Loạn thần và Phân ly: ‘tình trong như đã’…

Trong tâm tưởng dân chúng nói chung, loạn thần cơ chừng đã là cái tên gây nhiều hoảng sợ, cặp đôi với phân ly nữa thì quá dễ làm dấy lên những nghi ngại vô cùng kinh hoàng.

Cả thập niên trôi qua rồi mà vấn đề cần sa gây loạn thần vẫn chưa thể đưa ra lời cuối dứt khoát, đủ thấy câu chuyện dây dưa khủng khiếp với nhiều hệ luỵ khó lường. Thực tiễn lâm sàng cũng ghi nhận việc người ta mắc loạn thần và thái độ kháng cự dùng thuốc. Tiếp cận loạn thần như kết quả của sang chấn và các hiện tượng tinh thần thì đối lập với chuyện chú mục vào bộ não, mô hình thực nghiệm và y khoa của căn bệnh tâm thần; và nếu thế, liên quan tới các kỹ năng học hỏi. Trải nghiệm tâm thần và phân ly trong trạng thái loạn thần cũng sẽ được trình bày ở đây.

Kỹ năng học hỏi và loạn thần

Những khác biệt rõ rệt giữa trải nghiệm ảo giác và hoang tưởng giúp giải thích tại sao các đặc trưng này có khả năng cải thiện nhờ thuốc. Lưu ý rằng, ảo giác và các trục trặc cảm xúc như hoang tưởng là các trải nghiệm nội tạng, và vì thế, chúng có thể liên quan nhiều tới hoá chất bất thường ở não mà từ đó loạn thần xuất hiện. Tuy vậy, các vấn đề nhận thức và xã hội thì lại phụ thuộc vào trải nghiệm trong các thế giới tinh thần và vật chất.

Khi trao đổi nhận thức ở một người mắc tâm thần phân liệt (TTPL), khó khăn trong tư duy của họ là hiển nhiên. Các liên kết lỏng lẻo, từ rối rắm, và câu cú nghèo nàn là vài ví dụ chứng tỏ những khó khăn nhận thức ở những người loạn thần. Một thực tế hiếm khi được xem xét là những người mắc TTPL đối phó với trải nghiệm chưa hề từng được khám phá, nó mới tinh, và không hề dễ dàng để sự nỗ lực của người mắc TTPL hiểu về mặt nhận thức sự thao túng của trải nghiệm loạn thần. Tại sao thiên hạ mong đợi người mắc TTPL có khả năng nghĩ đến những trải nghiệm không phổ biến và không theo chuẩn tắc nhỉ. Không có cơ sở thực tế, không có truyền thống tư duy đích thực đặng cho phép người mắc TTPL suy nghĩ thật hiệu quả về loạn thần.

Các yếu kém rõ ràng về mặt xã hội ở người mắc TTPL phụ thuộc vào trải nghiệm trong thế giới vật chất. Do xu hướng mắc loạn thần xuất hiện ở tuổi vị thành niên và mới lớn, có những hoạt động rất thiết yếu từ khía cạnh phát triển bị buộc phải thoả hiệp do sự chín chắn về mặt xã hội. Dùng cách diễn giải của Erikson về các giai đoạn phát triển xã hội, khi TTPL xuất hiện, cá nhân ở giai đoạn ‘bản sắc đối chọi với sự rối rắm về vai trò’, hoặc giai đoạn ‘gần gũi đương đầu với cô lập’. Loạn thần dẫn tới các trục trặc trong sự hình thành nhân cách và tha hoá liên nhân. Điều này e chừng là do trải nghiệm không chuẩn tắc và trải nghiệm kiệt quệ về mặt xã hội.

Cơ bản, các kỹ năng xã hội và nhận thức yếu kém ở người mắc TTPL bị ảnh hưởng bởi trải nghiệm không chuẩn tắc, và các ảo giác lẫn hoang tưởng gây hiệu ứng nhân quả tới sự nhận thức lệch lạc và thiếu hụt kỹ năng xã hội. Nếu ảo giác và hoang tưởng có thể giảm bớt ngay từ sớm trên tiến trình mắc TTPL, có thể trải nghiệm không chuẩn tắc này sẽ không gây rắc rối cho các kỹ năng xã hội và nhận thức. Rõ là, hoang tưởng và ảo giác liên quan nhân quả tới kỹ năng nhận thức và xã hội. Bất luận thế nào, hoạt động nhận thức yếu kém và kỹ năng xã hội hạn chế phụ thuộc vào trải nghiệm không chuẩn tắc trong thế giới tinh thần.

Nói gọn thì các kỹ năng xã hội và nhận thức kém cỏi là kết quả của khả năng học hỏi bị giảm sút. Tuy thế, các kỹ năng nhận thức có thể được phản ánh ở siêu nhận thức (meta-cognition) vì nó liên quan tới loạn thần. Nâng cao nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về loạn thần có thể cho phép người mắc TTPL tách rời khỏi trải nghiệm loạn thần của vị ấy. Điều này có thể chứng thực là trị liệu. Tương tự, hướng dẫn các kỹ năng xã hội có thể cũng đem tới lợi lạc trị liệu. Do những thiếu hụt trong học hỏi, các kỹ năng nhận thức và xã hội kém cỏi có năng lực đáp ứng với việc học, và đây là tương quan dương tính với thực tế là các kỹ năng xã hội và nhận thức được hình thành. (còn tiếp)

Đòi hỏi cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt

Tâm trí luôn biểu tỏ dự tính, quá dễ thấy với các hoạt động lý tính như sự giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học chẳng hạn; song điều ấy tinh tế hơn rất nhiều khi cố tìm hiểu tác động của cảm xúc. So với nhận thức thì cảm xúc ít bị dẫn dắt bởi dự định.

Vốn phi lý, cảm xúc hàm chứa các cơ chế phòng vệ khi nó tác động tới suy tư. Ba cơ chế phòng vệ đáng quan tâm là chối bỏ (denial), thăng hoa (sublimation), và kiềm nén (repression).

  • Chối bỏ có thể hiện diện do sự không chấp nhận các thực tế thuộc thế giới vật chất và tinh thần, hoặc nó đấu lại hết sức kịch liệt những ý tưởng đánh thức trong một lo âu nào đó. Như các cơ chế phòng vệ khác, chối bỏ phụ thuộc vào việc ‘kiềm nén” là cơ chế vốn được hiểu luôn ẩn giấu bên dưới tất cả các cơ chế phòng vệ.
  • Thăng hoa bộc lộ việc thay thế hoặc phân ly khỏi các cảm xúc hay xung năng tiêu cực thành các cảm xúc, ứng xử, hành động tích cực. Cơ chế phòng vệ này định dạng các viễn tượng nhờ thương lượng tạo tác động thỏa mãn cho cái tôi (ego), chẳng hạn, cho phép một người đánh giá bản thân mình là vị tha khi anh ta chối bỏ dự tính vô thức để chuyển đổi các cảm xúc tiêu cực thành hữu ích và đạo đức. Dù gì, cơ chế thăng hoa giúp duy trì nhiều khía cạnh tốt đẹp của xã hội. Các cá nhân giương cao các giá trị đáng gìn giữ bởi hầu hết người ta đặc thù dùng cơ chế thăng hoa; cơ chế cho phép cái tôi càng thêm lợi lạc do không ngừng thuyết phục chúng ta về đạo đức và luân lý nằm dưới các hành động tốt lành.
  • Hành vi kiềm nén khiến chúng ta đối đãi với môi trường bằng thứ quan điểm thoải mái và nuôi dưỡng bất chấp sự kiện rằng cái nhìn này không hề tương hợp với thực tế. Kiềm nén ấn trong trạng thái sẵn có và kém chín chắn trong phát triển thể lý lẫn tinh thần cho người ta dễ đạt tới sự yên ổn cả về thể chất và tâm lý khi đương đầu với một tình huống mà không cần bóp méo từ vô thức thông qua việc kiềm nén.

