Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm (2)

Khi thuốc chống trầm cảm lại là nguyên nhân gây trầm cảm thì tỉnh thức (mindfulness) càng nên được dùng như một liệu pháp để làm giảm các triệu chứng liên quan ở môi trường học đường.

Tiếp theo sự khơi mào cơn tức giận hôm nọ, giờ chúng ta thử xem xét thế hệ trẻ ngày nay có thể học hỏi được gì từ rối loạn khá quen thuộc này.

Tôi muốn theo sát chủ đề vừa nêu bởi mới đây, một cậu bạn trẻ làm trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật bất chợt thổ lộ rằng chắc chàng ta cần uống thuốc trầm cảm mất thôi (antidepressant).

Song trước khi bàn đến thuốc, liệu có ai dám quả quyết là tinh thần lạc quan sẽ phá hủy tất cả chúng ta. Dĩ nhiên, trả lời ngắn gọn một cách nghiêm túc: không.

Chẳng phải chờ đến sáng nay để đọc bài trên NYT; suy nghĩ tích cực, như chỉ trích cho thấy, kế thừa lịch sử dài lâu, đặc biệt ở Hoa Kỳ. Tại sao nó dễ khiến chúng ta phải lòng nhanh chóng quá vậy? Đơn giản vì chúng ta quá hạnh phúc (đất nước của những người bán trà đá vỉa hè cũng thừa tiền sắm Iphone 6) nên vì rứa, cả tin và bị lừa chăng? Tất cả các dạng kiểu ‘khoa học’ (trăm hoa đua nở hội thảo và chuyên đề, khóa học nọ kia) cùng tâm lý học đang không ngừng kể câu chuyện chúng ta háo hức muốn biết tường tận: hạnh phúc là điều tốt lành (hic, dính dáng vào khiến tôi cảm thấy bản thân thật tội lỗi).

Đạo Phật đã thành công dưới thương hiệu ‘tâm lý học tích cực’; theo lối nhìn thế thì lại rất thích hợp với những trào lưu phát triển hiện đại trong đạo Chúa như phái tả Phúc Âm (evangelist) chẳng hạn. Về mặt lịch sử, Công giáo (Christianity) thường được nhìn nhận là thuộc tâm lý cực kỳ tiêu cực, dựa trên việc quy rút cá nhân thành con sâu cái kiến bé nhỏ qua cái nhìn của đức Chúa nên nó dễ được hưởng hồng ân quan phòng che chở của đấng Christ, hoặc sát gần hơn, Nhà Thờ; cơ chừng đạo Chúa hiện đại đa phần từ bỏ các cách thức đun sôi sùng sục và ám ảnh bởi tội lỗi trong quá khứ. Song các dịch vụ happy-clappy của những tân Phúc Âm không hề khởi từ truyền thống cổ đại, chẳng xa hơn hậu Thanh giáo (Puritan) Hoa Kỳ.

Cần biết thêm chút, đạo Phật bảo con người ta chịu trách nhiệm với niềm đau nỗi khổ của chính họ. Tại sao lo lắng về các điều kiện xã hội, nghèo đói, hoặc phân biệt đối xử… Điều này trái ngược với sự nhấn mạnh tới lòng từ bi (compassion) trong đạo Phật hiện đại, dù chúng ta không thể phủ nhận rằng các lực lượng mang tính ái kỷ ‘tôi và hạnh phúc của tôi’ hiện đang tồn còn và đầy quyền năng. Đúng ra, đạo Phật đích thực thì gây ấn tượng về sự cân bằng; vì mỗi tích cực có một tiêu cực…

Hễ khi nào chúng ta lý tưởng hóa hạnh phúc, chúng ta giận ghét một con người buồn bã. Vâng, các bản văn thiền định Phật giáo không những hay trình bày về hạnh phúc mà chúng còn biểu tỏ ‘trầm cảm tâm linh’ (một ví dụ so sánh) khởi lên khi lặng ngắm Pháp (dhamma) diệu kỳ mà người ta chưa từng đạt được.

Với những ai cảm thấy lạc lõng và bơ vơ trong biển cả đầy ắp các khuôn mặt cười, có rất nhiều các bản kinh làm mình phiền muộn để mà giải khuây. Và nghệ thuật đủ sức khiến ta chùng xuống và thoát khỏi các cảm xúc hạnh phúc giả tạo ghê gớm; thời buổi internet ngày nay đâu khó tìm thấy các minh họa về một bài hát quá chừng buồn luôn, một truyện ngắn đau thương, hoặc một bộ phim làm ta khóc ngất… Và nếu chưa xứng, luôn có các chương trình phim kinh dị trên TV với bản tin thời sự ‘cướp- giết- hiếp’ hàng ngày.

… Giờ chính thức chạm tới đề tài thuốc men và sự giải trí.

Để cảm thấy tốt hơn, uống một viên thuốc đi nhé.

Đó đích thị là thứ logic ẩn bên dưới việc dùng thuốc men phục vụ cho việc giải trí, tiêu khiển, đỡ đau đầu; và nó cũng là logic sát đúng với cả y khoa hiện đại.

Điểm khác biệt ở chỗ, nếu một người quyết định ý chí để uống thuốc, hoặc hút điếu, hoặc tiêm gì đó. v.v… để bản thân thấy vui vẻ thì rõ là họ biến mình thành tội đồ hư hỏng đáng bị trừng phạt (?!)… Dĩ nhiên, không phải không có khác biệt nào giữa y khoa và việc dùng thuốc cho mục đích giải trí; chắc chắn có, và chắc chắn ở đó hiện diện vai trò của các chuyên gia sức khỏe. Vấn đề là các điểm khác biệt ấy thuộc phổ dài rộng của việc sử dụng, và tần suất bao gồm các tiền chất giống nhau, rồi chưa nói các cấu trúc hợp pháp đương đại tạo nên cuộc ly dị giả vờ giữa chúng nữa cơ.

Lần nữa, về mặt lịch sử, hầu hết các loại thuốc mang tính giải khuây đều có ứng dụng y khoa theo kèm: thuốc phiện, cần sa, LSD,..; tương tự, nhiều thuốc y khoa theo toa vẫn quen dùng cho mục tiêu thông thường, bất kể được phép hay dùng lậu.

Vấn đề căn cốt hơn: việc tạo tác một thời đại hữu hiệu của uy quyền, thiết chế y khoa kiến lập một thứ văn hóa khiến người ta nồng nhiệt tin tưởng rằng uống thuốc là giải pháp cho vấn đề, và nó dẫn tới vui vẻ, hạnh phúc. Nếu đúng thế, y khoa hiện đại quy về lỗi trực tiếp lẫn gián tiếp: tạo nên quá nhiều thuốc có khả năng gây nghiện và điều kiện hóa về mặt xã hội cho việc kiếm tìm giải pháp nhờ thuốc men.

Đáp ứng hữu lý, cả sức khỏe thể chất lẫn tâm lý, là chuyển khỏi cách tiếp cận lấy thuốc men làm trọng tâm để bước sang cái nhìn tổng thể, toàn diện. Trị liệu cả con người, chứ không chỉ nhắm vào bệnh tật. Cách tiếp cận này đặc biệt thích hợp trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nơi các liệu pháp dựa vào tỉnh thức (mindfulness-based) được chứng thực là mang lại hiệu quả hơn thuốc men trong việc xử lý hàng loạt vấn đề, gồm cả rối loạn trầm cảm.

Vài lưu ý về các ranh giới trong tham vấn tâm lý

Ranh giới là khía cạnh chủ yếu của bất kỳ mối quan hệ hiệu quả nào giữa thân chủ và nhà tham vấn tâm lý. Chúng đặt để cấu trúc mối quan hệ và cung cấp một khung tham chiếu nhất quán cho tiến trình tham vấn. Một vài ranh giới là rõ ràng. Hầu hết nhà tham vấn biết rằng nó là vấn đề thuộc đạo đức, ví dụ, để tham vấn cho người yêu cũ bởi vì mối quan hệ trước đây làm suy giảm tính khách quan và hạ thấp mối quan hệ mang phẩm chất chuyên nghiệp. Thực tế việc phác họa các ranh giới không phải lúc nào cũng rành mạch, sáng tỏ; các tình huống này rơi ra ngoài khuôn mẫu, quy điều đạo đức và nằm trong khoảng vùng mờ xám.

Rồi chẳng hạn, một nhà tham vấn chạm mặt thân chủ ở nơi công cộng (như khách sạn, buổi chiêu đãi, hoặc sàn tập thể hình của địa phương) thì có tán gẫu vui vẻ hay rời bỏ ngay lập tức? Nhà tham vấn và thân chủ cả hai cùng phục vụ chung trường hoặc tham gia trong một ban từ thiện mà không hề làm lệch lạc mối quan hệ trị liệu giữa họ? Liệu nhà tham vấn từng hỗ trợ nhiều năm trời có đảm bảo đúng đạo đức khi tham dự đám cưới của thân chủ? Một nhà tham vấn có thể biểu tỏ bằng một cái ôm đầy lòng trắc ẩn với thân chủ đang quẫn trí sau một phiên trị liệu hết sức đau đớn?

