Trong nỗ lực tách khỏi một người chồng gây thất vọng quá độ

Những kiến giải, khuyên nhủ kiểu dựa vào trải nghiệm như dưới đây lần nữa, đẩy người hành nghề tham vấn/ trị liệu tâm lý chạm mặt với câu hỏi khó nhằn: đâu đích thị là chuyên môn riêng có của quý vị?

“Bạn muốn chính thức ly hôn nhưng nghĩ đến con quá quấn quýt với ba nó nên bạn chùng lòng”, tức là bạn còn may mắn  về giá trị gia đình. Chỉ cần “hết chùng lòng” thì kể như gia đình của bạn đã kết thúc. Cái khó khăn của bạn đang ở trong trạng thái tâm lý và cũng đủ bình tĩnh để “nói chồng dọn về nhà bố mẹ anh ấy một thời gian cho bạn bình tâm lại, coi sống xa nhau có được không”. Điều này vô tình bạn đụng đến “nỗi sợ hãi của anh ta” nên “anh ấy cố chấp không chịu… càng níu kéo”. Hiện tượng này thể hiện sự thất thế của anh ta. Chính sự thất thế này càng làm cho bạn “không chịu nổi” vì tâm lý bạn luôn mong muốn biểu tượng người chồng phải mạnh mẽ, quả quyết. Nhưng may cho bạn vì bạn còn có cảm xúc “chỉ tội nghiệp một người đàn ông yếu đuối”. Chính cái bạn thấy “tội nghiệp” mà chồng bạn đang phải gánh chịu là sức mạnh còn lại của anh ta.

Ngoài 40 tuổi, kết hôn đã được 15 năm, có với nhau 3 đứa con; đấy chắc chắn là khoảng thời gian dài cùng những ràng buộc khó dứt, và cuộc hôn nhân của người phụ nữ này xoắn bện với đời sống hàng ngày: giả định là chị ấy nhìn thấy ông chồng thường xuyên, chia sẻ cùng mái nhà, ngồi chung mâm cơm, v.v… Và ngay cả khi đã rõ ràng về mặt trí năng rằng mối quan hệ không nên tiếp diễn nữa thì sự ngại ngần khi tạo ra một sự cắt đứt, tách biệt dứt khoát thông qua quyết định ly hôn quả là điều có thể hiểu được.

Có nỗi niềm thoải mái trong sự tương tự và nguyên trạng so với việc thay đổi cơ bản trong đời. Không hàm ý rằng duy trì nguyên trạng thì thỏa mãn hoặc lành mạnh, song đó cơ chừng là chuẩn tắc và do vậy, dễ dự đoán. Thậm chí, ngay cả khi mình ‘biết’ một cách thật hữu lý rằng đời sống sẽ tốt đẹp hơn lên sau những phiền muộn, rắc rối nhất thiết trải qua thì thay đổi không phải luôn được chào đón, gọi mời.

Đối với các sự vụ phức tạp, người chồng, như bao vị hôn phu khác trong các cuộc hôn nhân rối rắm, đã và chắc sẽ có những hứa hẹn thay đổi, rồi có lẽ còn chứng tỏ sự thay đổi ấy chí ít ở vài thời điểm, giai đoạn. Trước sự kiện chính yếu bất đắc dĩ như ly dị, chúng ta thường có xu hướng ôm ấp đầy tràn hy vọng với các cơ hội mong lặp đi lặp lại nhằm tránh đổ vỡ lớn. Tương tự, ít người kinh sợ 100%, 100% thời gian, vì thế dễ cảm thấy chần chừ bởi vì có rất nhiều chiều cạnh không hoàn toàn tiêu cực khả thể luôn thu hút chú mục vào, nhất là trong khoảnh khắc người kia ăn năn hối lỗi, đề nghị xin được tha thứ, và hứa sẽ thay đổi…

Lá thư của người phụ nữ cho thấy chị này đang vượt qua điểm mốc thôi ngóng chờ ông chồng dưới cái nhìn tươi sáng và tích cực nữa, và cũng không còn tin tưởng rằng anh ta quan tâm đến lợi lạc hôn nhân của cả hai vợ chồng. Tức giận lẫn ngờ vực chắc chắn là những cảm xúc tiêu cực sẽ dần tăng cao thôi thúc cô vợ thoát khỏi sự trì trệ hiện tại. Duy trì tiếp tục với các cảm xúc gặm mòn dần như vậy nào đem lại hay ho cho bất kỳ ai. Vì thế, cách gì người phụ nữ có thể xây dựng động cơ rời bỏ mà không đợi đến khi cô ấy cảm thấy quà tồi tệ đủ để bất chấp nỗi lo lắng và suy sụp để đương đầu với sự bất định chưa thật tỏ tường của việc ly dị và sống đơn thân?

Một chiến lược khởi phát động cơ là tập trung vào cuộc sống tốt đẹp hơn hẳn sau khi ly dị. Cách đó, thay vì nghĩ nhiều quá vào gánh nặng phải gánh chịu, người phụ nữ học cách cân bằng sắc màu cho bức tranh thêm phần sáng rõ để thấu hiểu tại sao tốt hơn hết là nên rời bỏ. Tương lai tưởng tượng còn có thể bao gồm việc bản thân được sống yên an và độc lập, tự chủ, hoặc tìm hiểu hẹn hò, hoặc tạo lập cơ sở mới cùng người khác tốt đẹp hơn. Bất chấp tương lai lý tưởng được hình dung như nào, người phụ nữ cần dành thời gian để hiển thị hóa nó ở mức nền tảng căn bản thường thấy.

Hình dung càng chi tiết và cụ thể, càng dễ tạo cảm giác tương lai không còn mơ hồ, mông lung vì nó có thể được cảm nhận ngay tức thời. Và khi chị ấy bổ sung dồi dào chi tiết điều cần thực hiện và những gì không mong muốn trong tương lai, càng dễ cảm thấy một quyết định rời bỏ cuộc hôn nhân hiện tại sẽ là sự lựa chọn cho đời sống tốt đẹp hơn, chứ không phải là một sự lựa chọn tạo nên trong tâm trạng băn khoăn, xâu xé và sợ hãi chập chờn không đành đoạn.

Câu hỏi đau đớn: Bố mẹ có thiệt tình yêu thương con cái mình?

Hầu hết bố mẹ yêu thương con cái, song một số khác yêu thương con cái theo cách phù hợp với họ.

Tầm 15% người trưởng thành được cho là có vấn đề ‘rối loạn nhân cách’. Những người này là các cá nhân mắc tiền sử dài về nhân cách, hành vi, cảm xúc, và trục trặc trong quan hệ. Có thể hiểu một ‘rối loạn nhân cách’  như là ‘một mẫu hình dai dẳng của trải nghiệm nội tại (tâm trạng, thái độ, niềm tin, giá trị, v.v…) và hành vi (xung hấn, bất ổn, v.v…) khác biệt hết sức với các thành viên hoặc nền văn hóa’. Các mẫu hình trục trặc chức năng như thế tạo nên nhiều vấn đề hệ trọng trong vận hành của cá nhân và cảm xúc, thường dẫn tới phiền não hoặc thiếu hụt trong tất cả các lĩnh vực hoạt động.

Theo quan sát, các rối loạn nhân cách có các nhân cách căn cốt mang tính ích kỷ, vô tình với người khác, ưa thích bản thân thái quá, chối bỏ trách nhiệm cá nhân, và một cảm nhận kinh khủng về quyền tự tung tự tác cho phép họ lạm dụng hoặc đối xử bất công với người khác khi các yêu cầu ích kỷ của họ không được đáp ứng ngay lập tức. Các rối loạn nhân cách cực kỳ thích kiểm soát và giỏi mánh khóe và chiêu trò; thường dùng các hành vi dễ thấy như hăm dọa hoặc lạm dụng về mặt thể lý trong khi những lần khác lại dùng nhiều kỹ thuật tinh vi như điều khiển, lừa gạt, và dẫn dắt theo lược đồ.

Cá nhân mắc rối loạn nhân cách nhìn mọi thứ trong môi trường thảy đều trực tiếp liên quan đến họ. Hoạt động vụi chơi ở trường học của đứa trẻ được nhìn nhận như gây phiền phức với thời khóa biểu của họ, ngay cả khi họ là bố mẹ. Họ không thể hiện các giá trị và thái độ bình thường trong vai trò truyền thống là bố mẹ, vợ chồng, đồng nghiệp hoặc bằng hữu. Khi hành vi ích kỷ thu hút sự chú ý và khiến họ bận tâm, họ thường bùng nổ, đổ tội, và tỏ ra kịch tính ghê gớm, cùng lúc giả định mình như đang chịu đựng là nạn nhân mặc dù họ đang quấy rối hoặc tỏ ra thách thức hết sức sai trái.

Về mặt xã hội, những ai mắc các rối loạn nhân cách có các biểu đạt cảm xúc hời hợt, thể hiện lòng trung thành một cách giả tạo, và có xu hướng chiêu trò với những ai xung quanh họ. Khi chúng ta có bố/ mẹ hoặc cả song thân mắc rối loạn nhân cách, những kết nối cảm xúc hời hợt là quá chừng rõ ràng. Các bố mẹ như thế đầu tư nhiều cảm xúc vào đời sống cho bản thân họ hơn là cho con cái. Họ có thể thực sự bỏ mặc con cái và không đoái hoài gì, đổ tội hành vi của mình là do con cái.

Người mắc rối loạn nhân cách đa phần tự bào chữa và tỏ ra rất ít ỏi hoặc không hề cho thấy chút ăn năn, hối lỗi, hoặc tiếc nuối nào với cách thức họ đối với những người khác.

Trong không ít tình huống thực tế, cơ chừng người làm cha làm mẹ lấy mình làm trung tâm và biểu lộ các dấu hiệu rối loạn nhân cách. Điều này nói với con cái họ cần tạo lập đời sống độc lập càng sớm càng tốt. Hầu như không khả thi và hiệu quả bao nhiêu trong việc đương đầu với một ông bố hoặc bà mẹ như thế. Ông/ bà ấy không hề quan tâm đến ý kiến con cái; hơn thế, con cái họ nên chấp nhận hoàn cảnh thực tế và tìm cách để sống ổn thỏa. Rất nhiều trường hợp bi kịch khi con cái càng kéo dài quan hệ thì bà mẹ/ ông bố thù hằn và hay bực bội càng củng cố thêm quan điểm lâu nay, rằng đời sống của họ là quan trọng trên hết; tương lai, bố mẹ như thế sẽ đi vào đi ra đời sống con cái tùy nghi. Lần nữa, cần nhớ rằng trong khi hầu hết bố mẹ yêu thương con cái thì với các ông bố bà mẹ mắc rối loạn nhân cách lại yêu thương con cái tùy vào sự tiện lợi của chính họ.

Thật đau đớn song sự thật, những gì con cái các vị này cần thiết thực hiện là sự sống còn… Nhiều trẻ vị thành niên nhận thấy bản thân chịu đựng với nhiều bố mẹ rất hay chỉ trích, la mắng và một số đôi khi còn bị lạm dụng, hành hạ về mặt cảm xúc. Tình huống có thể liên quan với stress hoặc nhân cách của các ông bố bà mẹ hơn là tự thân trẻ vị thành niên. Nếu bố mẹ quá khe khắt và bắt nọn từng điều nhỏ nhặt, con cái phải chấp nhận sự kiện rằng mình sẽ không bao giờ khiến họ hạnh phúc. Thực tế, một số bố mẹ không có năng lực trợ giúp về mặt cảm xúc.

Đây là điểm tích cực. Mình không nhất thiết phải buộc chấp nhận bố mẹ là người thành công trong đời. Khi mình tốt nghiệp phổ thông hoặc lấy được bằng Đại học, mình có thể tạo lập sống cuộc đời riêng và chăm lo nghề nghiệp, rồi quyết định mức độ nhiều ít mình muốn bố mẹ tác động như nào đến cuộc sống bản thân. Nhiều người trưởng thành có quan hệ rất thân thiết, gần gũi với bố mẹ bởi vì bố mẹ giành được tình cảm thiêng liêng từ con cái; những người khác thì chọn không gắn bó, thậm chí tách biệt do các hành vi của các ông bố bà mẹ mang dấu hiệu rối loạn nhân cách như thế.

Một phần tốt lành của việc sống đời trưởng thành độc lập là thành công của mình dựa trên người khác đánh giá mình ra sao, chứ không phải do bố mẹ mình nhìn nhận mình như nào. Khi mình thiết lập nghề nghiệp chẳng hạn, không ai sẽ hỏi han về thời thơ ấu của mình hoặc đồng nghiệp nào quan tâm đâu. Mình là ai chứ không phải cách bố mẹ đối xử hoặc ý kiến của họ về mình quyết định. Chính quan điểm của bản thân mình mới đích thực quan trọng.