Cũng hiển nhiên với nhiều chứng cứ rằng ý nghĩa loạn thần được đan dệt bởi cảm xúc bị thúc đẩy do các cơ chế phòng vệ; điều này hàm chứa việc dùng nhiều cơ chế phòng vệ mang tính tâm lý rất bệnh học. Thông qua mô tả ba kiểu hoang tưởng  sau đây, khả thể phân biệt ngay động cơ mang chất cảm xúc của lối suy tư loạn thần:

  • Các hoang tưởng quấy đảo, hành hạ cho thấy loại kiểu cơ chế phòng vệ. Những hoang tưởng quấy đảo có thể phủ khắp thành nhu cầu tự thấy mình quan trọng, thậm chí, chúng cung cấp lý do hữu hiệu giả tạo cho nỗi khổ niềm đau của ta.
  • Các hoang tưởng mang tính tự cao tự đại thể hiện một ‘phức cảm siêu phàm’ cho phép việc tự tri nhận và lòng tự tôn thêm phần hay ho, khiến người ta cảm thấy mình quyền lực ghê gớm so với thực tế, bất kể sự kiện là các cảm xúc chỉ mang chất tích cực giả tạo.
  • Các hoang tưởng điên đảo vì tình, loạn dục không chỉ ban thưởng khoái lạc mà còn thỏa mãn sâu xa sự thân mật.

Các đền bù này chỉ ra tính cấp thiết về mặt cảm xúc của các cá nhân mắc loạn thần. Thuật ngữ ‘tính cấp thiết về mặt cảm xúc’ không hề có ý nhục mạ và lên án mà nó chỉ ra sự thích ứng. Trạng thái tha hóa và việc bị nô dịch của bệnh tâm thần là sự thật, và lý do mang yếu tố cảm xúc bên dưới các cơ chế phòng vệ là hiển nhiên. Các sự kiện này trỏ thẳng câu trả lời hay nhất với vấn đề bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt; bộc lộ hoàn mãn các nhu cầu tâm lý- sinh học- xã hội của bệnh loạn thần.

Đặt trong các xem xét như thế, thuốc men là hiệu quả; khi khoa học càng tiến bộ, càng thêm phần giá trị hơn. Quan trọng là thoát khỏi trạng thái tha hóa (alienation), và nên tiếp cận dưới góc độ tâm lý trị liệu mang tính thấu cảm nhiều nhất có thể. Thứ đến, chúng ta cũng cần đương đầu với sự định kiến liên quan rối loạn tâm thần phân liệt.

Các câu trả lời khá đơn giản; tuy thế, nếu tính nhất thiết của cảm xúc ở rối loạn tâm thần phân liệt được hiểu một cách từ bị và chẳng mang hơi hướng đánh giá, thực tiễn tâm thần phân liệt có thể dần ít bị định kiến, nhục mạ. Khỏi dần thói chỉ trích, và căn cốt, được cải thiện hơn hẳn. Cần khẳng định, vấn đề không nằm ở cái nhãn ‘tâm thần phân liệt’ mà chính giả định gán nhãn vậy cho chỉ báo của sự định dạng cá nhân người ta. Rõ ràng, bệnh loạn thần tác động tới các cá nhân ấy nhiều hơn hoàn cảnh sống khác. Bất chấp, những thực tế của họ trong trạng thái ‘mông lung, hư ảo’ thì họ vẫn có thể được nhìn nhận với lòng từ bi, trừ khi kẻ ‘bình thường’ bất khả thể hiện phẩm chất nhân văn ấy.

Trong muôn trùng xô đẩy…

Vui thay việc sống giữa đời- Điều may cùng chọn, tiệc lời họa sa…- Chốn nào cũng nước non nhà- Lòng yêu rải khắp ta bà mới thôi!–

Vắng thiếu dấu ấn sinh học (biological marker), chẩn đoán đương đại về tâm thần phân liệt (schizophrenia) cũng như việc điều trị chủ yếu hiện vẫn dựa vào các bảng hỏi thăm dò lâm sàng; không ngạc nhiên lắm là tỷ lệ đáp ứng chưa được thỏa mãn, đặc biệt sau nhiều nỗ lực điều trị hỗn hợp, ngoài ra sự tái phát thì thường gặp với người mắc TTPL ngưng sử dụng thuốc.

Dẫu vậy, chúng ta cũng đang hưởng thụ lợi lạc nhờ vào các thành tựu nghiên cứu liên quan, tỷ dụ cụ thể như việc hướng dẫn dùng thuốc chống loạn thần chẳng hạn.

1. Chúng chỉ được chỉ định cho những ai có biểu hiện loạn thần sớm (hoang tưởng, ảo giác hoặc buồn vui thất thường).

2. Một khi chỉ định rồi thì cần được giám sát rất chặt chẽ.

3. Hiếm lắm mới chỉ định dùng cùng lúc 2 loại hoặc hơn.

4. Không nên tiếp tục ưu tiên lựa chọn với cơn mất ngủ dai dẳng.

5. Không dùng chỉ vì mỗi lý do ‘khó kiểm soát về mặt hành vi’ ở trẻ nhỏ là con cái người đã già cả.

6. Có một số bằng chứng lâm sàng để dùng cho người mắc Tự kỷ (autism).

Thêm nữa, với việc cần sa (marijuna) dần dần được chấp nhận dùng rộng rãi hơn cho mục đích y tế, rõ ràng cấm sử dụng nó với người đã dễ bị tổn thương do các trạng thái loạn thần rồi. Thực tế, với trạng thái gọi là “spiceophrenia” làm tăng tốc hơn các trạng thái tiền loạn thần đồng thời khiến việc theo dõi lâm sàng thêm phần thách thức. Bằng chứng này được khẳng định chắc chắn.

Về khía cạnh bệnh nguyên học, rối loạn TTPL cơ chừng đa yếu tố cả từ việc tạo hậu quả lẫn các biểu hiện bệnh lý. Hầu hết những gì chúng ta nghĩ mình biết về TTPL chủ yếu thuộc lý thuyết với rất ít bằng chứng lâm sàng chẳng đáng kể bao nhiêu.

Và cuối cùng, các cách can thiệp y- sinh như sốc điện (ECT), kích hoạt sóng từ cực đại (TMS), phẫu thuật tâm lý (psychosurgery), và trị liệu gene thì có ít hoặc không thể hiện bao nhiêu hiệu quả. Đa phần các rối loạn liên quan đến hành vi lành mạnh được xem là đa gene và khá không đồng nhất trong việc bộc lộ cũng như điều trị chúng.

Tóm lại, còn cả con đường dài phía trước trong nỗ lực quản lý TTPL về mặt lâm sàng theo cách thức thật an toàn và hiệu quả.

Liệu pháp với người đang mắc Rối loạn Nhân cách dạng Tâm thần phân liệt

Mục tiêu trị liệu với người đang mắc Rối loạn Nhân cách dạng Tâm thần phân liệt (SPD) sẽ khởi sự bằng việc cân nhắc chuyện thiết lập niềm tin tưởng đặc thù trên tiến trình đạt được lời thỉnh cầu trao đổi, đón nhận và cho phép đưa ra lời thảo luận, bộc lộ và đặt các câu hỏi. Các mục tiêu cảm xúc sẽ góp phần nâng lên sự chịu đựng và dung thứ tình cảm lẫn cảm xúc của thân chủ.

Có thể hiểu, SPD là trạng thái mãn tính và lan tỏa đặc trưng bởi các mẫu hình hay gây gổ trong suy tư, hành vi và chức năng. Kiểu dạng rối loạn nhân cách này được cho là khá hiếm hoi và thường ảnh hưởng ở đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Các cá nhân mắc SPD cũng gặp nguy cơ trầm cảm. Thuật ngữ “chứng loạn tinh thần” (schizoid) dùng mô tả người có khuynh hướng vào trong lòng mình và thoát khỏi thế giới bên ngoài.