Các câu trả lời, với nhiều nhà tham vấn, phụ thuộc các thuyết phục và nhân cách mang tính lý thuyết cá nhân khi khởi lên mỗi nghịch lý. Các yếu tố khác nhà tham vấn cần xem xét là nhân cách, sự chín chắn trong thấu hiểu và cảm xúc của thân chủ. Đó là lý do tại sao một số nhà tham vấn sẽ uống chén trà với thân chủ trong phiên trị liệu, và một số khác lại không. Một số nhà tham vấn thích treo ảnh gia đình nơi làm việc còn một số khác thì chẳng bao giờ làm thế. Một số nhà tham vấn sẽ tham gia một cuộc gặp tình cờ với thân chủ trong khi một số khác sẽ rời bữa tiệc nhanh nhất lúc thấy thân chủ băng ngang qua phòng.

Với các thân chủ đang đương đầu với các ranh giới mù mờ, câu hỏi phải đặt để quan trọng nhất trong tâm trí là “Liệu điều này có phục vụ cho các mối quan tâm mang tính trị liệu của thân chủ không?”

Các hướng dẫn về ranh giới mang tính đạo đức hành nghề dựa trên những nguyên tắc căn bản của bộ quy điều đạo đức dành cho người thực hành/ tham vấn tâm lý. Từ lâu, Corey (1996) đã tóm tắt ngắn gọn 5 nguyên tắc cốt lõi:

  1. Từ tâm: một nhà tham vấn phải chấp nhận trách nhiệm đề cao những gì là tốt lành cho thân chủ với mong đợi rằng thân chủ sẽ hưởng lợi từ các phiên làm việc.
  2. Không ác ý: “làm điều bất hại”. Nhà tham vấn phải tránh bất cứ lúc nào, hành động gì (thậm chí vô tình) hoặc tình huống ra sao cùng thân chủ mà có thể là nguyên nhân tạo nên mối quan tâm mâu thuẫn.
  3. Tự trị: trách nhiệm đạo đức của nhà tham vấn là khuyến khích thân chủ độc lập trong suy nghĩ và ra quyết định, và ngăn cản tất cả các dạng thức phụ thuộc vào mình ở thân chủ.
  4. Công chính: nhà tham vấn cam kết cung cấp dịch vụ đúng đắn và đàng hoàng với mọi thân chủ mà không phân biệt tuổi tác, giới tính, sắc dân, tộc người,văn hóa, khuyết tật, và địa vị kinh tế- xã hội.
  5. Trung thực: thành thật với thân chủ và nhà tham vấn thiệt tình cam kết vinh danh sự tiến bộ của thân chủ.

Nguyên nhân xáo trộn, rối rắm bởi các ranh giới từng được Corey (1996) mô tả tốt nhất như một biến thiên, trải dài từ việc gỡ thoát hẳn ra (các nguyên tắc chỉ đạo/ ranh giới cố chấp, cứng rắn) cho tới chuyện vướng víu (uyển chuyển đến độ phát tán lung tung) với một vùng xám mù mờ ở giữa mà hiển nhiên gây nhập nhằng và phụ thuộc nhà tham vấn, tình huống và các hoàn cảnh cũng như các nhu cầu không ngừng thay đổi của thân chủ. Để là nhà tham vấn hiệu quả, người ta không thể tách biệt với thân chủ đến mức chẳng thấu cảm nổi. Đó quyết không phải mục tiêu tham vấn và gây phản tác dụng với mối quan hệ trị liệu.

Tuy nhiên, nhà tham vấn không ước muốn thấu cảm đến mức họ ôm hôn thân chủ mỗi khi gặp mặt hoặc chửi rủa thân chủ om sòm trong lúc biểu đạt sự tức giận với nhau. Nhà tham vấn cũng không nên ghé thăm gia đình thân chủ vì tiện đường từ nơi làm việc về nhà, bởi đó là hành vi của một người bạn. Nếu làm thế, ranh giới sẽ bị xâm phạm. Trong tham vấn, các ranh giới nhập nhằng thường dễ khởi lên song nhà tham vấn cần nghiêm ngặt nhận lãnh trách nhiệm xác lập các giới hạn liên quan đến tính bảo mật của thân chủ. Dạng thông tin kiểu ấy đặt để với thỏa thuận được thân chủ tán đồng và là quyền lợi cơ bản của thân chủ.

Dưới đây là minh họa tham khảo.

Trong giai đoạn vẫn tiếp tục làm việc với nhà tham vấn X. hai năm nay, Y. đột ngột phải nhập viện để phẫu thuật khẩn cấp. Nghe giọng Y. quá bấn loạn và lo sợ qua điện thoại, X. hứa mai sẽ đến ngay bệnh viện thăm cô. Y. đau đớn khủng khiếp, và X. ngồi trên chiếc ghế đặt cạnh giường Y. nằm, nắm lấy tay cô khi Y. chìa tay ra… X. hỏi han bệnh tình, an ủi rồi sau khi biết chắc gia đình Y. sắp vào thăm, X. nhanh chóng rời bệnh viện.

Y. biết đây là tình huống ngoại lệ với các phiên tham vấn vẫn quen gặp X. và điều đó sẽ không lặp lại. Việc X. ghé bệnh viện thăm Y. được hiểu đơn giản là nhà tham vấn quan tâm đến sức khỏe của thân chủ, thấy rõ ràng và sâu sắc cơn đau cũng như cảm giác bị khủng hoảng của Y. Vào phiên đầu tiên sau khi Y. xuất viện, X. tranh thủ ít phút nhắc lại cuộc viếng thăm của mình để đoan chắc là Y. hoàn toàn hiểu rõ ý nghĩa của nó đặt trong bối cảnh của mối quan hệ trị liệu.

Một số nhà tham vấn có thể sẽ không ghé bệnh viện thăm Y., họ cho rằng chỉ nên hạn chế mối quan hệ trị liệu trong văn phòng và hành vi của nhà tham vấn khá dễ bị thân chủ hiểu nhầm. Một số nhà tham vấn khác lại tin rằng một quyết định đưa ra thì phải dựa cụ thể vào các tình huống cá nhân cũng như tính đặc thù, riêng biệt trong mỗi mối quan hệ với từng cá nhân thân chủ.

Cách thức chuyên nghiệp mà bản thân X. tiến hành khi ghé bệnh viện thăm thân chủ Y.cho phép X. vận hành cùng với các ranh giới sát hợp lương năng chức trách của nhà tham vấn đàng hoàng. X. không hề có ý định nịnh đầm, chiều chuộng phụ nữ khi ghé bệnh viện thăm Y., hơn thế, X. suy nghĩ thấu đáo về chuyến thăm, cân nhắc các khả năng xảy đến cũng như lợi lạc cho thân chủ. Hành vi của X. thích đáng như người làm việc chuyên nghiệp, trong bối cảnh chuyên nghiệp, đã chẳng tạo ra suy diễn sai lầm rằng chuyến thăm và cả hình ảnh bản thân của mình giống như một người bạn. Rồi, sớm nhất có thể, X. đã trao đổi với thân chủ thật rõ ràng về ý nghĩa chuyến thăm đồng thời cắt bỏ bất kỳ khả năng nào gây nhập nhằng hoặc ám chỉ bóng gió.

Các nhà tham vấn làm việc hữu hiệu nhận ra ngay rằng những cảm xúc mãnh liệt khá dễ khởi lên trong phiên trị liệu và chúng thường thách thức cả các ranh giới cá nhân lẫn chuyên nghiệp của chính nhà tham vấn. Nhà tham vấn nào am hiểu quyền năng tác động của bản thân và mức độ dễ bị thân chủ diễn dịch sai trái thì cũng rất nghiêm túc nắm lấy các ranh giới thuộc tham vấn tâm lý chuyên nghiệp. Họ cũng thận trọng khi lựa chọn thái độ uyển chuyển trong các ranh giới quan hệ và càng không lơ là về khả năng rẽ nhánh, chia luồng khi uyển chuyển cùng thân chủ.

Cài đặt đồng bộ và nâng cấp hệ thống: hiểu biết tốt hơn đời sống tâm lý con người

Nhân loại lại bay trên  cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng...
Nhân loại lại vội bay lên trên cao tốc đa chiều, tàu điện ngầm chở cá heo phát thanh âm huyễn mộng…

Khi cái laptop nồi đồng cối đá T42 IBM bị bánh xe ô tô cán lên làm vỡ màn hình do đặt để bất cẩn, chủ nhân của nó tiếc tiền gắn liền kỷ niệm nên nhanh nhảu nối dây cài cắm với màn hình máy tính bàn vốn tạm thời hỏng hóc ổ cứng… Thói khôn lỏi, sửa chữa vặt vãnh khó đảm bảo ổn thỏa lâu dài, chưa nói sẽ không khỏi mặc cảm tự ti khi so sánh với các dòng đời mới và vô vàn kiểu loại smartphone, Iphone, Ipad truy cập mạng lưới điểm toàn cầu cũng như tích lũy thông tin hết sức hiệu dụng.

Chuyện nọ xọ chuyện kia. Liệu ưu tiên khẩn thiết tìm hiểu có phải là chủ đề nóng hừng hực: tâm trí con người cần được nhận diện và rồi kiểm soát nếu em í bất chợt lêu bêu? Bởi ở mức độ nhất định, khoảng cách làm sáng tỏ cái nhìn nên đừng chú mục sát sườn: tại sao tâm trí người lớn tuổi hơn thường ít có xu hướng lang thang?

