễnh đòi hỏi một mức độ lớn về việc tự chấp nhập và kiên nhẫn với bản thân bởi vì sự hụt hẫng chúng dễ dàng bắt gặp. Trong nỗ lực trợ giúp, các trẻ này cần nhắm vào sức mạnh và ưu thế hơn là luôn luôn chỉnh đốn các khiếm khuyết, sai sót của chúng.

Đứa bé gây hấn/ xung động

Những trẻ kiểu thế không ngừng di chuyển, hoặc chạy nhảy hoặc nói năng. Chúng thường nhảy ùm vào các trải nghiệm mới mẻ và lo lắng về hậu quả của các hành động về sau. Ở trường, trẻ hầu như luôn là kẻ gây rắc rối trong lớp, ném sách vở lung tung và lôi kéo những đứa khác vào việc la hét, quậy phá. Chúng dễ cảm thấy hẫng hụt và tức giận, và đấy càng có thể là cớ để cấu véo, đấm thụi, cắn đánh để đạt điều chúng muốn.

Khi trẻ gây hấn/ xung động cảm thấy hụt hẫng, chúng không hề chịu yên mà đấy là nguyên nhân khiến trẻ bộc lộ bằng thể lý nỗ lực muốn thay đổi điều chúng ghét bỏ, chẳng hề ưa thích. Các cảm xúc về tức giận và xung hấn đôi khi không tránh nổi song càng đánh đồng kéo dài các cảm xúc ấy là thân quen và thấu cảm thì trẻ có thể bị thúc đẩy hành động nhiều hơn điều trẻ nghĩ khả thể. Đứa ấy cần nhận ra tất cả cảm xúc tốt xấu của bản thân đủ để các cảm xúc ấy trở thành phần phát triển tự nhiên hướng tới cảm nhận về bản ngã của trẻ.

Trạng thái phát hiện ra cảm nhận về bản ngã giúp trẻ dần tích hợp con người phù hợp hơn với sự nuôi dưỡng, xác quyết và yêu thương. Xung hấn ở trẻ có thể gây mệt mỏi ghê gớm và biến đổi rất lớn lao, do vậy hiểu biết về các lý do cảm xúc và thể lý ẩn bên dưới sự xung hấn, vọng động có thể giúp mình lớn lên và phát triển tố hơn về mặt cảm xúc. Ví dụ, nếu một đứa lớn lên từ một gia đình xung hấn, vọng động cũng như bị bỏ mặc về mặt cảm xúc hoặc bị lạm dụng về thể xác thì có một cơ hội hơn hẳn cho việc trẻ trở nên bạo lực. Một số đặc tính mà trẻ loại này hay thể hiện:

  • Khuynh hướng không quan tâm đến người khác vì không ai ngó ngàng tới chúng.
  • Thiếu khả năng thể hiện, bộc lộ các ước muốn, dự tính và cảm xúc của bản thân,
  • Thiếu khả năng chắp lại để tạo nên các cuộc đàm thoại nội tâm.

Khi trẻ dạng này cảm thấy sự hụt hẫng ở bản thân lớn cao như núi, thay vì biểu đạt cảm xúc, chúng bùng nổ thành hành vi đập phá, xung hấn. Theo Greenspan & Salmon, chúng thường bộc lộ ra thành hành động chứ không cảm nhận, và khi bị thách thức, chúng đáp ứng bằng các hành động bung xung (đánh đập) thay cho việc nhận diện cảm xúc và tiến hành lựa chọn…

Trị liệu Gestalt: trải nghiệm những gì đang diễn ra ở- đây- và- ngay- bây- giờ

Fritz và vợ là Laura Perls phát triển trị liệu Gestalt vào những năm 1940, nhấn mạnh sự chữa lành thông qua nhận ra các ‘khối chặn’ (“blocks”) trải nghiệm toàn thể ‘ở đây và bây giờ’ (Corey, 2004). Nói khác, Gestalt dựa vào giả định rằng chúng ta hiểu biết tốt nhất trong bối cảnh của môi trường; mục tiêu của tham vấn nhóm là cung cấp một bối cảnh thích hợp để các thành viên nâng cao nhận thức về những gì đang trải nghiệm và phẩm chất tương tác với người khác. Hiểu biết từng khoảnh khắc điều đang trải nghiệm đi cùng ý thức ngay lập tức về các ‘khối chặn’ ấy được xem là tự thân việc trị liệu vậy.