Nhân cách dạng tâm thần phân liệt (SPD) thể hiện hướng vào trong quá mức với một khung tham chiếu ghê gớm cho việc nội quan cũng như kiếm tìm sự cô độc. Các cá nhân mắc rối loạn này dễ tách biệt, tạo khoảng cách và vô cảm với các quan hệ xã hội hoặc gắn bó thân mật. Họ là kẻ đơn côi thích hoạt động cô lẻ và ít biểu lộ cảm xúc. Dù tên của rối loạn nghe như dạng tâm thần phân liệt với vài ba triệu chứng tương tự, điều quan trọng cần nhớ rằng rối loạn nhân cách dạng tâm thần phân liệt không giống với tâm thần phân liệt. Nhiều cá nhân mắc rối loạn này hoạt động chức năng tốt và tiếp xúc với thực tế trong khi người mắc tâm thần phân liệt thì phân tách khỏi thực tế. SPD cũng giông giống với rối loạn nhân cách lảng tránh (APD), tuy nhiên điểm khác biệt ở chỗ là người lảng tránh thì có ước ao tham gia xã hội trong khi người dang SPD thì lại ưa thích cô độc và vô cảm đối với sự chấp nhận hoặc chối bỏ của tha nhân.

Về mặt hành vi, mục tiêu làm việc với người mắc SPD là dạy các kỹ năng xã hội và tính xác quyết, củng cố thêm các gắn bó với người khác, tăng cường hòa nhập cộng đồng và làm giảm thiểu các ứng xử tách biệt, thu mình. Về mặt nhận thức, mục tiêu thông qua sự phân biệt giữa các suy tư hợp lý và rối loạn, để thân chủ học hỏi cách sống với sự mơ hồ lần lữa. Nhà trị liệu nên nhắm đến chuyện điều chỉnh các suy tư về bản thân và tha nhân, và dạy các cơ chế phòng vệ mà có thể dùng thật ý thức hơn là các cơ chế trục trặc tỷ như cơ chế chối bỏ và phóng chiếu làm duy trì rối loạn.

Kiến tạo một môi trường an toàn

Điều nhà trị liệu cần nhớ là các cá nhân mắc rối loạn này dễ nảy sinh mối quan tâm về năng lực của họ trong việc đối phó với trạng thái gần gũi và thân mật với nhà trị liệu. Hậu quả, nhà trị liệu phải nhìn ra sự tiếp xúc giữa mình với thân chủ là thành tố thiết yếu sống động của trị liệu. Xác lập một mối quan hệ thấu cảm với thân chủ nhằm đảm bảo một môi trường quan hệ an toàn là điều cốt tủy; một môi trường như thế cũng cần chú ý không phô trương bởi sẽ khiến cái tôi dễ bị tổn thương của thân chủ trỗi lên trở lại.

Cũng quan trọng với nhà trị liệu là gắng đạt tới một sự thấu hiểu cách thức và lý do tại sao thân chủ đi vào “ẩn náu, trốn tránh”. Muốn được thế, nhà trị liệu phải cẩn trọng và ý thức rằng các nỗ lực tiếp xúc và truyền thông dính sâu xa với quan hệ có thể được thân chủ trải nghiệm như một sự xâm phạm, lấn vào và khích động họ thu mình, xa cách.

Sự dàn xếp, thỏa hiệp mang đặc trưng tâm thần phân liệt là nỗ lực của cá nhân đặng tạo nên sự an toàn khỏi những người khác thông qua trạng thái cô lập trong khi kiểm soát độ căng giữa sự cô lập và trạng thái bị mắc bẫy hoặc bị nô lệ hóa như hậu quả nảy sinh của sự cô lập như thế. Nhà trị liệu cần biểu tỏ một sự thấu hiểu về nghịch lý mang tính tâm thần phân liệt vốn là kết quả từ sự thỏa hiệp ấy và đưa ra một diễn đạt hòa hợp. Trị liệu rối loạn này thường sẽ chậm chạp với những bước tiến bộ nhỏ nhặt; bởi vì chiều dài thời gian và nhịp bước rề rà đó, thường không khó thấy các nhà trị liệu quá dễ giảm sút mối quan tâm.

Mặt khác, có thể giá trị ở mối quan hệ trị liệu vượt trên cả sự ý thức nhà trị liệu nhân ra sẽ đem lại lợi lạc ở một số chiều cạnh. Tỷ dụ, thân chủ có thể yêu cầu nhà trị liệu cho biết cách thức họ đang làm việc cùng nhau. Trong khi đây vốn là câu hỏi tương tác đơn giản, nó dễ gợi ý rằng thân chủ đang hợp trội trong một mối quan hệ và đang thiết lập một sự gắn bó với nhà trị liệu và nhà tri liệu có thể không hề nhận ra điều ấy. Nhà trị liệu phải chú tâm dõi theo mối quan hệ trị liệu, ghi chú về nó và chịu trách nhiệm một cách có ý thức cũng như thật thích hợp đối với cái tôi dễ bị tổn thương của các thân chủ khi nó khởi lên.

Làm việc với các cơ chế phòng vệ

Khi làm việc với vấn đề phòng vệ thể hiện tính chất tâm thần phân liệt, mục tiêu nhà trị liệu nhắm tới là khám phá chức năng của tiến trinh phòng vệ và tiến bộ thông qua các cơ chể chứa nhiều yếu tố bị đè nén và giấu che của cái tôi dễ bị tổn thương. Các phòng vệ được nhìn nhận như mẫu hình của hành vi hoặc suy tư mà người ta dùng để bảo bọc bản thân khỏi nỗi đau cảm xúc hoặc khó chịu khởi từ các tình huống đời sống hiện tại vốn thường liên quan sâu xa với ký ức thời thơ ấu đầy đau đớn. Các phòng vệ này giúp cái tôi dễ bị tổn thương đè nén các cảm xúc và nhu cầu kết nối, quan hệ.

Cùng với sự kiềm nén, các phòng vệ khác như lảng tránh, thu mình, trơ lỳ về mặt cảm xúc và cách biệt nên được xử lý bằng đáp ứng trị liệu phù hợp là xem xét việc định danh, độ hiệu lực, và bình thường hóa các phòng vệ đồng thời thấu hiểu chức năng của chúng. Khi các phòng vệ này cho thân chủ cảm thấy ổn thỏa và được dùng như cơ chế đối phó, cần lưu ý để đảm bảo cả thân chủ lẫn nhà trị liệu có thể giải quyết cảm xúc ẩn bên dưới. Mục tiêu của nhà trị liệu là tăng cường thêm sự khoan thứ với cảm xúc và việc biểu đạt các cảm xúc.

Một số hoạt động mà nhà trị liệu có thể tiến hành:

1. Giúp thân chủ bộc lộ cảm xúc với người khác để thân chủ cảm thấy mình có khả năng kết nối với tha nhân

Ví dụ, nhà trị liệu có thể nói: Vậy là B, con chó nhà anh, không sống qua cuộc phẫu thuật được, và thật buồn là nó chết rồi. Hiện anh cảm thấy như thế nào về chuyện đó?

Thân chủ: Về điều gì kia?

Nhà trị liệu: Về cái chết của con chó B. nhà anh đó. Tôi đoán là anh hẳn cảm thấy buồn.

Thân chủ: Tôi cho rằng thế, tôi nghĩ thế.

Nhà trị liệu: Thế còn T. con trai anh, cậu bé cảm thấy như thế nào về cái chết của B.?

Thông qua việc khuyến khích tiến trình học hỏi xã hội, thân chủ sẽ bắt đầu nhận ra và thấu hiểu các cảm xúc khác nhau ở người khác cùng lúc với việc họ có thể mô hình bắt chước, việc này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực tri nhận sự thân mật, gần gũi và trao đổi qua lại ở thân chủ.

2. Các bài tập phản ánh

Hoạt động này nhằm khuyến khích thân chủ phản ánh một điều tình cờ xảy đến trong đời họ mang tiềm năng đánh thức một cảm xúc. Thân chủ nên được động viên nói về các cảm xúc của họ và cảm xúc của những người khác khi thân chủ đã hiểu và phản ánh sự kiện liên quan. Thân chủ cũng được khuyến khích ghi lại nhật ký phản ánh những suy tư và cảm xúc liên quan đến sự vụ hàng ngày; bài tập này giúp thân chủ nhận ra các cảm xúc của riêng họ rồi biểu đạt chúng.

Với kết quả test, liệu tôi đã mắc rối loạn tâm thần XYZ?