Tỷ dụ dễ hiểu rất đời là câu chuyện phân tách tính dục (sexuality) với tư tưởng dâm dục (eroticism) khá tương tự như khác biệt giữa con vật và loài người:

Động vật có sex và điều đó tự nhiên, nó là thôi thúc căn bản, thuộc bản năng, mang yếu tố sinh đẻ. Con người có đời sống dâm dục. Chúng ta thay hình biến dạng tính dục. Chúng ta xã hội hóa tính dục thông qua trí tưởng tượng. Và tác nhân cốt lõi của hành động dâm dục là sự sáng tạo, trí tưởng tượng, hoặc khả năng làm mới lại, khả năng hưởng thụ và đoán biết trước… Chúng ta có thể mường tượng hành động mà cóc nhất thiết đích thị tiến hành nó. Và đấy là sự vun bồi tự thân nỗi niềm khoái lạc.

Tư tưởng dâm dục thế, theo nữ tâm lý gia lừng danh Esther Perel, hàm ý xem sex như một trải nghiệm rung động mãnh liệt và siêu việt. Perel gọi đó là “nơi mình đi vào trong chính lòng mình cùng với kẻ khác”. Nhiên liệu cho cuộc du hành siêu việt này là sự sáng tạo riêng có của cá nhân. Và xuyên qua sự thăm dò trí dâm dục khiến các huyễn tưởng dậy lên. Các ranh giới mở rộng ra và nhiều thực tế mới mẻ được rèn giũa. Do vậy, tiêu điểm của tư tưởng dâm dục và trí thông minh gợi tình không phải ‘quan hệ” mà mang “ý nghĩa của sex”. Siêu việt là bởi thế. Perel cũng chỉ ra tính cách tân như điểm quan trọng khác giữa sex/ erotics: không phải là các vị trí hoang dại mà hơn thế là điều mình như người tham gia đem theo vào trải nghiệm: cảm xúc, sức quyến rũ, độ đam mê, tinh thần. Sự nối kết giữa sự mới mẻ và tính sáng tạo là điều bắt buộc để duy trì một mối quan hệ lành mạnh…

Dẫn chứng cách nhìn trên càng dễ chứng nhận sự thật rằng ngày nay, làm việc hoặc nói chuyện với người trong lĩnh vực kinh doanh, giáo dục, chính trị, văn hóa, xã hội… gì gì thảy đều hay được đề nghị đưa ra một mô hình hoặc tập hợp các công thức khoa học có thể ‘giải quyết’ các vấn đề hành vi giúp họ. Dẫu hiện có nhiều mô hình về cách con người ứng xử, sự tạo thành thói quen, và nhận thức khả dĩ giúp chúng ta thấy hiểu bản chất chính mình thì bất kỳ mô hình nào, theo định nghĩa, đều là việc đơn giản hóa thế giới đích thị đang là. Các mô hình tâm trí cũng cụ thể hóa hiểu biết của chúng ta ở một thời điểm nhất định. Hàng ngày, nảy nở nghiên cứu thêm và cập nhật hiểu biết về phương thức tâm trí hoạt động. Trong khi các phát hiện này phản hồi với các mô hình đang tồn tại, chúng thường đứng ngoài rìa của những khám phá kinh điển được dạy trong sách giáo khoa và các cuốn khoa học phổ thông trong một thời gian dài.

Và quả đúng là chúng ta mê những giải thích thật giản dị và chặt chẽ về các hiện tượng phức tạp. Chúng ta thích biết bao nhiêu việc trải nghiệm đời thường có thể được làm rõ ràng, minh bạch nhờ các khung lý thuyết đơn giản. Lợi lạc lớn lao việc bình dân hóa khoa học và nhờ hiểu biết các tiến trình tâm thần từng khiến chúng ta khốn khổ. Song khá nực cười để nhìn nhận bất kỳ mô hình đơn lẻ nào như nền tảng cơ bản cho hoạt động kinh doanh, marketing, hoặc quyết định sự vụ ở đời. Một mô hình có thể là khung tham chiếu có tính khai sáng đi nữa thì nó không thể hồi quang rộng khắp sự phức tạp của tâm trí.

Đó là lý do tại sao nếu mình nghiêm túc muốn làm ăn tốt đẹp và tạo lập những quyết định sống đúng đắn thì mình nên ưu tiên nghiên cứu các khoa học hành vi liên tục và suốt đời. Mình cần cập nhật thật nhất quán và tái xác lập yếu tố các viễn tượng chúng đưa ra nhằm tự bảo vệ bản thân chống lại các mô hình lỗi thời vốn gây lầm lạc hơn là làm rành mạch.

Nói khác, khởi từ bây giờ, mình nên tháo gỡ các mô hình không chính xác đã mang theo suốt từ bấy đến nay. Mỗi chúng ta có cả lố tâm lý cổ truyền chuyển giao bởi nền văn hóa, thông qua bố mẹ, và cách giáo dục thừa hưởng. Có thể nhiều ý tưởng trong đó hãy còn nhất quán với nghiên cứu đương đại, song đa phần thì không.

Chẳng hạn, hầu hết mọi người nghĩ rằng chúng ta hành động dựa trên ‘niềm tin”. Tuy thế, các nghiên cứu chứng thực, chúng ta tạo các quyết định phụ thuộc nhiều yếu tố lắm, như sự dễ chịu và việc sắp đặt (ở tiệm tạp hóa chẳng hạn), rồi đi tới tìm ra những hợp lý hóa hậu thuẫn cho những lựa chọn ấy. Nghĩa là, chúng ta không luôn luôn mua thứ gì vì thích, chúng ta thích thứ gì vì mình mua nó. Chúng ta vốn siêu trong vụ kể chuyện theo dạng biện hộ thế.

Nhiều người chúng ta đầy ứ các quan niệm sai lầm kiểu vậy. Song chúng ta khó tránh được. Nghệ thuật sử dụng khoa học hành vi không phải là điều trọng tâm trong nền giáo dục của chúng ta.  Chúng ta nên bắt đầu làm quen với việc tạo lập và tái xây dựng lại hiểu biết của chúng ta về hành vi và nhận thức con người nhờ kiểm tra, xem xét nghiên cứu mới nhất khi nó được công bố. Vẻ đẹp của cách tiếp cận gộp lãi thêm lên này là nó sẽ làm thay đổi lối chúng ta nghĩ về các vấn đề, bạn bè, và đời sống chúng ta khi chúng tiến triển, biến hóa. Tựa như chuyện nâng cấp hệ điều hành để ngày càng sát hợp hơn với thực tế. Đó là một trong những điều quan trọng chúng ta có thể tiến hành, và là cách chắn chắn đảm bảo áp dụng hết sức chính xác tâm lý học vào đời sống của mỗi chúng ta.

Cũng nên biết, mặc dù chán ngán do đánh giá quá cao động cơ song nghiên cứu của các nhà tâm lý học cũng vẫn đang đuổi theo hạnh phúc. Và bản chất con người đang tiến triển trong đáp ứng với những cách tân của công nghệ, chẳng hạn tác động của công nghệ điện thoại di động đến động năng trò chuyện hàng ngày.

Chắc chắn, vẫn còn để ngỏ gợi hứng về cách thức tâm trí hoạt động. Cần tìm biết bộ não đã tạo ra thế giới tâm thần chúng ta như thế nào, chúng sẽ chỉ ta hay cách từ vựng cơ bản của tâm lý học hiện đại về trí thông minh, hành vi, thái độ, động cơ, v.v… không phải cứ thuộc kiểu dạng bản chất mãi mãi như thế mà được cấu trúc, phân loại dựa vào mục tiêu đặc thù ở các thời điểm trong lịch sử; nhiều mục tiêu cũ mèm giờ không phục vụ được cho nhu cầu hiện tại nữa và dần gây trở ngại cho tiến bộ tương lai…

Ngược dòng thời gian đặng trầm ngâm cùng tác phẩm hiếm thấy và ít khi được thông tỏ của B.F. Skinner. Đối lập với một số diễn dịch sai trái về vị trí của ông, Skinner không những chưa từng bao giờ ngờ vực rằng chúng ta có thể mô tả các trạng thái nội tâm như suy tư hoặc cảm xúc mà còn tự hỏi cách thức chúng ta làm thế nào để tiến hành chuyện đó; câu trả lời của ông gây ngạc nhiên, tương thích với thực hành tâm lý trị liệu, và là một thách thức đối với những ai giả định chúng ta có thể biết các cảm xúc bản thân chỉ nhờ tiến trình đơn giản của việc tự nội quan.

… Tác giả Gay Watson (2008) khuyến cáo chúng ta tích hợp các cách tiếp cận thân thể và tâm trí với nhau , vẽ ra những tiếp cận dự liệu trước từ phương Đông; và như cuốn sách trình bày, các lý thuyết và mô hình tâm lý, tâm lý trị liệu có thể tìm được vết ở nhiều biến thể của tâm lý học Phật giáo 2500 năm rồi.

Điều này gợi nhắc tới tác phẩm kinh điển thể hiện các nguyên tắc của tâm lý học đồng thời nó cũng minh họa đặc sắc cho lối viết, khả năng dự báo và tuệ giác của William James từ 1890.

Như cái chết của tâm trí, các công ty internet ngày nay đang sử dụng các dữ liệu cực lớn tích lũy từ từng hành vi nhỏ nhặt của người dùng mạng để gây ảnh hưởng tới lựa chọn của khách hàng. Các lý thuyết và tư tưởng tâm lý học về cách thức tâm trí hoạt động đóng vai trò rất nhỏ bé nếu không nói là nó vắng bóng trong các mô hình được đề cập trong bài báo vốn dựa hoàn toàn vào các mô hình từ toán học.