Và đây là lúc mà mối xung khắc giữa tự nhiên và nuôi dưỡng xuất hiện, các chiều cạnh tác động của văn hóa cho thấy sức mạnh lợi hại của nó.

Ly dị, hôn nhân, đi – ở, và trục trặc bất thường

Thi thoảng, khi thoáng bắt gặp những khuyên nhủ, bày vẽ dựa trên kinh nghiệm chủ quan và dấm dẳn liếc xéo như đây, đây, đây là y rằng thấy mình muốn góp ý, diễn giải trở lại theo cách hiểu riêng.

Trả lời: Tôi hiểu phần nào tâm trạng của bạn lúc này. Từ cảm giác chủ động đến cú sốc trong chuyện chồng ngoại tình, sự phẫn nộ và mất niềm tin ở nơi chồng bạn cũng như thái độ trơ trẽn của cô gái kia. Tuy vậy, khi phát hiện anh ấy ngoại tình lần đầu thì dường như cách xử lý của bạn có vẻ quá chủ quan. Mặc dù, cách nói chuyện với chồng là điều rất tích cực để kéo anh ấy ra khỏi chuyện ngoại tình sai trái nhưng bạn đã tin tưởng và tha thứ quá dễ dàng. Như vậy sẽ dễ làm cho họ nảy sinh tư tưởng mắc sai lầm lần nữa. Lần thứ hai tất nhiên nó đã xảy ra và bạn là người đau khổ và thất vọng. Chồng bạn tiếp tục có quan hệ với người con gái kia chứng tỏ anh ấy không giữ lời hứa và không có trách nhiệm với hôn nhân của mình. Tuy vậy, bạn nên xem xét thái độ của anh ấy với gia đình ra sao, anh ấy có yêu thương và chăm sóc gia đình hay không? Bạn mong muốn cuộc hôn nhân này sẽ đi đến đâu? Nếu còn muốn tiếp tục bạn cần chia sẻ những cảm xúc của mình với chồng bạn. Bạn cũng cần nói rõ cho anh ấy rằng, nếu muốn quay lại thì anh ấy cần phải hành động để chứng minh sự thay đổi ấy. Chúc bạn sớm tìm lại được sự bình an trong tâm hồn.

Anh chồng trong câu chuyện trên cơ chừng chẳng những đã tỏ ra không sẵn sàng cam kết mà còn hình như cho thấy ước ao luôn lợi dụng sự cảm thông của chị vợ. Cô ấy có thừa bằng chứng xác nhận điều mình hay nghi ngờ, và quan trọng không kém, cô ấy còn dư dật thời gian để học hỏi chồng mình là người như thế nào.

Vì thế, cô ấy chắc chắn cần tiến hành đôi thứ tự vấn lương tâm không chỉ về thái độ bản thân đối với chuyện hôn nhân và một đời sống cam kết cùng nhau mà còn nên lưu ý đến những dạng kiểu giới hạn và ranh giới mình muốn đặng thiết lập mối quan hệ thân mật với tha nhân. Nếu cảm thấy riêng mỗi mình thôi chẳng đủ khả năng tự vấn lương tâm chân thành, có lẽ khôn ngoan là tìm kiếm một nhà tham vấn tâm lý.

Hôn nhân luôn sản sinh tiềm năng tạo tác các hoa trái tốt lành trong đời sống những ai hiểu biết ý nghĩa và quyền lực của sự cam kết, tin tưởng, chung thủy, và tôn trọng lẫn nhau; gì gì, nó quyết không phải là nơi chốn kinh doanh lập ra để giải trí hoặc mời gọi bước vào trong hời hợt, khinh suất. Dù khác biệt phong tục tập quán và tùy thuộc nền văn hóa, không cuộc hôn nhân nào có thể gìn giữ vững bền mà không đòi hỏi các bên chia sẻ các giá trị căn cốt và tin tưởng lẫn nhau.

Mặt khác, kết thúc cuộc tình, chia tay với một người ‘phụ nữ tốt’ vì những lý do hết sức ích kỷ rõ ràng là điều chẳng lành mạnh chút nào. Song duy trì một mối quan hệ thuần túy bởi cảm nhận hàm ơn và bổn phận âu cũng có cái giá phải trả nhất định. Quá nhiều lý lẽ một ai đó tự mình có thể phát hiện ra về chuyện bản thân không hạnh phúc trong một cuộc hôn nhân. Và nếu họ không tính đếm đủ đầy các lý do ấy, họ khá dễ lặp lại những lỗi lầm trong các mối quan hệ tương lai. Người đàn ông có thể đã “hoàn tất, xong việc” với nỗ lực cố gắng nêm nếm gia vị hôn nhân, song anh ta nợ bản thân mình việc hiểu biết thật chính xác những gì đang diễn ra trong lòng mình và mức độ cần phải thực hiện thật lành mạnh, đối lập với các lý do dở tệ. Lần nữa, hẳn là ý tưởng hay khi viếng thăm một nhà tham vấn để sắp xếp, phân loại các vấn đề đang ngổn ngang, phiền muộn.

Điều duy nhất cơ chừng ‘sáng tỏ’ ở đây là người phụ nữ tuổi 40 băn khoăn nên hay không ly hôn nói chung không tương thích với toàn bộ những thứ khác diễn ra chừng ấy tháng năm dằng dặc, và câu hỏi thắc mắc của người phụ nữ này tự thân nó mâu thuẫn kỳ lạ. Chị ấy đang tiến tới việc sẽ không ngừng chất vấn chính mình về mối quan hệ này có đích thực tốt đẹp. Và, nếu cô có tâm trí nô lệ nhẫn nhục nó, thay vì thiết lập các giả thuyết về những gì cần tiến hành để hàn gắn, sửa chữa thì cơ chừng người phụ nữ này nên  nghiêm túc nhận được sự đánh giá thật khách quan, chuyên nghiệp hơn từ bên ngoài về những gì cả hai vợ chồng cần học hỏi cách giao tiếp hiệu quả nhất cũng như làm sao để nuôi dưỡng và củng cố tốt lành mối quan hệ. Không khó thấy một bầu không khí ngột ngạt và ốm đau lởn vởn xung quanh cuộc hôn nhân này, đòi hỏi thời gian và tiến trình xử lý dài lâu, kiên định…

Điều thú vị là người ta thường hỏi xin lời khuyên nhủ về những gì đang diễn ra khi họ cơ chừng khá đủ khả năng để định hình tương đối cô đọng các hiệu ứng do chồng, vợ họ gây ra. Cũng thú vị rằng khi hãy còn quan hệ và đón nhận các ‘đặc ân’ nọ kia thì cảm nhận hiện trạng hôn nhân rõ ràng không hề là điều họ mong đợi, ưng ý. Và cuối cùng, khá hay ho rằng các nhân vật trong các trường hợp tư vấn trên tâm tình rằng quan hệ bị phá vỡ, hủy hoại không hề mới xảy ra ngày một ngày hai, thậm chí ngay cả khi vợ/ chồng họ tiếp tục trục trặc, vụng trộm thì kết cục hình như chỉ tổ làm cho hành vi thiếu trách nhiệm với chính bản thân mình tăng lên thêm mà thôi.

Những gì đang diễn ra ở đây phần lớn bộc lộ khá nhiều bất thường của cả hai bên đối với một cuộc hôn nhân đã trải qua năm tháng chẳng hề ngắn ngủi. Gợi ý khả dĩ: đây là thời điểm dựa vào giá trị và lợi ích của bản thân, và xử lý các vấn đề có thể gây nên chuyện ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ vợ chồng, gia đình và con cái.

Thiền tập tỉnh thức: câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành

Thiền tập tỉnh thức (mindfulness meditation) giờ không còn quá xa lạ với quảng đại quần chúng Đông Tây.

Thiền tập tỉnh thức là câu chuyện lợi lạc cho chính người thực hành chứ nó không liên quan chi với việc thay đổi thế giới bất công. Nói khác đi, ngay cả tiềm năng to lớn và tác dụng lâm sàng sáng giá thì cần làm rõ một điều rằng tỉnh thức không phải là giải pháp hoàn hảo cho toàn bộ vấn đề của thế giới; nó là một lĩnh vực nghiên cứu đầy hứa hẹn, đi kèm với vài ba chỉ trích rất cần nắm biết.

Ví von, làm tóc thì rốt ráo chỉ liên quan đến tóc, không liên quan chi  đến việc thay đổi thế giới bất công. Chữa lành ung thu chủ yếu thuộc về thuốc men, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công. Bay lên sao Hỏa là chuyện du lịch không gian, không liên quan chi đến việc thay đổi thế giới bất công.

Một mẫu hình dần nổi trội lên ở đây: một điều thì chung quy liên quan điều ấy, không phải là thứ mà nó không thuộc về. Hoàn hảo, đó là sự tiến bộ đích thực.

Có rất nhiều lời giảng dạy, minh họa và nguyên tắc trong đạo Phật thực sự hữu ích để tạo nên sự thay đổi tích cực về mặt xã hội. Đó tuyền chuyện dân chủ; quyết định chịu trách nhiệm tạo nên nhiều tiến trình; lòng từ bi thực tế; sự thịnh vượng vượt qua sự bất bình đẳng; không hoặc chỉ dùng gọi là sự trừng phạt; nhấn mạnh vào giáo dục và trao quyền cá nhân lẫn trung gian; thoát khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử; ý tưởng thậm chí quyền năng nhất là đối tượng hướng tới pháp trị, và v.v…

Tỉnh thức không phải là một trong những điều vừa nêu; nó là sự dạy dỗ cách thức trở nên yên an và chấp nhận.

Tỉnh thức có thể thao tác trong một dãy phức tạp các mối quan hệ với cộng đồng rộng lớn hơn cùng các vấn đề xã hội nảy sinh. Từ toàn bộ tính khả thể, như tác giả bài báo chỉ ra, nó có thể trở thành trừu tượng tách khỏi bất kỳ bối cảnh ý nghĩa nào và được dùng theo các lối kiểu gây hại. Song đó không phải là vấn đề của tỉnh thức, nó là vấn đề của sự thiếu vắng các điều tốt lành khác, đặc biệt là các giá trị đạo đức. Điều ấy lý giải tại sao Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh rằng tỉnh thức, và các thực hành thiền nâng cao khác, diễn ra trên sự đặt để của một nền tảng đạo đức rất tinh tuyền.

Rời bỏ điều đó và áp dụng sai trái, nó trở thành Tỉnh thức Lầm lạc. Vì vậy, có lẽ chúng ta nên dừng đổ lỗi cho tỉnh thức về hiện trạng không thuộc về nó.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích (2)

Việc điều trị trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn là việc dễ tiếp tục gây tranh cãi, đặc biệt với việc sử dụng thuốc (chẳng hạn) và cách tiếp cận đa phần dựa trên mô hình y khoa.

Thực hành lâm sàng thường khác biệt so với bằng chứng nghiên cứu; lý do cho điều này có thể là vì thực hành lâm sàng luôn đi trước các phát hiện trong nghiên cứu hoặc, có thể vì chẳng dễ dàng để thiết lập được tính hiệu quả của một số cách can thiệp tâm lý trị liệu. Một yếu tố liên quan cũng cần tham khảo là các nhu cầu phức tạp ở trẻ em và tuổi mới lớn khi có nhu cầu thăm khám, tham vấn/ trị liệu không khít khớp với các chẩn đoán hoặc phân loại nghiên cứu đặc thù. Người mới lớn gặp khó khăn trong học tập cũng thấy nảy sinh vấn đề khi tiếp cận các dịch vụ sức khỏe tâm thần sao cho thật thích đáng và thường là các nhu cầu sức khỏe tâm thần đã không được đáp ứng phù hợp, tương xứng.

1. Trị liệu nhận thức – hành vi (CBT) phát triển như cách can thiệp hàng đầu khi xử lý trầm cảm, với ngày càng nhiều bằng chứng rằng đây là một cách điều trị hiệu quả cả cá nhân hoặc nhóm (Wood et al. 1996, Lewinsohn & Clarke 1999, Pfeffer et al. 2002, Nelson et al. 2003, Duldey et al. 2005, David-Ferdon & Kaslow 2008).

Các niềm tin căn cốt, giả định và suy tư tự động tiêu cực chúng ta nắm giữ trong mình được kiểm tra trong tiến trình CBT nhằm giúp trẻ em và tuổi mới lớn thách thức rồi đi đến định hình các suy tư của chúng đặng giúp bản thân chúng suy tư khác hẳn đi và cảm thấy tốt hơn về chính bản thân mình.