Gestalt là hiện sinh do đặt để ở- đây- bây- giờ và ưu tiên đối thoại mang tính hiện sinh. Nhận thức, lựa chọn và trách nhiệm là nền tảng của thực hành trị liệu. Gestalt đặc biệt coi trọng tồn tại như con người trải nghiệm nó và khẳng định năng lực người cho sự trưởng thành và chữa lành thông qua tương tác và thấu triệt liên nhân cách. Cách tiếp cận là hiện tượng luận do nhấn mạnh cách chúng ta nhìn thế giới, cách chúng ta góp phần tạo nên trải nghiệm, và cách chúng ta tổ chức thế giới cũng như thiết lập bản thân. Trị liệu Gestalt còn là cách tiếp cận thực nghiệm, và các thành viên của nhóm dần đi đến nắm bắt những gì và cách họ đang suy tư, cảm xúc và hành động khi tương tác với người khác trong nhóm. Các thành viên được hướng dẫn và khuyến khích làm thử các ứng xử mới như cách tăng cường tự hiểu biết (Yontef, 1995).

Khi thân chủ đạt tới trạng thái ý thức tập trung vào hiện tại đang là và ghi nhận rõ ràng hơn về các giới hạn trong kiểu quan hệ liên nhân cách của mình, sự vụ đầy ý nghĩa còn dang dở sẽ nổi lên. Để sống đầy tràn hơn trong hiện tại, các thân chủ cần định dạng và giải quyết bất kỳ điều gì từ quá khứ quấy nhiễu chức năng đương thời. Nhờ trải nghiệm lại những xung đột dĩ vãng như thể chúng đang diễn ra lúc này, các thân chủ mở rộng tầm nhận thức và đủ khả năng ôm choàng các phần bị chối bỏ và gãy vỡ của chính mình, do đó trở nên hợp nhất và toàn thể.

Quan điểm Gestalt là nhìn những gì đang trải nghiệm quan trọng hơn những diễn giải của nhà trị liệu (Strumpfel & Goldman, 2002). Vì thế, cách tiếp cận của nhà trị liệu nhóm theo Gestalt là không diễn giải; không cố gắng giải thích cho các thành viên tại sao họ lại làm thế, cũng như không biểu đạt ý nghĩa đích thực trong trải nghiệm của các thành viên (Frew, 2008). Các vị điều phối (leaders) nhóm khuyến khích các thành viên khám phá các ý nghĩa của riêng họ.

Các thành viên cũng được khuyến khích thử kiểu hành xử mới, biểu đạt một số chiều kích của nhân cách bị ngủ đông, và kiểm tra các phương thức hành xử khác nhằm mở rộng năng lực đáp ứng với thế giới. Theo Zinker (1978), các thực nghiệm Gestalt móc chặt với đời sống thực tế của các thành viên khi họ tự bộc lộ bản thân trong tình huống và trưởng thành từ bối cảnh sống động của nhóm.

Fritz Perls giới thiệu khái niệm “chỗ ngồi nóng” (hot seat) là một trải nghiệm tự nguyện mang tính trị liệu với một thành viên nào đó trong khi các thành viên còn lại quan sát. Fritz cũng đưa ra kỹ thuật “chiếc ghế trống”.