Phê bình khá công bằng, so sánh với ngành sinh học không ngừng tiến hành các nghiên cứu nhằm chỉ cố gắng mô tả các giống loài mới, tự thân tâm lý học có vẻ cũng đang thu hẹp tâm trí của chính nó, vì sự mù quáng do sở thích dùng các phương pháp thực nghiệm trong khi hạ thấp tầm quan trọng của việc nắm bắt các hiện tượng mới mẻ và thú vị của đời sống con người.

Những biểu hiện khó ngờ của trạng thái trầm cảm

Bạn có từng bao giờ lưu ý rằng sự tức giận chính là thành phần của trầm cảm?

Nhiều người chúng ta trải nghiệm trầm cảm ở một vài mức độ nọ kia. Chúng ta cảm thấy khó chịu và đôi lúc các cảm xúc vặn thắt thường kèm theo uất kết, kiểu tuyệt vọng và chán chường, hụt hẫng rồi rối rắm. Mình có thể lưu ý tới các triệu chứng khác của trầm cảm như thiếu sinh khí và động cơ, ngủ li bì, thôi hứng thú háo hức với những hoạt động vốn rất ưa thích. Cảm giác khoái sướng giảm sút thấy rõ và mình dễ nảy sinh trạng thái mắc kẹt và cảm giác tức giận, thậm chí cả khi chúng đúng là không phải thế đâu. Diễn giải lầm lạc về sự tức giận có thể làm trầm cảm thêm phần chịu đựng nặng nề hơn.

Tức giận thuộc phần tự nhiên trong hệ thống bảo vệ. Khi cảm thấy bị đe dọa, chúng ta thường có xu hướng chống lại, bỏ chạy, hoặc tê cứng. Khi tức giận thành một phương thức để bảo vệ chúng ta khỏi bị tổn thương thêm với các cảm xúc như là buồn đau, tội lỗi, tổn hại, hoặc sợ hãi thì trầm cảm sẽ tự hiện diện ở bề ngoài dưới hình tướng tức giận trong khi các cảm xúc mềm yếu hơn khởi động trò diễn bên dưới. Tức giận cũng lộ ra với nhiều dạng thức từ thiếu kiên nhẫn, buồn chán hoặc cường điệu khắp lên để cảm thấy điên cuồng hoặc sôi máu. Một số người bày tỏ tức giận thông qua việc đóng sập, người khác giàn giụa nước mắt, và ai đó thì dễ nhảy ùm ngay vào liền để giáp mặt, chạm trán luôn.Tất cả các biểu hiện ấy có thể thuộc về trầm cảm.

Tức giận có thể phá hủy như nào phụ thuộc vào mức độ và phản ứng đối với cảm xúc. Nếu mình giữ tức giận trong lòng, mình dễ trải nghiệm sự lạm dụng bản thân hơn hoặc các biểu hiện thể lý về sự tức giận. Nếu bùng phát ra ngoài, quăng ném tức giận vào những người khác, e các hậu quả tiêu cực càng tăng thêm. Chúng ta có thể dính dáng tới pháp luật, mất việc làm hoặc tàn phá quan hệ thiết yếu. Khi chúng ta văng khùng hoặc nổi điên không kiểm soát, chúng ta tạo ra sự hư mòn quá đáng và làm đổ vỡ các mối quan hệ; việc biểu đạt thụ động sự tức giận cũng gây nên tổn thất lớn.

Làm thế nào bắt đầu giải quyết cơn tức giận khi mình nhận ra tác động ghê gớm với đời sống đây? Các chương trình quản lý cơn giận, ví dụ, có thể đem lại phương thức tốt để bắt đầu vén lộ các vấn đề. Nhiều chương trình ngắn hơn có thể giúp khám phá về tức giận, tức khám phá nguồn nhiên liệu nuôi dưỡng tức giận. Cần tự hỏi mình, các cảm xúc nào đi cùng với sự tức giận? Điều gì xảy ra trong quá khứ tiếp nhiên liệu cho các cảm xúc này? Ở đâu chúng ta đang lạm dụng cơn giận thái quá thay cho biểu đạt các cảm xúc sâu xa hơn ẩn bên dưới?

Khi khởi sự khám phá tất cả các cơ chế nội tại, chúng ta học cách chịu đựng các cảm xúc riêng tư. Chịu đựng không giống với việc đè nén hoăc ấn tống xuống đáy; đó là đáp ứng hơn phản ứng, cùng cuộc đời. Khi cảm thấy cơn giận kịp thời, chúng ta có thể sàng giần thông qua mắc lưới cảm xúc rồi dễ dàng định dạng các cảm xúc bên dưới. Chúng ta có thể hiểu tiến trình cảm xúc, và truyền thông thật hiệu quả các nhu cầu bản thân.

Khi học hỏi để chịu đựng các cảm xúc, chúng ta có thể tự vấn bản thân vài ba câu hỏi:

  1. Cảm xúc nào đang ẩn dưới cơn giận hoặc sự thịnh nộ ngay lúc này?
  2.  Những gì tôi không muốn cảm thấy?
  3. Cơn giận này đang chuyển tải gì đến tôi đây?
  4. Có điều gì tôi cần cảm nhận, hành động, hay bỏ mặc nó rời đi?
  5. Có phải cơn giận đang gắng khôn ngoan bảo cho tôi biết về cuộc sống hoặc một tình huống?

Nhờ xúc tiến tìm hiểu và chú tâm nhìn vào bên trong, chúng ta có thể hạn chế, giảm bớt các phản ứng tức giận thông qua học hỏi về việc biểu đạt phù hợp nỗi niềm bất mãn, biết rõ những gì đang diễn ra trong lòng mình. Thấu hiểu sâu sắc bản thân không chỉ hạ thấp cơn giận và khiến đỡ khuây hẳn vì trầm cảm, nó còn đem tới cho chúng ta một sự phong nhiêu tốt lành mà bấy lâu có thể mình chưa từng phát hiện ra. Khi tiếp tục triển nở, học hỏi rồi thực hành các kỹ năng mới, chúng ta tạo nên ngày càng nhiều bình yên và sự thỏa mãn tràn đầy trong các mối quan hệ, giao dịch. Chúng ta trở nên con người hạnh phúc hơn, yên lặng, vững vàng và kết nối thân thiết cùng mọi người.

(còn tiếp)

Vì sao em khóc?

Mặt đào phớt trắng hồng, lòng bềnh bồng xanh trong, giời ươn ướt lặng nồng, đất dâng tình mênh mông.

Vâng, bài này tuyệt không định đùa bỡn nhằm cốt minh họa câu chuyện rằng trông thấy một cô gái (có thể chàng trai) đang ứa lệ thổn thức nên Bụt động lòng hiện lên hỏi “vì sao con khóc?”

Một cách nghiêm túc, tôi nghĩ đặt câu hỏi mang tính tu từ thế là đã sai rồi. Bởi vì ai dám chắc chắn khóc đích thị sẽ làm ta cảm thấy tốt hơn?

Theo đó, khóc đa phần không đem lại nhiều lợi lạc tích cực cho lắm, chí ít không mấy tí với tâm trạng trong ngày. Không chỉ các giai đoạn khóc lóc thường tiền triệu trước 2 ngày mang tâm trạng xuống tinh thần rồi, chúng còn liên quan với tâm trạng xuống thấp vào ngày đổ lệ và tâm trạng xuống tinh thần  liên tục vào hai ngày sau đó. Vì tâm trạng thế sau những lúc đầm đìa nước mắt nên kết quả càng tăng cường thêm; thường tâm trạng chẳng mấy thay đổi (60,8%)…

Trước khi giới thiệu tiếp các nghiên cứu tìm hiểu về cái sự khóc, cần nói ngay rằng bản thân tôi phát ứa lệ bất thần thảng thốt khi chợt đọc thấy dòng chữ diễn giải gợi tò mò khẳng định khoa học thần kinh ủng hộ ý tưởng phân tâm học của Freud ra sao:

Phát hiện của Carhart-Harris cùng cộng sự về sự kích hoạt vùng Cg25 thuộc hồi liên hợp khứu- hải mã (cingulate gyrus) ở não bộ người mắc trầm cảm nặng nhất quán với ý tưởng trừng phạt kinh khủng cái siêu tôi (supeego) ở trạng thái tách biệt trong quan hệ liên nhân cách nhằm cố sức ngăn chặn sự đổ tràn các xung năng theo mô thức Panksep đầy hoảng sợ và thù hận khỏi được ý thức.

Nhân tiện, trong cuốn sách xuất bản năm 2014, nhà vật lý lý thuyết Michio Kaku chú tâm tìm hiểu cách thức khoa học khám phá ý thức, và ông cho rằng Freud không hoàn toàn sai. Không những ông tổ Phân tâm học đã đúng về hoạt động vô thức, Kaku còn nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dùng các kỹ thuật quét não để định hình thành phần não bộ tương ứng với cái tôi (ego), cái ấy (id) và cái siêu tôi (superego):

Cái tôi cơ bản thuộc vỏ não thùy trán trước trước (prefrontal cortex). Đó là nơi mình trú ngụ. Bất luận khi bạn tự hỏi mình đang ở đâu đây. Wow, đấy đúng nơi bạn đang là. Và rồi các ao ước của bạn. Chúng ta nhìn thấy trung tâm khoái lạc hiện diện ngay trung tâm não bộ. Đó là libido. Chúng ta biết địa điểm của trung tâm khoái lạc. Còn ý thức thì nằm ngay đằng sau đôi mắt bạn đó. Vỏ trán hốc mắt (orbital frontal cortex) ngay sau đôi mắt là nơi ý thức thuộc về. Và vì thế, chúng ta thực sự nhìn điều đó chuyển động.