Tuổi một đứa trẻ có thể tham gia CBT gây tranh cãi, dù Stallard (2002) khẳng định điều này nên tùy thuộc vào thời gian một đứa trẻ đạt tới thời điểm thao tác cụ thể của sự phát triển nhận thức (khoảng trong tầm 7- 12 tuổi). CBT nên được thích ứng khi dùng với trẻ em, thực hiện việc sử dụng các kích thích thị giác nư các quả bóng tư duy, từ điển cảm xúc, bảng theo dõi cảm xúc, cũng như các cách tiếp cận sáng tạo như tự thầm nhắc tích cực, các trò chơi, búp bê và kể chuyện. Trẻ còn bé dễ gặp khó khăn trong phân biệt giữa các cảm xúc khởi từ sự kiện bên ngoài với các suy tư nội tại, và nhu cầu đơn giản và các hướng dẫn sáng rõ nếu chúng tham gia CBT.

Khá ít bằng chứng về những can thiệp tâm lý trị liệu với trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm đồng thời gặp khó khăn trong học tập, tuy dẫu có một số cho thấy mức độ hiệu quả nhất định ỏ nguwoif trưởng thành (Lindsay et al. 1993, Dagnan & Chadwick 1997, Lindsay 1999). Để CBT tỏ ra hiệu quả, trẻ cần bày tỏ nhu cầu sẵn sàng và bố mẹ thường nên tham gia vào (Stallard 2005). CBT có thể được tiến hành bởi một nhà trị liệu được đào tạo hoặc thông qua các loại hướng dẫn tự mình giúp mình. Curry & Reiecke (2003) dùng cách tiếp ận trị liệu theo module với người trẻ; Dummett & Williams (2008) phác thảo một cách tiếp cận vào 5 lĩnh vực đời sống (đáp ứng thể lý; các suy nghĩ; các cảm xúc; hành vi; và các vấn đề thuộc môi trường) nhằm vượt qua trầm cảm tuổi mới lớn,

2. Tâm lý trị liệu liên nhân cách (IPT) được thích ứng với việc sử dụng trên trẻ em (Weissman et al. 1979); đây là cách can thiệp ngắn gọn, có cấu trúc chặt chẽ, hạn chế thời gian. Có ràng buộc điều trị ở đây là người trẻ chấp nhận mình đang đau ốm và cần trợ giúp tựa như khi chúng mắc một bệnh thực thể vậy.

Xuyên suốt giai đoạn tiếp xúc rồi khởi sự ban đầu, người trẻ được tạo một tổng thuật về các mối quan hệ và chức năng xã hội hiện tại (bảng kiểm liên nhân cách). Nhà trị liệu phát triển một công thức liên nhân cách, nối kết trầm cảm với một trong bốn lĩnh vực liên nhân cách đang gặp trục trặc: nỗi tiếc thương, tranh cãi vai trò liên nhân cách, những quá độ khi chuyển đổi vai trò và những thiếu hụt liên nhân cách. IPT nhấn mạnh ở đây và ngay bây giờ; các vấn đề xảy đến trong hiện tại. IPA là một nỗ lực đặng hợp nhất các mục tiêu trị liệu đạt được nhờ người trẻ tạo ra (Frombone 1998, Weissman et al. 2000, Mufson et al. 2004, Coleman 2006).

3. Việc dùng thuốc cho trẻ quả là rất đáng nhìn nhận thấu đáo. Các cách tếp cận trong điều trị y khoa đối với trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn là các loại thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs), nhóm thuốc ức chế tái hấp thụ có chọn lọc serotonin (SSRIs) hoặc ức chế tái hấp thụ serotonin (SRIs). Nói chung, TCAs không nên được chỉ định khi chúng chẳng tỏ ra hiệu quả bao nhiêu so với giả dược (placebo) trong điều trị trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn (Hazell et al. 1995, 2002, Kutcher 1997, Geller et al. 1999). Không chỉ vì vô tích sự, chúng còn có thể gây ra một số phản ứng phụ không hay ho như khô miệng, đổ mồ hôi và táo bón cũng như tạo tác tiềm năng tim mạch nguy hiểm (Birmaher el al. 1998). Tương tự, các loại thuốc ức chế MAOIs không được chứng thực tính hiệu quả ở trẻ em và tuổi mới lớn, và ít bằng chứng hỗ trợ cho việc sử dụng (Heyman & Santosh 2005).

Việc dùng các loại thuốc chống trầm cảm cho trẻ em và tuổi mới lớn đang tăng lên (Zito et al. 2003, Mitchell et al. 2008). Năm 2007, ước tính khoảng 50.000 trẻ em Anh quốc được chỉ định thuốc chống trầm cảm và việc chỉ định càng tăng (Hansard 2007). Bằng chứng về tính hiệu quả của SSRIs là hạn chế, tuy vậy, chúng vẫn thứ thông dụng chỉ định; điều này gây lo ngại về các nguy cơ lớn hơn cho hành vi tự sát ở trẻ và tuổi mới lớn hơn là so với người trưởng thành dùng SSRIs (Stone et al. 2009). Shearer & Bermingham (2008) khẳng định rằng có các vấn đề đạo đức khi chỉ định SSRIs cho trẻ và tuổi mới lớn, bất kể thuốc chống trầm ảm hiệu quả hơn giả dược như nào, và các hiệu ứng ngắn hạn lẫn dài hạn lên sự phát triển tâm lý và thể lý của những ai được chỉ định thuốc. Jureidini (2009) đề nghị cách tiếp cận gồm “đợi theo dõi sát sao” và chú ý tới các nhu cầu thể lý và cảm xúc của trẻ có thể là giải pháp thay thế thuốc. Rất nhiều tuyên bố về tính hiệu quả của việc sử dụng thuốc chống trầm cảm, song có vẻ cẩn trọng và giám sát nghiêm ngặt kèm với các can thiệp tâm lý nên được cố gắng trước tiên.

4. Các cách trị liệu dựa trên nền tảng tâm động (psychodynamics) từng bị bỏ rơi trước sự tràn ngập của CBT và các cách trị liệu dựa trên sổ tay hướng dẫn, chí ít bởi vì chúng được cho là quá đắt đỏ, đòi hỏi lao động cực nhọc và tốn nhiều thời gian.

Tuy thế, điều quan trọng là nhận ra rằng người mới lớn được chẩn đoán trầm cảm có thể gặp nhiều vấn đề phức tạp mà chỉ có thể lưu ý sâu xa với trị liệu dài hạn.Các cách tiếp cận nhận thức có thể phù hợp với một số vấn đề nhẹ và trung bình, song các tác động dài hạn của trầm cảm tự chúng đòi hỏi một giải pháp dài hạn. Trong một phân tích meta-analysis theo cách tiếp cận nhận thức và không nhận thức (cả điều trị theo tâm động), Weisz và cs. (2006) không phát hiện thấy sự khác biệt giữa các dạng tâm lý trị liệu này, thể hiện ở việc cả hai cách đều tạo ra các hiệu ứng khiêm tốn trong điều trị trầm cảm. Trowell và cs. (2007) nhận ra rằng tâm lý trị liệu tâm động hiệu quả trong điều trị trẻ mắc trầm cảm và tính khí bất ổn (dysthymia) với 74,3% người mới lớn hồi phục, và tuổi mới lớn này tiếp tục cải thiện với 100% cho thấy không còn triệu chứng trầm cảm về sau.

Làm việc trong bối cảnh của mối quan hệ trị liệu dài hạn có thể đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn, nhất là trẻ khổ sở bởi các sang chấn. Các cách tiếp cận tâm động theo nhóm cũng được dùng với tuổi mới lớn và bối cảnh của một chương trình ban ngày định hướng tâm động có thể đem lại lợi lạc cho tuổi này. Có rất ít nghiên cứu về tâm lý trị liệu theo tâm động, chẳng hạn Watanabe và cs. (2007) chỉ thấy trong 27 nghiên cứu chỉ có duy nhất một nghiên cứu dùng cách tiếp cận tâm động.

5. Các cách tiếp cận khác có thể kể đến là các can thiệp kỹ năng xã hội, trợ giúp trẻ hoặc tuổi mới lớn ở trường học. Nhắm vào các mối quan hệ bạn bè cùng trang lứa có thể hữu ích. Điều trị nội trú có thể hữu ích đặc biệt với người có dự tính tự sát, trong khi điều trị ban ngày lại hỗ trợ cho người trẻ giải quyết các vướng mắc về sự tách biệt xã hội. Các can thiệp nhóm có thể giúp người trẻ nhận ra các ý nghĩa trong trục trặc gặp phải, giảm thiểu cảm nhận về sự cô độc và năng cao các mạng lưới xã hội trợ giúp hiệu quả.

Các trị liệu trần thuật cũng đem lại lợi lạc cho trẻ em và tuổi mới lớn mắc trầm cảm, các dạng trị liệu gây tò mò so với các các trị liệu truyền thống vốn được nhìn nhận như dạng trị liệu chắc chắn (Amundson et al. 1993). Các trị liệu trần thuật sử dụng cách kể chuyện, và thường gồm các kỹ thuật tâm kịch. Trị liệu nhắm vào giải pháp đang tang lên và được người thực hành nìn nhận như cách tiếp cận hữu ích, dù bằng chứng cho tính hiệu quả với trẻ em và tuổi mới lớn chưa được thiết lập. Trị liệu âm nhạc cũng được dùng điều trị trầm cảm cho trẻ mới lớn (Hendricks & Bradeley 2005). Các lĩnh vực khác cũng được xem xét như là chế độ ăn uống, luyện tập thể dục và chế độ sinh hoạt hàng ngày tất thảy đều đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp người trẻ hồi phục từ cơn trầm cảm.

6. Có một đứa con mắc trầm cảm có thể là nỗi lo lắng khôn nguôn của các thành viên trong gia đình.

Thường người ta đổ lỗi cho chính họ và tìm cách giải thích hành vi cũng như chức năng của mình. Để giúp các gia đình, họ cần hiểu biết thấu đáo về rối loạn và ý nghĩa của trầm cảm. Giáo dục về các dấu hiệu, triệu chứng có thể giúp gia đình hiểu trầm cảm trong mối liên hệ với đứa trẻ nhà họ, điều này sẽ gồm cả việc thảo luận và nhận ra ý nghĩa trong hành vi của đứa trẻ hoặc người mới lớn, ví dụ nằm lỳ trên giường đến 2 giờ chiều là dấu hiệu của trầm cảm hay đó chỉ là hành vi bình thường của tuổi mới lớn? Liệu một đứa trẻ không ngừng lo lắng về thành tích học tập ở trường có mắc trầm cảm? Thảo luận những việc này và các vấn đề khác nữa với bố mẹ có thể làm tình hình sáng tỏ hơn và giúp bố mẹ có các mong đợi bình thường cho đứa con của mình. Một số gia đình hưởng lợi từ giáo dụ, một số từ sự trợ giúp gia đình và một số khác thì từ trị liệu gia đình. Trị liệu gia đình hệ thống cá nhân được khuyến cáo khi các dạng kết hợp bên trên chứng tỏ không hiệu quả.

Trong khi đa phần các gia đình hỗ trợ cho con em mình, một số có thể gây bất lợi cho sự phát triển của một đứa trẻ, nên việc hỗ trợ cho bố mẹ/ người chăm sóc nằm trong kế hoạch tổng thể nên được xem xét trước tiên. Lượng giá các quan điểm của gia đình về việc điều trị như thảo luận về chuyện dùng thuốc hoặc vai trò của tâm lý trị liệu có thể giữ vai trò quan trọng. Trả lời các câu hỏi từ giai đoạn khởi sự trị liệu và bước vào một cuộc đối thoại mang tinh thần hợp tác với bố mẹ trẻ có thể giúp công việc trị liệu tiến triển rất khả quan.

7. Tóm lại, trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng có thể để lại nhiều tác hại tiêu cực dài hạn đối với sự phát triển của trẻ em và tuổi mới lớn.

Nhận thức sớm về trầm cảm nên được chú trọng trong các chiến dịch phòng ngừa và nâng cao sức khỏe, đi kèm với việc hiểu biết sâu xa hơn về chuyện dùng thuốc quá mức cho trẻ và tuổi mới lớn có ảnh hưởng ra sao tới sức khỏe tâm trí của chúng, nhất là việc chỉ định thuốc chống trầm cảm cho trẻ ở độ tuổi còn nhỏ.

Hiểu biết trẻ mắc trầm cảm là khó khăn, bởi vì như đã thấy, có hàng loạt các ‘triệu chứng’ trầm cảm quá dễ gây nhầm lẫn với các hành vi khác ở trẻ và người mới lớn. Phát triển các cách can thiệp thích hợp sao cho hiệu quả và khuyến khích chúng phát hiện các giải pháp can thiệp riêng đối với những vấn đề thuộc cảm xúc sẽ giúp chúng thật hữu hiệu sau này khi lớn lên. Dùng một cách tiếp cận có cân nhắc thấu đáo, bình tĩnh trông chừng và giám sát chặt chẽ đồng thời hiểu biết toàn thể bối cảnh liên quan đến cuộc sống của trẻ và tuổi mới lớn có thể là điểm khởi đầu tốt lành. Đừng quên, thực tế thì một số giải pháp với chuyện chúng mắc trầm cảm có thể tạo nên các đáp ứng mang hơi hướng xã hội và chính trị chứ không chỉ định vị riêng trong tính cá nhân.

Lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích

 

Gợi hứng từ cách tiếp cận vấn đề, đặt tên và đoạn kết trong bài viết của nữ bác sĩ Nhi khoa, tôi thử lại nói về rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên theo cách bạn thích.

Tổ chức WHO lưu tâm đứa bé trầm cảm ấy, bởi đó cũng là dạng vấn đề liên quan đến sức khỏe trẻ em và vị thành niên vốn được giới chuyên môn hành nghề ưu tiên nghiên cứu từ lâu.

Theo thông lệ mô hình y khoa và tâm bệnh học, thuật ngữ “trầm cảm” (depression) có thể được dùng để chỉ một dãy rộng các hành vi, đặc tính và triệu chứng; việc sử dụng thuật ngữ rộng và không chính xác này tạo nên vấn đề trong chuyện tài liệu văn bản, kết quả là nhiều nghiên cứu dùng cùng thuật ngữ căn bản để mô tả nhiều khía cạnh hết sức khác biệt thuộc chức năng hành vi và cảm xúc. Ba cách dùng thông dụng của thuật ngữ ‘trầm cảm’ từng được Cantwell (1990) ghi nhận: trầm cảm như một triệu chứng, như một hội chứng, và bên trong bối cảnh của một rối loạn mang tính chất trầm cảm (Merrell, 2003).

Cụ thể, khi xét như một triệu chứng (symptom) thì trầm cảm thể hiện trạng thái khó chịu: cảm thấy bất hạnh hoặc buồn bã, như thể ‘bị rơi bịch xuống đất’, cảm thấy khốn khổ hoặc âu sầu. Các trạng thái chủ quan này chỉ là một phần bé nhỏ của hội chứng hoặc rối loạn trầm cảm. Các triệu chứng trầm cảm thường hay diễn ra xuyên suốt đời người ta, thoáng qua và không thuộc rối loạn hay vấn đề quá nghiêm trọng. Cũng có khả năng là các triệu chứng trầm cảm tồn tại như thành phần của các rối loạn khác. Chỉ riêng các triệu chứng trầm cảm thường không đủ tiêu chuẩn để lượng giá là mắc trầm cảm.

Thuật ngữ hội chứng (syndrome) dùng mô tả điều gì đó sâu xa hơn là một trạng thái bất mãn, khó chịu. Thuật ngữ này hay được hiểu là nhằm cho thấy sự cùng xuất hiện các triệu chứng cảm xúc và hành vi và không hề mang tính tình cờ, ngẫu nhiên. Cantwell (1990) lưu ý rằng một hội chứng trầm cảm thì thường không chỉ gồm các chuyển đổi tâm trạng mà còn biểu tỏ những biến chuyển góp vào trong chức năng tâm- vận động, thể hiện ý thức, và động cơ. Các thay đổi phụ thêm này thường xảy đến với chiều hướng tiêu cực, làm giảm thiểu năng lực vận hành của người trải nghiệm chúng. Trầm cảm như một hội chứng thì ít thấy hơn trầm cảm như một triệu chứng; nó có thể là do một số stress lối sống, đồng thời xuất hiện với các vấn đề bệnh lý y khoa khác, hoặc xảy đến kết hợp với các rối loạn tâm lý và tâm thần như là các rối loạn hành vi hay gây gổ, tâm thần phân liệt, và các rối loạn lo âu. Trầm cảm như một hội chứng cũng xảy đến như vấn đề căn cốt, không có bệnh kèm sẵn rồi. Các hội chứng trầm cảm cũng dễ là thành phần của các rối loạn trầm cảm.

Sự phân biệt các hội chứng trầm cảm và rối loạn trầm cảm không rõ ràng được như giữa triệu chứng và hội chứng trầm cảm. Dù các hội chứng trầm cảm đặc trưng thuộc rối loạn trầm cảm (depressive disorder), song người ta khi nói một rối loạn trầm cảm là hàm ý sự tồn tại hội chứng trầm cảm rồi, dù cũng nên biết rằng nói hội chứng trầm cảm xảy đến trong một khoảng thời gian có nguyên nhân bởi một mức độ trục trặc chức năng nhất định và có thành tựu đặc thù như quãng thời gian và sự đáp ứng trong điều trị trầm cảm. Cách diễn đạt rối loạn trầm cảm thường hay thấy trong bối cảnh hệ thống phân loại DSM; và ở đây cần nhấn mạnh rằng hệ thống các tiêu chí đánh giá như DSM khi dùng đánh giá các rối loạn trầm cảm có thể tỏ ra không thực sự hiệu quả và hữu dụng ở các độ tuổi khác nhau (Carlson & Garber, 1986).

Tóm tắt nhanh về bệnh nguyên (etiology) trầm cảm ở trẻ em theo Compas (1997), Miller, Bimbaum, & Durbin (1990), và Schwartz và cs. (1998) cho thấy, sự kết nối của một vài biến số tâm lý chủ yếu như ảnh hưởng từ bố mẹ, các biến cố đời sống, và mẫu hình tương tác ở gia đình có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm. Một quan hệ được phát hiện tồn tại giữa những gì hay được gọi là “mất mát’ và trầm cảm ở trẻ em, nhất là sự mất mát bố mẹ hoặc sự tách biệt khỏi gia đình. Trẻ em có bố mẹ mắc trầm cảm thường cho thấy nguy cơ cao của việc tiến triển trầm cảm và các rối loạn tâm lý khác; các tỷ lệ stress của bố mẹ và xung đột gia đình trầm trọng cũng được phát hiện là có liên quan với việc trẻ em mắc trầm cảm; một số bằng chứng do sự kiện mang tính tiêu cực xảy đến bên ngoài bối cảnh gia đình như trường họ và trục trặc quan hệ với bạn bè cũng được quy cho việc trẻ em mắc trầm cảm.

Trẻ em mắc trầm cảm có thể làm nảy nở thêm các kiểu nhận thức kém cỏi hoặc gây trục trặc chức năng nhận thức và đi kèm thiếu hụt các kỹ năng đối phó. Mô hình học hỏi tuyệt vọng (learned helplessness), được Seligman đề xuất đầu tiên (1974) đặt để một số dạng thức trầm cảm có thể xảy đến dưới các điều kiện học hỏi mà trẻ không nhận thức được mối liên hệ giữa hành động của chúng với hậu quả từ đó. Lewinsohn (1974) đề nghị mô hình ảnh hưởng rất lớn rằng sự đổ gãy của các sự kiện khoái sướng và củng cố có thể báo hiệu trước việc một người bị mắc trầm cảm, một ý tưởng đáng xem xét khi tiến hành lượng giá trẻ em với các đặc trưng môi trường và hành vi. Ngoài ra, tâm- sinh học cũng cho thấy một số dạng thức trầm cảm ở trẻ em có liên quan với các biến số sinh học như các khu vực tương quan của di truyền gia đình và hóa chất trong não bộ (Schwart et al., 1998).

Trầm cảm được ghi nhận rộng rãi là vấn đề thường gặp ở trẻ em và vị thành niên, trái với quan điểm trước đây rằng trẻ không thể bị trầm cảm vì thiếu trưởng thành trong nhân cách (Harrington, 2005). Tuy thế, viễn tượng này không được chia sẻ bởi tất cả các nhà lâm sàng: Timimi (2004) tán đồng không có bằng chứng thuyết phục để phân biệt rõ ràng giữa trầm cảm và buồn rầu ở trẻ. Bởi vì không có các triệu chứng đặc thù thường dùng chẩn đoán trầm cảm ở trẻ, bất định về tần suất thực sự trẻ mắc trầm cảm trước giai đoạn dậy thì.

Lượng giá trầm cảm như một rối loạn ở trẻ em và vị thành niên đòi hỏi sự quan tâm, kỹ năng, và lưu ý rất đặc biệt. Chẩn đoán trầm cảm ỏ trẻ em là phức tạp. Trẻ có thể gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa các cảm xúc như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001) và trong việc nhận ra quãng thời gian diễn tiến vấn đề, vì thế chúng không giỏi mô tả cách chúng trải nghiệm bao lâu các cảm xúc đặc thù ấy. Khi dùng các định nghĩa người lớn áp vào con trẻ, trầm cảm trước đây chẩn đoán mà không có sự hiện diện của các triệu chứng trầm cảm cơ bản ở người trưởng thành. Các triệu chứng trầm cảm khó phát hiện ở trẻ em vì chúng có thể bị khoác dưới các hiện tượng như ám sợ (phobia), hành vi phạm pháp (delinquencies), đái dầm (enuresis) và các triệu chứng thực thể khác (Glaser 1967, Bschor 2002). Cơn đau bụng được xem là triệu chứng tiềm năng hoặc cùng xuất hiện với trầm cảm (Dowrick et al. 2005). Tuy thế, như Goodman & Scott (2005) khẳng định, trầm cảm không nên được chẩn đoán trừ khi có sự xuất hiện các triệu chứng cảm xúc. Quyết định một người trẻ mắc hay không rối loạn trầm cảm hay đơn giản chỉ đang trải nghiệm các triệu chứng trầm cảm là một thách thức.

Một khó khăn của chẩn đoán trầm cảm ở trẻ nhỏ và người mới lớn là các cảm xúc, hành vi và tình cảm hàng ngày có thể được diễn dịch như dấu hiệu của ‘bênh tật hoặc đau ốm’ (disease/ illness). Việc y khoa hóa (medicalisation) hành vi và cảm xúc trẻ em đã được thảo luận rộng rãi đó đây (Blum 2007, Conrad 2007, Timimi 2007); tuy thế, điều căn bản là chí ít, chúng ta nhận ra các quan điểm khác nhau về việc xác định và chẩn đoán trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên.

Trầm cảm trước đây quen được nhìn như vấn đề nội sinh (xảy ra từ bên trong, có nguyên nhân sinh học) hoặc phản ứng (kết nối giữa các sự kiện bên ngoài gây stress với một sự tổn thương dẫn tới trầm cảm). Kể từ DSM- III, trầm cảm được phân loại như một dãy liên tuc từ trầm cảm nhẹ đến trầm cảm điển hình; quan điểm y khoa hóa các cảm xúc hàng ngày này tạo nên cả loạt thách thức cho người trẻ mà các thế hệ trước chưa từng trải nghiệm. Trầm cảm được xem là chưa được nhìn nhận thấu đáo trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và các triệu chứng trầm cảm bị bỏ qua (Weller & Weiller 2000).

Tuy thế, nếu trầm cảm bị chẩn đoán quá mức thì sự phát triển của các trẻ và vị thành niên này có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là sự phục hồi của chúng. Horwitz & Wakefield (2007) phân tích sự gia tăng trong chẩn đoán trầm cảm xuyên suốt mọi lứa tuổi và đề nghị rằng sự buồn rầu thông thường có thể bị lẫn lộn với trầm cảm; rằng các trải nghiệm bình thường của mất mát và bất hạnh đã bị diễn dịch lại như là bệnh tật; họ khẳng định ảnh hưởng mạnh mẽ của các tiêu chí chẩn đoán trong DSM- IV về trầm cảm đã trở nên quá mức. Horwitz & Wakefield (2007) nhìn thấy một loạt các yếu tố ảnh hưởng tới quan điểm của chúng ta về trầm cảm từ một loại bệnh khá hiếm hoi 30 năm qua trở thành thứ hết sức thường gặp. Bối cảnh sự buồn bã của người ta thường bị lờ đi khi xem xét ai đó có bị mắc trầm cảm hay không. Bối cảnh là quan trọng bởi vì không có nó, các yếu tố khác gây ảnh hưởng tới tâm trạng người ta như mất mát, không được ngó ngàng tới. Hai tác giả vừa nêu khẳng định các tiêu chí DSM-IV trong khi tỏ ra hữu dụng trong thực hành lâm sàng lại quen được dùng như khung tham chiếu để chẩn đoán trầm cảm trong cộng đồng; điều này dẫn đến việc thừa nhận hoặc ước tính quá mức trầm cảm ở cả trẻ em và tuổi mới lớn. Khẳng định này quan trọng bởi vì trẻ em và tuổi mới lớn rốt ráo nhận lấy điều trị y khoa cho một thứ được xem là bệnh (perceived illness) mà có thể thực tế là một vấn đề hiện sinh, một vấn đề thuộc tồn tại người. Thay vì y khoa hóa các vấn đề như thế, người trẻ cần được tạo cơ hội để vượt qua và quản lý phiền não của chúng (Claveirole & Gaughan, 2011).