Không còn là điều hết sức bí mật hoặc sự gì quá chừng xa xôi cho việc tiếp cận và sử dụng các trắc nghiệm tâm lý lâm sàng khác nhau, cả thông qua hình thức chúng ta tự âm thầm tiến hành trực tuyến trên mạng lưới điểm toàn cầu hoặc được ai đó hướng dẫn rõ ràng nhờ tài liệu, sách vở bằng giấy in. Người làm việc trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chăm sóc khỏe tâm thần nói chung, nhất là mí bạn sinh viên mới ra trường, thừa tự tin hay tranh thủ xin xỏ test cũng như ưu tiên nhanh nhạy để tận dụng tối đa cơ hội xiển dương nghề nghiệp này như kiểu đang sở hữu một món hàng độc (sic).

Nên không lạ lẫm hay ngỡ ngàng lắm khi có cô gái còn rất trẻ viết thư bảo mình thuộc dạng xác suất rất cao mắc rối loạn lưỡng cực (bipolar disoder) sau khi tự làm trắc nghiệm trực tuyến bằng Anh ngữ; tuy thế, cô học trò trường phổ thông chuyên này cũng hiểu biết ít nhiều để chia sẻ thêm rằng mình không hoàn toàn nghiêm túc khi nhìn vào kết quả…

Trái lại, từng gặp bà mẹ trí thức cuống cuồng vì phát hiện cô con gái 19 tuổi đang bỏ bê học hành, suốt ngày ủ rũ và bất chợt khóc lóc sau khi thực hiện một số trắc nghiệm trực tuyến rồi thấy mình đạt tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn phân liệt cảm xúc (schizoaffective disorder).

Thực tế, một số trắc nghiệm trực tuyến là cực kỳ quá dễ gây lầm lạc. Có một sự khác biệt thông thường rất lớn giữa tri giác của một người về cách thức người đó là và những gì chúng ta gọi các tiêu chí lâm sàng cho một rối loạn tâm thần.

Nếu nhìn vào một câu hỏi kiểu như “Đôi khi tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc”, hầu hết người ta có thể nhớ lại thời điểm có liên quan, họ hạnh phúc hơn ‘bình thường’. Tuy thế, từ quan điểm lâm sàng, hạnh phúc tột độ tìm thấy ở rối loạn lưỡng cực là một triệu chứng nghiêm trọng đang khiến họ mất khả năng… Triệu chứng “tiêu sắm vô tội vạ” là ví dụ khác; một người trưởng thành lành mạnh có thể bị xem là mua đồ kinh khủng khi tiêu hàng trăm triệu đồng cho áo xống, trong khi với rối loạn lưỡng cực thì “tiêu sắm vô tội vạ” lại còn tệ hại hơn, tỷ dụ bệnh nhân vào viện để phẫu thuật y khoa và đã buộc người nhà đem đặt cạnh giường laptop màn hình lớn đặng cập nhật thông tin trên kênh truyền hình mua sắm.

Lựa chọn tốt nhất có thể nghĩ tới nhanh chóng là tìm kiếm lời tư vấn từ một chuyên gia sức khỏe tâm thần; hầu hết các nhà tâm thần học và tâm lý học có thể trả lời các câu hỏi và mối quan tâm của thân chủ mình chỉ trong vài phiên làm việc; điều này đặc biệt quan trọng nếu ta đang trải nghiệm các triệu chứng khiến hàng ngày cảm thấy càng khó khăn để sống hơn.

Nhân tiện, phân liệt cảm xúc là dạng kết hợp tâm thần phân liệt (schizophrenia) với một rối loạn cảm xúc (khí chất) như trầm cảm (depression) hoặc rối loạn lưỡng cực.

Thật không may như với tất các các rối loạn tâm thần và cảm xúc, chẳng có trắc nghiệm nào quen dùng để chẩn đoán hoặc khẳng định sự hiện diện của một rối loạn. Tôi đồ rằng kiểu test bà mẹ trí thức trên dễ chừng là dạng trắc nghiệm tự khai (self-report test) mà cô con gái tìm thấy trên mạng. Các kiểu lượng giá như thế mang nghĩa tầm soát về tính khả thể của một rối loạn, song có rất nhiều lý do cho thấy tại sao các test ấy không đáng tin cậy và thường mới đưa ra được các chỉ dấu rất thô sơ trên tiến trình lượng giá chuyên nghiệp mà thôi.

Quả đúng là giới chuyên môn sức khỏe tâm thần dựa vào các triệu chứng thân chủ tự khai để xác lập một chẩn đoán; tuy vậy, nhờ việc đặt các câu hỏi mà họ có thể làm rõ ràng và khám phá các trải nghiệm của bệnh nhân, rồi phán đoán các triệu chứng đã thu thập; các trắc nghiệm trực tuyến hoặc làm trên giấy in thì không đạt đến được vậy. Do đó, một số người có thể trả lời các câu hỏi đăng tải lên theo các cách dễ thêm vào một điểm số dẫn đến một vấn đề sức khỏe tâm thần, đơn giản bởi vì các cách thức họ diễn giải những gì được hỏi, hoặc ý nghĩa từ các lựa chọn đề nghị.

Hơn nữa, còn có vấn đề của việc chồng lấn các triệu chứng tâm thần. Rất nhiều chẩn đoán khác biệt có thể bao gồm trong một số khía cạnh mà cô nữ sinh viên trải nghiệm mắc phải. Tỷ dụ, trong khi tâm thần phân liệt gồm các ảo giác (các trải nghiệm cảm quan sai lệch) và hoang tưởng (các niềm tin lầm lạc) thì rối loạn trầm cảm nghiêm trọng đôi khi cũng chứa các triệu chứng nặng nề này. Các vấn đề khí chất (cảm xúc), như trầm cảm và lo âu, thường là các chẩn đoán tâm thần phức tạp. Chính sự rối rắm của các chẩn đoán tâm thần nên điều quan trọng là nữ sinh viên cần được lượng giá bởi một chuyên gia sức khỏe tâm thần có bằng cấp. Chẩn đoán chính xác thường rất khó khăn (và lắm khi bất khả), song cơ bản là biết liệu cô con gái có đang trải nghiệm một số triệu chứng ám chỉ tâm thần phân liệt hay không.

Thuốc dùng điều trị tâm trạng trầm uất thuộc dạng khác so với các loại dược lý sử dụng để điều trị các triệu chứng loạn thần, vốn không phải là nguyên nhân gây ra trầm cảm. Với những căn bệnh như tâm thần phân liệt và rối loạn phân liệt cảm xúc, thuốc men là bước cần thiết đầu tiên, và sẽ đòi hỏi chỉ định của một bác sĩ tâm thần học.

Thích đáng nhất vẫn là bác sĩ tâm thần chuyên khoa nên tôi đã khuyến cáo bà mẹ trợ giúp và động viên con gái mình hẹn gặp một bác sĩ tâm thần. Nếu cô ấy được chẩn đoán bởi một chuyên gia tâm thần thì ông bác sĩ này sẽ đưa ra các chỉ định hoặc đề xuất phương án điều trị phù hợp. Nếu không ổn, đây là thời điểm để thử tìm cách tiếp cận khác…

Tăng động và bị điếc: hiệu ứng đáng suy tư của những sự thiếu thích nghi ở trẻ

Tiếp xúc với một trẻ bị điếc chưa đến tuổi đi học tại nhà, cùng với bố mẹ của cậu bé; thấy chị gái cháu, sinh cách 10 năm, lấp ló đứng trên gác hỏi vọng xuống…

Người bố béo tròn, cố bám níu hy vọng da diết vào vài ba chi tiết để cố tin rằng rồi vào một hôm đẹp trời con trai sẽ bật lên thành tiếng hẳn hoi, cho dẫu họ đã thăm khám chuyên khoa đàng hoàng và có kết luận chính thức; người mẹ thì nhẫn nhịn, khuôn mặt không ẩn giấu hay che hết nỗi đau bên trong được, chia sẻ chắc chắn bên chồng về một nỗi niềm lo lắng tràn bờ ở tư thế ngồi bồn chồn, vọng động.

Có lẽ, toàn thể gia đình gồm cả bà ngoại là người trông cháu từ sáng đến tối khi bố mẹ đi làm, sẽ học ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp qua lại với cậu út.