Không rõ đáng khóc òa hay cười xòa khi khoa học cũng đã kịp tìm ra các bằng chứng mang tính hệ thống về sự giả vờ nhỏ lệ của đứa bé con. Nhiều bố mẹ nhận thấy con mình giả vờ khóc để thu hút sự chú ý, song người ta nghi ngờ liệu mới tí tuổi đầu đã biết lừa dối rồi ư. Nghiên cứu của Nakayama cho thấy không nên ấn tượng xấu về chuyện khóc vờ ở trẻ bé tí, bởi cá nhân tương tác kiểu đó rất tốt cho sự phát triển về mặt xã hội cũng như cảm xúc; trẻ có khả năng khóc vờ dễ giao tiếp không ngừng với người nuôi dưỡng theo cách này hàng ngày; khóc vờ làm tăng thêm gắn bó trong quan hệ. Ngoài ra, nghiên cứu của Nakayama còn thấy hầu hết thời gian bé khóc là do tác động tiêu cực diễn tiến; ảnh hưởng tích cực chỉ quay lại tuần tự với việc tiếp xúc thể lý với người chăm sóc, hoặc kết nối với tiếp xúc thân thể và mắt.

Má ơi, giờ thì đến lượt tôi im bặt, tắt tiếng ca luôn bởi thông tin rằng nhà trị liệu già và nhiều trải nghiệm cũng hay dễ khóc hơn khi làm việc.

Khóc vì sầu muộn, khóc do sung sướng. Thế rốt cuộc khóc đang đem lại gì cho cá nhân ta đây? Giống với nghiên cứu đã tiến hành, người thường rối nhiễu tâm căn, hướng ngoại thái quá và/ hoặc thấu cảm hay khóc nhiều hơn và dễ dàng hơn; đáng ngạc nhiên, những ai mắc trầm cảm, lo âu… lại ít liên quan tần suất hoặc sự dễ dàng để khóc. Trạng thái sức khỏe tâm thần chứ không phải các nét tính cách mới liên quan với cách thức người ta cảm nhận việc khóc; trong khi chủ yếu người tham gia (88,8%) thổ lộ khóc khiến họ khuây khỏa, bớt căng thẳng thì số ít, nhất là người mắc trầm cảm, lo âu, mất khoái cảm (anhedonia), và mù cảm xúc (alexithymia) cho biết họ cảm thấy tồi tệ hoặc cũng rứa thôi khi nhỏ lệ.

Rõ ràng, cần nhiều nghiên cứu để lý giải không phải khóc luôn làm tất thảy thiên hạ cảm thấy được an ủi, khuây khỏa. E chừng, về mặt cảm xúc, khóc thường phản ánh ‘ánh đèn thân nhiệt’. Khi sống dưới quá nhiều áp lực cảm xúc, xã hội, và cá nhân do công việc, gia đình, tiền bạc, quan hệ, v.v… chúng ta bị căng thẳng về mặt cảm xúc và thấy nóng liên miên. Tựa như ô tô, không cần nhiều để khởi sự việc khóc. Những mê hoặc khóc lóc với tần suất lớn và không kiểm soát nổi là các khuyến cáo và chỉ báo stress cao độ. Giống như đèn tín hiệu ô tô, mức độ khóc nói rằng mình đang bị cảm xúc chi phối do áp lực stress khủng khiếp. Và tựa ô tô, chúng ta cần làm mát…

Vậy xử lý sao khi khóc mãi không kiềm chế nổi?

Trước hết, cần biết rằng nhạy cảm là quà tặng. Giới tâm lý học thường nhìn mọi thứ dựa theo một thang đo và nếu thế, mình ở tót cao của ngưỡng quen thuộc; tuy thế, khả năng cảm xúc bị kiểm soát quá mức hoặc kiểm soát kém. Khi thêm vào các triệu chứng lo âu và buồn bã thì chúng ta rơi khỏi ranh giới thông thường của sự nhạy cảm.

Đây là cách hay để nghĩ về tình huống trên. Nếu mình thường vốn thế và hành vi hiện tại tương tự xảy đến nhiều năm rồi thì đấy nên được xem là thuộc tính cách. Nếu các cảm xúc mình mới xuất hiện hoặc khó kiểm soát gần đây thôi thì mình dễ đang trải nghiệm stress hoặc trầm cảm ghê gớm trong đời. Ý tưởng ‘không kiểm soát’ hàm ý như thể mình không kiểm soát được đáp ứng về mặt cảm xúc. Chúng ta thường thấy điều này khi trầm cảm, trạng thái sẽ đi kèm với các vấn đề mất ngủ, ăn uống không ngon miệng, mất năng lượng/ động cơ, thu mình ngại giao tiếp, và tâm trí mãi dính bám với quá khứ. Trầm cảm khiến nảy sinh suy tư, hình dung và huyễn tưởng u uẩn…

Thế đang cười rồi chuyển sang khóc òa thì như nào?

Nhiều người chối bỏ hoặc tránh né các cảm xúc không kiểm soát được– vô thức hoặc ý thức. Người ta dùng đủ kiểu chiến lược khác nhau để lờ đi các cảm xúc gây đau đớn, từ việc bị quấy nhiễu do công việc, lạm dụng chất, cho tới việc khước từ thẳng thừng luôn. Điều quan trọng nên nhớ là khi mình bị chèn ứ cảm xúc, chúng không thoát ra được; chúng có thể lặn xuống đáy sâu cả thời gian dài rồi đột ngột trồi lên bề mặt.

Dốc ngược cảm xúc có thể biểu hiện dưới dạng thức của cơn sợ bị tấn công, hoặc chúng có thể thuộc về chuyện quá bất ngờ, nhất là khi mình đang sung sướng, ngất ngây. Có thể khi mình cho phép một cảm xúc trồi lên bề mặt, ngay cả đấy là cảm xúc hạnh phúc tích cực và cười đùa vui vẻ thì đồng thời mình cũng mở toang cho các cơn lũ cảm xúc ùa ra ào ào.

Cách tốt nhất để xử lý tình tình huống này là có cái nhìn thành thật với những gì có thể đang ứ tràn. Có trải nghiệm đau đớn nào trước đây mình chưa xử lý? Có thể đây là dịp tiếp cận với nguồn gây cảm xúc đau đớn, nhất là khi mình đã dốc ngược vào trong lòng các cảm xúc một thời gian dài. Sẽ hữu ích để khởi sự làm bảng kiểm hàng ngày tự theo dõi về các trải nghiệm cảm xúc; tiến hành xem xem bản thân bao nhiêu lần mỗi ngày nhận ra các cảm xúc hiển thị. Hãy thành thật. Thử gọi tên, gán nhãn với cảm xúc đang hiện diện. Nhớ rằng chúng ta mỗi lần thường có nhiều hơn một cảm xúc. Đấy là cách bắt đầu khơi lên cái tôi cảm xúc và nâng cao khả năng tự ý thức.

… Nguồn cơn của việc khóc khi nói lời chào tạm biệt là ‘ký ức cảm xúc’. Não bộ lưu giữ các chi tiết trải nghiệm và cảm xúc kinh qua cùng lúc. Khi một ký ức cảm xúc được tạo ra, bất kỳ sự kiện tương tự nào cũng có thể là cớ đào bới, khai quật và khiến hồi tưởng ký ức và các cảm xúc từ xa xưa. Bằng thái độ hoặc thói quen hành xử kỳ cục, não bộ phản ứng đầy cảm xúc với những gì chúng ta tưởng tượng cũng như những gì mình suy tư quyết định điều mình cảm nhận.

Có thể lý giải việc đôi khi trong quá khứ mình từng trải nghiệm một cuộc chia ly phiền muộn: lạc mất bạn tốt, bố mẹ đi xa/ ly dị, người thân qua đời… Não mình tạo nên một ký ức cảm xúc về sự kiện. Theo thời gian, với mỗi lần tạm biệt, não không chỉ lôi kéo ký ức cảm xúc đó về mà nó còn khởi sự thêm vào nỗi niềm lo lắng và những cảm xúc khó chịu. Mình sẽ thấy rằng mình bắt đầu nhấn mạnh về lời chia tay nhiều ngày trước khi sự kiện diễn ra. Với mỗi lần tạm biệt, ký ức cảm xúc trở nên rộng lớn và mãnh liệt hơn. Sự dấn vào căng thẳng này làm tăng thêm cường độ cảm xúc đạt đến điểm gây bùng phát khi lời chia tay đã đến, tạo ra cơn khóc lóc khó dừng lại…

Mẫu hình này thực sự rất thông thường. Nó giải thích tại sao cô dâu, chú rể yếu mềm, thiếu dũng cảm ở lễ cưới. Tiếp nạp bởi cảm xúc quá mạnh mẽ đủ khiến họ ngập tràn thái quá xuyên suốt thời gian sự kiện diễn ra. Vấn đề không nằm ở lời nói chia tay, tạm biệt mà nó đã khởi động sẵn rồi độ căng thẳng từ trước vốn kéo dài khá lâu. Mình trở nên quá kiệt sức về mặt cảm xúc đến độ khóc là cách đích thị giúp mình phóng thích và làm thuyên giảm cường độ mãnh liệt của cảm xúc.