Liên quan tới việc biểu đạt một cơn dịch trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn. Costello và cs. (2006) tổng thuật bằng chứng và khẳng định rằng trong khi các nhà lâm sàng đang gia tăng ghi nhận về trầm cảm thì tỷ lệ đích thị vẫn duy trì tương tự 30 năm trước đây. Điều tra sức khỏe tâm thần vị thành niên 1999 ở Anh quốc (Ford et al. 2004) thấy tỷ lệ dịch tễ khoảng 0,9% cho mọi loại trầm cảm và 0,6% cho trầm cảm điển hình ở trẻ em trong độ tuổi 5- 15. Hàng loạt nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dịch tễ dao động 4- 6% ở người trẻ (Kessler et al. 2001), trong khi một nghiên cứu học sinh trung học cơ sở ở Edinburgh có tỷ lệ 8,4% (Moor et al. 2007). Trẻ gặp khó khăn trong học tập có tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn (Emerson & Hatton 2007, Tonge & Einfeld 2003, Tonge 2007), dù một số nghiên cứu phát hiện thấy khác biệt nhỏ ở dạng trầm cảm điển hình giữa trẻ gặp khó khăn trong học tập và trẻ không mắc nó (Stevenson & Rommey 1984). Khả năng các tiêu chí của ICD-10 và DSM-IV nhằm định dạng các khó khăn tâm lý ở trẻ em và tuổi mới lớn cần được đặt thành vấn đề về độ tin cậy quá mức vào việc truyền thông bằng lời; điều này đặc biệt khổ sở với trẻ em và tuổi mới lớn gặp khó khăn trong học tập.

Khi lượng giá một người trẻ, điều quan trọng là cần xem xét thông tin từ các nguồn khác nhau, vì trẻ thường hành xử phụ thuộc vào bối cảnh. Bố mẹ chắc chắn là nguồn thông tin đáng giá: họ có thể giải thích tại sao họ tin có vấn đề và tại sao lúc này. Khi phỏng vấn trẻ, hiểu biết về sự phát triển của trẻ em, nhất là về sự phát triển ngôn ngữ, cảm xúc và nhận thức là căn bản vì trẻ có hiểu biết khác nhau và cách khác nhau trong miêu tả mọi thứ phụ thuộc vào tuổi của chúng. Lưu ý các ảnh hưởng hoặc lời giải thích khác, và có cách tiếp cận tổng thể. Khi điều tra được thực hiện trong bối cảnh có những sự kiện môi trường khác nhau, trẻ em có thể khu biệt các cảm xúc cơ bản như buồn rầu hoặc cáu gắt; tuy thế, khi vắng mặt một bối cảnh, trẻ có thể chối bỏ các cảm xúc cơ bản như buồn rầu và tức giận (Bamberg 2001, Martin et al. 2010). Bố mẹ có thể hiểu biết ít ỏi về thế giới nội tâm của con em mình; một nghiên cứu của Puura et al. (1998) cho thấy trong khi bố mẹ và thầy cô giáo sẵn sàng nhìn nhận các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em, họ nói chung không giống nhau trong việc tìm kiếm trợ giúp cho đứa trẻ. Một nghiên cứu ở bốn trường trung học cơ sở ở Edinburgh phát hiện, các thầy cô giáo không ngang nhau trong việc nhận ra trầm cảm ở trẻ nhằm đón nhận đào tạo chuyên biệt việc nhận diện trầm cảm (Moor et al. 2007).

Các cuộc phỏng vấn thường dùng để lượng giá và có thể là có cấu trúc, bán cấu trúc hoặc không; một số phương pháp lượng giá khác bao gồm bảng hỏi, như Beck Depression Inventory (Beck et al. 1961), thang đo Child Assessment Scale (Hodges et al. 1982), v.v… Các bảng hỏi và bảng kiểm tuy hữu ích song không nên là toàn bộ phương pháp lượng giá, đứa trẻ hoặc tuổi mới lớn nên luôn luôn được phỏng vấn hoặc quan sát. Các cách tiếp cận trị liệu trò chơi (play therapy) là kỹ thuật quan trọng khi làm việc với trẻ nhỏ; các cách tiếp cận sáng tạo trong lượng giá sử dụng các kỹ thuật như nội tâm hóa vấn đề hoặc cho trầm cảm một cái tên có thể tỏ ra hữu dụng. Nylund & Ceske (1997) mô tả cách tiếp cận kể chuyện để hiểu trầm cảm ở bé gái mới lớn, một số trẻ và thiếu nữ đáp ứng khá tốt với cách này.

Những lĩnh vực phức tạp trong chức năng của trẻ và tuổi mới lớn cần được cân nhắc. Một số triệu chứng trầm cảm như xuống tinh thần, thu mình hoặc mất khẩu vị rất nên được đánh giá ngay; những thay đổi trong cách nói năng hoặc hành xử cũng nên được lưu tâm. Tuy thế, có nhiều sự kiện và trải nghiệm khiến trẻ cảm thấy buồn rầu. Điều quan trọng là người lớn đừng vội vàng kết luận theo cách giải thích y khoa với các sự kiện đời sống mang tới sự buồn rầu cho trẻ. Lượng giá các vấn đề cảm xúc ở trẻ gặp khó khăn trong học tập là một thách thức thực sự.

Nguy cơ tự sát hoặc nỗ lực tự sát tăng lên ở trẻ khi chúng lớn thêm lên; có một sự liên hệ rõ ràng giữa trầm cảm và tự sát, với một phát hiện tổng thuật là 49% và 64% ở người mới lớn đã có ý định tự sát đồng thời cũng mắc trầm cảm rồi (Gould et al. 2003). Mối quan tâm vấn đề tự sát ở trẻ dưới 12 tuổi đang tăng lên (Tishler et al. 2007). Mặc dù các ý nghĩ tự sát là rất thông thường ở tuổi mới lớn, không nên đánh giá thấp trẻ em vì một số trẻ có các ý nghĩ tự sát và hành động dựa trên các ý nghi này. Không rõ ràng ở độ tuổi nào thì trẻ có thể hiểu được hậu quả các hành động của bản thân, ví dụ các hành động của chúng có thể dẫn đến cái chết và cái chết là gì.

Tiện đây, cùng với các tiêu chí chẩn đoán trong DSM-IV-TR (APA 2000), cũng cần nói thêm về một số cập nhật và thay đổi quan trọng ở DSM- 5 (2013) liên quan rối loạn trầm cảm điển hình (hoặc trầm cảm lâm sàng); với việc xuất hiện hai rối loạn mới là Rối loạn Khó Điều Chỉnh Tâm trạng Gây gổ (Disruptive Mood Dysregulation Disorder, DMDD) và Rối loạn Khó ở Tiền Kinh nguyệt (Premenstrual Dysphoric Disorder, PDD). Loạn tính khí (Dysthymia) đã ra đi, thay vào là cái gọi là “rối loạn trầm cảm trường diễn” (persistent depressive disorder). Điều kiện mới bao gồm cả rối loạn trầm cảm lâm sàng mãn tính và rối loạn loạn tính khí trước đây. Theo đó, rối loạn DMDD chẳng hạn, là điều kiện mới giới thiệu ở DSM-5 nhằm nhấn mạnh các triệu chứng vốn được gán nhãn là “rối loạn lưỡng cực thời thơ ấu” (chilhood bipolar disorder); rối loạn mới này có thể được dùng để chẩn đoán trẻ tới 18 tuổi có biểu hiện cáu gắt kéo dài và tần suất các giai đoạn có biểu hiện hành vi cực đoan, mất kiểm soát.

Về các triệu chứng trầm cảm ở trẻ và tuổi mới lớn, có 2 ngoại lệ trong chẩn đoán cần lưu ý: tâm trạng trầm uất có thể là tâm trạng cáu gắt, khó chịu (irritable mood) và việc giảm cân có thể là dấu chỉ thất bại cho việc trẻ muốn đạt được cân nặng mong đợi phù hợp với sự phát triển thể lý của chúng. ICD-10 và DSM- 5 phân loại các rối loạn trầm cảm hết sức khác biệt nên cần xem xét cả hai để bản thân người tác nghiệp quen thuộc với những khác biệt ấy.

Tuổi mới lớn có thể biểu hiện một số hoặc hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng trầm cảm, song cũng cho thấy sự khác biệt với trầm cảm ở người trưởng thành. Với tuổi mới lớn, tính tình cáu gắt và trạng thái thu mình về mặt xã hội rất nổi trội, mát hứng thú trong các hoạt động thì ít gặp hơn, nỗi đau đớn thân xác như một chỉ báo cho trầm cảm thì khá thường thấy như các ý nghĩ tự sát (Dowrick et al. 2005, Weller et al. 2006). Tự làm hại bản thân có thể là cách người trẻ cố quản lý các cảm xúc trầm cảm.

Có khác biệt trong dấu hiệu trầm cảm ỏ trẻ trước và sau giai đoạn dậy thì. Trẻ có thể biểu tỏ nhiều phàn nàn thực thể hơn, tính tình cáu kinh, lo âu bị xa cách, khóc lóc, không muốn đi học và đau bụng (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006). Người trẻ trải nghiệm nhiều hơn sự bơ vơ và tuyệt vọng, tội lỗi, mất khoái cảm (thiếu vắng niềm vui thích bất cứ điều gì), ngủ quá mức (hypersomnia) và dùng bia rượu, ma túy để kiểm soát các trạng thái trầm cảm (Goodman & Scott 2005, Weller et al. 2006, Wu et al. 2006). Các ảo giác cũng có thể xuất hiện trong trầm cảm nặng (Cepeda 2000).

Giai đoạn mắc trầm cảm điển hình là vấn đề nghiêm trọng với trẻ em và tuổi mới lớn, và nếu tái phát thì có gây nên những ảnh hưởng ghê gớm với sự phát triển của người trẻ; có thể tiếp tục trải nghiệm các giai đoạn trầm cảm suốt tuổi trưởng thành. Trầm cảm liên quan với việc tăng tỷ lệ lạm dụng chất và ảnh hưởng tới các chức năng cá nhân, xã hội, nghề nghiệp và học hành (Fergusson & Woodward 2002). Trầm cảm ở người trẻ thường khởi từ tiền sử mắc rối loạn lo âu hồi nhỏ, hoặc loạn tính khí (Chavira 2004, Weisman et al. 2005). Loạn tính khí như sơ bộ đề cập bên trên, là tâm trạng đặc trưng bởi các cảm xúc trầm uất, mất hứng thú và khoái lạc, kéo dài hơn 2 năm song không đủ tiêu chí chẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình. Các cảm xúc về sự vô giá trị, đồ vứt đi có xuất hiện vào giữa giai đoạn thơ ấu, tội lỗi thì được thấy muộn hơn (Goodman & Scott 2005). Các ý nghĩ và hành vi tự làm hại bản thân thường xảy ra tầm 12- 14 tuổi song có thể phát hiện sớm hơn ở trẻ sống trong môi trường nhìn thấy những người khác tự hành hạ bản thân họ. Ollendick và cs. (2005) cho rằng các triệu chứng trầm cảm là bình thường ở trẻ em bất luận đích thị trầm cảm hay xảy đến ít nhiều mà thôi.

Nguy cơ mắc trầm cảm ở trẻ em nếu được định dạng thì rất có khả năng làm giảm thiểu trầm cảm thông qua việc phòng ngừa. Trách nhiệm của mọi người trong việc nâng cao sức khỏe tâm trí ở trẻ em và tuổi mới lớn, và việc chuyển dịch lĩnh vực của nhà chuyên môn sang công việc của mọi người là điểm then chốt của tiến trình này. Có rất nhiều công việc hàng ngày có thể làm để nâng cao sức khỏe tâm trí. Bố mẹ và trường học có thể đóng vai trò chính trong việc cải thiện chất lượng thực phẩm, dinh dưỡng và chế độ ăn uống lành mạnh. Các chiến lược chống bạo lực học đường và dẫn dắt bởi học sinh chứng tỏ thành tựu đáng khích lệ. Trẻ thể hiện sự sáng tạo và trực giác khi giải quyết vấn đề bên trong môi trường vui chơi và lớp học, vf vậy chúng ta nên xáp vào trí tuệ cảm xúc của chúng và cung cấp các cấu trúc hỗ trợ chúng. Bố mẹ có thể đưa ra các cơ hội khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động sau giờ học ở trường nhằm nâng cao sức khỏe tâm trí. Hansson và cs. (2008) sử dụng khái niệm môi trường chia sẻ và không chia sẻ; làm thế nào để mấy khái niệm này hữu ích trong việc lượng giá trầm cảm đây? Liệu mình có thể định hình các yếu tố môi trường chia sẻ và không chia sẻ làm các yếu tố phục hồi và các yếu tố gây tổn thương?