Và cho dẫu (các) cô giáo tình nguyện đến dạy ngôn ngữ ký hiệu cho bé sẽ tiếp tục chịu đựng một quãng thời gian nữa, chứng kiến nọ kia ngoài ý muốn dấu hiệu, biểu hiện lăng xăng, chẳng ngồi yên đủ lâu và khó tập trung vào bài nếu cháu không được cầm lấy điện thoại, v.v…  thì cũng chưa đủ chứng cớ xác thực chẩn đoán với cái nhãn ‘tăng động’ (bài báo cập nhật lên tiếng về sự lạm dụng thang đo chẩn đoán và điều trị bằng thuốc rối loạn ADHD) mà một trung tâm nghiên cứu giáo dục đặc biệt đánh giá. Điều cơ chừng cần ưu tiên tìm hiểu và trợ giúp cải thiện tình hình hơn là trạng thái giao tiếp, quan hệ của môi trường bao quanh trẻ. Một sự chú tâm quá mức duy mỗi đứa bé cho việc học ngôn ngữ cử chỉ hay khởi đầu tiến trình ‘viết chữ, làm toán’ quen thuộc lâu nay e chưa thiết thực, khẩn thiết cho bằng công việc luyện tập giao tiếp không lời, tương tác sao cho trẻ dần nắm bắt được cảm xúc người khác và tự tin biểu đạt cảm xúc bản thân, nhất là khám phá chuyển biến khuôn mặt và khẩu hình người phát ngôn.

… Khả năng đọc khẩu hình khi đang chuyện trò là một sự tiến triển quá siêu tuyệt, song có dự án muốn đặt câu hỏi người bị điếc liệu có giỏi giang hơn hẳn cả trong việc giám sát an ninh nói chung.

Hình như chưa có nghiên cứu nào so sánh người nghe được và người bị điếc trong chuyện thực hiện giám sát những việc chuyên biệt, song có bằng chứng khẳng định người bị điếc thừa hưởng nhiều lợi thế từ bình diện chú ý khía cạnh thị giác. Đây không phải như chuyện nhìn thấy phổ quát kiểu năng lực cảm thụ sắc sảo về thị giác, mà có bằng chứng rõ ràng rằng người bị điếc giỏi hơn trong chuyện lưu ý đến những thứ bên rìa ngoài của sự nhìn thấy và cũng giỏi ở việc phát hiện sự chuyển động. Tiềm năng độc đáo này khiến người bị điếc đáp ứng hoàn hảo công việc và có vẻ giỏi hơn các đồng nghiệp có khả năng nghe được. Vậy nên, dự án không chỉ gợi ra cụ thể con đường hướng đích tuyển dụng ‘người khuyết tật’ vào làm việc mà còn phát hiện đối tượng nào có khả năng ‘siêu phàm’ nữa; góp phần làm đảo lộn toàn bộ ý tưởng về sự khiếm khuyết, tàn tật.

Nhân đây, giới thiệu thêm một số nghiên cứu chưng cất các trải nghiệm khác nhau về chuyện “nghe các giọng nói” ở người bị điếc; chẳng hạn, ở đây cho thấy các trường hợp bị điếc trước khi học được ngôn ngữ và bộc lộ việc nghe các giọng nói như dấu hiệu của việc bị mắc bệnh tâm thần.

Dù giả định thường gặp là người bị điếc có thể mang các dấu hiệu mắc ảo giác song nghiên cứu vừa nêu trên lại rất cẩn thận xem xét người bị điếc quan tâm vấn đề ra sao và dường như họ tuyên bố rõ ràng là mình ‘nghe’ các giọng nói.

Các bệnh nhân chỉ được đánh giá là mắc các ảo thanh nếu họ tỏ rõ là mình nghe các giọng hơn là nhận được thông tin bằng con đường khác, và vài cá nhân đưa dấu hiệu nhờ nói, đặt câu hỏi về cách họ có khả năng nghe, trong trạng thái điếc, vốn không am hiểu được. Đa phần bệnh nhân thì chỉ nhún vai hồi đáp kiểu “không rõ’, hoặc biểu thị rằng họ không hiểu câu hỏi.

Những bệnh nhân khác nỗ lực giải thích giả tạo, dễ dãi hoặc nọ kia không thỏa mãn kiểu ‘có thể đang nói trong não bộ’, hoặc ‘đôi khi tôi bị điếc, đôi khi tôi nghe thấy’. Một bệnh nhân khẳng định mình có thể nghe nhạc nếu anh ta vặn nó to lên (khả năng cao là biểu đạt tri giác về sự dao động), và hàm ý tương tự sự thật về chuyện phát ngôn. Những người khác vẫn tuyên bố không thật hoặc hoang tưởng rằng họ có thể nghe hoặc từng có khả năng nghe thấy.

Một nghiên cứu khác cố tránh các cạm bẫy khi nghiên cứu hiện tượng ảo thanh ở người có hạn chế hoặc không nghe được.

Bởi thực tế, một số nghiên cứu trước đó về người bị điếc nghe các giọng nói bị chỉ trích khi giả định rằng một người bị điếc mô tả một ‘giọng nói’ nghĩa tương đương là họ đang có một trải nghiệm tương tự với người nghe được. Tỷ dụ, khi một người bị điếc mô tả trải nghiệm như ‘tiếng ồn’ thì họ chỉ hàm ý nó đặc trưng bị tống bừa vậy thôi, chứ nó không mang các thuộc tính âm thanh riêng biệt.

Nghiên cứu thượng dẫn dùng phương pháp phân loại, gồm tập hợp các tuyên bố về trải nghiệm mà người điếc thể hiện và họ được đề nghị chọn các câu nào mô tả tốt nhất trải nghiệm của bản thân. Dữ liệu được xử lý qua phương pháp phân tích nhân tố (factor analysis) nhóm thành 5 nhóm người/ ‘nhân tố’ trải nghiệm tương tự nhau.

Lời cuối. Bi hài thay, có nhiều chiều kích căn bản khiến chúng ta tức cười. Tất cả mọi người cười vui, và kẻ cười đùa í luôn luôn kèm theo một mẫu hình giông giống nhau của các âm thanh ồn ào vui nhộn. Người bị điếc không bao giờ nghe được một âm thanh vẫn  còn khiến người ta cười phá lên; tiếng ồn ào vỡ òa í tạo tác bởi những con người chia sẻ nhiều thuộc tính thanh âm của ngôn ngữ, hơn là thuần túy bằng chứng cho việc tấn công chớp choáng não bộ và trạng thái cơ thể chúng ta dùng khi hít thở và nói năng.

Lý do một số thân chủ không thích nhà tâm lý học lâm sàng

Nâng đỡ, thấu hiểu, ưa thích
Nâng đỡ, thấu hiểu, ưa thích

Như mào đầu dạo nào, giờ là lúc gõ xuống về khía cạnh tế nhị và khá thông thường này trong giới hành nghề lâm sàng.

Nhiều người có mối quan hệ như thể chuyện huyền thoại với nhà trị liệu: họ cảm thấy được nâng đỡ,  thấu hiểu, yêu thích. Song cũng có một số người cảm thấy đôi chút không thoải mái, dễ chịu.

Một số tâm lý gia gặp khó khăn với người mắc bệnh tâm thần, đặc biệt khi họ được chẩn đoán là rối loạn Nhân cách ranh giới hoặc Tâm thần phân liệt.

Hầu hết người làm nghề khởi sự bằng việc lượng giá đối tượng, cái gọi là chẩn đoán. Với bản chất rất riêng, chẩn đoán nhìn vào những gì không thực thi. Hầu hết sẽ dễ tán đồng rằng đấy là điều tốt, bởi nếu không biết vấn đề nằm ở đâu thì làm sao hàn gắn, chỉnh trị nó.

Mặt khác, nhà tâm lý học cũng là con người. Giống như bạn và tôi, nhà tâm lý học có những ưa thích và ghét bỏ riêng tư; cơ chừng họ cũng không quá khác với người chủ sở dụng lao động, theo nghiên cứu, thường quyết định thuê nhân công chỉ trong vài phút gặp mặt đầu tiên.