Vậy đấy. Khi mình bắt đầu nhân biết các cảm xúc, bước tiếp theo là phá hiện những gì mình thấy cần thiết để tự chăm sóc bản thân. Cảm xúc là thông tin. Khi lắng nghe chúng, mình cho chính mình cơ hội để chăm sóc mình tốt hơn rồi tìm ra được cách thức để cảm nhận tốt hơn nữa.

Stress, trí nhớ có vấn đề, hay trạng thái phân ly?

Suốt một ngày dài bình thường làm việc miệt mài, chúng ta tham gia cả đống các hoạt động và dấn mình cùng vô vàn suy nghĩ; hầu hết chúng khá nhỏ nhặt, quen thuộc đến độ bộ não không nhất thiết ghi nhận thật chính xác. Vào lúc kết thúc và đóng cửa văn phòng, bao nhiêu công tắc mình bật tắt? Mấy người ta chào hỏi ở nơi giao dịch công cộng?

Cảm thấy thời gian trôi quá nhanh và đôi lúc, ngồi hồi tưởng cũng khó hình dung rõ ràng… Trải nghiệm đang cảm nhận là bình thường. Năng lực của người khác nhắc nhở làm đào sâu các ký ức trong ngày cũng bình thường. Tỷ dụ, chúng ta chắc không thể nhớ tất cả tên tuổi những ai mình đã chuyện trò ngày đó, song nếu có người nhắc về lần gặp gỡ với họ, não bộ dễ gợi lại dịp tiếp xúc…

Song nếu mình cảm thấy cao hơn mức độ trung bình các khó khăn với vấn đề hồi nhớ, stress có thể là thủ phạm, chẳng phải rối loạn định dạng phân ly. Stress có tác động vào hóa sinh của não bộ, ảnh hưởng đến các chức năng chú ý và trí nhớ. Người mắc trong tình huống và môi trường stress hay thấy thổ lộ những chuyện liên quan cả việc chú ý lẫn hồi nhớ ký ức. Khi stress, bộ não vận hành rất nhanh và dính líu sâu xa với các sự vụ stress đến độ không ghi nhận tốt các sự kiện thông thường. Một bộ não bị stress cũng không giám sát ổn thỏa các hoạt động, làm nảy sinh sự quên lãng và cảm nhận mình đang rơi vào trạng thái ‘đãng trí’: quên chìa khóa nhà, không tìm thấy cốc café hay uống, đánh mất USB, v.v…

Phân ly (dissociation) thuộc vô thức và nói chung là tình huống không dự kiến làm đứt gãy, ngắt quãng sự kết nối bình thường giữa các suy tư, ký ức, cảm xúc, hành động hoặc cảm nhận về bản dạng cá nhân. Một số, chắc chắn không phải tất cả, ví dụ về phân ly có liên quan đến các giai đoạn mất trí nhớ (amnesia). Dù người ta trải nghiệm các trạng thái phân ly với nhiều dạng kiểu khác nhau song thường có tiền sử việc bị lạm dụng sâu sắc hoặc/ và gặp sang chấn; các tình huống và tác nhân gây stress khác có thể cũng đào sâu các giai đoạn phân ly.

Phân ly cơ bản có thể được xem như một cơ chế phòng vệ nguyên thủy chống kháng với nỗi đau đớn cảm xúc. Dù nó có thể hiệu quả đặc biệt trong việc cung cấp vài ba lượng định tách biệt nhằm kháng cự với sang chấn trong ngắn hạn, nó tự thân là vấn đề đáng lo khi lạm dụng thái quá như cách để ai đó cách ly mình khỏi nỗi đau đớn cảm xúc, và nó còn có thể đặt để nhiều vấn đề buộc cá nhân nỗ lực học hỏi đặng hiểu biết phương thức đương đầu với các stress đời sống và công việc xảy đến vào các thời điểm khó khăn trong các quan hệ liên nhân cách.

Một số biểu hiện phân ly hay gặp như quên bẵng thời gian, không nhớ về sự kiện, cảm giác tan rã nhân cách và mất đi cảm nhận bình thường về cái tôi có thể gây phiền nhiễu cho chính bản thân đối tượng trải nghiệm.

Phơi lộ và làm việc thông qua các xung đột cảm xúc chưa được giải quyết là những gì trị liệu tâm lý quan tâm nhắm đến. Song lắm lúc, đối diện và trải nghiệm lại các vấn đề gây stress vừa phải thôi cũng đủ kích hoạt các phòng vệ. Dù các cảm nhận và trải nghiệm là căng thẳng, phiền phức thì chúng không hề nguy hiểm và nên làm tiêu tan đúng lúc khi đương đầu rồi giải quyết với các tình huống gây sợ hãi. Nhịp điệu thích hợp là điều cần để tâm trong tiến trình phải đương đầu với các vấn đề nan giải, theo một cách thức không quá mức gây ra stress khủng khiếp cho thân chủ. Ghi chú các kiểu dạng stress xuất hiện lúc gợi lên các phản ứng phân ly là cách hay trong trợ giúp và xác lập các vấn đề cần thiết dành sự quan tâm nhất.

Tha nhân – trọng tâm trị liệu: một cách tiếp cận thú vị khác

Thường các nhà trị liệu tâm lý rất đặc trưng trong cách làm việc với lối hỏi “nhưng giờ thì chị cảm thấy thế nào?” Song thay vì quấy rầy thân chủ khỏi câu chuyện của họ về thế giới như thế, chính người theo cách tiếp cận tha nhân- trọng tâm (Other- Centred) lắng nghe hết sức cẩn thận rồi đặt câu hỏi trái ngược về đối tác có hành vi khiến thân chủ đang phàn nàn: “nhưng điều gì mà anh ấy thích?”

Một cách ngắn gọn, cách tiếp cận này phản ánh sự dấn thân đầy ý thức với những người khác, gồm cả các quan hệ con người và tiếp xúc của chúng ta với môi trường xung quanh; là kiểu trị liệu sinh thái (ecotherapy), nó đưa các công việc trị liệu ra ngoài trời và kết nối vởi cả các loại hình nghệ thuật sáng tạo cũng như mối quan tâm xã hội.

Cụ thể hơn, phương pháp tha nhân- trọng tâm thể hiện sự khám phá tri nhận đã điều kiện hóa sẵn rồi và tái lượng giá về các mẫu hình chú ý và hành vi. Những chuyển đổi tri nhận như thế dẫn tới thay đổi tâm lý cá nhân người ta như sự định dạng thích ứng với các điều kiện mới. Phương pháp tích hợp, một mặt thẩm tra các động năng của trải nghiệm, và mặt khác, truy vấn tính xác thực của hiện thể đang tri nhận. Toàn bộ công việc diễn ra bên trong khung đạo đức, sự chú ý hợp trội, tính thấu cảm và các kỹ năng tỉnh thức (mindfulness skills).

Với bài trinh bày tại Hội thảo (2012) của mình, tác giả Caroline Brazier đã thể hiện sáng rõ cách tiếp cận trị liệu rất khác vừa nêu. Theo đó, Brazier làm nổi bật sự cân bằng giữa phát hiện cá nhân, với kết nối thể lý và các bài tập chú ý cũng như các câu hỏi giúp tri nhận dễ dàng hơn, đi kèm khung lý thuyết dựa trên cách tiếp cận của Carl Rogers, các truyền thống nhân văn- hiện sinh và con người- trọng tâm, đề cao mối quan hệ và thấu cảm như các yếu tố chính yếu quyết định trị liệu thành công, và nhà tham vấn từ căn bản tương tự dường như đạt được giá trị tối ưu khởi đi bởi các trực giác mới mẻ…; khi nền tảng được đặt để rồi, trong dạng thức nhân cách và biểu đạt thành niềm tin cá nhân, chúng ta tiến tới ‘tâm lý học Phật giáo’ với khái niệm cốt lõi là các ‘quan hệ đối vật’.

‘Định dạng quan hệ đối vật’ trong ý nghĩa tâm lý học Phật giáo hơn là cảm nhận của Phân tâm, khái niệm này biểu đạt việc “tâm trí bị điều kiện hóa bởi đối vật của sự chú ý”. Và đối vật chúng ta đang chú tâm vào (bất kỳ con người, đồ vật, trải nghiệm gì) thì không nhiều ít, hơn kém chi so với đối vật được tri nhận. Chún ta mong đợi thấy thứ gì, chúng ta thấy thứ đó, và khi thấy thứ đó rồi thì mình lại càng mong thấy nó hơn, và vì thế bị mắc kẹt. Vòng tròn tự củng cố của mong đợi và phản ứng hàm nghĩa chúng ta xây dựng xung quanh mình một bức tường tâm lý nhằm giữ cho bản thân thoát khỏi những điều mình sợ hãi và kháng cự. Và do cuộc đời vốn không dự đoán nổi, có đầy rẫy nỗi sợ hãi và vô vàn kháng cự. Chúng ta bắt đầu dựa cậy, mời gọi cấu trúc tâm thần hoặc phòng vệ này, cái gọi là ‘của tôi’: một định dạng được tạo dựng bao quanh các thói quen chúng ta thiết lập để giúp mình khỏi nhọc trí, bảo bọc bản thân, hoặc lập tức lãng quên luôn.