Rooney và cs. (2006) cho thấy các triệu chứng trầm cảm đã thuyên giảm và tăng lên các kiểu tư duy tích cực một cách trực tiếp sau khi các chương trình can thiệp triển khai; tuy thế, những thuyên giảm này không bền vững theo thời gian. Collins & Dozois (2008) xem lại các chương trình phòng ngừa trầm cảm và phát hiện thấy các yếu tố trong chương trình tạo nên sự khác biệt là việc cải thiện các kỹ năng nhận thức, các cách tiếp cận liên nhân cách, và sự dấn thân hòa nhập của bố mẹ vào các chương trình.

(bài tới sẽ đề cập phần cuối, đi sâu trình bày các biện pháp can thiệp và trị liệu trầm cảm ở trẻ em và tuổi mới lớn)

J. Soi (37): Quen bạn trai nào cũng đòi hỏi ‘chuyện ấy’: vấn đề lần đầu tiên gần gũi thể lý và tiếp cận sex

Những vụ việc, tình tiết và tâm trạng như này khá quen thuộc với không ít bạn trẻ mới bước vào ngưỡng cửa yêu đương, hoặc cả những ai khuyết thiếu trải nghiệm tình dục trong quan hệ lứa đôi, thân mật.

Điều đáng học hỏi chẳng kém cạnh ở đây lại thuộc về cách trả lời, bởi nó vô hình trung, chỉ ra giá trị của nền tảng bài bản, chuyên nghiệp, và hiệu quả trợ giúp khi thân chủ cố vượt thoát nỗi niềm bất an liên quan đến chuyện trai gái làm quen và hẹn hò, bắt cặp.

Em chưa nói cụ thể mức độ đòi hỏi của bạn trai là gì nên tôi chưa thể đưa ra câu trả lời cụ thể. Nếu sự gần gũi ở mức độ như quan hệ tình dục vào thời gian mới quen nhau là rất mạo hiểm. Nhưng nếu đã quen biết nhau một thời gian và đi đến quan hệ yêu đương thì cũng cần một cái nắm tay, một nụ hôn, sự ôm ấp, vuốt ve nhau cũng sẽ giúp cho tình cảm thêm gắn bó.

Qua những gì em chia sẻ, tôi nhận thấy em là một cô gái khả ái, chuẩn mực, biết giữ mình nên chắc hẳn là giành được nhiều tình cảm của người khác phái. Em đang muốn tìm kiếm một người yêu nghiêm túc, nhưng chưa nói rõ nghiêm túc theo tiêu chuẩn nào.

Đọc thư, cảm thấy các diễn biến lo lắng, xáo trộn ấy là bình thường, có thể hiểu được; cũng không quá khó lý giải cơn cớ cô gái đang cảm thấy hụt hẫng và bối rối về những nguyên nhân khả thể cho chuyện tình cảm tan hợp, lâu chóng; tuy thế, những điều cô gái nhấn mạnh khẳng định rõ ràng rằng đấy không chỉ là trường hợp lần đầu tiên tiếp cận sex mà còn bộc lộ các giả định về niềm tin, quan điểm khởi đi từ truyền thống văn hóa, gia đình, giáo dục, và trải nghiệm bản thân.

Cho dù chuyện giữ gìn trinh tiết có liên quan đến nỗi hoang mang “quen bạn trai nào cũng đòi hỏi” song đó dễ chừng là hai điều khác hẳn nhau. Đa phần, không thành vấn đề bất kể nguyên do thuần túy tâm lý hay thể lý; bởi trong hầu hết các trường hợp, những băn khoăn đều có thể thuộc về cả hai yếu tố thể lý và tâm lý. Do vậy, khá thiết thực nếu lượng giá từ người có chuyên môn để có một bức tranh chính xác.

Một vòng lặp của thất vọng, e sợ, và lảng tránh thường dễ cùng nhau dẫn tới việc đổ vỡ hết sức đau đớn; để bẻ gãy được nó, cô gái phải đoan chắc không tiếp tục dấn sâu vào các suy tư tiêu cực và kiên trì theo đuổi việc cải thiện các kỹ năng giao tiếp liên nhân cách. Điều cũng quan trọng không kém là đừng vội nản lòng bởi việc thiếu vắng các câu trả lời ngay lập tức và lối thoát ra khỏi vấn đề vướng mắc; đôi khi cần dành thời gian lẫn sự kiên nhẫn đặng lắng nghe, học hỏi cho thiệt thấu đáo.

Lần nữa, làm ơn biết cho ràng những gì cô gái đang trải qua là rất bình thường và tự nhiên. Nghĩ đến việc sex lần đầu tiên có thể mang lại quá chừng các cảm xúc nặng nề, trái ngược; trải từ phấn khích, bối rối cho tới sợ hãi (thường thì tất thảy trong cùng khoảnh khắc). Với sự vụ vi tế này, lứa tuổi mới lớn còn tri nhận nhiều thông điệp xung đột không ngừng về sex từ nền văn hóa đại chúng, internet, bạn bè, bố mẹ, thầy cô giáo, các vị dẫn đạo và chỉ bày tâm linh, cũng như các yếu nhân khác trong đời người trẻ. Với vô vàn giọng điệu tranh giành đó, và với mỗi một ham muốn hòa cùng xung năng tự nhiên ấy, có thể thật khó khăn để quyết định thời điểm nào là ‘thích hợp’ để khởi sự sex.

Ham muốn tình dục không phải là chuyện bẻ lái, bật công tắc có thể chuyển đổi dễ dàng sau khi vị trí ‘khóa, tắt’ nhiều năm tháng dài vị thành niên. Thuận theo lời dạy bảo của bố mẹ và các yếu nhân khác không nên quan hệ có thể gây khó khăn cho việc tiếp cận sex khi chúng ta (và người yêu của mình) cảm thấy rằng chúng mình đã sẵn sàng. Dẫu thế, mặt khác thì đôi khi sự miễn cưỡng của cơ thể khi có sex dễ là một chỉ dấu cho thấy nên lùi lại và đặt các câu hỏi thiết yếu, quan trọng cho mình và người yêu cho đến lúc cần trao đổi, thảo luận đàng hoàng.

  • Các giá trị cá nhân của mình khít khớp ra sao với chuyện sex vào lúc này (các niềm tin tôn giáo, quan điểm của gia đình, các ý tưởng về lần đầu tiên)?
  • Những nguy cơ thể lý nào mình sẽ phải gánh chịu (sử dụng biện pháp tránh thai, mang bầu ngoài ý muốn, xử lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục)?
  • Mình muốn gì từ mối quan hệ tình cảm với người yêu đây (chuyện sex sẽ làm thay đổi như nào quan hệ hiện tại, nó mang nghĩa ra sao với mối quan hệ của hai đứa)?
  • Áp lực mình cảm thấy (nếu có) từ nhóm bạn bè thân thiết (mình quan hệ vì là đứa duy nhất chưa bao giờ, muốn làm thế để gắn bó với nhau hơn, v.v…)?

Nếu cô gái và bạn trai chưa từng thảo luận các câu hỏi nêu trên, có thể hữu ích khi họ dành chút thời gian để thử nói về chúng. Còn đã trao đổi các câu hỏi liên quan với sự thoải mái của cô/ cậu rồi lại quyết định thích đưa quan hệ hai đứa lên tầm cao mới nữa thì e khả năng cao là tâm trí đôi lứa sẽ trở ngại, quấy nhiễu với áp lực có sex; nếu sự vụ xảy ra đúng thế thì khuyến cáo không nên quan hệ với nhau. Thay vào đó, dấn thân vào các hoạt động nào tạo cảm giác tốt lành cho cả hai song không vì mục tiêu là quan hệ tình dục. Cũng thế, xin hãy tự cho phép bản thân mình quyền thay đổi tâm trí; nếu khởi sự muốn tiến tới quan hệ tình dục và nó không tạo cảm giác ổn, có dấu hiệu hay câu chữ nào đó để biết rằng ‘lúc này nên dừng’…

Dành thời gian để chính mình nói nhiều hơn về ý nghĩa của sex với bạn và cách nó khít khớp với các giá trị cũng như ao ước cá nhân, riêng tư. Dành thời gian thưởng thức cùng nhau, chuẩn bị sẵn sàng cho những gì có thể xảy đến song đừng tạo áp lực bản thân để bắt buộc nó diễn ra.

Như thế, vấn đề ham muốn thật quan trọng, nhất là khi người ta yêu đương. Thực tế, có một cộng đồng tự thổ lộ là họ hiếm hoi, hoặc không bao giờ cảm giác hoặc bị thôi thúc về tình dục (vô tính ?);  thường những người này này không cảm thấy họ đánh mất điều gì vì họ luôn cảm thấy theo lối đó, vấn đề chỉ khởi lên khi người yêu của họ bất mãn do sự thiếu vắng trạng thái thân mật tình dục.

Có vẻ cô gái viết thư không phải thuộc trường hợp vắng bóng ham muốn mà cơ chừng thiếu hụt trải nghiệm hoặc độ tự tin. Dĩ nhiên, chưa từng kinh qua gì trước đây bao giờ thì sẽ dễ cảm thấy bất định và nảy sinh cảm giác lo lắng ít nhiều. Đáp ứng an toàn với một tình huống bất định hoặc lo lắng là không tiến hành làm gì cả. Không ai thích rơi vào trường hợp bị từ chối, hoặc là nguồn cơn của sự khó xử, lúng túng hoặc gây hiểu nhầm về mặt xã hội. Vì thế, dính dáng với chuyện khởi sự các dạng thức nọ kia của sự gần gũi thân xác thì lựa chọn ‘an toàn nhất’ đơn giản là không khởi sự. Rồi theo thời gian trôi qua, các cách thức liên hệ không gần gũi thân xác, thể lý có thể trở thành chuẩn tắc, hoặc mặc định hành vi; nguy cơ là bị mắc kẹt trong một mối quan hệ kiểu chỉ- là- bạn- bè- thôi.

Cách thức để xây dựng sự tự tin về mặt hành vi là thông qua trải nghiệm, học hỏi trực tiếp rằng việc khởi xướng trạng thái thân mật thể lý ban đầu rồi cho phép người yêu mình nhìn thấy cơ thể thì không giống với chuyện bị từ chối hoặc gây khó xử quá tồi tệ như mình có thể hình dung chúng trong tâm trí, khi hai người đã thiết lập quan hệ với nhau rồi. Ở một mức độ nhất định, sự tự tin này theo sau trong các mối quan hệ yêu đương, bồ bịch. Nhiều người bắt đầu tiến trình xây dựng dạng thức tự tin này xuyên suốt thời vị thành niên nên lúc lớn rồi, dường như chuyện ấy với họ trở nên dễ dàng hoặc tự nhiên hơn hẳn.

Vậy, làm thế nào để khởi sự đây? Thường khá ngạc nhiên về chuyện chúng ta hiếm hoi nghĩ về việc tạo nên một cuộc trao đổi chân tình như là giải pháp cốt lõi khi mối quan hệ gặp trục trặc. Ở trường hợp cô gái, dường như logic là nên giải thích với (các) bạn trai khi nào và ra sao mình thấy bất định để khởi sự sự gần gũi thể lý, rằng đơn giản mình chưa từng có trải nghiệm quan hệ kiểu thế… Một cuộc trao đổi chân thành nhất có thể tái đảm bảo người yêu mình rằng cái dấu hiệu dường như vô cảm của mình í không phải là do sự thiếu hụt ham muốn hoặc độ quyến rũ, hấp dẫn đâu.

Cần hiểu thấu đáo rằng những bức tường rào ngăn cách ghê gớm nhất chính là việc tiến hành trò chuyện, và khởi sự sự gần gũi thân thể hơn cho vài lần đầu tiên. Khi người yêu càng cởi mở đủ lâu để trợ giúp và các khởi sự được lĩnh hội, nắm bắt đúng đắn thì mình sẽ ngạc nhiên ngay về cách thức quá chừng nhanh chóng cho việc đạt được sự thoải mái và tự tin. Đấy sẽ là điều làm khuây khỏa, giảm nhẹ nhờ đơn giản biểu đạt tình cảm bằng cơ thể và độ quyến rũ tính dục khi nó khởi lên, hơn là mắc kẹt mãi với vô vàn phân tích trong đầu rằng nên hay không nên nhặng xị..

Trạng thái thân mật lứa đôi luyến ái thường tự chăm lo cho chính nó ổn thỏa, và khi mình chạm tới giai đoạn đó trong quan hệ thì thường các vấn đề gay cấn nhất cũng sẽ được gỡ rối, giải quyết. Khuyến cáo cô gái tập trung vào việc thiết lập quan hệ, cải thiện giao tiếp, và nâng cao các kỹ năng xã hội mình sẽ sử dụng trong một mối quan hệ yêu đương. Nếu gặp các sự cố, vấn đề quá chừng chuyên biệt, tham vấn tâm lý có thể thiết thực trợ giúp hiệu quả với các chiến lược xử lý nhắm đến các vấn đề này. Nếu cô gái đã từng tìm hiểu, hẹn hò trước đây, giờ cô cứ tiếp tục hẹn hò, tìm hiểu…

Tái xác định các vai trò trong gia đình

Trong các gia đình trục trặc, mình thường thấy trẻ em chấp nhận nhiều vai trò khác biệt để gia đình thể hiện đúng chức năng của một hệ thống ổn thỏa. Song các vai trò này lại gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho tương lai của đứa trẻ.