Nhiều nhà trị liệu sử dụng các kỹ thuật Gestalt kết hợp với các mô hình lý thuyết khác. Trong bối cảnh tham vấn nhóm, các bài tập và các hoạt động, như các huyễn tưởng được dẫn dắt, giữ vai trò hình thành ý thức và tạo nên trải nghiệm ở- đây- bây- giờ. Dùng các kỹ thuật Gestalt đòi hỏi am hiểu kiến thức và kỹ năng áp dụng từng cái. Do các nỗi đau tâm lý có thể tái hiện, gây rắc rối, thậm chí sang chấn khi đào sâu các cảm xúc nên người điều phối còn đòi hỏi phải chuẩn bị tư thế giải quyết các cảm xúc mãnh liệt có thể nảy sinh.

Dưới đây minh họa việc trị liệu Gestalt đặt ai đó vào chiếc ghế trống.

Bích là người phụ nữ trẻ có bố mẹ đã mất nhiều năm trước do tai nạn trên chuyến xe đi nghỉ mát. Bích từng đề cập chuyện này và giờ tiếp tục nói về bố mẹ mình.

Bích: (khóc) Tôi không nghĩ mình biết sắp xếp cuộc đời khi không có họ.

Người điều phối: Bích, cô có muốn thử hoàn thành công việc dang dở này không?

Bích: Tôi không biết cách làm thế nào.

Người điều phối: Cô muốn thử? Tôi có một vài ý tưởng. Cô có muốn chúng tôi giúp cô làm điều này?

Bích: Tôi muốn làm điều gì đó. Tôi không muốn cứ mãi cảm nhận như này mãi.

Người điều phối: Ok, để chuẩn bị vài thứ nhé. (Người điều phối đặt hai cái ghế vào giữa nhóm, đối diện với thành viên Bích; một cái là bà mẹ, một cái là ông bố). Cô muốn nói chuyện với ai trước?

Bích: Mẹ tôi.

Người điều phối: (Thành viên đang nhìn người điều phối. Bà sử dụng đôi tay để thu hút sự chú ý của thành viên vào ‘chiếc ghế bà mẹ’ và nói bằng giọng dịu nhẹ). Cô thích nói gì với mẹ mình nào?

Bích: (Thành viên nhúc nhích, nhìn chăm chú vào chỗ trống nơi chiếc nghế và nước mắt chợt rơi). Con nhớ mẹ lắm. Tại sao mẹ lại bỏ rơi con? Mẹ biết là con cần mẹ mà. Tại sao mẹ phải đi nghỉ mát với bố? Con biết mẹ thực sự không muốn đi chuyến đó. (Giọng thành viện lên cao ở đoạn cuối, cho thấy cảm xúc tức giận).

Người điều phối: Cô đang cảm thấy thế nào?

Bích: Buồn.

Người điều phối: Còn gì khác? (Thành viên chằm chằm nhìn người điều phối, như thể chưa sẵn sàng định dạng cảm xúc bản thân. Giọng người điều phối tuy vẫn dịu dàng song có phần nồng nhiệt hơn). Tôi lưu ý là giọng của cô thay đổi đó, như thể cô đang cảm thấy đôi chút tức giận với mẹ mình vì bỏ rơi cô, vì lên chuyến xe mà bà không muốn đi và hiện không quay trở về nữa?

Bích: (Thổn thức). Làm sao tôi có thể tức giận với mẹ chứ? Mẹ đã chết. (Trong trị liệu Gestalt, thành viên có sự tách ngăn cảm xúc tức giận và chối bỏ chúng).

Người điều phối: (Giọng mềm mại, đoan chắc). Ổn thôi do tức giận với người chúng ta thương yêu. Nếu cô ngồi trên sự tức giận, cô sẽ khó đặt điều này trước mặt mình. (Người điều phối lần nữa dùng cử chỉ để thu hút sự chú ý của thành viên vào chiếc ghế trống).

Bích: (Thổn thức, với giọng vống cao, tức giận). Tại sao mẹ đi? Tại sao mẹ chết và để con bơ vơ một mình? Mẹ biết con khó khăn thế nào để sống mà không có mẹ giúp đỡ!

Người điều phối: (Quét nhanh nhóm, quan sát thấy các thành viên đang rất chú tâm). Cô cần gì từ mẹ mình để bà có thể siêu thoát?