Sự tạo tác thế giới này, thế giới của chúng ta, hoặc ‘của tôi’, gồm nhiều đối vật khác nhau (người, các trải nghiệm) để nâng đỡ cảm nhận của mình về cái tôi và về thực tế cũng như độ an toàn của các thế giới do mình tạo tác. Chúng ta kiếm tìm các đồ vật và con người hỗ trợ phương cách mình đang muốn nhìn thấy (có thể chúng ta chỉ chọn những ai tán đồng với mình, hoặc có thể mọi người là kẻ thù). Đây là mẫu hình khá quen thuộc trong trị liệu và trong tài liệu tâm lý học, ví dụ, người bị lạm dụng thường duy trì các quan hệ mới và những gì họ thu được càng giống như trước; tựa điệp khúc, ‘làm sao tôi có thể thoát khỏi mẫu hình đó đây?’

Câu trả lời Brazier đưa ra: tập trung chú ý sâu xa vào các đối vật mà ta tri nhận như trạng thái có ý nghĩa đối với bản thân và cách nó điều kiện hóa lối mình suy nghĩ và cảm nhận. Brazier hướng chúng tới thuật ngữ Phật giáo gọi là ‘sắc’ (rupa). Từ này không chỉ mang nghĩa ‘các đối vật được tri nhận’ mà còn trỏ điều gì đó mà quyền lực của nó gây phấn khích và thu hút sự chú ý của chúng ta; có thể gọi nó là một ‘nút bấm’, ‘cú lẩy cò’, hoặc chủ đề quán xuyến khởi lên trong đời chúng ta lặp đi lặp lại, hết lần này đến lần khác.

Nhà trị liệu chú ý tới các rupas, làm bộc lộ chúng ra rồi khám phá sức mạnh của chúng. Các chiến lược khác biệt từ việc thổi phồng ‘phẩm chất rupa’ của đối tượng cho đến việc tạo nên được khoảng cách tách biệt khỏi nó, để tái dựng lại nó khác đi với đầy đủ chi tiết liên quan, trong phòng trị liệu…

Dĩ nhiên, một rupa có thể tương đối khủng khiếp vì thế cần có một sự đánh giá sâu sát về cách thức làm sao giúp thân chủ tương tác với khoảng cách an toàn, làm sao giải quyết với các hồi tưởng, và sang chấn, tạo ra các kỹ thuật nền tảng cũng như cảm nhận về sự nương tựa.

Từ những kỹ thuật dùng tâm kịch (psychodrama) với chiếc ghế trống, các đối vật có thể xem là các mỏ neo, ký ức, hoặc thành phần của tiến trình tạc tượng (sculpting), Brazier tiến tới thảo luận về “tỉnh thức” (mindfulness) với lưu ý rằng, trong khi sử dụng nó như kỹ thuật nhằm nắm bắt những gì đang diễn ra hiện tại với từng khoảnh khắc thì bà còn dùng thuật ngữ này để chỉ việc có một mối quan hệ đáng tôn trọng với thực tế, tưởng thưởng sự khác biệt của nó, và sự kiện là nó không hề diễn ra dưới sự kiểm soát của chúng ta hoặc vận hành theo ước muốn của chúng ta. Đây là điều nhắc nhở cần cởi mở với những người khác và không nên xoắn bện thực tế khớp khít với cảm nhận riêng của chúng ta về bản ngã, dù nó tích cực hoặc tiêu cực đi nữa; nó cũng nhắc nhở về chiều kích tâm linh và tính thiêng, ngay cả khi những thứ này không nên mang vào quá đặc thù trong quan hệ trị liệu.

Như thế, đối lập khá dữ dội với các nhà trị liệu khác, người tiếp cận theo phương pháp tha nhân- trọng tâm đi sâu vào các câu chuyện của thân chủ rồi xem xét chúng mang ý nghĩa ra sao với thân chủ, nhắm vào các cảm xúc và định dạng chúng như là cái làm tăng thêm vấn đề hơn là giúp ích cho thân chủ… Brazier hướng tới quan điểm là một người lành mạnh khi họ dấn thân trọn vẹn vào những gì họ đang tiến hành hoặc với người mà họ đang quan hệ, hơn là khi họ quan sát một cách có ý thức các trải nghiệm của bản thân; với cách nghĩ ấy, bà cân nhắc về vai trò của trị liệu: liệu nó đáng giá so với việc cải thiện các điều kiện vật chất trong đời sống của con người ta, để được tiếp xúc với những ai quanh mình, hoặc làm việc cho sự tồn tại mãi mãi của hành tinh, hơn là đơn giản ngồi trong phòng trị liệu để phân tích các cảm xúc của mình với một người lạ?

Kết luận rút ra là một sự mời gọi cân bằng, cho một kiểu trị liệu có nền tảng vững chắc và yếu tính của nó cởi mở với những người khác, không xem trị liệu như cái gì đặc biệt tự thân mà chỉ là một phần khác tích cực, hữu dụng của thế giới liên thuộc của chúng ta. Thân chủ cũng cởi bỏ khỏi thái độ tương tự về những gì tiền định sẽ được khám phá và vui thú…

Về một sự nghiện ngập mềm dịu

Thường nhắc đến sự nghiện ngập, đa phần chúng ta nghĩ về các chất như cocaine, heroin, và bia rượu. Những thứ này là loại nghiện ngập chắc cứng. Song quá nhiều người không hề cho rằng các hành vi mềm dịu mang tính nghiện ngập có thể tạo nên vô vàn rắc rối cũng như gây ra nhiều phiền nhiễu khiến chúng ta mất đi bản tính cao quý.

Các loại nghiện ngập mềm dịu có thể là hành vi như lướt mạng, chơi game, xem TV, đọc sách, mua sắm, làm việc bất kể ngày đêm, phàn nàn, buôn dưa, trì hoãn lần lữa, và nhiều thứ khác mà chúng ta hay thực hiện quá mức.

Tất cả chúng ta lao mình vào các dạng nghiện ngập mềm dịu với sắc thái, tầng mức khác nhau, thậm chí một số chúng là tích cực; một số thứ là lớn lao song mặt khác nếu tiến hành trong trạng thái cưỡng bức, cực đoan thì có thể tàn phá chúng ta.

Lực thúc đẩy đằng sau mọi nghiện ngập, kể cả nghiện ngập mềm dịu, là sự truy cầu để tê liệt, lờ đi, vượt thoát, hoặc đè nén các suy tư lẫn cảm xúc khó chịu. Rồi chúng ta dùng các hoạt động này một cách xung hấn, lặp đi lặp lại không ngừng để khiến chính mình bị xao nhãng hoặc lảng tránh các cảm xúc, suy tư vô thức/ ý thức. Điều này có thể mang lại một cảm nhận phấn khích, gây phóng thích chất endorphin, và tạo ra một sự sự trốn thoát tạm thời nỗi đau đớn trong lòng.

Song ở tầm mức nhất định, hành vi như thế làm đời sống càng khó khăn hơn, tạo nên kháng cự và chi phối, phá hủy và thỏa hiệp với nhiều khía cạnh khác nhau trong đời; bao gồm công việc, các mối quan hệ, và trạng thái thân- tâm an lạc, cũng như các hoạt động khác và một cuộc sống xác quyết đầy niềm vui, hoan lạc. Chúng ta trả giá cho các dạng nghiện ngập bằng tiền bạc và thời gian, làm chết điếng đời sống nội tâm, và khóa tắt luôn ý thức của bản thân. Đặc biệt, đáng chú ý không kém, các hành vi nghiện ngập kéo chúng ta ra khỏi việc sống hoàn mãn, tràn đầy như nó vốn có.

Điều hữu ích nhất mình có thể tiến hành khi đang đương đầu với bất kỳ loại nghiện ngập nào là thấu biết đời sống nội tâm chính mình: nhận ra và sống cùng với các suy tư, cảm xúc của bản thân. Với một số người, đấy có thể là chuyện khá khủng khiếp, đe dọa họ khi thoáng nhìn mù mờ về đời sống nội tâm bí ẩn cùng với mớ rối rắm của các suy tư, ý nghĩ hỗn độn.

Để thấu hiểu sâu sắc các cảm xúc lẫn suy tư ẩn bên dưới đã dẫn dắt hành vi nghiện ngập, cần định hình và làm việc không ngừng nghỉ với thói quen lập trình cá nhân đang níu giữ, giam hãm mình; được thế, chắc chắn sẽ tạo nên một bước tiến bộ vượt bậc.

Có rất nhiều nguồn lực trợ giúp chúng ta trên tiến trình. Huấn luyện, hướng đạo, tâm lý trị liệu, các chương trình 12 bước, thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation), chữa lành năng lượng, và các loại sách tự trợ (self-help books)…

Nước mắt lưng tròng vì lòng con sợ mẹ chết quá chừng

Một người con luôn cảm thấy đau đớn vì không ngừng nghĩ mẹ mình có thể ra đi bất kỳ lúc nào. Bà mẹ hiện không ốm bệnh gì, nên chính người con không biết tại sao mình lại cảm nhận như vậy; nếu mẹ qua đời thì người con sẽ cảm thấy mình khó sống nổi thảm họa này.

Người con cho biết yêu mẹ rất nhiều. Không có từ nào mô tả được, và biết rằng việc mẹ mình không hạnh phúc trong đời khiến người con cảm thấy quá ư tồi tệ. Tất cả mọi công việc nặng nhọc người con đang làm là vì mẹ, không phải vì bản thân. Người con muốn mẹ hạnh phúc, muốn chấm dứt mọi điều đang diễn ra làm mẹ buồn.

Người con hỏi làm cách nào để thoát khỏi ý nghĩ hoặc cảm xúc về chuyện mẹ mình đang sắp chết. Đêm người con mất ngủ.