Tại sao các vai trò gia đình lại quan trọng và cơn cớ nào khiến chúng ta nhất thiết phải hiểu biết về chúng cơ chứ?

Vai trò mình đóng trong gia đình gốc (hệ thống gia đình mình được nuôi dưỡng, lớn lên) có thể giữ vị trí quan trọng trong cách thức chúng ta liên hệ với kẻ khác khi trưởng thành. Vai trò gia đình có thể xác định mình là ai, làm sao liên hệ với mọi người, phương thức họ liên hệ với mình và ảnh hưởng đến mỗi một khía cạnh trong đời.

Người nào có khả năng xác định vai trò họ đóng trong gia đình nắm giữ một công cụ quyền năng cho việc thay đổi đời họ và cải thiện các mối quan hệ.

Dù vai trò trong gia đình khá khác biệt và rất riêng tư, song có thể chỉ ra vài ba vai trò căn bản. Một gia đình có thể có “kẻ ốm đau”, “người gìn giữ hòa khí”, “vận động viên điền kinh”, “người giỏi giang”, “nạn nhân”, “thiên tài”, hoặc bất kỳ vai khác nào đó mình có thể nghĩ ra..

Đặc trưng của các vai trò hay gặp trong gia đình nói chung có thể hình dung gồm:

– Người anh hùng: đứa trẻ tốt

– Kẻ giơ đầu chịu báng: đứa trẻ có vấn đề

– Người đem lại phước lành

– Quản gia (khi chủ vắng nhà)

– Kẻ thứ yếu: đứa bé lạc lõng

Lần nữa, cần nhấn mạnh về tầm quan trọng của vai trò trong gia đình.

Xác định các vai trò trong gia đình của cá nhân mới chỉ là một nửa trận chiến. Hiểu biết các động năng kiến tạo và duy trì chúng cũng quan trọng không kém. Các vai trò gia đình tồn tại liên miên bởi vì chúng phục vụ các chức năng sinh động trong hệ thống gia đình. Chúng làm chệch đi sự đổ lỗi và tiêu tan độ căng thẳng; bảo vệ ‘danh dự’ gia đình không bị lăng mạ. Song chúng cũng đánh lạc hướng các trục trặc và đẩy nó vượt sang thế hệ kế tiếp. Hiểu biết bản chất của các vai trò gia đình rõ ràng quan trọng nếu mình ước muốn thay đổi chúng.

Các vai trò gia đình mang tính liên thế hệ. Nếu gia đình gốc của mình có một mẫu hình các vai trò chấp nhận sẵn, chúng sẽ chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tỷ dụ, mỗi thế hệ có thể có một kẻ giơ đầu chịu báng. Gia đình nhất thiết có một thành viên được định ra là ‘vấn đề’ nên những người khác có thể hay ho hơn hẳn khi so sánh. Mình có thể nhìn vào gia đình mình thật thoải mái và thấy các kiểu dạng vai trò từng được chuyển giao. Điều này dễ thực hiện tốt nhờ làm cây phả hệ (genogram). Dĩ nhiên, mình có thể tự làm cho chính mình.

Vai trò gia đình có thể cứng nhắc. Nếu mình không tin điều đó, thử xem vai trò của ai đó khác hoặc từ chối vai trò của bản thân. Lập tức, các áp lực căng thẳng sẽ khiến mình gánh chịu đè lên hệ thống và đổ xuống vai trò của bản thân. Mỗi vai trò hiện diện bởi một lý do. Nếu kẻ giơ đầu chịu báng thôi đảm nhận nữa hoặc đổi vai, hệ thống sẽ kiếm tìm hết sức ghê gớm ai đó thay thế.

Khi vai trò gia đình là động năng… Lúc đứa trẻ là anh/ chị cả lớn lên và rời khỏi gia đình, vai trò của chúng sẽ được ai đó chấp nhận thế vào. Nếu ai đó chối từ đóng vai của họ lâu hơn, hệ thống sẽ kiếm tìm người điền vô. Ví dụ dễ tưởng tượng nhất là kẻ giơ đầu chịu báng; nếu kẻ ấy lớn lên rồi không chịu nhập vai nữa, gia đình sẽ khởi sự kiếm tìm kẻ khác vậy; điều này gợi lăn tăn lo lắng xuyên hệ thống gia đình khi mỗi thành viên ngẫm nghĩ về khả năng mình có thể trở thành ‘mục tiêu nhắm đến’. Mà kẻ giơ đầu chịu báng thì không hề là công việc dễ thay thế; chỉ đích thực khó khăn cho ai đó rời khỏi vai người anh hùng.

Các vai trò trong gia đình thuộc tiềm thức. Không ai sau một buổi sáng thức dậy rồi quyết định trở thành Anh hùng của giia đình. Cũng chẳng gia đình nào ý thức để một thành viên giữ vai kẻ giơ đầu chịu báng. Các vai trò và mẫu hình chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác và hầu hết các gia đình không ý thức các vai này tồn tại hoặc nghĩ rằng họ đang tạo nên rồi duy trì liên tục chúng. Các mẫu hình quá thâm căn cố đế đến độ người ta thấy quá chừng khó khăn trong việc nhận ra và có ý thức nỗ lực chấm dứt các vai trò ấy.

Các vai trò trong gia đình mang tính hệ thống. Không được hình thành hoặc duy trì mãi từ một cá nhân đơn lẻ, các vai trò trong gia đình mang tính toàn thể hệ thống với sự tham gia của mọi người. Nếu một cá nhân gắng sức rời bỏ vai của mình, gia đình sẽ đặt một áp lực nặng nề ghê gớm để khiến người đó quay trở lại giữ vai. Động năng gia đình có thể thay đổi song mọi người trong gia đình buộc phải làm việc cùng nhau.

Khi các vai trò trong gia đình trục trặc về mặt chức năng… Các vai trò trong gia đình ngăn ngừa chúng ta không phát triển được các căn tính, bản dạng cá nhân riêng có. Các vai trò không được lựa chọn hoặc uyển chuyển thích ứng, chúng được ấn tống và cố định; chúng không quan tâm đến chuyện cá nhân và không cho phép người ta phát triển hoặc thay đổi.

Các vai trò trong gia đình dẫn dắt đời sống chúng ta. Mình sẽ lặp lại vai trò trong gia đình ở mỗi khía cạnh đời sống, công việc, trường học, gia đình và xã hội của bản thân. Nếu mình giữ vai Anh hùng ở gia đình, mình sẽ là Anh hùng tại nơi làm việc, trong trường học, với gia đình riêng và cùng đám bạn bè. Nếu tham gia vào một nhóm xã hội, mình sẽ là Anh hùng ở đó. Đây có lẽ là khái niệm quan trọng nhất và là nơi chốn mà mọi thứ có thể được thực hiện nhiều nhất. Nếu mình có thể xác định hành vi mình dấn thân lặp lại vai này ở bất cứ đâu mình có mặt, mình có thể thay đổi hành vi của bản thân và thay đổi vai trò đang đóng trong những hệ thống khác, bất kể mình có thể thay đổi trong gia đình gốc hay không. Thậm chí nếu mình không đủ khả năng thay đổi chính hệ thống gia đình gốc, nếu dừng đóng phần vai được ấn tống sẵn, nó sẽ rơi vào ai đó khác.

Các vai trò trong gia đình định hướng các mối quan hệ của chúng ta. Mình sẽ lặp đi lặp lại các vai trò trong gia đình ở mỗi một quan hệ: người đi làm, sinh viên, vợ/ chồng, bố mẹ, bạn bè.

Thay đổi các vai trò: với gia đình. Điều này được tiến hành tốt nhất với sự trợ giúp của một nhà trị liệu gia đình hết sức khách quan trong việc xác định mỗi vai và cách nó duy trì miên viễn. Song mình có thể tự tiến hành được. Để ngừng mẫu hình bên trong gia đình, mỗi thành viên phải ước ao thay đổi. Họ buộc phải chấp nhận trách nhiệm với phần mình đang đóng trong việc tạo tác và duy trì các vai của riêng mình. Họ cũng phải chấp nhận trách nhiệm với các hành vi bản thân và mang vâc các vấn đề riêng hơn là tháo xả chúng vào vai kẻ giơ đầu chịu báng hoặc chối bỏ chúng. Mỗi một thành viên cần muốn thể hiện ra, cả thể lý lẫn khía cạnh cảm xúc, và tham gia trong chuyện tạo cho sự thay đổi xảy đến. Trong một gia đình có con nhỏ, bố mẹ nắm giữ động cơ lớn lao đặng chấm dứt tiến trình này mà không trao chuyền sang con cái mình thì khả năng tốt đẹp cho sự thay đổi sẽ diễn ra được. Trong một gia đình, khi con cái lớn rồi và bố mẹ thì chối bỏ tình huống, sự thay đổi sẽ diễn ra khó khăn hơn hẳn và thậm chí, bất khả…

Thay đổi các vai: với chính bản thân mình. Nếu mình là đứa bé lớn lên từ một gia đình trục trặc các vai trò, lợi thế cho sự thay đổi toàn bộ gia đình gốc khi đó khá nhỏ bé. Tuy vậy, mình có thể tự xác định thay đổi chính bản thân và đời sống riêng. Mình có thể không đủ khả năng thay đổi các mong đợi của gia đình muốn mình duy trì tiếp tục vai trò đang đóng; hậu quả, các tương tác của mình với chúng có thể trở nên rất hạn chế. Song rất có thể tái tuyên bố bản dạng riêng có của bản thân trong đời sống của chính mình và trong các mối quan hệ riêng tư khác.

Có thể vượt thoát mãi mãi khỏi các vai trò mình kế thừa. Bằng cách nào? Thứ nhất, mình phải nhận ra vai trò mình đang đóng. Hầu hết mọi người có thể sẵn sàng làm điều này. Nếu mình gặp khó khăn trong phát hiện vai trò của mình hoặc mình bị thu hẹp thành một hai vai nọ kia thôi, hãy hỏi han anh chị em trong nhà. Nếu họ không cởi mở thì hỏi bạn bè, người yêu, đồng nghiệp… Thứ hai, hiểu biết các lợi hại, thuận chống của vai trò. Kiểm tra việc hoàn trả do duy trì vai trò này và ý thức nghiêm túc về chúng. Đây là những gì mình buộc phải từ bỏ khi thôi không còn muốn giữ vai nữa. Lên danh sách những gì mình sẽ mất mát, điều đạt được (hai khía cạnh tốt và xấu) khi từ bỏ vai trò.

Tại sao mình muốn từ bỏ những điều này. Quay lại bản thân, bản dạng đích thực của chính mình. Quan trọng nhất, khi chịu đựng vì con người thật này, mình nhận được sự tôn trọng do mình dành cho bản thân, và từ những người khác.

Bây giờ mình đã xác định vai trò mình đang đóng và dần ý thức những gì mình đánh mất cũng như đạt được khi từ bỏ, câu hỏi sẽ thành là “Làm thế nào mình thực sự thoát khỏi vai trò này?”. Đây là phần khó nhằn nhất và cũng quan trọng nhất; nơi mình khởi sự thay đổi đời mình, lần đầu tiên… Mình buộc phải nhận ra và nắm lấy trách nhiệm cho các hành vi cá nhân nhằm tái lập lại vai trò trong các mối quan hệ hiện tại. Khi mình thay đổi hành vi, mình thay đổi thành tựu. Một điều cũng hữu ích là trông xem người khác làm thế nào. Hỏi ai đó đang giải quyết các vấn đề mình muốn. Họ cảm thấy như thế nào về chuyện ấy? Mình có thể học hỏi rất nhiều về các cách thức khác biệt trong tri nhận, suy tư, vả cảm xúc về những thứ diễn tiến trong đời sống.

Có thể rất khó khăn khi đương đầu với gánh nặng này lúc mình còn là đứa trẻ con, song bây giờ mình đang tiến hành nó cho chính bản thân. Khó khăn trong việc nhận lấy trách nhiệm về các cách thức diễn tiến trong quan hệ, song trách nhiệm dẫn tới quyền lực, và với quyền lực làm cho trách nhiệm lớn thêm lên. Mình không thể thay đổi kẻ khác. Mình là ân nhân của họ vì người duy nhất mình có thể thay đổi là chính bản thân mình. Song thật giá trị nếu mình tri nhận về tình huống, cách thức giải quyết tình huống, cách thức xử lý tình huống có vấn đề. Mình có thể thay đổi bản thân. Và nếu mình có thể thay đổi bản thân, mình có thể thay đổi cuộc đời mình.