Đây có thể là sự “không đồng nhất hóa” có liên quan đến tiến trình đặc thù hóa những người mắc bệnh tâm thần như quá dễ dàng nhận ra và khá khác biệt so với các cá nhân “bình thường” trong khi xác định bản thân là bình thường và không nhạy cảm với bệnh tâm thần. (1, 2)

Điều này tương tự với khái niệm “xa lạ, ngoại lai” ít nhiều chúng ta từng nghe rồi và thường dẫn người ta nghĩ tới chủ nghĩa vị chủng (ví dụ, “Tôi không biết mình có muốn sống ở S. không; ở đó có nhiều người T. Họ thực sự… rất khác.”)

Sự không đồng nhất hóa có thể làm củng cố thêm sự tự tôn của một người; thậm chí, có thể là thứ cảm giác nguyên thủy trong việc tạo sự xa cách giữa mình với ai đó đang “khốn khổ”, ngõ hầu dễ tránh bị “mắc dính” vào một bệnh tật. (Dĩ nhiên, đây là nói trên bình diện vô thức; rất hiếm nhà tâm lý lâm sàng giữ một suy tư phi lý như thế.)

Các nhà lâm sàng nhìn nhận bản thân chẳng đồng dạng với những ai có các dấu hiệu ranh giới và người mắc Tâm thần phân liệt. Đối tượng mang các dấu hiệu ranh giới thường được kinh nghiệm là khá nguy hiểm và ít mong muốn nhất trong số các dạng mà lâm sàng được yêu cầu đánh giá (chính bản thân họ, một thành viên cộng đồng, người mắc trầm cảm vừa phải, người mang các dấu hiệu ranh giới, và người mắc tâm thần phân liệt).

Sự không đồng nhất hóa thế gây ảnh hưởng gì? Nghiên cứu chỉ ra rằng các kiểu tri giác như vậy làm giảm giá trị trong mối quan hệ nhà trị liệu và thân chủ; có thể ngăn người ta khỏi nhu cầu tìm đến các dịch vụ trợ giúp tâm lý; gây khó khăn cho nhà trị liệu trong việc cảm thấy và biểu đạt sự thấu cảm và mối quan tâm chân thành; và có thể mô hình hóa hành vi không thích đáng.

Câu hỏi: điều ấy đến từ đâu? Nhu cầu duy trì lòng tự tôn và nỗi sợ bị “lây nhiễm” đã được lưu ý. Các nguồn khác có thể là trình độ đào tạo nghề, đặc biệt khi quá nhấn mạnh nhà tâm lý lâm sàng như một chuyên gia. Cũng có thể nói rằng việc quá chú mục vào chẩn đoán, chăm chắm quá những gì sai lạc là không hữu ích cho lắm. Hơn nữa, e chừng điều ấy khá dễ xảy ra với người non tay nghề và quá nhạy cảm.

Quan trọng hơn, vậy liệu bằng cách nào các nhà lâm sàng có thể tự mình nhìn nhận các thân chủ mắc bệnh tâm thần như chính họ là, chứ không phải “kẻ xa lạ”?

  • Nhà lâm sàng cần có một quan điểm toàn thể hơn về các thân chủ của mình; không chỉ quan tâm các vấn đề rối nhiễu mà cả sức mạnh của họ nữa. Tỷ dụ, cách tiếp cận nhắm vào giải pháp làm giảm thiểu việc quá chú trọng chẩn đoán và tập trung cho các giải pháp cụ thể, định hướng tương lai đã chứng thực tính hiệu quả đáng vận dụng.
  • Các chương trình đào tạo và tập huấn nên a) đặc biệt nhấn mạnh vấn đề bêu xấu và mẫu rập khuôn; và b) giúp các nhà lâm sàng thiết  lập niềm tin rằng các cá nhân mắc rối loạn tâm thần có thể đích thị phục hồi.
  • Người mắc rối loạn tâm thần có thể được xem như người huấn luyện cho các nhà tâm lý học lâm sàng.

Quý vị độc giả xin thoải mái bày tỏ quan điểm và ý kiến cá nhân.

Lượng giá nguy cơ mắc Tâm thần phân liệt ở trẻ sơ sinh đầu đời

Thấy gì trong mắt người?
Thấy gì trong mắt người?

Tâm thần phân liệt (Schizophrenia, TTPL) thường là rối loạn tấn công khủng khiếp ở tuổi trưởng thành; nó quấy nhiễu đời sống của cả người mắc lẫn đối tượng điều dưỡng, chăm sóc cho họ.

Nếu chẩn đoán chủ yếu về sau mới được tiến hành thì những thiếu hụt nhận thức -thần kinh khi tùy chọn các cách điều trị chữa bệnh thường trực nhằm cải thiện chất lượng sống sẽ càng trở nên hạn chế. Lượng giá sớm nguy cơ phát triển TTPL là yếu tính mang tới các can thiệp nhằm giảm thiểu tác động của những thiếu hụt vừa nêu.

Dù toàn bộ các gene liên quan đến TTPL vẫn chưa được định hình xong, việc phân tích di truyền chỉ ra rằng một số vùng thuộc nhiễm sắc thể cho thấy có các mối tương quan mạnh mẽ với các sự thiếu hụt mang tính hành vi đặc trưng ở người mắc TTPL.

Một trắc nghiệm chẩn đoán là lượng giá về sự ức chế thính giác đối với một kích thích lặp lại âm thanh. Ở người mắc TTPL, một âm đơn lẻ nào đó “được nghe” khi kích thích đã dự phòng rồi và được biểu lộ như sự đốt cháy của các tế bào thần kinh (neuron). Tuy thế, nếu cùng một dấu hiệu thì việc được cung cấp lặp đi lặp sẽ làm đáp ứng của các neuron bị nhòe mờ đi, bằng cách ấy có thể khiến người mắc TTPL tảng lờ các âm thanh trùng lặp hoặc tiếng ồn nền phía sau.

Thiệt hại của việc kiềm hãm thính giác này được ghi nhận ở những người lớn đang khốn khổ vì TTPL. Đáp ứng ức chế bị giảm xuống được đo bằng tỷ lệ của các đáp ứng gợi lên bởi các kích thích thính giác bị thiếu hụt (S2:S1).

Các lượng giá tương tự do Hunter và cộng sự tiến hành vào 2011 trên trẻ em từ 0 đến 6 tháng tuổi nhằm nỗ lực tìm hiểu vai trò của loạn thần ở người làm cha làm mẹ, trầm cảm liên quan đến việc sinh nở và hút thuốc lá. Các ghi nhận của các đáp ứng với kích thích thính giác bị thiếu hụt được tạo nên khi các đứa trẻ đang tích cực ngủ, một trạng thái tương tự giấc ngủ REM ở những người trưởng thành.

Nhóm nghiên cứu phát hiện, con cái của các bố mẹ mắc loạn thần thể hiện sự hư hại trong ức chế thính giác. Đáp ứng thanh âm đối với kích thích thứ hai giống với đáp ứng thứ nhất cũng cho thấy sự thiếu hụt khả năng kiềm hãm. Trái ngược, trẻ sơ sinh mà bố mẹ không hề mắc loạn thần nào thể hiện sự kiềm hãm thính giác còn nguyên vẹn đối với các kích thích thành cặp.

Các yếu tố nguy cơ khác sản sinh kết quả tương tự thì rơi vào các bà mẹ mắc trầm cảm khi sinh nở và hút thuốc lá. Tất cả trẻ sơ sinh được lượng giá trong nghiên cứu nêu trên cùng có các giai đoạn thai nghén 33- 38 tuần bộc lộ việc chậm trễ phát triển như một nguyên nhân của các đáp ứng rõ rệt. Các kết quả này chứng tỏ chẩn đoán sớm TTPL là khả thể ở trẻ sơ sinh đầu đời và có thể cung cấp một thời điểm cửa sổ tốt ở độ tuổi 16- 18 nhằm đưa ra các can thiệp mang tính trị liệu.

Các đáp ứng thính giác chỉ ra bởi các neuron biểu thị thụ cảm thể alpha-7 acetylcholine. Việc kích hoạt thụ cảm thể này bằng choline đáp ứng sự phát triển của việc kiềm chế não bộ đối với các kích thích thính giác.