Bích: Tôi muốn biết là mẹ yêu thương tôi và mẹ không muốn để tôi phải trơ trọi một mình trên đời.

Người điều phối: (Điệu bộ hướng tới chiếc ghế trống). Tôi sẽ đề nghị cô ngồi vào kia, chỗ chiếc ghế đó. (Thành viên rời khỏi chiếc ghế đại diện cho mẹ mình). Tôi muốn cô làm mẹ mình. Bà muốn nói điều gì với Bích nào?

Bích: (Đổi ghế, nói với tư cách người mẹ). Mẹ yêu con và mẹ không muốn bỏ rơi con. Đó là một tại nạn mà chúng ta đã không tránh được. Mẹ không cố ý làm điều đó. Mẹ không cố ý bỏ rơi con ở lại một mình.

Người điều phối dãn dắt cuộc ‘đối thoại” giữa Bích và mẹ mình, bảo thành viên chuyển đổi ghế cho đến khi cô nhận ra mẹ cô “đã không làm điều đó với cô” và cảm xúc tức giận với mẹ là không có cơ sở. Trong ví dụ này, người điều phối nhóm dùng chiếc ghế trống để giúp thành viên trình bày các cảm xúc đối với mẹ mình, định vị và phóng thích chúng theo một cách chấp nhận được, và tích hợp nhận thức mới ấy. Khi Bích hoàn thành, người điều phối quay sang cả nhóm.

Người điều phối: Chuyện của Bích có ý nghĩa gì với các bạn?

Dương: Nó khiến tôi xúc động mạnh. Bích, anh chia sẻ với em. Anh đã từng điên tiết với bố anh khi ông nhậu nhẹt suốt và chuyện của em làm anh nhận ra bố mình không muốn mình điên tiết. Câu chuyện này thật mãnh liệt. Tôi có thể nói về nó?

Người điều phối: Hẳn rồi. Để nghe những thành viên khác chia sẻ rồi Dương có thể tiến hành bất kỳ việc gì cần thiết.

Ánh: Tôi vẫn đang tiếp tục hình dung ông nội mình trên chiếc ghế và nghĩ về những điều mình muốn nói với ông.

Có những lúc thành viên đang trị liệu dễ thấy khó khăn để nhập vào ý tưởng nói chuyện với chiếc ghế trống do một số lý do nào đó. Đoạn đối thoại bên dưới, dùng cùng tình huống vừa nêu trên, cho thấy cách người điều phối xử lý tình huống kiểu thế.

Người điều phối: (Sau khi cẩn thận đặt để trạng thái với Bích). Cô muốn nói gì với mẹ mình nào?

Bích: Tôi không biết phải nói điều gì đây.

Người điều phối: (Vẫn chăm chú nhìn vào chiếc ghế trống). Mẹ, con có một vài cảm xúc mà con không thể thoát ra khỏi được. (Hướng về thành viên). Cô thử nói thế xem.

Bích: Mẹ, con có một vài cảm xúc mà con không thể thoát ra khỏi được.

Người điều phối: (Lần nữa, nói với “Mẹ” ở chiếc ghế trống). “Một cảm xúc là… ” Tiến lên!

Bích: Một cảm xúc là.. tức giận. (Bích thổn thức).

Ở đây, người điều phối đã biết cài đặt tình huống trị liệu hết sức đúng đắn và biết thành viên chưa mang mẹ mình vào hiện tại được. Bởi việc thúc đẩy thành viên rất tinh tế, diễn cùng thành viên và sử dụng cách hoàn thành câu, người điều phối giúp thành viên nắm bắt được trải nghiệm… Giá trị của chiếc ghế trống quyền năng đến độ không chỉ mỗi thành viên duy nhất đang “ngồi chỗ nóng” mà hầu hết các thành viên trong nhóm cũng đang suy nghĩ ai đó họ muốn nói ngồi ở chỗ nóng.