Kết thúc một cuộc hôn nhân bị hành hạ kinh khủng và lạm dụng thê thảm

Câu chuyện tình cờ đọc thấy này khiến tôi quan tâm chủ yếu từ khía cạnh mà hình như chưa thấy cánh báo chí hoặc độc giả bàn luận thấu đáo: làm thế nào chuẩn bị cho sự kết thúc tốt đẹp một cuộc hôn nhân trải qua chịu đựng đau đớn kinh khủng và lạm dụng kéo dài thê thảm đến vậy.

Những gã giống như chồng của người phụ nữ mang đặc trưng của dạng được gọi là các rối loạn nhân cách (personality disorders). Trong khi họ thảy đều có các lịch sử cuộc đời và nền tảng xuất thân khác biệt, hành vi của họ lại khá tương tự nhau. Các cá nhân này lạm dụng, hăm dọa, hạ mình, kiểm soát và đòi hỏi như một nhân cách ghê gớm. Quan trọng nhất, hành vi cá nhân của người phụ nữ ít bộc lộ ra nhiều với cách thức mình được đối xử trong hôn nhân. Người phụ nữ có thể là người bạn đời tốt nhất, và sự đối xử của họ vẫn như thế thôi.

Như một nạn nhân, quan hệ với kẻ lạm dụng chứa sự kiệt sức khủng khiếp về mặt cảm xúc. Họ cố tình nỗ lực tối đa để hủy hoại sự tự tôn của người vợ. Tình yêu và hội chứng Stockholm quen thuộc miêu tả tại sao người bình thường lại hay duy trì các mối quan hệ bị lạm dụng.

Khi bỏ qua một lịch sử hôn nhân bị lạm dụng, chúng ta muốn nhắm tới tình tiết sự vụ giải quyết của chuyện ly dị/ tách ra chứ không phải mối quan hệ. Một kẻ hăm dọa muốn tập trung khai thác các chủ đề anh ta từng quen dùng trong quá khứ: chỉ trích cá nhân, đe dọa, lăng nhục, v.v… Cũng lão luyện rành nghề trong chuyện diễn xuất, các kẻ này dùng hàng loạt hăm dọa vốn phi thực tế và khi không khả thi, họ thường dùng mặc cảm tội lỗi hoặc lời hứa hẹn thay đổi, hay “anh muốn được giúp đỡ”. Người phụ nữ nên nhắm vào tiến trình giải quyết. Một trò giải trí kinh điển của đối tượng là gọi cho đứa con, hỏi năm đầu ba sợi rồi tìm cơ hội để tấn công lòng tự tôn của bà vợ. Khi điều ấy xảy đến, họ sẽ nói đại khái kiểu như “Cuộc gọi này vì con, chứ không phải cho anh”, rồi gác máy. Người phụ nữ không nên tán đồng nói về thời xưa cũ hồi nào. Lưu ý người thân trong nhà và cảnh báo về chuyện diễn xuất hoặc đe dọa. Người phụ nữ đừng quên rằng lý do để gã này thù địch vì bà vợ thụ hưởng lợi thế hợp pháp vào thời điểm hiện tại. Các kẻ kiểm soát rất cáu gắt và tức giận khi sự kiểm soát một tình huống (giống như một cuộc hôn nhân vậy) bị đẩy tới đầy thách thức hoặc bị thay đổi theo bất kỳ cách nào. Hồ sợ ly hôn cho người phụ nữ quyền đặt mình vào sự kiểm soát, điều khiến đối tượng dễ thấy rất rối ren.

Khuyến cáo làm tham vấn tâm lý khi người phụ nữ trải qua giai đoạn khó khăn này. Nếu đang thấy các dấu hiệu trầm cảm, người phụ nữ nên xin ý kiến bác sĩ gia đình hoặc chuyên gia sức khỏe tâm thần. Sự vụ đòi hỏi hỗ trợ từ người thân, bà con và giới chuyên môn để giúp người phụ nữ quay về với đời sống bình thường mà cô xứng đáng được như thế.

… Cho dẫu dự tính ly thân, cơ chừng vấn đề của người phụ nữ thường không phải là đang muốn bỏ đi…; đó là chuyện sức chịu đựng và độ bền bỉ cho việc tách biệt. Lần nữa, cần định hình kẻ thất bại trong quan hệ và hội chứng Stockholm khi yêu thương. Gã chồng minh họa việc sử dụng các kỹ thuật thể hiện một kẻ lạm dụng, kiểm soát và “gây độc hại”. Cần có các khuyến cáo người phụ nữ tạo ra một kế hoạch thoát ra và cách thức không dính mắc chi với các vấn đề nhỏ nhặt; hội chứng Stockholm mô tả các kết nối chúng ta thường có với bạn đời lạm dụng và phương thức thay đổi lối sống để chung đụng, sống được với kẻ lạm dụng.

Thiển nghĩ, để thoát ra yên an nhất, người phụ nữ cần một kế hoạch ra đi đã; có thể phải tốn nhiều tháng trời để xây dựng lại sự tự tôn, chuẩn bị cho đoạn kết của quan hệ vợ chồng, và rà soát, xem xét các trạng thái tài chính, pháp lý và xã hội. Thật hữu ích nếu diễn tập các kịch bản cho chuyện ly hôn; với mỗi thứ, trạng thái độc hại của quan hệ và sự bất mãn của người phụ nữ sẽ thu hút sự chú ý của gã chồng. Trong khi anh ta không hề thay đổi đáng ghi nhận hành vi lạm dụng, các ý nghĩ về một cuộc ly dị hoặc kết thúc hôn nhân sẽ không phải là toàn bộ cú sốc đối với anh ta.

Người phụ nữ đừng gửi đi các thông điệp mập mờ và đan xen kiểu “Tôi muốn ly dị dù vẫn còn yêu anh ấy” hoặc dạng muốn ly thân song không tố cáo gã chồng. Khi người vợ tách ra, anh ta sẽ làm cho cô ấy lưu tâm tới chuyến hành trình cảm xúc đầy khổ sở, dằn vặt song người phụ nữ có thể báo cho anh ta biết rõ ràng rằng bất chấp mọi nỗ lực, những sự xa cách, v.v… không có điều chi cải thiện được tình hình. Cô ấy có thể đưa ra một hy vọng cho kết thúc êm thấm mối quan hệ theo cách làm tổn hại thấp nhất đôi bên và những ai liên quan. Nhấn mạnh khía cạnh cảm xúc của cuộc hôn nhân đã không còn và các quyết định đưa ra về cách thức kết thúc chỉ là chuyện sự vụ, thủ tục mà thôi. Nếu được, người phụ nữ muốn làm việc với một nhà tham vấn tâm lý như một phần kế hoạch vượt thoát; hữu ích trong việc định dạng các thái độ, hành vi về phần người phụ nữ quen biểu lộ, suy tư để chịu đựng cuộc hôn nhân đã bị ngộ độc theo thời gian với người chồng “nghiện rượu và vũ phu” (dĩ nhiên, không nhất thiết tiến hành lúc này hoặc là nguyên nhân gây rắc rối cho tương lai).

Đáng lưu ý, ngoài biểu hiện tượng cẳng chân hạ cẳng tay dễ thấy, người lạm dụng kẻ khác về mặt ngôn từ không chỉ thấy hành vi của họ đích đáng (“Cô ta đáng bị như vậy”) mà họ còn đổ tội sang lỗi cho những người khác về các cơn tức giận bùng phát và cảm nhận về quyền được làm thế nữa. Vì lý do ghê gớm vậy, sẽ không hiệu quả để thảo luận tới lui về chuyện lạm dụng nói năng. Người phụ nữ không cần thiết lên danh sách các giai đoạn nhằm chứng thực việc ra đi là đúng đắn; cùng lúc, chẳng cần gã kia thấu hiểu tại sao mối quan hệ giữa họ đang đầu độc người vợ. Một số kẻ lạm dụng đáp ứng kiểu “Anh không hiểu tại sao vợ chồng mình lại không tiến hành việc này” khi đương đầu với một cuộc ly dị hoặc ly thân. Đó thực sự là sự trì hoãn có ý đồ chiến lược, cho phép họ có thêm thời gian lại cãi cọ và ngược đãi về sự tự tôn của người phụ nữ trong khi gã ta tìm kiếm thêm các chiến thuật và chiêu trò mới.

Cầu chúc người phụ nữ mọi điều tốt lành khi cô ấy quyết tâm muốn thay đổi và sống một cuộc đời khác.

Đau đầu xe cộ ồn ào sẽ càng cào sâu bất ổn

Đêm về khuya ở ngoài đường sẽ dễ chứng kiến hai điều: khuôn mặt mệt mỏi của đa phần mọi người, và những đống rác tú ụ được các gia đình sống trên phố đổ thải ra.

Trong chớp choáng lập lòe ánh sáng chói mắt và xe cộ lại qua xen kẽ còi bóp inh ỏi vẫn còn tấp nập làm điếc cả tai, xuất hiện ý nghĩ liệu tiếng ồn đối với người này có là âm nhạc của kẻ khác?

Tiếng ồn được xem là một dạng ô nhiễm vì nó là dạng kích thích không mong muốn cứ ấn bừa vào môi trường người ta, dù khá khó xác định một cách khách quan. Tính chủ quan bất biến của nó nằm ở chỗ tiếng ồn là thứ âm thanh người ta chẳng muốn nghe (tham khảo).

Một số nghiên cứu khẳng định trải nghiệm của bản thân người ta về tiếng ồn (ví dụ, sự phiền quấy) không phải do tự thân tiếng ồn, là yếu tố quan trọng đối với sức khỏe. Nhiều nghiên cứu xem xét sự biểu lộ stress kéo dài dây dưa (xác định khách quan qua đo độ decibel) trên các mẫu tương đối lớn.

Tuy nhiên, tác động của tiếng ồn còn do một số nguyên nhân khác như nhân cách và sự có ý nghĩa của tiếng ồn; trạng thái phiền quấy do tiếng ồn gây nên đa phần được xác định do mức độ ồn ào, do vậy cả hai yếu tố là không hề độc lập lẫn nhau.

Vậy liệu chúng ta quen với tiếng ồn?

Các báo cáo vén lộ sự thật là người ta bắt đầu ngủ ngon hơn khi họ quen với tiếng ốn ào do các phương tiện giao thông tạo ra, phản ánh cho cái gọi là tiến trình quen dần. Dẫu thế,  các cuộc kiểm tra nhờ máy ghi tim vật lý (polygraph) cho thấy não của họ không hề có dấu hiệu thay đổi nào khi họ “dần quen với’ tiếng ồn.

Thực tế, phơi nhiễm tiếng ồn như thế đôi khi dễ làm tăng độ nhạy cảm với tiếng ồn. Dường như một số cá nhân quen với tiếng ồn, một số khác thì không thể. Cách người ta thích ứng cơ chừng phụ thuộc vào nhân cách và độ nhạy của bản thân họ.

Tính có thể dự đoán trước và triển vọng của việc kiểm soát tiếng ồn không mong muốn được xác minh là làm giảm nhận thức sau các tác động do phơi nhiễm với tiếng ồn; hơn nữa, các thực nghiệm stress cũng khẳng định kiểm soát là yếu tố quan trọng trong điều chỉnh các phản ứng stress dưới khía cạnh sinh lý của người ta.

Nói chung, tiếng ồn ảnh hưởng tới chúng ta theo hai con đường riêng biệt.

Cụ thể, mô hình phản ứng với tiếng ồn cho rằng tiếng ồn kích hoạt cơ thể người ta hoặc trực tiếp hoặc bằng con đường gián tiếp. Con đường trực tiếp được xác định bằng tương tác ngay lập tức của thần kinh thính giác với các cấu trúc thuộc hệ thần kinh trung ương, mà đến lượt nó khiến tăng thêm stress sinh lý.

Tác giả Babisch và cộng sự còn nhìn nhận mô hình gián tiếp hướng tới việc nhận ra sự ý thức tiếng ồn, và nó liên quan với mức tăng stess cảm xúc. Cả hai đường này kích hoạt hệ thần kinh tự chủ và hệ nội tiết, và sự kích hoạt kéo dài quá mức của các hệ thống này có thể gây nên các vấn đề sức khỏe trầm trọng

Ở Hà Nội, Saigon hoặc các thành phố lớn tại Việt Nam khác, chúng ta có vẻ đã quen với tiếng ổn và sống ổn thỏa trong chung đụng này, bất chấp thực tế cách mà phơi nhiễm tiếng ồn thế thực tế ảnh hưởng tới chúng ta cả về mặt tâm lý lẫn thể lý. Các phương thức không hay ấy có thể sẽ được trình bày vào một hôm rỗi rãi và êm đềm khác, ngay cả khi giời đất không rỉ rả mưa rơi như đêm nay.