Trong nghiên cứu khác, tác giả Ross và các cộng sự (2013) đã khảo sát một can thiệp chế độ ăn uống nhằm thiết lập sự ức chế não bộ. Các phụ nữ mang thai được hỏi mức tiêu thụ phosphatidylcholine suốt kỳ thai cũng như ba tháng sau khi sinh nở. Trẻ sơ sinh cũng được nuôi dưỡng với chất bổ sung này từ khi ra đời cho tới 3 tháng tuổi. Hợp chất bổ sung chứa gấp đôi phosphatidylcholine được bày ra ở các chế độ ăn uống bình thường.

Ghi nhận các đáp ứng thính giác của trẻ sơ sinh cho thấy, hợp chất bổ sung chứa phosphatidylcholine trợ giúp hữu hiệu cho việc hồi phục sự ức chế bộ não bình thường đối với các đáp ứng âm thanh. Các kết quả này chứng tỏ, những can thiệp sớm liên quan đến sự phát triển như thế là có khả năng phục hồi các chức năng sinh lý bình thường của các neuron biểu thị thụ cảm thể alpha-7 acetylcholine.

Thú vị nhất, với các cá nhân điều trị giả dược, trẻ sơ sinh có kiểu gene CHRNA7 (bị khiếm khuyết di truyền ở thụ cảm thể alpha-7) đã thể hiện khả năng nhỏ nhoi trong sự ức chế não bộ. Tuy vậy, trong nhóm cung cấp dưỡng chất bổ sung, trẻ sơ sinh cùng kiểu gene lại cho thấy sự ức chế não bộ bình thường.

Vậy, các chất bổ sung thực dưỡng chứa phosphatidylcholine có thể làm phục hồi những khuyết thiếu sinh lý vốn thể hiện rõ ràng ở người mắc TTPL, chí ít trong các hệ thống thần kinh biểu thị thụ cảm thể alpha-7 acetylcholine.

Toàn bộ các nghiên cứu vừa giới thiệu minh họa khả năng mang lại các đo lường thể hiện tính phục hồi để chỉnh trị TTPL. Dẫu thế, cần các nghiên cứu tiến hành dài hạn sau đó nữa nhằm hiểu biết cần thiết rằng các can thiệp như này thực sự có đem lại sự phục hồi thường trực những thiếu hụt nhận thức- thần kinh ở những ai mắc TTPL hay không.

Cách tiếp cận trị liệu Nhân văn về Loạn thần (2)

Cố ý sắp đặt sự đời
Cố ý sắp đặt sự đời

Mục tiêu của trị liệu từ cách tiếp cận Nhân văn là tạo điều kiện để thân chủ đạt đến sự thích đáng (congruence) về cái tôi thực tế (real self) và cái tôi lý tưởng (ideal self).

Điều này có nghĩa, những gì con người là và những gì anh ta muốn là nên trở thành một khi trị liệu tiến triển. Lòng tự tin (self-esteem) thành tựu trong trị liệu sẽ cho phép thân chủ nâng cao cảm nhận về những gì anh ta là, và lòng tự tin cũng sẽ làm giảm nhẹ nhu cầu làm người tốt hơn những gì anh ta đang là. Hết sức thiết yếu, khi cái tôi thực tế càng được thân chủ chấp nhận, và lòng tự tin nổi cao tất sẽ cho phép anh ta ít thuộc một số dạng thức của cái tôi “lý tưởng” mà anh ta cảm thấy mình bị thúc ép trở thành.

Các phẩm chất của tôn trọng tích cực vô điều kiện, thấu cảm đích xác và chân thành trong nhà trị liệu Nhân văn cho phép nhà trị liệu trợ giúp thân chủ trong việc vun bồi sự thích đáng giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng từ viễn tượng của thân chủ.

Những gì mà người mắc TTPL trải nghiệm có thể gây bối rối. Rõ ràng, hầu hết các nhà trị liệu, tâm thần học và lâm sàng không thể hiểu các viễn tượng của bệnh tâm thần kéo dài mãn tính. E chừng, giá mà giới chuyên môn hiểu được những gì người mắc rối loạn tâm thần cảm nhận việc họ bị cầm tù bên trong làn da mình và một sự cô độc không kiểm soát nổi của tâm trí, với tiếng la hét của các ảo giác thì các nhà lâm sàng điều trị bệnh tâm thần sẽ thừa khả năng để thấu cảm tốt hơn với người mắc bệnh tâm thần.

Vấn đề về sự thấu cảm của nhà lâm sàng đối với bệnh tâm thần chính là quan điểm nhìn nhận người mắc bệnh tâm thần thì biệt lập và bản thân họ không có khả năng suy tư. Có lẽ, những cô độc bên trong các tâm trí của người mắc TTPL hầu như là khía cạnh đớn đau nhất của thực trạng bị mắc TTPL, thậm chí các ảo thanh có thể được thiết lập là thuộc nhóm tâm thần.

Dựa vào các tiêu chuẩn khiến họ cảm thấy không phù hợp, bệnh nhân tâm thần đáp lại với sự sỉ nhục, bêu xấu bằng việc nội tâm hóa nó. Nếu người mắc bệnh tâm thần có thể thành tựu mục tiêu thích đáng giữa cái tôi thực tế và cái tôi lý tưởng, các kỳ vọng của họ hướng tới việc “họ nên là” có thể được điều hợp thành sự chấp nhận “mình đang là ai”. Khi họ hạ thấp các tiêu chuẩn cao đòi hỏi họ nên là, sự chấp nhận của người mắc bệnh tâm thần về các cái tôi thực tế có thể diễn ra hết sức tự nhiên.

Carl Rogers nói, “Khi tôi chấp nhận bản thân như tôi đang là thì rồi tôi đích thị có thể thay đổi.” Trong cách tiếp cận Nhân văn, thậm chí nhà trị liệu có thể trợ giúp một người mắc TTPL chấp nhận họ đang là ai nhờ không ngừng phản ánh sự chấp nhận cá nhân người mắc loạn thần.

Điều này có thể dẫn đến khả năng chữa khỏi được tối đa, dù có thể không phải là sự chữa lành hoàn toàn. Tuy vậy, khi người mắc TTPL ngày càng trở nên chấp nhận bản thân hơn, họ có thể thay đổi. Chấp nhận xã hội là yếu tố cơ bản để đương đầu với TTPL, và chấp nhận xã hội còn dẫn tới việc người mắc TTPL tự chấp nhận bản thân mình. Thái độ chấp nhận của nhà trị liệu có thể là thành phần căn cốt nhằm giảm thiểu các hậu quả tiêu cực do sự sỉ nhục, bêu xấu mang lại như nó không ngừng tác động tới cá nhân người mắc bệnh tâm thần.

Câu chuyện như vậy liên quan tới các điều kiện tưởng thưởng và xu hướng hiện thực hóa. “Các điều kiện tưởng thưởng” ảnh hưởng đến người mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng hơn nhiều so với các đối tượng khác. Thuần túy được chấp nhận và thấu cảm bởi một nhà lâm sàng có thể tạo nên sự chữa lành ở một phạm vi nhất định, ngay cả với bệnh tâm thần mãn tính. Nếu người mắc TTPL được phóng thích khỏi mọi điều kiện tưởng thưởng vốn bám đuôi bởi sự sỉ nhục, bêu xấu thì có lẽ khuynh hướng hiện thực hóa sẽ tự khẳng định nó theo dạng thức tích cực, vắng bóng sự bóp méo.

Theo truyền thống trị liệu theo cách tiếp cận Con người- trọng tâm, thân chủ được phép dẫn dắt cuộc trao đổi hoặc đối thoại trong các phiên trị liệu. Đây là điều lý tưởng cho cá nhân mắc loạn thần, cung cấp niềm tin cho anh ta rằng mình đang được nhà trị liệu lắng nghe. Thật rõ ràng, tâm trí nhà trị liệu sẽ phải căng ra khi họ tìm cách thấu hiểu viễn tượng chủ quan của thân chủ. Theo thuật ngữ của trị liệu Nhân văn, lý thuyết đang bàn cơ chừng áp dụng đối với tất cả cá nhân, vì nó dựa trên tâm lý thuộc mọi con người, mỗi cá thể hết sức độc sáng, đặc thù có khả năng được hưởng lợi từ cách tiếp cận này thông qua tiềm năng triển nở mà họ thừa hưởng từ chúng. Carl Rogers đem lại hy vọng, bởi nhờ phương tiện của lý thuyết, đã đem lại sự cải thiện nhất định cho các cá nhân mắc loạn thần.