… Khi vinh danh lòng hiếu thảo của người con đối với mẹ mình, dễ cảm thấy là mối gắn bó ấy quá chừng mãnh liệt, đến độ có thể thừa sức làm cho chính người con ngã bệnh, ốm đau. Một mối dây bền chặt với người khác là điều tốt đẹp song nếu quan hệ thu hút hết mức quyền lực thì nó trở nên không còn lành mạnh. Nói khác, đấy là  sự dính mắc.

Gọi là dính mắc khi hai người hoặc nhiều hơn (thường gồm cả toàn bộ gia đình) phụ thuộc và xoắn vào nhau thái quá. Khi một người khó chịu, mọi người khó chịu. Những gì một người muốn, mọi người muốn. Các nhu cầu và cảm xúc cá nhân bị đánh mất; vì thế, người trong tình trạng dính mắc thấy thật khó nói lời từ chối hoặc cân nhắc tới các ao ước riêng của bản thân.

Thật hay khi tích hợp các nhu cầu và ước muốn của người khác vào đời mình song cái giá đánh đổi cho điều đó không thể là sự mất đi cuộc sống riêng. Cả hai đều đến và đi khỏi thế giới một mình, vì thế người duy nhất hiện diện nơi đó với toàn bộ đời mình là chính bản thân ta. Nên chi, chúng ta hết sức cần biết chắc mình luôn chăm lo, bảo bọc dọc dài cuộc đời chính mình. Không may, nghe như thể người con đang rung chuông báo động những gì vốn nhẽ ra là của riêng– công việc nặng nhọc, hạnh phúc– đang thuộc về người mẹ, và thân xác người ta có lẽ cũng đang nói rằng nó chịu áp lực ghê gớm.

Không ai biết khi nào thì bố mẹ mình qua đời, song chúng ta có thể đảm bảo rằng một ngày rồi họ sẽ tạ thế. Nếu tự nhiên diễn tiến theo kế hoạch định sẵn, bố mẹ chúng ta sẽ chết trước khi chúng ta mong đợi thì đấy không nên xem là ‘thảm họa’; nó là trật tự sắp bày của mọi sự, và nếu bộ mẹ hoàn thành bổn phận, con cái họ có thể bước tiếp mà không có mặt các bậc sinh thành nữa.

Một trong những công việc chúng ta ứng xử như bố mẹ là chuẩn bị con cái mình vào đời rồi để mặc chúng tự quyết. Không rõ người mẹ đã gắng làm điều đó, nếu chưa, tự thân chính người con có thể cần tiến hành. Trong khi người mẹ có thể trợ giúp, bà không thể là thế giới của người con. Do vậy, đặt để ranh giới giữa mẹ và con có thể rất hữu ích.

Các ranh giới cá nhân là các quyết định mình tạo ra điểm bản thân dừng và nơi người khác khởi sự. Điều duy nhất bất kỳ ai trong chúng ta có thể kiểm soát được là hành vi của bản thân, vì vậy các ranh giới là cách thức mình đáp ứng với những người khác. Ví dụ, trong các quan hệ dính mắc, người ta thường mong đợi kẻ khác cảm nhận điều họ đang cảm nhận. Họ không nắm giữ chắc chắn các cảm xúc riêng mà để kẻ khác xử lý giúp. Một ranh giới nên là mình kiểm soát cảm xúc bản thân đồng thời mong người khác cũng quản lý chính họ; nói khác, mình chịu trách nhiệm hạnh phúc chính mình và để mẹ mình kiểm soát cuộc đời riêng của bà.

Rất nhiều sách vở viết về ranh giới sẵn có để tham khảo; nếu không cảm thấy đủ, người con có thể nghĩ tới việc kiếm tìm sự trợ giúp chuyên môn. Các nhà trị liệu gia đình đặc biệt rất giỏi trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến việc xâm phạm ranh giới và có thể trợ giúp người ta sửa chữa ranh giới tồn tại bấy lâu. Khi người con có thể học cách tách bản thân khỏi mẹ mình một cách lành mạnh, viễn tượng về cái chết của người mẹ, dù vẫn buồn đau, sẽ không thể phá hủy đời sống của người con được.

Trị liệu và tiêu chí chẩn đoán các rối loạn tâm thần

Cả khi tiếp xúc mặt đối mặt lẫn trong thực hành trực tuyến trên mạng, cá nhân tôi chẳng hề nghĩ mình luôn luôn nên đối xử với thân chủ thông qua những biểu lộ của một hoặc nhiều các rối loạn tâm thần nhất thiết cần phải khít khớp với cách tiếp cận y khoa bệnh lý.

Không ai chỉ thuần là trường hợp của rối loạn lưỡng cực hoặc chán ăn tâm thần, một dạng ám ảnh- cưỡng bức, hoặc người mắc tâm thần phân liệt paranoia. Theo quan điểm riêng, các phân loại chẩn đoán chính thức nắm giữ vài giá trị của thông tin mang tính bối cảnh, nhưng chúng đóng vai trò ít nhiều quan trọng hơn là các hoàn cảnh đặc thù của ai đó. Nếu là thân chủ, điều trước tiên và hầu như bạn chính là cá nhân duy nhất, đặc biệt. Mang kèm theo bất kỳ nhãn mác chẩn đoán nào không nói với tôi nhiều nhất có thể về bạn và trải nghiệm bạn khả dĩ… Nó chắc chắn không kể cho tôi nghe những gì bạn ‘cần’ như ‘điều trị’ (treatment).

Dẫu sao, trải nghiệm riêng tư khi làm việc với các thân chủ từng nhận các chẩn đoán tâm thần chính thống từ các chuyên gia khác, tôi thường nhận thấy các thân chủ của mình cảm nhận là họ thiếu thông tin thích đáng mà các nhãn mác chẩn đoán kiểu đấy đích thị thể hiện ý nghĩa.

Bài này nhắm mục đích cung cấp các sự kiện cơ bản liên quan các nhãn mác chẩn đoán khác nhau ấy. Lưu ý, thông tin chẩn đoán cung cấp ở đây chỉ phục vụ các mục tiêu giáo dục và không thể thay thế lời khuyên việc dặn của một chuyên gia sức khỏe tâm thần đủ tư cách hành nghề tác nghiệp.

Dưới mô hình y khoa quen thuộc đối với đa số các nước phương Tây, khái niệm ‘chẩn đoán’ (diagnosis) hay nhắm chỉ việc định dạng bản chất và nguyên nhân của một bệnh lý, vết thương hoặc lệch lạc khác khỏi chức năng vận hành bình thường. Các đánh giá đặc trưng, trực tiếp về mặt thể lý được tiến hành nhằm thu hẹp các nguyên nhân khả thể (chẩn đoán phân biệt) giúp lý giải các triệu chứng (symptoms) quan sát thấy bởi vị bác sĩ hoặc nhờ bệnh nhân báo cáo, kể lại. Căn cốt, điều này nghĩa là một chẩn đoán y khoa không thuần túy chỉ là tập hợp các triệu chứng; một chẩn đoán y khoa thêm thông tin mới vào bức tranh lâm sàng mà nó không chắc xứng hợp từ việc gom góp các triệu chứng đặt sẵn rồi. Nó thêm thông tin mới về tính nhân quả, việc điều trị, tiên lượng bệnh lý, các biến chứng xảy đến, và phức tạp hơn nữa…

Giờ bàn tới các rối loạn tâm thần. Việc ‘chẩn đoán’ được làm rõ cùng sự hiện diện hoặc vắng bóng các triệu chứng đã quy định. Không như trường hợp các dạng tiểu đường, ví dụ vậy, không có test đường huyết đơn giản nào cho rối loạn trầm cảm hoặc chán ăn tâm thần hay rối loạn tâm thần khác. Tự định nghĩa, để mắc trầm cảm thì không phải có các dấu hiệu nào đó về mặt cơ thể; theo định nghĩa, mắc trầm cảm là chuyện ai đó trải nghiệm rất đặc trưng thông qua các mô tả tập hợp triệu chứng cụ thể (cũng thế, các test tầm soát trầm cảm hoặc các rối loạn tâm thần khác chỉ đếm kiểm một loạt các triệu chứng). Vậy một ‘chẩn đoán’ rối loạn lưỡng cực, chẳng hạn, không nói với ta điều gì mới mẻ, vượt qua và vươn ra khỏi sự hiện diện của các triệu chứng đặc thù được định sẵn trong danh sách. Đối lập, một chẩn đoán các dạng tiểu đường hoặc cường tuyến giáp cho ta biết một cái lớn lao hơn là tập hợp các triệu chứng có thể được bệnh nhân trải nghiệm.

Ý cuối, các chẩn đoán tâm thần là rỗng không về mặt lý giải, vì thế, chúng đặt để rất đúng đắn trong một lĩnh vực cực kỳ khác biệt của khoa học hơn là chẩn đoán ‘thực’ (y khoa phương Tây). Chúng có thể giúp thân chủ (và nhà trị liệu) hiểu biết bối cảnh, và chúng đưa ra các chỉ báo phù hợp mang ý nghĩa thống kê về việc có thể sử dụng các điều trị bằng thuốc, song chúng không hề giống các tiêu chí chẩn đoán chuẩn mực của y khoa phương Tây.

Nhân tiện, mời tham khảo thêm quan niệm ‘chẩn đoán’ theo cách tiếp cận của Con người- Trọng tâm trị liệu (person-centered therapy).