Cách tiếp cận Trị liệu Nhân văn về Loạn thần

Thường nhiều người vẫn cho rằng loạn thần hoặc cụ thể như Tâm thần phân liệt (Schizophrenia, TTPL) thì không thể thuyên giảm, vợi bớt đi được, ngay cả nếu có can thiệp bằng trị liệu tâm lý đi nữa.

Trong bài này muốn chỉ ra rằng ngược lại, đấy là điều mà trị liệu, đặc thù như cách tiếp cận của Nhân văn, có thể hữu ích đối với cá nhân mắc loạn thần; song, có lẽ, nhà trị liệu sẽ gặp khó khăn trong việc thấu hiểu cách trường phái này áp dụng vào các vấn đề liên quan đến loạn thần.

Dù ý kiến hiện vẫn còn thịnh hành trong xã hội chúng ta là TTPL không đáp ứng với tâm lý trị liệu, lần nữa, cần khẳng định ở đây bất kỳ nhà trị liệu nào cũng có thể quan hệ với cá nhân mắc loạn thần, và, nếu trị liệu không thành công thì sự thất bại này cơ chừng khởi từ các phẩm chất của chính nhà trị liệu chứ chẳng phải xuất phát bởi đối tượng mắc loạn thần.

Carl Rogers tạo nên lối làm việc với người mắc loạn thần như sự biểu tỏ cho các khái niệm “lý thuyết Nhân văn” và “trị liệu Con người- trọng tâm”. Cách tiếp cận lý thuyết này dựa trên nhiều ý tưởng rất quan yếu phải được thấu hiểu.

Đầu tiên, “các điều kiện xứng đáng” (“conditions of worth”) và “xu hướng hiện thực hóa” (“the actualizing tendency”). Rogers khẳng định, xã hội áp chúng ta vào các “điều kiện xứng đáng”; nghĩa là, chúng ta phải hành xử theo một số cách thức đặng nhận được các sự tưởng thưởng, và chấp nhận các sự tưởng thưởng này hàm ý chúng ta xứng đáng nếu ứng xử theo các cách thức chấp nhận được. Một ví dụ chẳng hạn, trong xã hội, chúng ta được khen thưởng bằng tiền khi mình làm việc ăn lương, tính công sá.

Trong đời sống của đối tượng mắc TTPL, các điều kiện xứng đáng nêu trên dính dáng với các hành động bêu xấu. Các cá nhân mắc loạn thần, chẳng hề cố ý, không thể hành xử theo các cách thức làm nảy sinh sự tưởng thưởng được. Có lẽ một số người tin rằng, đối tượng mắc TTPL là các động vật ăn bám vào xã hội. Lối đánh giá về sự xứng đáng như thế chỉ tổ làm tăng thêm nỗi đau đớn cùng cực hơn cho họ mà thôi; các cá nhân bị bệnh tâm thần và mắc loạn thần thực tế phải chịu đựng hết sức khốn nhục trong mọi khía cạnh xã hội, cá nhân và tài chính.

Sự bất mãn, tuyệt không tán đồng của Carl Rogers về các điều kiện xứng đáng, thậm chí thực tế, ông còn tin rằng con người và các sinh thể khác nỗ lực đạt tới sự toàn mãn các tiềm năng họ có. Phấn đấu, gắng sức này được Carl Roger định danh bằng thuật ngữ “khuynh hướng hiện thực hóa” và “thúc ép ở đời” (“force of life”). Khía cạnh tiến triển mang tính khuyến khích này là động cơ của mọi hình thức sống nhằm phát huy tối đa mọi tiềm năng riêng có. Rogers tin, bệnh tâm thần phản ánh sự bóp méo, xuyên tạc khuynh hướng hiện thực hóa, dựa trên các điều kiện xứng đáng lầm lạc, sai trái. Rõ ràng, người mắc loạn thần giải quyết các điều kiện xứng đáng hết sức tiêu cực, đầy thiên lệch, xiêu vẹo.

Bằng chứng xác thực là bệnh tâm thần có thể nhiều thành tựu trên đời hơn nếu thiên hạ không áp dụng các điều sỉ nhục, bêu xấu họ. Bệnh tâm thần làm cho đối tượng bận tâm vào chuyện tự phỉ báng, bôi bác và cấu xé chính mình đến mức tàn phá cực độ trạng thái bản ngã.

Bạo lực tâm lý nhắm vào bệnh tâm thần được hỗ trợ bởi các cá nhân không mắc rối loạn. Kiểu tự lăng mạ bản thân của các cá nhân mắc loạn thần sẽ chắc chắn giảm thiểu đi hẳn nếu việc xem là vô dụng, một cái gì xa lạ với chuẩn tắc khi mắc bệnh tâm thần không hề được củng cố, xiển dương.

Bất chấp quan điểm phổ biến rằng sử dụng tâm lý trị liệu sẽ thất bại với các cá nhân mắc loạn thần, lý thuyết và cách trị liệu từ bi của Rogers lại tuyệt chưa hề giả định nó không làm nên cơm cháo gì với bệnh tâm thần.

Các thành phần căn bản trong cách tiếp cận tâm lý trị liệu của Rogers bao gồm sự tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard), thấu cảm xác đáng (accurate empathy) và chân thành (genuineness).

Ba thành phần này được xem là phẩm chất cần thiết của nhà trị liệu thể hiện trong quan hệ với thân chủ theo quan niệm của trị liệu Nhân văn. Các phẩm chất này cũng là yếu tính cho tiến trình trị liệu theo lối tiếp cận Nhân văn.

Theo đó, sự tôn trọng tích cực vô điều kiện được hiểu là việc ai đó hoặc thân chủ cảm thấy đang được chấp nhận và đối xử ấm nồng, bất luận họ tỏ lộ như nào trên diễn trình trị liệu dính dáng với chuyện bản thân trải nghiệm hoặc gặp trục trặc về cảm xúc. Nói khác, một cá nhân trong bối cảnh tâm lý trị liệu Nhân văn hoặc trong trị liệu với tâm lý gia hoặc nhà trị liệu Nhân văn mong đợi được nhà trị liệu chấp nhận bất chấp cá nhân đó biểu tỏ ra sao với nhà trị liệu. Với bối cảnh này, nhà trị liệu sẽ chấp nhận và thấu hiểu mà không chấp vào những gì thân chủ kể cho mình nghe.

Sự thấu cảm xác đáng thể hiện hiểu biết thân chủ từ chính viễn tượng của bản thân họ; tức là, tâm lý gia hoặc nhà trị liệu Nhân văn sẽ có khả năng tri nhận thân chủ như thân chủ tri nhận bản thân mình vậy, và vì thế, nhà trị liệu sẽ cảm thấy thấu cảm cùng thân chủ kiến thức nền tảng về thực tế của thân chủ. Nhà trị liệu sẽ biết thân chủ trong cái sự biết mà các suy tư và cảm xúc của thân chủ đối với bản thân, và nhà trị liệu cảm thấy thấu cảm, từ bi với thân chủ trong sự kiện ấy.

Như một phẩm chất cần thiết khác đối với nhà trị liệu Nhân văn, sự chân thành là niềm tin tưởng, lòng thành thật hướng tới thân chủ; nó là sự tích hợp hoặc tự hiện diện như thực tế nhà trị liệu đang là. Chân tình, thành thật với một thân chủ phản ánh các phẩm chất ở nhà trị liệu đòi buộc bộc lộ ra ngoài hơn trạng thái mặc định sẵn trước như một nhà trị liệu; là một con người đích thực đáng tin cậy đối với thân chủ. Carl Rogers tin rằng, là một nhà trị liệu thì mình nên là người đích thực đáng tin cậy đồng thời cũng chứng tỏ mình là người suy nghĩ cân nhắc, cẩn trọng; tức, nhà trị liệu nên dễ là người “thật”, ngay cả khi nhà trị liệu đang nói và làm đầy tính toán theo những gì đòi hỏi đặng trợ giúp thân chủ.

[còn tiếp]